Những người tham gia vào hoạt động du lịch thường mang tính hoạt động tôn giáo, đi để thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên để lấy cảm hứng sáng tác thơ, ca, hội họa…Và thông thường khách du
Trang 1CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA DU LỊCH
Mục tiêu của chương 1 : Sau khi kết thúc chương này, sinh viên :
- SV hiểu được bản chất của khái niệm du lịch và khách du lịch
- SV hiểu được các loại hình du lịch phổ biến,
- SV hiểu chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức du lịch trên TG và VN
- Vận dụng những kiến thức đã học để đề xuất các giải pháp thu hút khách du lịch, phát triển các loại hình du lịch
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm du lịch
Du lịch trước hết nó là hiện tượng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên tiến hành hoạt động tham quan giải trí ở một nơi khác và trở về lại nơi đã xuất phát khi kết thúc chuyến
đi Cùng với thời gian hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh, hình thành nền "công nghiệp" ở một số nước phát triển nhưng khoa học du lịch phát triển muộn màng nên chưa
có khái niệm thống nhất Vì vậy khái niệm du lịch sẽ được tiếp cận cả ba góc độ người đi
du lịch, giới kinh doanh du lịch và góc độ tổng quát
Tiếp cận du lịch ở góc độ nhu cầu của con người
Mỗi thời kỳ khác nhau khái niệm du lịch được nhìn nhận ở quan điểm khác nhau Thời kỳ trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số ít người thuộc tầng lớp trên của xã hội Những người tham gia vào hoạt động du lịch thường mang tính hoạt động tôn giáo, đi để thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên để lấy cảm hứng sáng tác thơ, ca, hội họa…Và thông thường khách du lịch tự lo lấy việc ăn, ở, đi lại cho chuyến đi của mình và nó chưa được xem là một ngành kinh tế
Theo Ausher thì Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân Quan điểm này
khá đơn giản, chỉ nêu lên được hiện tượng đi du lịch với mục đích tham quan giải trí, ngắm cảnh…
Azar người Thụy Sĩ nhận thấy Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Quan điểm này tiến bộ hơn quan
điểm của Ausher ở chổ xác định việc đi du lịch không gắn liền với việc cư trú và làm việc kiếm thu nhập tại nước đến
Tại Việt Nam, Theo luật Du lịch Việt Nam 2017: Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không
Trang 2quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác
Vì vậy, vào thời kỳ này người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức của con người Trên góc độ là người đi du lịch, thì hoạt
động này được xem “là hiện tượng những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoài trừ mục đích kiếm tiền
và ở đó họ phải tiêu tiền đã kiếm được từ nơi khác.”
Tiếp cận du lịch ở góc độ là một ngành kinh tế
Thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II Kinh tế được khôi phục và phát triển, thu nhập cá nhân cũng tăng lên, trình độ văn hoá của mọi người cũng nâng cao Dòng khách du lịch ngày càng đông Và du lịch được xem như là một cơ hội kinh doanh, là toàn bộ những hoạt động và những công việc phối hợp nhau nhằm thoả mãn những nhu cầu của khách du lịch và tìm kiếm lợi nhuận thông qua đó
Theo các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế Praha “ Coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kỹ thuật và phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng người thân là Du lịch ”
Du lịch ngày càng phát triển, các hoạt động ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau
và phối hợp nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặc chẽ Với góc độ này du lịch được xem như là một ngành công nghiệp, là toàn bộ các hoạt động mà có mục tiêu là chuyển các nguồn vốn, nguồn nhân lực và nguyên vật liệu thành những dịch vụ, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Vì vậy, trong giáo trình Thống kê du lịch,
Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải cho rằng " du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch
vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác."
Tiếp cận du lịch một cách tổng quát
Ở góc độ là một môn khoa học kinh tế, khái niệm du lịch phải phản ánh các mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu các xu hướng và các quy luật
phát triển của nó Nên có thể hiểu “ Du lịch là tổng hoà các mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền
sở tại, cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút khách và lưu giữ khách du lịch.”
