1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp việt nam

131 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC VIẾT TẮT AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á BTO Hình thức Xây dựng - chuyển giao - hoạt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN VĂN TÙNG

Hà Nội - 2008

Trang 3

MỤC LỤC Trang Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

1.2 Vai trò của đổi mới công nghệ với cạnh tranh của doanh nghiệp

trong kinh tế thị trường

33

1.2.2 Vai trò của đổi mới công nghệ với năng lực cạnh tranh của doanh

1.3.1 Kinh nghiệm đổi mới công nghệ của một số nước 39

Chương 2 Tình hình đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp công nghiệp

2.1.1 Mức độ hiện đại công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam 48

2.1.2 Nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ 50

2.1.4 Năng lực đổi mới và tiếp thu công nghệ trong quá trình chuyển giao

công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

57

2.1.5 Khả năng thương mại hoá sản phẩm công nghệ 63

2.3 Tác động của đổi mới công nghệ đối với năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

81

Trang 4

2.3.1 Nhận thức của doanh nghiệp về đổi mới công nghệ 81

2.3.4 Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt

Nam

84

2.4 Những tồn tại trong đổi mới công nghệ của doanh nghiệp công

nghiệp Việt Nam

87

2.4.2 Hạn chế từ phía doanh nghiệp đối với hoạt động đổi mới công nghệ 95 Chương 3 Quan điểm và giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các

doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới

triển khoa học và công nghệ nước ta trong giai đoạn tới

97

3.1.1 Xu hướng phát triển của khoa học & công nghệ thế giới 97

3.1.2 Quan điểm phát triển và đổi mới KH&CN ở nước ta trong giai đoạn tới 100

3.2 Những đề xuất và giải pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

105

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BTO Hình thức Xây dựng - chuyển giao - hoạt động

BOT Hình thức xấy dựng - hoạt động - chuyển giao

CIEM Viện quản lý kinh tế Trung Ương

CNTT Công nghệ thông tin

CSDL Cơ sở dữ liệu

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

ĐTMH Đầu tư mạo hiểm

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GCI Chỉ số cạnh tranh toàn cầu

GDP Tổng sản phẩm quốc dân

KCN, KCX Khu công nghiệp, khu chế xuất

KH&CN Khoa học và công nghệ

KNXK Kim ngạch xuất khẩu

IPRs Các quyền sở hữu trí tuệ

NC&TK Nghiên cứu và triển khai

NSNN Ngân sách Nhà nước

OBM Nhà sản xuất thương hiệu gốc

ODM Nhà thiết kế sản phẩm gốc

OEDC Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

OEM Nhà sản xuất thiết bị gốc

TNCs Cồng ty xuyên quốc gia

R&D Nghiên cứu và phát triển

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kinh phí đầu tư cho KH&CN từ NSNN theo giá hiện hành 50

Bảng 2.3.Phân bổ kinh phí sự nghiệp khoa học TW và địa phương 52

Bảng 2.4 Cơ cấu đầu tư cho R&D và đầu tư đổi mới công nghệ của doanh

nghiệp

52

Bảng 2.5 Cơ cấu đầu tư cho R&D và đổi mới cồng nghệ trong doanh

nghiệp xét theo cơ cấu thành phần kinh tế

53

Bảng 2.6 Kinh phí đầu tư cho KH&CN khu vực doanh nghiệp 54

Bảng 2.7 Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học của Việt Nam 56

Bảng 2.8 Cơ cấu lao động doanh nghiệp phân theo trình độ lao động 57

Bảng 2.9 Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam từ năm 2000 đến

nay

59

Bảng 2.10 Phân loại doanh nghiệp theo trình độ công nghệ 61

Bảng 2.11 Tỷ lệ lao động được đào tạo lại ở một số loại hình doanh nghiệp

(%) so với tổng lao động đang làm việc

63

Bảng 2.12 Đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp – xây dựng 63

Bảng 2.13 Kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may Việt Nam trong giai

Bảng 2.15 Tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn các hình thức đổi mới công nghệ

trong ngành Dệt may ( %, 65 DN được khảo sát)

70

Bảng 2.16 Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt nam 71

Bảng 2.17 Tỷ lệ các yếu tố đầu vào sản xuất của một số mặt hàng hoá chất

cơ bản của Việt Nam

75

Bảng 2.18 Tỷ lệ lựa chọn hình thức đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

hoá chất (%, 35 DN được khảo sát)

76

Bảng 2.19 Kim ngạch xuất nhập khẩu ngành điện tử, máy tính Việt Nam 81

Bảng 2.20 Vị trí xếp hạng năng lực canh tranh của Việt Nam 85

Bảng 2.21 Chỉ số công nghệ của Việt Nam theo xếp hạng của WEF 85

Trang 7

Bảng 2.22 Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam trong kim

ngạch xuất khẩu cả nước

86

Bảng 2.23 Tỷ trọng xuất khẩu công nghiệp chế tạo của một số quốc gia 86

Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam 58

Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam (%) 59

Biểu đồ 2.3 Mức đồng bộ công nghệ của các doanh nghiệp hoá chất 74

Biểu đồ 2.4 Kim ngạch xuất khẩu của ngành điện tử Việt Nam giai đoạn

từ 2000 đến nay

77

Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng giá trị gia tăng ngành công nghiệp % 84

Trang 8

M Ở ĐẦU

Tớnh cấp thiểt của đề tài:

Hiện nay, những biến chuyển to lớn của khoa học cụng nghệ cựng với xu thế toàn cầu húa đó tạo thời kỳ cỏch mạng mới cho nền kinh tế toàn cầu Trong đó, việc ứng dụng thành tựu mới của khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh là cỏch thức sản xuất đóng vai trò quan trọng và chiếm - u thế cao Trình độ nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào cỏc hoạt động kinh tế - xã hội thể hiện trình

độ phát triển của một quốc gia Tỷ trọng đóng góp của khoa học công nghệ trong tốc độ tăng tr- ởng kinh tế của các n- ớc ngày càng chiếm tỷ lệ rất lớn Ngoài ra, cũn tạo điều kiện thuận lợi cho cỏc nước đi sau lợi dụng được ưu thế, rỳt ngắn được khoảng cỏch phỏt triển Cỏc nước đang phỏt triển cú thể tiếp cận những cụng nghệ

kỹ thuật hiện đại để ứng dụng và đổi mới cụng nghệ trong sản xuất kinh doanh Thực tiễn Việt Nam cũng không nằm ngoài yêu cầu cấp thiết đó

Nước ta chớnh thức trở thành thành viờn của WTO (11/2006) Đõy là sõn chơi quốc tế lớn, vừa đem lại cơ hội và đồng thời cũng mang lại nhiều thỏch thức cho cỏc doanh nghiệp Để hội nhập thành cụng và tham gia sõn chơi một cỏch cụng bằng, bỡnh đẳng đũi hỏi cỏc doanh nghiệp phải cú đủ sức cạnh tranh Tuy nhiờn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đú cụng nghệ ngày càng trở thành yếu tố đúng vai trũ hết sức quan trọng Trước đõy,

những biện phỏp cạnh tranh bằng giỏ là hỡnh thức cạnh tranh hiệu quả đối với cỏc doanh nghiệp Nhưng hiện nay, phương thức cạnh tranh này khụng cũn tỏc dụng vỡ

giỏ cỏc yếu tố đầu vào tăng cao và cú nhiều biến động (đặc biệt là những biến động

về sự tăng giỏ xăng dầu) đó gõy ảnh hưởng lớn đến giỏ cả hàng hoỏ Do vậy, trong giai đoạn hiện nay cạnh tranh nhờ cụng nghệ trở thành hỡnh thức cú ưu thế đem lại

hiệu quả cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Vỡ cụng nghệ và đổi mới cụng nghệ chớnh là nền tảng để tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, cơ sở hạ giỏ thành sản phẩm, nõng cao năng suất, sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của cỏc doanh nghiệp Thực tế ở nhiều quốc gia Đụng Á, Trung Quốc cho thấy cỏc nước này đó rất

Trang 9

thành cụng khi thực hiện chiến lược phỏt triển kinh tế, cụng nghiệp hoỏ đất nước

nhờ phỏt triển và đổi mới cụng nghệ

Ở Viờt Nam trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu và đóng góp không nhỏ của khoa học công nghệ vào quá trình xây dựng đất n- ớc, hoạt động khoa học công nghệ n- ớc ta còn nhiều hạn chế Tỡnh hỡnh đổi mới công nghệ trong cỏc doanh nghiệp diễn ra chậm, ch- a t- ơng xứng với tiềm năng sẵn có, ch- a đáp ứng đ- ợc yờu

cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n- ớc Trỡnh độ cụng nghệ nước

ta cũn thấp hơn so với mặt bằng chung của nhiều n- ớc trên thế giới đặc biệt là ngành công nghiệp thì đổi mới công nghệ ch- a đáp ứng đ- ợc yêu cầu đ- a Việt Nam trở thành n- ớc công nghiệp hiện đại vào năm 2020

