- Kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế nên đã bộc lộ những sơ suất về kiến thức trong khi dạy.. - Phần hướng dẫn bài tập chưa tốt, việc sửa sai cho học si
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Lý do chọn sáng kiến: 2
2 Thực trạng , nguyên nhân: 3
a Về giáo viên: 3
b Về học sinh: 4
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 7
1 Một số bài khó trong phân môn luyện từ và câu lớp 4 7
2 Cách dạy một số bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 7
2.1 Bài " Danh từ" ( tiết 2 - tuần 5) 7
2.2 Bài "Danh từ chung và danh từ riêng" (tiết 1 - tuần 6) 10
2.3 Bài "Chủ ngữ trong câu kể “Ai làm gì?”" 13
2.4 Bài "Chủ ngữ trong câu kể “Ai thế nào?” " 16
III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21
1 Kết luận chung 21
2 Bài học kinh nghiệm 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn sáng kiến:
- Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài
+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kỹ năng đọc cho học sinh Khác với các lớp dưới, ở lớp 4 bắt đầu có những tiết học dành riêng để trang bị kiến thức cho học sinh, giúp học sinh:
a Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản
về từ và câu
b Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu
c Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý
thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp
Trang 32 Thực trạng , nguyên nhân:
a Về giáo viên:
Bản thân tôi là một giáo viên có nhiều kinh nghiệm, yêu nghề, mến trẻ, luôn có ý thức tự phấn đấu vươn lên và đã đạt trình độ trên chuẩn Song trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy tình trạng chung của giáo viên như sau:
- Vốn từ của giáo viên có hạn chế, hiểu sâu các kiến thức về câu, từ còn ở mức độ; khả năng phân tích ngôn ngữ, phân tích ngữ liệu ở mức bình thường Mức độ hiểu nghĩa từ, miêu tả giải nghĩa từ còn khúc mắc ( có nhiều từ đơn giản phải hỏi người khác hoặc phải tra từ điển), còn lúng túng khi giải nghĩa hay miêu tả từ cho học sinh
- Kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế nên đã bộc lộ những sơ suất về kiến thức trong khi dạy
- Phương pháp dạy học của giáo viên hầu như còn đơn điệu, còn cứng nhắc chưa linh hoạt, ít sáng tạo chưa lôi cuốn được học sinh gây ra sự nhàm chán vì chủ yếu dựa vào sách giáo viên
- Bản thân giáo viên còn bị thiếu hụt kiến thức phổ thông đó là các giáo viên có trình độ THHC; ngoài ra sự tìm tòi, học hỏi, tự học, tự rèn có phần hạn chế; khả năng diễn đạt, giảng giải chưa lưu loát gây cho học sinh khó hiểu
- Phần hướng dẫn bài tập chưa tốt, việc sửa sai cho học sinh chưa cụ thể, kết quả thấp chưa giúp học sinh mở rộng ra một số tình huống giao tiếp khác gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em mà chỉ mới đóng khung trong khuôn khổ các mẫu câu trong sách vở Nhiều trường hợp học sinh làm sai , giáo viên chỉ nhận xét là sai và nêu ngay lời giải đúng mà chưa giúp cho học sinh nhận ra cái sai và cách sữa chữa
- Việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc dạy và học còn yếu, còn thiếu phương tiện, thiếu tài liệu tham khảo, thiếu đồ dùng dạy học, yếu về cách sử dụng đồ dùng dạy học
Tóm lại: Sự thiếu hụt kiến thức cũng như phương tiện hỗ trợ dạy học, những giải
Trang 4pháp không thống nhất từ những nguồn tri thức khác nhau cùng với một phương pháp
tư duy thiếu mềm dẻo đã dẫn đến một số giáo viên rất lúng túng trong giảng dạy Những kiến thức không chắc chắn, thiếu tính hệ thống, trong lúc nội dung luôn quyết định phương pháp dạy học, không thể dạy tốt khi không nắm chắc nội dung và tất nhiên học sinh lĩnh hội các kiến thức này sẽ bị hạn chế phần nào
- Các hình thức dạy học giáo viên hay sử dụng đối với phân môn Luyện từ và câu là: cá nhân, nhóm, tổ, lớp nhưng qua dự giờ thì chúng tôi thấy phần lớn chỉ là hình thức, hiệu quả thấp vì học sinh kém linh hoạt và rất chậm chạp trong học với hình thức học nhóm, bàn ghế không phù hợp (bàn ghế 5 chỗ ngồi); cách dạy của giáo viên chủ yếu dưạ vào sách giáo viên, sách thiết kế ít chủ động tổ chức các hoạt động dạy