Các chủ thể trên tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ của họ đối với hoạt động doanh du lịch:
+ Đối với khách du lịch Du lịch mang lại cho họ một sự hài lòng vì đựơc hưởng một khoảng thời gian thú vị, đáp ứng các nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, thăm viếng… của
Trang 3họ Những khách du lịch khác nhau có những nhu cầu du lịch khác nhau, do đó họ sẽ chọn những điểm du lịch khác nhau, với những hoạt động giải trí khác nhau
+ Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch, họ xem du lịch như là một cơ hội kinh doanh nhằm thu lợi nhuận qua việc cung ứng hàng hoá dịch vụ du lịch cho du khách
+ Đối với chính quyền, du lịch được xem như là một nhân tố thuận lợi đối với nền kinh tế trong lãnh thổ của mình Chính quyền quan tâm đến số công việc mà du lịch tạo
ra, thu nhập mà cư dân có thể kiếm được, khối lượng ngoại tệ mà khách du lịch quốc tế mang vào cũng như khoản thuế nhận được từ hoạt động kinh doanh du lịch và từ khách
du lịch
+ Đối với cộng đồng cư dân địa phương, du lịch được xem như là một cơ hội để tìm việc làm, tạo thu nhập nhưng đồng thời họ cũng là nhân tố hấp dẫn du khách bởi lòng hiếu khách và trình độ văn hoá của họ Ở các điểm du lịch, giữa khách du lịch và cư dân địa phương luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động này có thể có lợi, có thể có hại, cũng có thể vừa có lợi cũng vừa có hại
Mô hình hóa:
Như vậy cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, khái niệm du lịch cũng có
sự phát triển đi từ hiện tượng đến bản chất Tuỳ vào mức độ nghiên cứu mà ta xây dựng khái niệm du lịch với nội dung khác nhau
1.1.2 Khách du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Do hoàn cảnh thực tế ở mỗi nước, tầm nhìn khác nhau của các học giả nên việc xây dựng khái niệm khách du lịch rất phức tạp và có nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra
Khái niệm về khách du lịch của Tổ chức du lịch Thế Giới
du lịch
Cư dân địa phương
Chính quyền
sở tại
DU LỊCH
Trang 4Khách du lịch là những người đến và lưu lại nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên quá 24 giờ nhưng không quá 1 năm liên tục nhằm thỏa mãn mục đích nghỉ dưỡng, công việc và các mục đích khác không liên quan đến các hoạt động kiếm tiền từ nơi đến tham quan
Theo quan điểm của Tổ chức du lịch Thế giới (UNWTO), khách du lịch được chia thành: khách du lịch quốc tế (international tourist), khách du lịch nội địa (domestis tourist) Trong đó:
Khách du lịch quốc tế là những người rời khỏi quốc gia cư trú thường xuyên của mình đến viếng thăm một quốc gia khác ít nhất là 24 giờ và không quá một năm nhằm tiến hành các hoạt động tham quan, giải trí,… ngoại trừ các hoạt động mang lại thu nhập cho cá nhân
Khách du lịch nội địa là những người đang sống trong một quốc gia (không kể quốc tịch nào) đi đến một nơi khác trong quốc gia đó ít nhất là 24 giờ và không quá một năm nhằm mục đích nghỉ ngơi, thăm thân, hội họp,… ngoại trừ làm việc lĩnh lương
Năm 1937, Ủy ban thống kê chuyên gia liên minh quốc tế đã đưa ra khái niệm du khách quốc tế như sau: Du khách nước ngoài là người rời khỏi nước định cư của mình tới thăm viếng một nước khác tối thiểu 24 giờ và quy định những người thuộc diện dưới đây thuộc du khách quốc tế:
- Những người đi vì lý do giải trí, tiêu khiển, việc gia đình, sức khoẻ cho bản thân
- Những người đi tham gia hội nghị, là đại biểu công vụ bao gồm hội nghị hoặc công
vụ như khoa học, quản lý ngoại giao, tôn giáo, thể thao
- Người đi vì mục đích kinh doanh, công vụ nghiệp vụ, thương mại
- Những người tham gia chuyến du lịch vòng quanh biển (sea cruise) ngay cả khi họ
có thời gian thăm viếng dưới 24 giờ
Những người sau đây không được coi là khách quốc tế:
- Những người sang nước khác để hành nghề (dù có hay không có hợp đồng), tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở nước đến để có thu nhập
- Những người nhập cư vào nước đến
- Những sinh viên, học sinh đi học ở nước đến
- Tất cả những cư dân thuộc vùng biên giới, những người cư trú ở một quốc gia đi làm ở một quốc gia láng giềng
- Những hành khách đi xuyên qua một quốc gia và không dừng lại cho dù hành trình kéo dài quá 24 giờ
Trang 5Vậy, du khách quốc tế là những người rời khỏi quốc gia cư trú thường xuyên của mình đến viếng thăm một quốc gia khác tối thiểu là 24 giờ, tiến hành các hoạt động tham quan, giải trí ngoại trừ các hoạt động mang lại thu nhập cho cá nhân
Với khái niệm trên đây, về mặt thời gian, du khách quốc tế là những người có thời gian viếng thăm (lưu lại) ở một quốc gia khác ít nhất là 24 giờ Sở dĩ người ta chọn mốc thời gian này cơ bản là vì các du khách ấy phải nghỉ qua đêm, phải tiêu một khoản tiền đáng kể cho nhu cầu lưu trú
Theo luật Du lịch Việt Nam 2017:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến
Theo luật, khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, khách du lịch ra nước ngoài
- Khách du lịch nội địa (domestic) là công dân Việt Nam, người nước ngoài định
cư ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam
- Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (khách inbound): là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào du lịch ở Việt Nam
- Khách du lịch ra nước ngoài (khách oubound): là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch nước ngoài
Tuy nhiên, định nghĩa của luật Du Lịch đưa ra đã không nêu được khoảng thời gian xác định để trở thành một du khách Bởi nếu du khách đi du lịch trong khoảng thời
(Visitor)
đồ sau:
Trang 6(Nguồn: định nghĩa du khách quốc tế của WTO 1981) 1.1.2.2 Phân loại khách du lịch
Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ
- Khách quốc tế: chia thành khách Inbound và Outbound
Khách Inbound (khách quốc tế đến): là khách du lịch tham gia loại hình du lịch
chủ động (du lịch nhập cảnh), gồm những người từ nước ngoài đến du lịch tại một quốc gia Khi đón khách quốc tế vào thì quốc gia nhận khách sẽ chủ động đón tiếp, chuẩn bị điều kiện phương tiện, kỹ thuật … để tổ chức phục vụ cho khách
Khách Outbound (khách quốc tế đi): là loại hình du lịch bị động (du lịch xuất
cảnh), gồm những người đi du lịch ra nước ngoài, quốc gia đó đưa khách đi du lịch nước ngoài Như vậy, quốc gia gởi khách không phải chuẩn bị đón tiếp nên bị động trong tổ chức phục vụ khách, quốc gia đón khách sẽ chủ động trực tiếp phục vụ và đón tiếp khách
Tuy nhiên, một vấn đề khác là số lượng người tham quan, giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ ngày càng nhiều và không thể không tính đến tiêu dùng của họ
trong thống kê du lịch Như vậy xuất hiện một khái niệm mới: khách tham quan (Excursionist ) - đó là những vui chơi giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ
Căn cứ theo mục đích chuyến đi:
chơi, giải trí… nhằm giải phóng sự căng thẳng trong công việc hằng ngày Loại khách này chiếm đa số trên thị trường khách du lịch chia theo tiêu thức mục đích chuyến đi
với người thân, đồng nghiệp, bạn bè… Những người này đi du lịch nhằm thỏa mãn được nhu cầu giao lưu, kết bạn và thể hiện tình cảm quan tâm đến người khác
tìm kiếm thị trường… Đối tượng này thực hiện chuyến đi chủ yếu vì đòi hỏi của công việc đồng thời kết hợp với việc đi du lịch Khách công vụ thường có khả năng chi trả cao
đi cùng với yêu cầu dịch vụ tốt nhất
Trang 7 Căn cứ theo thời gian chuyến đi
gian ngắn, thường từ 2 đến 3 ngày hoặc cuối tuần Ở Việt Nam, khách du lịch trong nước
đi ngắn ngày chiếm đa số, họ chủ yếu đi vào những dịp nghỉ lễ trong năm Ở nước ngoài,
khách du lịch ngắn ngày chủ yếu tham gia vào các chuyến du lịch cuối tuần
10 ngày trở lên Thông thường, khách du lịch dài ngày có chuyến đi rời khỏi phạm vi