Do vậy, để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và đuổi kịp trình độ phát triển của các n- ớc, Việt Nam cần quan tâm đến phát triển khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ Đảng và nhà n- ớc đã thực thi nhiều chính sách nhằm phát triển khoa học công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ Tuy nhiên, thực tế tác động của chính sách đó đến đâu và trong nhận thức, cách làm của doanh nghiệp có thực hiện đ- ợc hay không còn là vấn đề cần nghiên cứu

Xuất phát từ những yêu cầu trên, nhận thấy việc tìm hiểu thực trạng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp cụng nghiệp Việt Nam và vai trò của đổi mới công nghệ đối với quỏ trỡnh nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp nói riêng , của Việt Nam nói chung trong hội nhập kinh tế quốc tế là công việc thực sự cần thiết và có ý nghĩa

Với ý nghĩa và sự cần thiết đó của vấn đề nên em lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“ Đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam” trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị

Khoa học công nghệ và các hoạt động đổi mới công nghệ hiện nay đ- ợc cỏc cơ quan, cấp, ngành và nhiều ng- ời quan tâm nghiên cứu và xem xét d- ới nhiều góc

độ khác nhau

Cú nhiều sỏch bỏo, tạp chớ đó đề cập tới vai trũ của cụng nghệ tỏc động đến

tăng trưởng kinh tế và sức cạnh tranh quốc gia

Trang 10

Cũng có những sách, báo và tạp chí đã đề cập đến vai trò của hoạt động nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm của một số nước thực thi chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp:

- Phan Xuân Dũng - Hồ Mỹ Duệ ( 2004), “chuyển giao công nghệ ở Việt Nam”, NXB chính trị Quốc gia

- Kiều Gia Thư, (2007), “Kinh nghiệm của Hàn Quốc về nhập khẩu và phát

triển công nghệ”, (số 6), “ hoạt động Khoa học”

- TS Nguyễn Văn Thu, (2007), “ Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ ở

Singpore, ( số 6) , “ hoạt động Khoa học”

- Lê Xuân Bá, (2007), “ Hoàn thiện chính sách huy động vốn cho đầu tư đổi

mới công nghệ của doanh nghiệp”, (số 9), “ hoạt động Khoa học”

Luận án đề cập đến thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp nhà nước:

- Nguyễn Mạnh Hùng, (2001), “Đầu tư đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước, luận án TS kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

Mặc dù, những vấn đề của đổi mới công nghệ đã được các chuyên gia, học giả

đề cập, phân tích và luận giải cả về mặt lý luận và thực tế Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hoạt động đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp hiện nay cũng nảy sinh nhiều vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Làm rõ tình hình đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam Đánh giá những thành tựu và chỉ rõ những hạn chế, khó khăn trong hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp

Trang 11

Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

* Đối tƣợng:

Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam Những vấn đề lý luận, những chính sách, bài học thực tiễn, thực trạng và những giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

Tìm hiểu về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp, Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản : phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

Bªn c¹nh những phương pháp trên, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp với xây dựng biểu đồ số liệu để mô

tả hiện trạng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp

- Làm rõ vai trò đổi mới công nghệ với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Luận văn cố gắng phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

Trang 12

7 Bố cục của luận văn

Bố cục của luận văn ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, phần nội dung bao gồm ba chương:

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH

Trang 13

CH ƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 1.1 Công nghệ và đổi mới công nghệ

1.1.1 Công nghệ

1.1.1.1 Một số khái niệm:

* Công nghệ:

Luật khoa học công nghệ Việt Nam:

- Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,

phương tiện dùng dể biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Theo tổ chức ESCAP ( Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á – TBD)

- Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến sản

phẩm hoặc thông tin Nó bao gồm: kiến thức, khả năng, thiết bị, sáng chế, công thức chế tạo, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ

Khoa học: là hệ thống các tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy

Kỹ thuật: Là kỹ năng cần thiết để thực hiện một hay một số nhiệm vụ đặc thù Nói cách khác kỹ thuật là kỹ năng bắt tay vào thực hiện một công việc

Bí quyết: Là sự cải tiến về kiến thức, cải tiến về công nghệ và kỹ thuật mà chỉ có một người một nhóm người có thể có được

Từ những khái niệm trên đây, ta có thể phân biệt được các thuật ngữ khoa học, công nghệ, kỹ thuật, bí quyết Công nghệ là khái niệm rộng hơn kỹ thuật, bí quyết bao hàm nội dung của đổi mới khoa hoc và công nghệ

Trang 14

1.1.1.2 Thành phần công nghệ và mối quan hệ giữa các thành phần

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, khi coi công nghệ là một đầu vào quan trọng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, công nghệ bao gồm các thành phần:

Thành phần kỹ thuật (Technoware): bao gồm các công cụ và các phương tiện

sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn Technoware bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống xử lý thông tin

• Hệ thống biến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết

kế của máy móc thiết bị

• Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xây dựng một cách cục bộ hoặc hoàn toàn trong thành phần Thiết bị Trong một vài trường hợp, nó có thể không có trong thành phần này Hệ thống gồm ba giai đoạn: nhận biết – phân tích – xử lý

Thành phần Con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất

biểu hiện về mặt con người của công nghệ Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất và là nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hàng hoá

Thành phần Tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực

tiễn, và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware Nó

có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc

Thành phần Thông tin (Inforware): biểu thị việc tích luỹ kiến thức bởi con

người Dù có tổ chức tốt, “Con người” cũng không thể sử dụng “Máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “Thông tin, tài liệu” Inforware được chia làm ba loại:

• Thông tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì và cải tiến

• Thông tin chuyên về con người: thông tin về những hiểu biết và đánh giá

về quy trình sản xuất và thiết bị được sử dụng

• Thông tin chuyên về tổ chức: thông tin cần thiết để bảo đảm việc sử dụng hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của Technoware và Humanware

Trang 15

Bốn yếu tố này bổ sung cho nhau và tác động lẫn nhau Chúng đòi hỏi phải

có mặt đồng thời trong hoạt động sản xuất và không có hoạt động chuyển đổi nào

có thể hoàn thành nếu thiếu một trong bốn yếu tố

- Với các thành phần cấu thành như vậy, công nghệ còn được phân loại theo hai bộ phận:

+ Phần cứng: bao gồm thành phần kỹ thuật ( T ), yếu tố vật chất

+ Phần mềm: là các yếu tố phi vật chất, bao gồm ba thành tố H, I, O

1.1.2 Đổi mới công nghệ

1.1.2.1 Khái niệm

- OECD đưa ra định nghĩa về đổi mới công nghệ như sau:

Đổi mới khoa học và công nghệ có thể được xem như là biến đổi một ý tưởng thành một sản phẩm mới có thể bán được, hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại, hoặc thành phương pháp mới về dịch vụ xã hội [17]

Như vậy, đổi mới có thể bao gồm các biện pháp về khoa học, kỹ thuật, thương mại và tài chính cần thiết để phát triển và thương mại hoá sản phẩm mới, để sử dụng quá trình và vật liệu mới hoặc để đưa ra một phương pháp mới về dịch vụ xã hội

- Hội đồng tư vấn KH – CN Anh:

Đổi mới công nghệ là quá trình kỹ thuật, công nghiệp, thương mại nhằm marketing sản phẩm mới, nhằm sử dụng các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới [17]

- Dựa trên tác động biến đổi các yếu tố cấu thành công nghệ

Khi xem xét đổi mới công nghệ trên cơ sở biến đổi các thành phần công nghệ theo hướng tích cực thì có thể thấy khái quát kết quả của đổi mới công nghệ

thể hiện ở các trường hợp cụ thể sau:

+ Đưa ra sản phẩm mới

+ Đưa ra một phương pháp sản xuất hoặc thương mại hoá mới

+ Chinh phục thị trường mới

+ Sử dụng nguồn nguyên liệu mới

+ Tổ chức mới lại đơn vị sản xuất

Dù có cách tiếp cận khác nhau, nhưng những quan điểm trên đều chỉ rõ tác động của đổi mới công nghệ đem lại Do vậy, tổng hợp các quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm rộng nhất về đổi mới công nghệ như sau:

Trang 16

Thực chất đổi mới cụng nghệ là một quỏ trỡnh biến đổi cỏc yếu tố đầu vào nhằm tạo ra những cỏch thức và biện phỏp cụng nghệ mới tạo lập sự biến đổi hiệu quả cỏc yếu tố đầu ra

- Phân biệt cải tiến, hợp lý hoá công nghệ và đổi mới công nghệ

T ớnh chất Dựa trờn cỏi cũ Loại bỏ cũ, xõy dựng trờn

nguyờn tắc mới

Đặc trưng Thớch nghi tốt hơn Hoạt động mang đặc trưng của

nghiờn cứu và triển khai

Điều kiện Vốn ớt nhưng đũi hỏi nỗ lực

duy trỡ thường trỡ liờn tục Vtrỡnh độ cao ốn lớn, rủi ro cao Nhõn lực

Đỏnh giỏ kết quả Tốt hơn, cần khoảng thời

gian dài Thay chất lượng thay đổi rừ rệt đổi đột ngột, năng suất,

1.1.2.2 Cỏch thức phõn loại đổi mới cụng nghệ

- Theo tớnh hiện đại của cụng nghệ : đổi mới cụng nghệ nguồn và cụng nghệ cuối đường ống

+ Đổi mới công nghệ nguồn là hình thức đổi mới công nghệ của các n- ớc tiên tiến, kết quả của đổi mới là sự xuất hiện của công nghệ mới nhất

+ Đổi mới công nghệ cuối đ- ờng ống là hình thức đổi mới công nghệ diễn ra ở các

n- ớc đi sau về công nghệ Cụng nghệ ở cỏc nước này là cụng nghệ lạc hậu hơn so

với cỏc nước tiờn tiến nhưng vẫn là mới so với cỏc nước này

- Theo tiờu chớ tỏc động của cụng nghệ với mụi trường : đổi mới cụng nghệ sạch và cụng nghệ bẩn

+ Cụng nghệ bẩn là cụng nghệ gõy ra nhiều ảnh hưởng tới mụi trường, sản xuất

khụng quan tõm đến xử lý chất thải, sử dụng lóng phớ tài nguyờn, xả thải chất thải vào mụi trường, cú thể gõy ảnh hưởng đến sức khoẻ, sự sống của con người và cỏc sinh vật khỏc…

+ Cụng nghệ sạch là cụng nghệ gõy ớt tỏc động xấu tới mụi trường hay là những cụng

nghệ thõn thiện với mụi trường, quan tõm đến bảo vệ mụi trường như xử lý chất thải,

sử dụng tiết kiệm cỏc nguồn tài nguyờn, tạo ra ớt chất thải độc hại vào mụi trường…

- Theo tớnh sỏng tạo: Đổi mới giỏn đoạn và đổi mới liờn tục

+ Đổi mới giỏn đoạn (Discontinuous Innovation), cũn gọi là đổi mới căn bản

Trang 17

(Radical innovation), thể hiện sự đột phá về sản phẩm và quá trình, tạo những ngành mới hoặc làm thay đổi những ngành đã chín muồi Đổi mới này tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường mới

+ Đổi mới liên tục (Continuous Innovation), còn gọi là đổi mới tăng dần (Incremental Innovation), nhằm cải tiến sản phẩm và quá trình để duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện có

Giữa hai hình thức đổi mới này có mối quan hệ với nhau được minh họa ở sơ

- Theo nhân tố bên trong và bên ngoài:

Đổi mới công nghệ từ bên trong bao gồm : Đầu tư cho các hoạt động R & D trong c¸c doanh nghiÖp, trong c¸c viÖn vµ tổ chức khoa häc vµ c«ng nghÖ

Đổi mới công nghệ từ bên ngoài : nhận Liên doanh BOT, FDI, hợp đồng mua công nghệ, OEM, ODM

- Theo phạm vi đổi mới công nghệ : đổi mới công nghệ doanh nghiệp và đổi mới công nghệ quốc gia

Gíai đoạn thay thế Cạnh tranh về kiểu dáng Đổi mới liên tục

Trang 18

1.1.2.3 Các giai đoạn của đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ có thể bằng nhiều cách, có thể phát triển từ nguồn công nghệ trong nước, cũng có thể từ nguồn công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài Nhưng nhìn chung đổi mới công nghệ gồm một số giai đoạn sau :

+ Giai đoạn 1: Nhập khẩu công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu

+ Giai đoạn 2: Tổ chức cơ sở hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thu công nghệ nhập

+ Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nước ngoài thông qua lắp ráp (SKD – Semi Knock Down, CKD – Complete Knock Down và IKD – Incomplete Knock Down) + Giai đoạn 4: Phát triển công nghệ nhờ lixăng

+ Giai đoạn 5: Đổi mới công nghệ nhờ nghiên cứu và triển khai, thích ứng công nghệ nhập, cải tiến cho phù hợp

+ Giai đoạn 6: Xây dựng tiềm lực công nghệ để xuất khẩu công nghệ trên cơ sở nghiên cứu và triển khai

+ Giai đoạn 7: Liên tục đổi mới công nghệ dựa trên đầu tư cao về nghiên cứu cơ bản

Ở cấp độ doanh nghiệp: Quá trình đổi mới công nghệ bao gồm chuỗi hoạt động

kế tiếp nhau : R&D, sản xuất và thương mại hoá

Tuỳ thuộc vào khả năng xuất phát của doanh nghiệp trong qúa trình đổi mới là

bắt đầu từ khả năng kỹ thuật hoặc từ nhu cầu thị trường mà doanh nghiệp có thể sử

dụng những phương pháp đổi mới khác nhau : phương pháp sức đẩy công nghệ (Technology Push) hoặc phương pháp sức kéo thị trường (Market Pull)

Đổi mới công nghệ theo phương pháp sức đẩy công nghệ [17]

Đổi mới công nghệ theo phương pháp sức kéo thị trường [17]

Nghiên cứu

cơ bản &

ứng dụng

Phát triển sản phẩm & quá trình

Sản xuất

Phân phối & Marketing

Trang 19

1.1.2.4 Các hình thức đổi mới công nghệ chủ yếu

Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước ( R & D )

Đây là hình thức đổi mới công nghệ phổ biến đối với các nước phát triển Tỷ trọng chi cho hoạt động R & D chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn đầu tư cho đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, tổ chức R & D, các tổ chức KH&CN, viện nghiên cứu

R & D gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển Nghiên cứu cơ bản thường được tập trung ở các trường đại học, cơ quan nghiên cứu Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp rất thành công trong nghiên cứu cơ bản, nhất là những doanh nghiệp cạnh tranh để giữ vị thế dẫn đầu về công nghệ

Nghiên cứu ứng dụng thường nhằm vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong doanh nghiệp

Sự khác nhau chủ yếu giữa nghiên cứu và phát triển là nghiên cứu để tăng thêm kiến thức khoa học, còn phát triển nhằm đưa ra các lĩnh vực áp dụng mới

Hoạt động R &D

2 Nghiên cứu ứng dụng

3 Triển khai thực nghiệm

Nghiên cứu cơ bản thuần túy

Nghiên cứu cơ bản định hướng

Trang 20

R & D theo khái niệm của UNESCO:

R

&

Nghiên cứu ứng dụng Vận dụng lý thuyết để mô tả, giải thích , dự báo, đề

xuất giải pháp

Nguồn : Vũ Cao Đàm

R&D được có thể được tiến hành ở cấp độ quốc gia và cấp độ doanh nghiệp

R & D của doanh nghiệp:

Căn cứ vào các loại hình nghiên cứu hay triển khai có 2 loại hình doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp tập trung vào R : là những công ty có nhiều nỗ lực để tạo ra những phát minh có khả năng áp dụng trong doanh nghiệp, được gọi chung là những công ty dẫn đầu về công nghệ (Technological Leader)

- Doanh nghiệp tập trung vào D: là những công ty hướng vào việc cải tiến các phát minh và thúc đẩy đổi mới để đáp ứng những nhu cầu riêng cùa họ, được gọi chung là những công ty đi sau về công nghệ (Technological Follow)

Căn cứ vào mục tiêu hoạt động R & D trong doanh nghiệp có thể chia thành

3 lĩnh vực tuỳ theo mục đích nghiên cứu:

- R & D cho các hoạt động kinh doanh hiện tại Nhằm bảo vệ, duy trì vị thế hiện tại, tức là đảm bảo sản phẩm không bị lạc hậu và cạnh tranh được trên thị trường Mục tiêu là kéo dài đời sống sản phẩm hiện có, giảm chi phí sản xuất sản phẩm hiện có và đưa ra những model mới của sản phẩm hiện có