và học cho phù hợp với điều kiện hiện tại, giáo viên có giao nhiệm vụ cho học sinh nhưng ít chú ý đến từng đối tượng, sự giúp đỡ của giáo viên đối với học sinh yếu kém
có phần hời hợt, còn xa rời, kiến thức có lúc giáo viên áp đặt cho học sinh
Trong khi đó Luyện từ và câu là phân môn khó dạy nhất trong các phân môn của
môn Tiếng Việt Phân môn này có nhiều dạng bài tập ảnh hưởng tới việc lựa chọ hình thức, phương pháp dạy, cách tổ chức trong lúc đó giáo viên còn phải dạy các môn học khác cũng không kém phần quan trọng như môn Tiếng Việt
b Về học sinh:
- Trình độ học sinh không đồng đều, vốn từ trước khi đến trường rất ít; khi nói, khi viết rơi vào tình trạng “bí từ, nghèo từ” khi nghe, đọc không có cơ sở để hiểu đầy
đủ và hiểu được khá chính xác nội dung
- Học sinh ít được giao tiếp với xã hội rộng hơn, ít được tham gia các hoạt động ngoại khoá ngoài vùng trường, tham quan du lịch mà chỉ giao tiếp với những người trong gia đình, bạn bè trong lớp, và đó cũng là nguyên nhân làm cho sự hiểu biết bị hạn chế vốn từ hàng ngày ít được bổ sung Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức trong việc sử dụng tiếng Việt và dạy con, còn để mặc cho nhà trường
- Đối với phân môn này học sinh hay nhầm lẫn một số từ ghép với từ láy; chưa
Trang 5xác định chính xác danh từ trong câu.
- Chủ ngữ trong ba kiểu câu kể phần lớn học sinh đều xác định đúng những câu ghép có nhiều chủ ngữ học sinh thường sai khi xác định chủ ngữ
- Nắm chưa vững về kiểu câu hay nhầm giữa kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
- Về bài Danh từ, học sinh thường không hiểu và không tìm dúng danh từ chỉ
khái niệm, danh từ chỉ đơn vị
Ví dụ: “rặng” trong “rặng dừa”; “con” trong “con sông”; “cơn” trong “cơn
mưa”
- Về bài “Danh từ chung - Danh từ riêng”: Học sinh thường hay quên viết hoa
danh từ riêng, khó phát hiện ra danh từ chung so với danh từ riêng, nhiều em chỉ cho tên người là danh từ riêng còn địa danh thì không phải
- Chủ ngữ trong ba dạng câu kể thì học sinh thường không biết đặt câu hỏi để tìm
ra chủ ngữ
- Lỗi trong viết câu: viết hoa đầu câu, viết hoa danh từ riêng, không có dấu chấm cuối câu
- Sự phân biệt rạch ròi ba dạng câu kể có nhiều học sinh chưa phân biệt được
- Khả năng chọn từ, lắp ráp thành ngữ, tục ngữ, sắp xếp câu thành đoạn văn chưatốt
- Dùng từ sai làm cho câu văn tối nghĩa, sai ý khiến cho người đọc người nghehiểu nhầm, hiểu không hết ý trình bày
Thực tế, tôi thấy học sinh thường giao lưu qua các phương tiện hiện đại, ít được giao tiếp trực tiếp hơn , do điều kiện đó đã có ảnh hưởng đến việc học nói chung và việc học phân môn Luyện từ và câu nói riêng Chẳng hạn như, hiểu ý nghĩa danh từ, ý nghĩa của chủ ngữ, đặt câu theo khuôn mẫu cũ, gộp luôn cả danh từ đơn vị với danh
từ chỉ sự vật là một danh từ Hay việc hiểu và sử dụng các câu thành ngữ, tục ngữ trong nói và viết cũng rất hạn chế
Trang 7II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Một số bài khó trong phân môn luyện từ và câu lớp 4
Từ thực tế nêu trên nên tôi chỉ đề xuất cách dạy một số vấn đề theo chúng tôi là khó của 4 bài trong phân môn Luyện từ và câu, lớp 4, đó là:
1 Danh từ ( tiết 2 - tuần 5)
2 Danh từ chung và danh từ riêng ( tiết 1 - tuần 6)
3 Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? ( tiết 1 - tuần 19)
4 Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? ( tiết 1 - tuần 22)
2 Cách dạy một số bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
2.1 Bài " Danh từ" ( tiết 2 - tuần 5)
a Cấu trúc bài học: 3 phần, có 4 bài tập
b Nội dung từng phần:
Phần 1: Nhận xét: Phần này có 2 bài tập
Bài tập 1: Tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn văn sau
"Mang theo truyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình."
Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 8- Mục đích: Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động tìm ra các từ chỉ sự vật
trong đoạn thơ
- Khó khăn: Khi dạy đối với bài tập này là ở chỗ học sinh lúc đầu tìm được (cả
đúng và cả sai) nắng, mưa, con sông, rặng dừa, cha ông, tôi, chân trời, ông cha; như vậy cái khó ở chỗ học sinh khó tìm ra các danh từ chỉ khái niệm, danh từ chỉ đơn vị;
có một số em không tìm được danh từ chỉ hiện tượng; các em cho danh từ chỉ đơn vị
và danh từ chỉ sự vật là danh từ (con sông) và đó chính là chỗ khó khi dạy bài tập này
nghĩa của một số từ Khi dạy giáo viên gợi ý để giúp học sinh nhận ra truyện cổ, cơn, cuộc sống, tiếng, xưa, con, rặng, đời là danh từ Chẳng hạn hỏi: “cơn nắng” là một
từ hay là hai từ? Cho học sinh thảo luận để có kết luận hai từ; hỏi tiếp “ Người ta gọi nắng bằng gì?” Và tương tự cách như vậy đối với các từ “cơn mưa”, “rặng dừa”,
“con sông”, “tiếng xưa” Tuy nhiên giáo viên có thể bằng cách tách “cơn” và “nắng” trong “cơn nắng” để làm mẫu ở bài tập này thì trong sách giáo viên chỉ nêu lên cách
tổ chức hoạt động chứ chưa đưa ra ví dụ minh hoạ học sinh tìm sai hoặc tìm không được và gợi ý cách tháo gỡ
Bài tập 2: Xếp các từ em mới tìm được vào nhóm thích hợp
+ Từ chỉ người: ông cha,
+ Từ chỉ vật: sông,
+ Từ chỉ hiện tượng: mưa,
+ Từ chỉ khái niệm: cuộc sống,
+ Từ chỉ đơn vị: cơn,
- Khó khăn: Đối với bài tập này khó khăn ở chỗ là khả năng sắp xếp, liệt kê và
nhầm lẫn giữa danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị
Trang 9giải thích rõ về danh từ chỉ khái niệm và danh từ chỉ đơn vị
Phần 2: Ghi nhớ
Danh từ là những từ chỉ sự vật ( người, vật, hiện tượng, khái niệm, hoặc đơn vị)
- Mục đích: Học sinh tự nêu được định nghĩa danh từ
(phần nhận xét), tự nêu định nghĩa danh từ thì học sinh không nêu được định nghĩa
- Biện pháp khắc phục: Cho học sinh lần lượt đọc các từ chỉ người, chỉ vật, chỉ
hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị sau đó cho một số em khá tìm thêm Giáo viên kết luận “ Những từ đó gọi là danh từ ” và hỏi “ Vậy danh từ là những từ chỉ gì ?”
Phần 3: Luyện tập (2 Bài tập)
Bài tập 1: Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây:
“ Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người Chính vì thấy nước mất, nhà tan mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.”
Theo Trường Chinh
- Mục đích: Nhận biết được danh từ trong câu, đặc biệt là danh từ chỉ khái niệm
chẳng hạn như là thừa, thiếu, vừa thừa lại vừa thiếu, đặc biệt là đối với học sinh trung bình trở xuống rất lúng túng vì còn khó hiểu cụm từ “danh từ chỉ khái niệm”
đậm đó thì những từ nào mà không có hình thù, không chạm tay vào được, không ngửi, không nếm, không nhìn thấy được? Những từ các em tìm được đó chính là những danh từ chỉ khái niệm Mặt khác giáo viên cần giúp đỡ sát các em học yếu
Hoặc bằng cách ngược lại, giáo viên gợi ý học sinh tìm những danh từ không phải là danh từ chỉ khái niệm và những từ còn lại là danh từ chỉ khái niệm
Trang 10Bài tập 2: Đặt câu với một danh từ chỉ khái niệm em vừa tìm được
- Mục đích: Học sinh đặt được câu với danh từ chỉ khái niệm vừa tìm được ở bài
tập1
- Khó khăn: Nhiều học sinh rất yếu trong đặt câu, hay nhầm giữa danh từ
“điểm” với “điểm” mà cô giáo cho hàng ngày
Bài 1: Tìm các từ có nghĩa như sau
a Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được
b Dòng sông lớn nhất chảy qua nhiều tỉnh phía Nam nước ta
c Người đứng đầu nhà nước phong kiến
d Vị vua có công đánh giặc Minh, lập ra nhà Lê ở nước ta
- Mục đích: Học sinh tìm ra được hai cặp danh từ chỉ người và chỉ vật
Trang 11- Khó khăn: Học sinh gặp khó khăn ở câu b,c,d vì học sinh nắm kiến thức địa lí
và lịch sử rất hạn chế nên nhiều em tìm sai từ
+ Hỏi: Hoàng Hậu là vợ của ai?