lãnh thổ của quốc gia tức là du lịch sang một nước khác
Ngoài ra, phân loại khách còn dựa vào nhiều tiêu thức khác như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, hình thức chuyến đi… Tùy vào mục đích nghiên cứu của các quốc gia, doanh nghiệp mà chọn tiêu thức phù hợp
Căn cứ theo hình thức chuyến đi
đến hai người là chủ yếu
có trưởng đoàn và thường đặt tour qua công ty lữ hành
1.2 Các loại hình du lịch
Việc phân chia loại hình du lịch có ý nghĩa rất to lớn Nó cho phép xác định được thế mạnh của mình, làm cơ sở cho việc phân tích tính đa dạng của hoạt động giải trí trong một điểm du lịch Qua việc phân tích các loại hình du lịch đang còn tồn tại chúng ta có thể xác định được cơ cấu khách hàng mục tiêu của điểm du lịch
1.2.1 Ý nghĩa phân loại các loại hình du lịch
Phân loại du lịch là cơ sở cho hoạt động Marketing của các điểm du lịch, nơi đến
du lịch và các doanh nghiệp du lịch Mỗi thể loại du lịch chứa đựng những nét đặc trưng của một nhóm du khách Qua việc phân tích các thể loại du lịch đang tồn tại, có thể xác định được cơ cấu khách hàng mục tiêu, của nơi đến du lịch hay cơ sở kinh doanh du lịch Thông qua đó nó cho phép xác định thế mạnh của một khu vực, một quốc gia và làm cơ
sở cho việc phân tích đa dạng của hoạt động du lịch tại các nơi đến Thậm chí thể loại du lịch trở thành điểm nhấn để tạo lập hình ảnh của nơi đến du lịch tại các trung tâm gởi khách thông qua công tác tuyên truyền và quảng bá
Phân loại du lịch giúp xác định được những đóng góp kinh tế và những hạn chế của thể loại du lịch Từ hình thành chính sách khuyến kích hay hạn chế với từng thể loại tùy theo mục tiêu, chính sách phát triển chung của vùng, quốc gia
Trang 81.2.2 Phân loại các loại hình du lịch
Dựa vào động cơ của chuyến đi
Du lịch văn hoá:
Loại hình này nhằm thoả mãn những nhu cầu mở rộng sự hiểu biết về nghệ thuật (các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, hội hoạ, nghệ thuật sân khấu…) phong tục tập quán của người dân tại nơi họ đến, tình hình kinh tế xã hội của đất nước được viếng thăm…Trong một vài trường hợp, đó là sự tham quan và tham gia vào một lối sống vốn
đã biến mất trong trí nhớ con người Về loại hình này, đối tượng khách thu hút khá rộng rãi, có thể là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, cũng có thể là sinh viên thậm chí là những khách du lịch bình thường
Du lịch văn hoá là một trong những thế mạnh của du lịch miền trung nước ta Tuy nhiên, loại hình này muốn phát triển thì phải kết hợp với các loại hình du lịch khác như:
du lịch tắm biển, du lịch giải trí…
Du lịch lịch sử:
Loại hình này nhằm giới thiệu với khách du lịch về lịch sử của một dân tộc qua việc đưa khách đến nơi ghi dấu các sự kiện lịch sử, đến với các bảo tàng lịch sử, viện bảo tàng các di tích cách mạng Loại hình này thường phù hợp với những chuyến đi du lịch theo đoàn, có tổ chức, thuyết minh, diễn giải
Du lịch sinh thái:
Các chuyến du lịch để thoả mãn nhu cầu về với thiên nhiên của khách du lịch, thường khách du lịch được đưa đến những vùng thiên nhiên được bảo vệ tốt, chưa bị ô nhiễm Nhưng khác với du lịch văn hoá nghiên cứu cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người, loại hình du lịch này nhấn mạnh đến sự hấp dẫn của thiên nhiên hơn là con người
Du lịch vui chơi, giải trí:
Nói chung, đi du lịch là nhằm hưởng sự vui chơi, thú vị bằng những ngày làm việc mệt nhọc Ở đây muốn nói đến những chuyến du lịch vì mục đích vui chơi giải trí đơn thuần Có những hình thức giải trí sau: đến các công viên vui chơi, giải trí hoặc đến các casino
Các loại hình du lịch thuần tuý về nhu cầu thể chất và tinh thần của khách
du lịch
- Du lịch thể thao
- Du lịch biển
- Du lịch chữa bệnh
- Du lịch hành hương tôn giáo
Trang 9- Du lịch hoài niệm