- R & D cho các hoạt động kinh doanh mới: Nhằm tạo ra các hoạt động kinh doanh mới, mục tiêu là tạo ra sản phẩm mới

- R & D cho nghiên cứu thăm dò (exploratory research) Nhằm tích luỹ kiến thức trong lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động, kiến thức trong những lĩnh vực khác mà doanh nghiệp cho là quan trọng trong tương lai Mục tiêu là khám phá những cơ sở cho công nghệ mới

Trang 21

Đặc điểm của nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển trong DN

N guồn : Trần Thanh Lâm [17]

Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động R & D của doanh nghiệp:

+ Yếu tố bên ngoài: sự hỗ trợ của Chính phủ, sự hợp tác với các cơ quan nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp khác, sự ủng hộ của người tiêu dùng và nhà cung cấp

+ Yếu tố bên trong: sự ủng hộ của Ban lãnh đạo cấp cao, sự hợp tác giữa bộ phận R & D, sản xuất và marketing, những người đi đầu trong lĩnh vực công nghệ, nhân viên có kỹ năng nghiên cứu

Hệ thống R & D quốc gia

Đổi mới công nghệ ở phạm vi quốc gia có tác động rất quan trọng đối với doanh nghiệp, có tác động hỗ trợ , thúc đẩy đổi mới công nghệ ở cấp doanh nghiệp

Hệ thống R & D quốc gia là cơ sở hạ tầng tạo ra công nghệ mới và hướng dẫn việc sử dụng công nghệ Ở phạm vi quốc gia, hoạt động R & D được nghiên cứu ở các cơ quan của ngành công nghiệp, cơ quan nghiên cứu của chính phủ và trường Đại học Sự gắn kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các trường đại

Cải tiến các phát minh

và đổi mới để đáp ứng nhu cầu riêng của doanh nghiệp

Cao (hướng vào việc giải quyết những vấn

đề đặc thù)

Nguồn

Cơ quan nghiên

cứu, trường đại

học, một số người

đứng đầu về công

nghệ

Những người dẫn đầu về công nghệ Những người theo sau về công nghệ

Triết lý Khám phá tri thức

mới Đạt được vị thế dẫn đầu về công nghệ Hoàn thiện công nghệ

Trang 22

học là mấu chốt quan trọng để đảm bảo sự liên kết từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dung và triển khai vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh

Nghiên cứu và triển khai công nghệ trong nước đóng vai trò quan trọng trong

quá trình đổi mới công nghệ Ngoài việc đem lại những lợi ích kinh tế nó còn góp phần phát triển khoa học công nghệ trong nước, tạo ra vị thế về công nghệ cho quốc gia, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế

Hình thức đổi mới này có nhiều ưu điểm như :

- Tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực có sẵn (vật lực, tài lực, nhân lực )

- Tạo ra công nghệ phù hợp và thích nghi với điều kiện sẵn có,

- Dễ quản lý và không phụ thuộc vào nước ngoài,

- Hạn chế nhập khẩu công nghệ,

- Tạo điều kiện để nâng cao năng lực công nghệ trong nước

- Mất thời gian cho nghiên cứu và triển khai

- Hạn chế về năng lực và nhân lực để tạo ra những công nghệ có chất lượng

- Dễ mất cơ hội về chiếm lĩnh thị trường

- Đòi hỏi nguồn đầu tư lớn và dài hạn

Những hạn chế này là những vấn đề lớn của các nước đang phát triển, nên hình thức đổi mới công nghệ này không được thực hiện phổ biến mà chủ yếu được thực hiện dưới hình thức nhận chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ

Chuy ển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng

m ột phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên

nh ận công nghệ [19]

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khi xem xét chuyển giao công nghệ là một hình thức đổi mới công nghệ mà doanh nghiệp tiếp nhận được từ

bên ngoài thì:

Trang 23

Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển và nhận công nghệ qua biên giới một quốc gia

Hay theo nghĩa đơn giản nhất, chuyển giao công nghệ được hiểu là lĩnh vực hoạt động nhằm đưa những công nghệ từ nơi có công nghệ đến nơi có nhu cầu công nghệ Chuyển giao công nghệ thường có sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân với

tư cách là chủ thể

Đây là hình thức đổi mới công nghệ được thưc hiện khá phổ biến ở các quốc gia đang phát triển Các nước này do trình độ nghiên cứu và triển khai trong nước còn yếu, do đó chủ yếu thực hiện chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực công nghệ trong nước Chuyển giao công nghệ có thể thực hiện thông qua nhiều hình

thức khác nhau, dù phương thức nào quá trình chuyển giao công nghệ bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau:

- Nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trường trước khi đầu tư

- Thu thập thông tin về một số công nghệ đã có

- Thiết kế kỹ thuật – công nghệ

- Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị

- Phát triển công nghệ

Ngày nay, chuyển giao công nghệ được thực hiện rộng rãi trong điều kiện phân công và hợp tác quốc tế ngày càng sâu sắc Các nước thực hiện chuyển giao công nghệ vì một số lý do sau:

Thứ nhất: Các nước phát triển không đồng đều và yêu cầu công nghệ là rất

đa dạng Các nước dù phát triển hay đang phát triển thì với nguồn lực có hạn, họ không thể phát triển đầy đủ công nghệ mà họ cần mà chỉ có thể phát triển một số công nghệ có lợi thế cạnh tranh hơn so với các nước khác Vì thế cần phải giao lưu công nghệ với nước ngoài để vừa khai thác được nguồn lực trong nước và vừa tận dụng công nghệ bên ngoài để đổi mới và nâng cao sản phẩm trong nước

Thứ hai: Công nghệ hay sản phẩm công nghệ đều có chu kỳ sống nhất định

và các nhà sản xuất thường có mong muốn kéo dài chu kỳ sống của các công nghệ

và các sản phẩm đó Có thể công nghệ hay sản phẩm đó là cũ đối với thị trường này

Trang 24

nhưng lại là mới ở các thị trường khác Do vậy, chuyển giao công nghệ vừa tạo ra công nghệ mới và sản phẩm mới phục vụ cho nhu cầu trong nước và vừa tận dụng công nghệ ở cuối chu kỳ sống

Thứ ba: Nhu cầu thị trường biến đổi và ngày càng đa dạng, đòi hỏi các doanh

nghiệp cần phải định hướng cho những sản phẩm mới và thay thế những sản phẩm

cũ Liên tục đổi mới công nghệ là giải pháp hữu hiệu để thực hiện điều đó Đổi mới từng phần, từng công đoạn, đổi mới toàn bộ tuỳ thuộc theo chiến lược sản phẩm và năng lực công nghệ Nhưng đổi mới công nghệ bao hàm cả chuyển giao công nghệ Hay nói cách khác, đổi mới công nghệ là nhu cầu của chuyển giao công nghệ

Thứ tư: tranh thủ được vốn đầu tư nước ngoài, di chuyển luồng chất xám, di

chuyển công nghệ…

+ Chuyển giao công nghệ dọc:

Công nghệ mới được chuyển giao từ khu vực nghiên cứu, triển khai ( R & D) sang khu vực sản xuất và ứng dụng Đó là việc đưa một kết quả nghiên cứu đã được triển khai, thực nghiệm với những thông số kỹ thuật thực hiện trong giai đoạn sản xuất thử vào áp dụng trong sản xuất chứ không phải là kết quả nghiên cứu vừa thu được từ phòng thí nghiệm

Hình thức này có ưu thế là mang đến một công nghệ hoàn toàn mới, mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho bên nhận Tuy nhiên, bên nhận công nghệ phải chấp nhận mạo hiểm nếu không nắm được thông tin của thị trường công nghệ và các vấn

đề kinh tế xã hội khác có liên quan

+ Chuyển giao ngang:

Là chuyển giao một công nghệ hoàn thiện từ xí nghiệp này (một nước này) sang một xí nghiệp khác (một nước khác) Chuyển giao ngang có ưu điểm là độ tin cậy cao, ít mạo hiểm Nhưng bên nhận công nghệ thường phải chấp nhận công nghệ tầm vừa (kênh chuyển giao phổ biến giữa các nước phát triển và đang phát triển)

Trang 25

- Phân loại theo chiều sâu của mức độ chuyển giao

+ Chuyển giao công nghệ theo hình thức “ trao kiến thức”:

Hình thức này chỉ dừng ở mức độ truyền đạt, hướng dẫn nhằm trang bị những kiến thức về phương pháp, cách thức, bí quyết… để vận hành một công nghệ nào đó + Chuyển giao công nghệ theo mức độ “ chìa khoá trao tay”:

Là hình thức chuyển giao trọn gói Bên nhận công nghệ chỉ việc tiếp nhận công nghệ đi vào vận hành còn bên giao công nghệ chịu trách nhiệm hoàn thành việc thiết kế thi công, lắp đặt thiết bị công nghệ được chuyển giao, hướng dẫn đào tạo kiến thức cho bên nhận

+ Chuyển giao công nghệ theo mức độ “ trao sản phẩm” :

Bên giao công nghệ phải có trách nhiệm đối với bên nhận công nghệ cho đến khi sản xuất được những sản phẩm đầu tiên

+ Chuyển giao công nghệ theo mức độ “ trao thị trường” :

Phương thức yêu cầu bên giao công nghệ phải đảm bảo nhận thêm cả phần trách nhiệm bàn giao một khu vực thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc nguyên vật liệu cho bên nhận công nghệ Do vậy, cả hai bên giao nhận không chỉ chịu ràng buộc về mặt thời gian mà còn trong sản xuất, tiêu thụ, xử lý các rủi ro kỹ thuật, về thị trường.,… Phương thức này đang được ưa dùng hơn cả

+ Chuyển giao trọn gói :

Hình thức này gắn liền với nhu cầu đầu tư trực tiếp và được bán đứt cho nước chủ nhà sau khi hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng (chìa khoá trao tay) Có thể

tồn tại dưới hình thức hợp doanh trong đó toàn bộ công nghệ do bên chuyển nhượng chi phối, nước chủ nhà góp vốn đầu tư bằng đất đai, lao động và khai thác nguyên vật liệu tại chỗ để sản xuất, là công trình viện trợ hoặc cho vay, trong đó bên viện trợ hoặc bên cho vay cung cấp toàn bộ vốn và công nghệ Và cũng là hình thức đầu

tư mở rộng sản xuất của một công ty xuyên quốc gia do chi nhánh của nó thực hiện

ở nước sở tại

Trang 26

+ Chuyển giao bộ phận :

Quá trình từ phát minh sáng chế đến sản xuất theo quy mô công nghệ thường phải trải qua nhiều công đoạn: Nghiên cứu cơ bản; Triển khai sản xuất thử, sản xuất công nghiệp.Vì vậy chuyển giao bộ phận được hiểu là chuyển giao công nghệ diễn

ra ở một khâu nào đó, gồm các loại sau:

Mua bán Lixăng (Licence) : Đòi hỏi nước nhận phải có trình độ cao để thích ứng Mua bán trang thiết bị kỹ thuật: Có lợi thế là có thể nhanh chóng đưa vào sản

xuất, nhưng đòi hỏi nước nhận phải có nhiều vốn vì giá cả trang thiết bị kỹ thuật và chi phí để duy trì chúng tương đối cao

Mua bán bí quyết kỹ thuật công nghệ ( Know – how) : là loại chuyển giao đặc

biệt, gắn tri thức khoa học, kinh nghiệm của nhà quản lý chuyên môn

Mua bán quyền sở hữu công nghiệp: Nhằm xác định quyền được chi phối một

loại sản phẩm gắn với một loại công nghệ sản xuất nào đó, và do đó xác định thị trường tiêu thụ sản phẩm

Cả hai hình thức chuyển giao công nghệ “ trọn gói” và “ bộ phận” giống nhau ở chỗ đều được tiến hành cùng với sự dịch chuyển vốn, đầu tư máy móc thiết bị gắn liền với việc kinh doanh cụ thể

Thuê chuyên gia: được tiến hành khi nước chủ nhà không đủ khả năng tiến hành

một hoạt động công nghệ nào đó Hình thức này rất có lợi thế cho nước nhận, tạo điều kiện học hỏi được các kinh nghiệm quý báu trong quá trình làm việc của cán

bộ, công nhân nước nhận từ các chuyên gia

Trao đổi thông tin: diễn ra rất đa dạng và phong phú Đây là cơ sở quan trọng

nhất của xã hội hiện đại trong điều kiện bùng nổ thông tin Nó tạo ra một hệ thống

dữ liệu thông tin làm căn cứ quyết định nhanh chóng và chính xác cho các chính sách tăng cường công nghệ kỹ thuật

Huấn luyện và đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật : như việc đào tạo sinh viên,

nghiên cứu sinh, trao đổi chuyên gia

Trang 27

Loại hình này có ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển chưa có điều kiện cơ sở nghiên cứu Lực lượng lao động được đào tạo tốt chính là động lực thúc đẩy phát triển kỹ thuật, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…

* Các kênh chuyển giao công nghệ

Hàng hoá vốn

Nhập khẩu hàng hoá vốn bao gồm thiết bị, máy móc và các yếu tố đầu vào phục

vụ cho các công xưởng, nhà máy sản xuất , đây là kênh cơ bản của chuyển giao công nghệ Nền kinh tế các nước Đông Á đã gặt hái được nhiều thành công trong quá trình công nghiệp hoá của mình thông qua kênh nhập khẩu này

Sao chép công nghệ

Sao chép và mô phỏng công nghệ cũng là con đường thực hiện chuyển giao công nghệ Về bản chất sao chép công nghệ cũng là hình thức của nhập khẩu hàng hoá vốn Vì thực hiện kênh chuyển giao này, ban đầu các nước đều phải nhập khẩu công nghệ mới từ bên ngoài và việc nhập khẩu này thường chỉ giới hạn ở những máy móc, thiết bị thuộc thế hệ đầu Những thế hệ máy móc sau sẽ được các nhà máy thế hệ sau sản xuất trong nước

Tuy nhiên, để đảm bảo sao chép thành công công nghệ mới đòi hỏi các hãng sản xuất công nghệ trong nước phải có hiểu biết vững chắc về công nghệ sẽ được

mô phỏng Một số các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đạt nhiều thành công trong sao chép công nghệ tiên tiến thế giới và có nhiều bước tiến lớn trong những công nghệ này (công nghệ điện tử)

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thu hút đầu tư FDI cũng là kênh nhận chuyển giao công nghệ hiệu quả

Thông qua đầu tư của các TNCs nước nhận đầu tư có thể tiếp thu công nghệ mới Trong các hoạt động mua bán công nghệ chính thức thì hoạt động chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con chiếm tỷ trọng lớn Theo báo cáo UNCTAD, trong những năm 1995, giao dịch nội bộ về phí phát minh và giấy phép bản quyển chiếm trên 80% tổng giá trị giao dịch Vai trò quan trọng của FDI trong chuyển giao công nghệ quốc tế thể hiện rõ tiềm lực R & D của các công ty MNC Hầu hết các MNC

Trang 28

thường tập trung vào các ngành có tỷ lệ R & D cao trong doanh thu và có tỷ lệ lao động kỹ thuật và chuyên gia lớn Đây cũng là nhân tố tạo sức cạnh tranh của MNC

so các doanh nghiệp trong nước Hơn nữa, đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư nước ngoài thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư, do đó FDI có tác động đáng kể cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp

* Tác động lan truyền công nghệ của các TNCs

Tác dụng lan truyền công nghệ của MNC sang các doanh nghiệp trong nước

có thể mô tả thông qua một số hiệu ứng:

+ Công nghệ của các công ty xuyên quốc gia có thể được các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu bằng cách mô phỏng hay sử dụng kỹ thuật phân tích ngược

+ Thông qua di chuyển lao động từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sang khu vực doanh nghiệp trong nước cũng có thể dẫn đến phổ biến công nghệ : việc di chuyển chỗ làm, hoặc tự thành lập doanh nghiệp là biểu hiện rõ sự đóng góp của hiệu ứng này, những thông tin công nghệ, kỹ năng quản lý sẽ được dịch chuyển

+ Các công ty đa quốc gia có thể bằng lòng chuyển giao công nghệ dọc cho các công ty trong nước cung cấp hàng trung gian và mua các sản phẩm của những công ty này

+ Mua lại các công ty của nước ngoài

* Hạn chế của FDI đối với hoạt động của chuyển giao công nghệ

Tuy vậy, sự đóng góp của FDI đến quá trình chuyển giao công nghệ chỉ thể hiện ở phạm vi rất hẹp Có một số lý do sau:

+ Vì cơ bản, các MNC không sẵn sàng truyền bá công nghệ cho các hãng của các nước tiếp nhận đầu tư nếu họ không có động cơ và điều đó còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận của doanh nghiệp trong nước

+ FDI cũng không góp phần thúc đẩy các hoạt động R &D nội địa, chỉ có tác động đến bộ phận các doanh nghiệp có mối quan hệ trực tiếp với họ