+ Hỏi: Lê là họ cuả vị vua nào mà tên có cùng phụ âm đầu là L
Bài tập 2: Nghĩa của các từ tìm được ở bài tập1 khác nhau như thế nào?
- So Sánh a với b
- So Sánh c với d
- Mục đích: Học sinh nhận biết được danh từ chung và danh từ riêng dựa trên ý
nghĩa khái quát chung
riêng ); vua / Lê Lợi ( vua là danh từ chung ; Lê Lợi là danh từ riêng )
Học sinh khó nói được ý nghĩa khái quát của từng từ, khó diễn đạt rõ ý nghĩa
+ Trong hai từ “sông” và “ Cửu Long” thì từ nào là tên chung để chỉ những dòng
nước chảy tương đối lớn mà không chỉ cụ thể một dòng nước nào cả? Và từ nào tên một dòng sông cụ thể ?
+ Trong hai từ “ vua” và “Lê Lợi” thì từ nào là tên chung để chỉ những người
đứng đầu nhà nước phong kiến? Và từ nào tên riêng của một vị vua?
Bài tập 3: Cách viết các từ trên có gì khác nhau?
- So sánh a với b
- So sánh c với d
- Mục đích: Học sinh so sánh được cách viết các từ :sông- Cửu Long, vua- Lê
Lợi
Trang 12Phần 2: Ghi nhớ
1 Danh từ chung là tên của một loại sự vật
2 Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Danh từ riêng luôn được viết hoa
Hãy viết tiếp vào chỗ chấm:
- Tên của một loại sự vật gọi là
- Tên riêng của một sự vật gọi là
- Danh từ luôn luôn được viết hoa
Học sinh nêu kết quả, sau đó đọc ghi nhớ trong sách giáo khoa
Phần 3: Luyện tập: có 2 bài tập
Bài tập 1: Tìm các danh từ chung và danh từ riêng trong đoạn văn sau:
Chúng tôi đứng ttrên núi Chung Nhìn sang trái là dòng sông Lam uốn khúc theo dãy núi Thiên Nhẫn Mặt sông hắt ánh nắng chiếu thành một đường quanh co trắng xoá Nhìn sang phải là dãy núi Trác nối liền với dãy núi Đại Huệ xa xa Trước mặt chúng tôi, giữa hai dãy núi là nhà Bác Hồ
Theo Hoài Thanh và Thanh Tịnh
- Mục đích: Dựa vào dấu hiệu để nhận biết danh từ chung, danh từ riêng trong
đoạn văn để củng cố kiến thức vừa học
hoa, đó là từ “Chúng”; từ “Nhìn”; tìm thiếu các danh từ “ánh”, “cái”, “phải”, “giữa”,
“trước”
- Biện pháp khắc phục: + Giáo viên lưu ý học sinh các tiếng đầu câu người ta
viết hoa cần phải xem có phải danh từ không?
Trang 13+ Người ta gọi nắng bằng gì? (ánh)
+ Chỉ vị trí trong không gian người ta dùng những từ nào?
Bài tập 2: Viết họ và tên 3 bạn nam và 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? Vì sao?
dụng quy tắc đó vào thực tế
2.3 Bài "Chủ ngữ trong câu kể “Ai làm gì?”"
a Cấu trúc: 3 phần, có 7 bài tập
b Nội dung từng phần:
Phần 1: Nhận xét: (Gồm 1 đoạn văn và 4 bài tập)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
" Một đàn ngỗng vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ Hùng đút vội khẩu súng gỗ vào túi quần, chạy biến Thắng mếu máo nấp vào sau lưng Tiến, Tiến không có súng, cũng chẳng có kiếm Em liền nhặt một cành xoan, xua đàn ngỗng
ra xa Đàn ngỗng kêu quàng quạc, vươn cổ chạy miết."
Theo Tiếng Việt 2 -1998
Bài tập 1:Tìm các câu kể Ai làm gì ? trong đoạn văn trên
Bài tập 2: Xác định chủ ngữ trong mỗi câu vừa tìm được