Du lịch công vụ
Đặc trưng bởi các buổi hội nghị, hội thảo, hội chợ, các chuyến đi tìm cơ hội kinh doanh Được coi là một loại hình du lịch, bởi vì các đại biểu cũng có nhu cầu về đi lại, ăn
ở, giải trí Hơn nữa, họ còn có nhu cầu bổ sung như: tổ chức hội họp, thông tin liên lạc, dịch thuật…và thường họ có khả năng chi trả lớn Ở nhiều nước, loại hình này rất phát triển Ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế và việc thực hiện chính sách mở cửa, lượng khách du lịch công vụ cũng ngày một tăng và chiếm một tỷ trọng đáng kể
Du lịch mang tính chất xã hội
Khách du lịch với mục đích thăm viếng người thân, dự đám cưới…Sau du lịch vì lý
do giải trí nói chung, du lịch công vụ thì những chuyến du lịch vì lý do thăm viếng người thân chiếm một tỷ trọng đáng kể Đặc biệt đối với nước ta và những nước có nhiều kiều bào ở nước ngoài, đây là một loại hình du lịch rất quan trọng
Dựa vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi
- Du lịch quốc tế
- Du lịch nội địa
Dựa vào tài nguyên du lịch tại điểm tham quan
- Du lịch nghỉ biển
- Du lịch nghỉ núi
- Du lịch nông thôn
- Du lịch tham quan thành phố
Dựa vào phương tiện vận chuyển
- Du lịch bằng ôtô
- Du lịch bằng tàu thuỷ
- Du lịch bằng đường hàng không
- Du lịch bằng các phương tiện vận chuyển khác
Dựa vào thời gian chuyến đi ta có
- Du lịch dài ngày: chương trình kéo dài từ 1 tuần trở lên
- Du lịch ngắn ngày: chương trình thường kéo dài từ 1-5 ngày
Dựa vào khả năng chi trả của khách du lịch
nhận mức giá cao, tuy nhiên đòi hỏi khá gay gắt về điều kiện tiện nghi và sự phục vụ chu đáo
Trang 10- Du lịch quần chúng: du lịch bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau Họ có ít khả năng tài chính vì vậy ít đòi hỏi về tiện nghi và mức chất lượng phục vụ
Dựa vào cách tổ chức
1.3 Một số tỗ chức du lịch trên thế giới
Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization - WTO; Organization Mondiale du Tourism - OMT):
Là một tổ chức quốc tế đứng đầu và được tín nhiệm rộng rãi nhất về lĩnh vực du
và hơn 450 thành viên chi nhánh đại diện cho chính phủ quốc gia, hiệp hội du lịch, các viện giáo dục, các công ty tư nhân gồm hàng không, khách sạn và các nhà tổ chức tour
Trụ sở của WTO đặt tại Madrid, thủ đô Tây Đan Nha Ngôn ngữ chính thức của WTO là tiếng Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha WTO là một tổ chức liên chính phủ về xúc tiến và phát triển du lịch do Liên hiệp quốc giao phó Thông qua du lịch, mục tiêu của WTO là kích thích phát triển kinh tế và tạo ra công ăn việc làm, đẩy mạnh gìn giữ và bảo vệ môi trường, di sản cũng như tăng cường thúc đẩy hoà bình và hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới, tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo
Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (World Travel and Tourism Council - WTTC)
Là một liên minh toàn cầu gồm 100 viên chức đứng đầu ở tất cả các khu vực ngành công nghiệp: lưu trú, ăn uống, du lịch biển, giải trí, vận chuyển và lữ hành WTTC thành lập năm 1990 do một Hội đồng gồm 15 thành viên dẫn dắt, triệu tập 1 năm 2 lần và
2 báo cáo cho cuộc họp hàng năm Những họat động hàng ngày được điều hành bởi chủ tịch và nhóm nhân viên đặt tại Anh Mục tiêu là làm việc với các chính phủ để tạo cho du lịch một chiến lược phát triển kinh tế và ưu tiên công ăn việc làm nhằm tiến đến mở cửa
và cạnh tranh thị trường, xoá bỏ những rào cản phát triển để công nhận tiềm năng kinh tế của ngành du lịch và khả năng phát sinh công việc; phát triển nguồn vốn và tiến bộ kỹ thuật, kết nối cơ sở hạ tầng với nhu cầu khách hàng
Hiệp hội khách sạn quốc tế (International hotel Association - LHA)
Được thành lập năm 1969 thay thế cho hiệp hội các nhà kinh doanh khách sạn và Liên hiệp khách sạn quốc tế Mục tiêu hành động của một tổ chức quốc tế về ngành công