+ Và hơn nữa, nói chung FDI tham gia chuyển giao công nghệ phục vụ cho sản xuất nhưng hiếm khi tham gia chuyển giao gắn với những sáng chế về công nghệ

Trang 29

Chuyển nhƣợng bản quyền

Chuyển nhượng bản quyền là kênh chuyển giao công nghệ trực tiếp.Thông qua việc mua lại bản quyền công nghệ doanh nghiệp có thể tiếp nhận công nghệ từ phía chuyển nhượng Thực tế việc chuyển nhượng bản quyền đòi hỏi nhiều năng lực công nghệ hơn khi thành lập công ty liên doanh Vì các nước tiếp nhận công nghệ cần phải có những hiểu biết cơ bản về công nghệ để sử dụng có hiệu quả Nếu chỉ đơn giản

là mua lại bản quyền sử dụng công nghệ, sẽ khó thể bảo đảm việc tiếp nhận đạt những thành công mới Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển thực hiện kênh chuyển giao này ngoài giấy phép sử dụng công nghệ, cần đòi hỏi các hãng chuyển nhượng phải hỗ trợ và cung cấp bản thiết kế chi tiết, đào tạo kỹ sư để điều khiển máy móc

Các nhà sản xuất thiết bị gốc

Tham gia vào mạng lưới phục vụ cho OEM ( nhà sản xuất thiết bị gốc ) cũng

là kênh giúp các doanh nghiệp tiếp nhận nhanh với công nghệ Lợi thế của hoạt động sản xuất phục vụ cho OEM thể hiện: những nhà cung cấp công nghệ sẽ đảm bảo về công nghệ và bí quyết cho các chi nhánh có thể sản xuất ra các chi tiết với chất lượng đúng theo yêu cầu đặt hàng Thông qua OEM, các chi nhánh có thể tăng nhanh số lượng hàng xuất khẩu, nâng cao khả năng khả năng tiếp thu công nghệ hoàn chỉnh Đài Loan, Hàn Quốc, Singapo có nhiều thành công khi liên kết với OEM để phát triển các ngành công nghiệp Tuy nhiên, có một số hạn chế từ kênh chuyển giao này:

+ Để trở thành đối tác của OEM, các hãng phải thực sự có khả năng sản xuất, phân phối hàng hoá có chất lượng

+ Bên đối tác phải ký kết nhiều thoả thuận với OEM

+ Khi trở thành đối tác của OEM, các hãng sẽ bị phụ thuộc rất nhiều và khó

có thể tách khỏi OEM để trở thành ODM (nhà thiết kế mẫu gốc), OBM (nhà tạo ra thương hiệu gốc)

Ở nước ta kênh chuyển giao mới xuất hiện, chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất linh kiện máy tính điện tử, một số tập đoàn máy tính lớn như Microsoft, Intel, Seagate đã lựa chọn một số doanh nghiệp điện tử Việt Nam thành những OEM (Hannel, CMS, FPT )

Trang 30

Di chuyển lao động

Đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ Để tiếp thu được những kiến thức cơ bản, các hãng phải thu hút được nguồn nhân lực có thể từ nguồn trong nước, các hãng khác, từ các chi nhánh của MNC, hoặc từ nước ngoài Thông qua sự di chuyển lao động những bí quyết công nghệ, tri thức trình độ tổ chức quản lý sẽ được du nhập vào khu vực doanh nghiệp trong nước

1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ là cả một quá trình, là sự kết hợp của nhiều yếu tố và thông qua các quá trình khác nhau Do vậy, quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

chịu sự tác động của nhiều nhân tố Có thể chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng chính:

* Nhu cầu

Phần lớn các trường hợp đổi mới công nghệ thường xuất phát từ nhu cầu của chính các doanh nghiệp: do áp lực của môi trường kinh doanh (các yếu tố vĩ mô như chính trị, xã hội, kinh tế, công nghệ ) làm xuất hiện nhu cầu, do áp lực của xã hội về vấn đề môi trường, hay do nhu cầu của người tiêu dùng cũng thúc đẩy đổi mới

* Vai trò của R & D đối với đổi mới công nghệ

R & D có vai trò quan trọng đối với phát triển công nghệ Nó được coi là phận hợp thành quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ đồng thời các chỉ tiêu R& D còn là tiêu chuẩn so sánh năng lực đổi mới công nghệ quốc tế Do vậy, đối với doanh nghiệp đầu tư cho R & D là hình thức đầu tư dài hạn cho đổi mới công nghệ, doanh nghiệp nào có ngân sách R & D lớn và nguồn nhân lực R & D có

kỹ năng sẽ thuận lợi và có nhiều lợi thế dẫn đầu trong đổi mới công nghệ

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết R & D của thế giới được thực hiện tại các nước công nghiệp, và sau đó được truyền bá sang các nước đang phát triển thông qua nhiều kênh khác nhau Ngược lại, các quốc gia đang phát triển thường là các quốc gia bị tụt hậu về lĩnh vực công nghệ, luôn đối mặt với vấn đề phải làm thế nào để xoá bỏ một cách tốt nhất khoảng cách công nghệ Do vậy, để thực hiện mục tiêu đó, các quốc gia phải dựa vào dòng nhập khẩu công nghệ nước ngoài, cũng như việc nghiên cứu R & D bản địa Nhưng công nghệ có thể nhập

Trang 31

khẩu nên đối với các quốc gia đang phát triển vấn đề cần quan tâm là phải xem xét lại nhu cầu phát triển các hoạt động R & D trong nước Vì việc nhập khẩu công nghệ và nhập khẩu R & D từ các nước phát triển là cách làm hiệu quả hơn so với việc tự bỏ ra khoản kinh phí đầu tư cho R &D trong nước Điều quan trọng là muốn hấp thụ thành công công nghệ nước ngoài thì các quốc gia này không chỉ thích ứng công nghệ mà còn phải tạo ra công nghệ cho chính mình Nói cách khác, các quốc gia và các doanh nghiệp phải thực hiện R & D theo hướng thích hợp công nghệ nhập khẩu và tạo ra được công nghệ của riêng mình

* Cạnh tranh

Công nghệ được xem như là vũ khí chiến lược của doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả các chiến lược cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp nào càng đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ thì càng chiếm được ưu thế lớn trong cạnh tranh

* Chính sách của chính phủ

Đầu tư đổi mới công nghệ mới thường là những hoạt động đầu tư mang tính dài hạn và đòi hỏi chi phí đầu tư lớn Đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ mới

và công nghệ cao thì đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ là khoản đầu tư

mạo hiểm đối với doanh nghiệp Vì vậy, để đảm bảo thành công và thu được kết

quả đổi mới hiệu quả bên cạnh chiến lược đầu tư riêng của mỗi doanh nghiệp thì vai trò hỗ trợ của chính phủ là hết sức cần thiết và quan trọng Sự hỗ trợ của Nhà nước thường thể hiện dưới các chính sách hỗ trợ, khuyết khích hay ưu đãi về vốn, thuế, đầu tư con người cho doanh nghiệp

Trang 32

1.1.2.6 C ác tiêu chí đánh giá đổi mới công nghệ

Các tiêu chí đánh giá định lượng

Đánh giá đầy đủ kết quả của đổi mới công nghệ là một công việc khó khăn,

do những lợi ích mà kết quả đổi mới công nghệ mang lại rất đa dạng, trong đó có những lợi ích không thể đánh giá một cách chính xác được

Tuy nhiên, vẫn có thể đánh giá được kết quả do đổi mới công nghệ đem lại trên cơ

sở so sánh lợi ích thu được sau quá trình đổi mới công nghệ và toàn bộ chi phí đầu

tư cho đổi mới các bộ phận công nghệ

Các nước trong khối ASEAN đã sử dụng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp trên cở sở so sánh giữa những lợi ích đem lại và những chi phí bỏ ra trong quá trình đổi mới công nghệ

* Phương pháp đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ

(1)

VA2 là giá trị gia tăng của doanh nghiệp sau khi đổi mới công nghệ

VA1 là giá trị gia tăng của doanh nghiệp trước khi đổi mới công nghệ

CTchi phí đầu tư cho trang thiết bị kỹ thuật

CO Chi phí đầu tư cho tổ chức quản lý trong doanh nghiệp

CH chi phí đầu tư cho kỹ năng và tay nghề của con người

CI chi phí đầu tư cho thông tin

Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp có thể đánh giá được tác động của đổi mới công nghệ đối với 4 thành phần của công nghệ Tuy nhiên, phương pháp này lại không phản ánh được sự tác động của sự thay đổi yếu tố đầu vào trong kết quả của đổi mới

* Sử dụng mô hình lượng hoá Cobb - Douglas[6]

Do vậy, để lượng hoá kết quả đổi mới công nghệ từ những thay đổi các yếu

tố đầu vào, trên cơ sở xây dựng hàm sản xuất là hàm số phụ thuộc vào các nhân tố

kỹ thuật, lao động, vốn , nguyên liệu và trình độ quản lý Hàm sản xuất được biểu

thị là hàm số của 5 biến số : Q = f( T, L,K, N, E) Trong đó:

Hiệu quả

Lợi ích =

VA2 – VA1

Chi phí = CT + CH + CO + CI

Trang 33

Q : Hàm sản lượng sản phẩm đầu ra; T : biến số phản ánh ảnh hưởng của tiến

bộ khoa học – công nghệ đối với các yếu tố đầu vào; L : Lao động; K: Vốn; N: Nguyên nhiên liệu; E: Trình độ quản lý

Có thể coi nguyên nhiên liệu ( N) là bộ phận của biến số vốn (K) và trình độ quản lý (E) là bộ phận của biến số Lao động ( L): Hàm sản xuất sẽ biểu thị:

Giả thiết α + β = 1 biểu thị lợi tức không đổi theo quy mô, cạnh tranh là hoàn hảo và các yếu tố sản xuất đều mang lại sản phẩm biên của chúng Logarit tự nhiên hai vế của (*) ta có:

rT = rQ - (αrL+ βrK) (3)

* Phương pháp Atlas công nghệ

Nội dung của phương pháp Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích, đánh giá chỉ số công nghệ (hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ) được xem xét ở ba quy mô khác nhau

Trang 34

thành phần thông tin - Infoware (I), thành phần tổ chức - Orgaware (O), kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần này sẽ xác định được hàm lượng công nghệ gia tăng Việc xác định rõ các chỉ số này là cơ sở để đánh giá hàm lượng công nghệ, năng lực công nghệ và chiến lược công nghệ của doanh nghiệp

Để đo lường được hàm lượng công nghệ của một công ty, người ta dùng phương pháp trắc lượng công nghệ để đo lường mức độ đóng góp của 4 thành phần công nghệ trong một quá trình chuyển đổi xác định Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) cho quá trình chuyển đổi có thể được tính theo công thức sau:

TCC = Tbt Hbh Ibi Obo (1)

Trong đó T, H, I, O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ; bt, bh, bi, bo là cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng

Để tính được TCC người ta tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ Thông qua thu thập

thông tin từ doanh nghiệp và thủ tục cho điểm bởi các chuyên gia, tiến hành xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ

Bước 2 : Đánh giá trình độ hiện đại.Trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ

được đánh giá thông qua các tiêu chí như: Xuất xứ công nghệ, năm sản xuất, lắp đặt, suất tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu, trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, hạ tầng thông tin, mục đích sử dụng máy tính

Bước 3: Đây là bước tính toán điểm số, tổng hợp, xác định hệ số từ tập nhiều tiêu

chí khác nhau

Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ

Bước 5: Tính toán hệ số TCC Sử dụng các giá trị T, H, I, O và các cường độ đóng

góp của các thành phần công nghệ (bt,h,i,o) có thể tính được TCC bằng công thức (1) ở trên TCC của công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi đầu vào, đầu ra của công ty

Ưu điểm của phương pháp

Phân tích hàm lượng công nghệ có thể biết được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển đổi ở cấp công ty,

Trang 35

cho phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành phần công nghệ Việc này không bị ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và có thể bổ sung cho việc phân tích tài chính thông thường Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể làm tăng khả năng sàng lọc kho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia về mặt đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài

Ở cấp độ của một ngành công nghiệp:

Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ

Ở quy mô một quốc gia:

Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ Trên thực tế, việc nghiên cứu đánh giá môi trường công nghệ cũng có thể được xem xét ở quy mô địa phương, vì ngay với quy

mô nhỏ hơn mức quốc gia vẫn tồn tại những yếu tố môi trường có tính đặc thù mà nếu chỉ khai thác môi trường công nghệ ở cấp quốc gia thì rất khó được đề cập đến Việc xem xét môi trường công nghệ ở quy mô nào phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng đề tài

Trong Atlas công nghệ, phương pháp phân tích hàm lượng công nghệ tập trung vào khía cạnh công nghệ - cách tiếp cận định lượng để đo mức độ đóng góp của mỗi thành phần trong 4 thành phần công nghệ tại một phương tiện chuyển đổi

T - Phần Kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ, bao gồm tất cả các phương tiện vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi như:

dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu và xưởng máy…

H - Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ, bao gồm các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi

I - Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ, bao gồm toàn bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt động chuyển đổi, như: Các bản thiết kế, tính toán, đặc tính, quan sát, phương trình, biểu đồ, lý thuyết…

Trang 36

O - Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ, bao gồm các

cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi như: Sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm, hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản lý…

Đánh giá theo các nhân tố tác động đến quá trình đổi mới công nghệ quốc gia

Xét trên phạm vi quốc gia, để đánh giá tiến trình đổi mới công nghệ của một nước ở các nước Đông Á đã sử dụng một số tiêu chí sau đây:

- Độ mở cửa:

Hiện nay, hội nhập kinh tế là yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia Đặc biệt, đối với các quốc gia đang phát triển thì hội nhập quốc tế còn là cơ hội để rút ngắn khoảng cách phát triển Sự lạc hậu về công nghệ là điểm dễ nhận thấy ở các quốc gia này Mở cửa làm tăng khả năng tiếp cận của một nước đối với các công nghệ hiện đại hiện có của thế giới, đầu vào trung gian, dịch vụ sản xuất và tất cả những yếu tố có thể nâng cao năng suất trong nước.Theo báo cáo của UNCTAD, hơn 90 % hoạt động R&D của thế giới diễn ra ở các nước OECD cho nên mở cửa đối với năng lực R & D toàn cầu là cực kỳ quan trọng đối với những nước đi sau

Các nước đi sau có vô số kênh chuyển giao công nghệ, trong đó FDI và việc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu là kênh đem lại hiệu quả đổi mới và hấp thụ công nghệ đối với các nước này Song không vì thế mà các quốc gia không cần quan tâm đến mở cửa và đầu tư cho R & D

Mặt khác, độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện ở mức độ mở cửa thương mại

và đầu tư Công nghệ cũng gắn chặt với thương mại và đầu tư Do vậy, việc nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ cũng là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng Độ mở càng sâu rộng thì tốc độ thay đổi công nghệ càng nhanh và tác động càng tích cực tới quá trình tăng năng suất Trung Quốc và Nhật Bản là những minh chứng điển hình rất thành công khi thực hiện đổi mới công nghệ nhờ chính sách mở cửa nhập khẩu công nghệ của nước ngoài

- Vốn con người

Con người được coi là lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu đối với mọi nền sản xuất Đây cũng là yếu tố bổ trợ quan trọng nhất đối với hoạt động đổi mới

Trang 37

công nghệ Sự đóng góp của nhân tố này được đánh giá trên một số tiêu chí: sự

phát triển của giáo dục và đào tạo, số lượng đội ngũ lao động có kỹ năng, trình độ học vấn chuyên môn của lao động… Tuy vậy, vai trò quan trọng của nhân tố này thể hiện ở những cấp độ khác nhau tuỳ như năng lực hấp thụ, thay đổi, đổi mới công nghệ và đồng hoá công nghệ dựa trên nền tảng của công nghệ nhập khẩu…

Quốc gia nào có lượng cung ứng lớn về kỹ năng quản lý và kỹ thuật chất lượng thì có khả năng hơn trong việc ứng dụng và quản lý công nghệ nước ngoài phù hợp với các điều kiện địa phương, góp phần giảm chi phí chuyển giao công nghê, truyền bá thông tin kỹ thuật dễ dàng hơn…

Singapo một lãnh thỗ có khoảng 4 triệu dân nên Chính phủ đã sớm chú trọng đầu tư vào việc tạo ra nguồn lao động kỹ năng trình độ cao để nâng cao mục tiêu

phát triển cơ cấu công nghiệp Hệ thống giáo dục rất được coi trọng, ngoài hệ thống

giáo dục chính quy, hệ thống đào tạo công nghiệp được quan tâm phát triển Hiện nay hệ thống giáo dục Singapore được xem như một trong những hệ thống tốt nhất

về sản xuất công nghệ cao Năm 1979, Singapo đã thành lập Quỹ Phát triển Kỹ năng (SDF), nguồn vốn hoạt động của Quỹ được lấy từ nguồn thu thuế 1% quỹ lương của công ty (được coi là nguồn trợ cấp cho công nhân được trả công thấp) Ngay từ năm 1996, trong số những người tốt nghiệp đại học, có 41 % học các môn

kỹ thuật…Nhờ sớm có chính sách đầu tư đúng đắn cho nguồn nhân lực nên Singapore đã nhanh chóng tạo ra sự cất cánh cho ngành công nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

- Thể chế cho hoạt động R & D

Những yếu tố hợp thành thể chế cho các hoạt động R & D bao gồm hệ thống các chính sách công nghệ, luật công nghệ, sở hữu trí tuệ, chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với doanh nghiệp, các tổ chức R & D cho các hoạt động đổi mới công nghệ (hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế, đào tạo nguồn nhân lực )

Đối với các nước đang phát triển, hiện nay chuyển giao công nghệ là hình thức đổi mới công nghệ chủ yếu vì hình thức này đem lại nhiều ưu thế hơn so với hoạt động R & D trong nước Do vậy, ở những quốc gia này thể chế phục vụ cho

Trang 38

các hoạt động chuyển giao công nghệ lại có vai trò quyết định đến việc thúc đẩy đổi

mới công nghệ trong nước Đặc biệt những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được coi là những nhân tố tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tiếp

nhận công nghệ mới

Lợi ích từ việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPRs)[3]

Việc thực thi hữu hiệu các quyền sở hữu trí tuệ có tác động tích cực đối với quá trình chuyển giao công nghệ Cụ thể:

+ Việc nhập khẩu trực tiếp máy móc, thiết bị và đầu tư vào kỹ thuật làm giảm chi phí sản xuất và tăng năng suất của doanh nghiệp Ở các nước đang phát triển, hoạt động thương mại quốc tế của sản phẩm công nghệ phụ thuộc thuận chiều với mức độ chặt chẽ của hệ thống patent, hoạt động nhập khẩu này có xu hướng nâng cao năng suất tổng hợp ( TFP)…

+ Thực hiện chặt chẽ của IPRs và khả năng thực hiện các hợp đồng có tác động quan trọng đến các quyết định đầu tư và chuyển giao công nghệ qua FDI của các công ty xuyên quốc gia IPRs có thể tăng cường quá trình truyền bá này bằng việc bảo đảm có sự chắc chắn hơn về hợp đồng giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, bảo vệ tốt hơn quá trình thương mại hoá công nghệ ở thị trường trong nước Hơn nữa, các doanh nghiệp có động lực mạnh hơn để đào tạo người quản lý và công nhân kỹ thuật…

+ IPRs làm tăng chi phí bắt chước, do đó hạn chế việc truyền bá công nghệ + Ngoài ra, Patent có tác động mạnh và tích cực đối với đầu tư vật chất và chi tiêu R & D, và những yếu tố này đến lượt chúng có tác động đến tăng trưởng

+ IPRs phù hợp và có hiệu lực cũng giúp khuyến khích doanh nghiệp mới tham gia thị trường sáng tạo và chấp nhận rủi ro Ngược lại, hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi bảo vệ bản quyền không được bảo

hộ chặt chẽ

- Cơ sở hạ tầng

Để có công nghệ mới và thích hợp công nghệ mới từ bên ngoài cần có sự hỗ trợ của cả hệ thống các yếu tố tạo nên cơ sở hạ tầng quốc gia Sự đồng bộ đó bao

Trang 39

gồm sự hoàn thiện của hệ thống luật pháp và quyền sở hữu trí tuệ, thể chế chính trị

và môi trường vĩ mô ổn định; hệ thống hạ tầng cơ sở hiện đại, dịch vụ chất lượng cao (ngân hàng, bưu chính viễn thông , vận tải, sân bay, bến cảng, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc ), sự gắn kết kinh tế trong nước với nền kinh tế toàn cầu,

sự nhanh nhạy của hệ thống doanh nghiệp Đây là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình đổi mới và phát triển công nghệ quốc gia Chất lượng cơ sở hạ tầng tốt là nền tảng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hấp thụ và chuyển giao công nghệ Sự thành công trong tiến trình công nghiệp hoá của một số nước NICs Đông

Á có sự đóng góp không nhỏ những chính sách phát triển công nghệ của chính phủ các nước và sự nhanh nhạy của các doanh nghiệp Đài Loan được coi là quốc gia có

cơ sở hạ tầng công nghệ (nhấtlà hệ thống các công ty vừa và nhỏ) thuộc hạng những

cơ sở hạ tầng tốt nhất thế giới, nhân tố quan trọng trong tiến trình đổi mới công nghệ

Ở Đài Loan có khoảng 700 công ty vừa và nhỏ, nhưng tạo ra 70 % việc làm, chiếm

55 % GDP và 62 % tổng số hàng hoá xuất khẩu

- Môi trường thương mại

Môi trường thương mại có tác động đáng kể đến quá trình nhận chuyển giao

và nhập khẩu công nghệ mới của các quốc gia Liên quan đến vấn đề này có nhiều nhân tố như môi trường cạnh tranh, chính sách thương mại của nhà nước đối với xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm công nghệ , chính sách thuế quan, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, hệ thống luật pháp để giải quyết các tranh chấp thương mại (luật cạnh tranh, luật chống độc quyền ), chính sách khuyến khích và hỗ trợ xuất nhập khẩu… Sự thông thoáng và độ mở cửa thương mại càng lớn sẽ có tác dụng thúc đẩy và tạo thuận lợi cho hoạt động đổi mới công nghệ quốc gia Trung Quốc là quốc gia đã rất thành công khi thực hiện chính sách nhập khẩu công nghệ

mở cửa với nước ngoài Ngay thời kỳ đầu công cuộc cải cách, với chiến lược chủ trương nhập khẩu công nghệ của phương Tây, công nghiệp Trung Quốc đã tạo được bước đột phá về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Từ giai đoạn từ năm 1979 đến 1990 cho thấy Trung Quốc đã chi 17 tỷ USD cho hơn 7000 hạng mục công nghệ nhập khẩu Các chính quyền địa phương cũng đã chi 13 USD

Trang 40

để mua 10.000 hạng mục công nghệ nhập khẩu Từ năm 1981 đến 1993 nguồn kinh phí đầu tư quốc gia được phân bổ cho xây dựng cơ bản tăng từ 45 tỷ NDT lên 462

tỷ và kinh phí phân bổ cho chuyển hoá và đổi mới đổi mới kỹ thuật từ 19 tỷ lên 220

tỷ NDT Bên cạnh những tiến bộ của ngành công nghiệp và năng lực sản xuất Trung Quốc, kết quả của nhập khẩu công nghệ còn tạo điều kiện cho ngành công nghiệp trở nên có khả năng cạnh tranh hơn, nhiều ngành công nghiệp mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới (ngành điện tử tiêu dùng), có những mặt hàng được coi là mang tính cạnh tranh nhất thế giới

1.2 Vai trò của đổi mới công nghệ với cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh

tế thị trường

1.2.1 Đổi mới công nghệ là yêu cầu khách quan

Tác động của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã và đang tạo ra nhiều biến chuyển to lớn nền kinh tế toàn cầu Việc tìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng lượng mới làm xuất hiện kiểu tăng trưởng kinh tế mới về chất, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Sự đóng góp của khoa học – công nghệ vào tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế các quốc gia ngày càng gia tăng

Các mô hình lý thuyết đã chỉ rõ vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội , trong giai đoạn hiện nay công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Mô hình tăng trưởng của Solow đã chỉ rõ ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đối với sự tăng trưởng theo thời gian của sản lượng quốc gia Phần dư trong mô hình Solow được sử dụng làm chỉ tiêu phản ánh tiến bộ công nghệ hay là sự gia tăng tổng năng suất nhân tố Trong giai đoạn, 1950 -1992, để xác định nguồn tăng trưởng ở Mỹ, áp dụng mô hình Solow đã cho thấy, từ những năm 1950 GDP tăng bình quân 3,2 % / năm Trong 3,2% này, 0,8 % là do gia tăng khối lượng tư bản, 1% là do sự gia tăng tổng

số giờ làm việc và 1,3 % là do sự gia tăng tổng năng suất Điều này cho thấy sự gia tăng của tư bản, lao động và năng suất đóng góp gần như nhau vào tốc độ tăng trưởng Mỹ, yếu tố công nghệ có xu hướng tăng nhanh hơn các yếu tố khác

Ngày đăng: 02/10/2020, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w