Do đó, đối tượng điều chỉnh của luật Dân sựViệt Nam nghĩa hẹp là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trongquá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Trang 1MỤC LỤC
A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN 1 Lịch sử hình thành khái niệm tài sản: 3
2 Khái niệm tài sản trong luật Dân sự của một số quốc gia
3 Khái niệm tài sản trong luật Dân sự Việt Nam:
II PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM TÀI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1 Vật:
2 Tiền:
3 Giấy tờ có giá:
4 Quyền tài sản:
III PHÂN LOẠI TÀI SẢN 1 Bất động sản và động sản:
2 Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức:
3 Tài sản có đăng kí quyền sở hữu và tài sản không đăng kí quyền sở hữu:
4 Tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông, tự do lưu thông:
5 Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai:
6 Tài sản chung và tài sản riêng:
7 Tài sản xác định được chủ sở hữu, tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu:
8 Tài sản chia được, tài sản không chia được:
9 Tài sản vô hình và tài sản hữu hình:
10.Tài sản là vật:
IV MỞ RỘNG 1 Mối quan hệ giữa tài sản, vật và quyền tài sản:
2 Thực tiễn áp dụng:
C KẾT LUẬN
A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trang 2Pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hành nhà nước( thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền), ổn định và phát triển xã hội Đối vớiNhà nước Việt Nam, pháp luật giữ vị trí tối thượng và chi phối tất cả các mặt,các lĩnh vực trong đời sống, xã hội của đất nước Hệ thống pháp luật Việt Namđược phân chia thành nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật điều chỉnhmột nhóm quan hệ xã hội khác nhau, có đối tượng điều chỉnh và phương phápđiều chỉnh khác nhau
Luật Dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là tổnghợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hànghóa tệ và một số quan hệ nhân thân Do đó, đối tượng điều chỉnh của luật Dân sựViệt Nam (nghĩa hẹp) là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trongquá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhằm thỏamãn nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong xã hội
Quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật Dân sự Việt Nam.Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản dướidạng tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng hay giao dịch chuyển quyền chiếmhữu, sử dụng tài sản đó trong quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông Quan
hệ tài sản bao giờ cũng gắn liền với khái niệm tài sản Việc định nghĩa tài sản ?phân loại như thế nào? Được các nhà làm luật xem là một trong những yếu tốhết sức quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật liên quan đến tài sản vàcác quyền liên quan
Với ý nghĩa đó, trong bài tiểu luận môn Luật Dân sự Việt Nam, em xin lựa chọn
đề tài : “Tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”
Trang 3B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÁI NIỆM TÀI SẢN:
1 Lịch sử hình thành:
Tài sản được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnhvực kinh tế và trong đời sống xã hội Khái niệm tài sản được hình thành từ rấtlâu đời, gắn liền với những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài người.Khái niệm tài sản đã được xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển củaloài người Từ thời kỳ Chiếm hữu nô lệ, “vật” được xem là tài sản, có thể là nô
lệ, đất đai, các sản phẩm của tư tưởng, trí tuệ hay lao động,…phản ánh sự pháttriển của văn minh nhân loại Đặc biệt trong thời La Mã cổ đại, Luật La Mã cổđại đã có quy định hai điều về sở hữu tài sản Định nghĩa tài sản bao gồm các vật
và quyền tài sản Vật là những đối tượng hữu hình đơn lẻ, phân biệt được, cótính độc lập mà con người có thể cầm nắm, khai thác lợi ích kinh tế và có giá trịvật chất cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất, sự chuyên môn hóa tronglao động, sự tác động vào tự nhiên Tài sản ngày càng trở nên phong phú và đadạng hơn Sự đa dạng đó đã hoàn thiện dần suy nghĩ và định nghĩa về tài sản
Khái niệm tài sản được nhìn nhận dưới nhiều góc độ Trong kinh tế học, tài
sản được hiểu là vật có giá thị trường hay giá trị trao đổi và là bộ phận cấu thànhcủa cải hay sở hữu của con người Người ta thường phân biệt giữa tài sản hiệnvật hay tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, hàng hóa phục vụcho sản xuất hàng hóa và phục vụ trực tiếp cho tiêu dung; và tài sản chính như
tiền, trái phiếu, cổ phiếu Trong ngôn ngữ thường ngày, tài sản được nói đến là
một vật cụ thể, nhận biết được bằng giác quan tiếp xúc (tri giác), là những dạng
hữu hình hoặc đều có thể hữu hình hóa Về phương diện pháp lý, tài sản là “của
cải” được con người sử dụng tồn tại ở dạng vô hình (sóng vô tuyến, năng lượnghạt nhân nguyên tử,…) và dạng hữu hình, được một chủ thể nào đó của quan hệpháp luật sở hữu
Trang 42 Khái niệm tài sản trong luật dân sự một số quốc gia:
Luật dân sự ra đời rất sớm ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc giaphương Tây, trong đó họ cũng có những quy định, định nghĩa về tài sản khácnhau Khi nghiên cứu về tài sản, không thể bỏ qua khái niệm mà các quốc gianày đưa ra
Các nước theo hệ thống luật Civil Law như Pháp, Nhật Bản, Queebec(Canada) đều không có định nghĩa về tài sản trong các BLDS mà chỉ quy định
về tài sản thông qua việc phân loại chúng Phân loại tài sản cũng là một kỹ thuậtpháp lý để làm rõ các các đối tượng của tài sản và để xây dựng các quy chế pháp
lý điều chỉnh chúng cho phù hợp Theo BLDS Pháp, tài sản bao gồm động sản
và bất động sản (Điều 516); tài sản có thể là động sản do tính chất hoặc do phápluật quy định (Điều 527) Còn pháp luật Canada quy định: Tài sản dù là hữuhình hay vô hình,đều được phân chia thành động sản và bất động sản Như vậy,tài sản được nhận diện thông qua các khái niệm như vật (mang tính hữu hình) vàquyền (mang tính vô hình), động sản và bất động sản
BLDS Nhật Bản 2005 tại Phần chung, Chương IV (nói về vật) định nghĩanhư sau: “Thuật ngữ vật (things) được sử dụng trong Bộ luật này có nghĩa là vậthữu hình” (Điều 85) BLDS Đức 2002 quy định rằng: “Chỉ có đồ vật hữu hình làvật (things) được xác định bởi luật” (Điều 90) Điều 128 BLDS CHLB Ngakhông nói thẳng vào tài sản mà nói tới đối tượng của các quyền dân sự như sau:
“Điều 128 Các loại đối tượng của các quyền dân sự: Về đối tượng của cácquyền dân sự phải kể đến vật (things), trong đó có tiền và chứng khoán, và cảcác loại tài sản khác như quyền tài sản; công việc và dịch vụ; thông tin; kết quảcủa hoạt động trí tuệ, bao gồm quyền loại trừ đối với chúng (quyền sở hữu trítuệ); các giá trị phi vật chất”
Các nhà làm luật Common Law lại thể hiện quan niệm tài sản là các mốiquan hệ giữa người với người liên quan đến vật, theo đó tài sản được hiểu là mộtnhóm quyền (abundle of rights): tài sản bao gồm bất kể những gì có khả năng sở
Trang 5hữu hoặc bởi cá nhân, tập thể hoặc cho lợi ích của người khác BLDS Louisiana(Hoa Kỳ) 2001 , điều 448 quy định: “Tài sản (things) được chia thành tài sảnchung, tài sản công, và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và độngsản và bất động sản”.
Như vậy, các quan niệm về tài sản trong BLDS ở một số nước tiêu biểu cho
hệ thống pháp luật trên thế giới đều đi theo hai cách tiếp cận cơ bản, đó là tài sản
được tiếp cận dưới góc độ vật hay dưới góc độ quyền Dưới góc độ vật: theo tiêu
chí vật lý thì những vật mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quantiếp xúc là vật hữu hình, còn ngược lại là vật vô hình Vật vô hình chính là cácquyền tài sản Như vậy, tài sản gồm có vật và quyền, có tính hữu hình và vô
hình Dưới góc độ quyền: cơ sở xuất phát điểm của cách tiếp cận này là sự thừa
nhận vật có tính chất hữu hình, độc lập, có thể cầm nắm được
3 Khái niệm tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam:
Ở Việt Nam, khái niệm tài sản cũng được hiểu theo nghĩa thông thường vàphương diện pháp lý Tài sản theo nghĩa thông thường là của cải vật chất dungvào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Trên phương diện pháp lý, tài sản đượchiểu theo nghĩa rộng với nhiều dạng thức khác nhau
Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm 1995, theo
đó tại Điều 172 BLDS năm 1995 quy định “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Khái niệm tài sản theo BLDS 2005 đã có sự mở rộng hơn BLDS 1995
về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản Tuy nhiên, quy định khái niệm tài sản trong BLDS
2005 có ba hạn chế cơ bản:Một là, chỉ mới liệt kê các loại tài sản và chưa nêu khái quát bản chất tài sản là gì; hai là, mới dừng lại ở việc quy định tài sản hình
thành trong tương lai chỉ bao gồm có vật mà chưa bao quát hết các loại tài sản
Trang 6lai nhưng chưa nêu định nghĩa về “vật hình thành trong tương lai” Những hạn
chế này đã dẫn đến sự không thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Khắcphục vấn đề này, BLDS 2015 đã trình bày theo hướng tiếp cận mới Cụ thể là, BLDS 2015 không những liệt kê các loại tài sản như trong quy định của BLDS
2015 tại khoản 1 điều 105 : “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
mà còn xác định cụ thể “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Mặc khác, BLDS 2015 còn bổ sung Điều 108 để giải thích rõ khái
niệm “tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Theo đó:
“1 Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2 Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”.
Như vậy, ngoài việc kế thừa khái niệm tài sản trong BLDS 2005 thì BLDS
2015 đã có ba điểm bổ sung mang tính nổi bật: Một là, khẳng định tài sản bao gồm động sản và bất động sản; hai là, xác định tài sản có thể là tài sản hiện có
và tài sản hình thành trong tương lai; ba là, quy định cụ thể khái niệm tài sản
hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
II KHÁI NIỆM TÀI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM:
Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“ 1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Trang 7Bên cạnh đó còn có các điều luật từ Điều 106 đến Điều 115 BLDS 2015…Vậy
để hiểu rõ hơn được chế định tài sản trong luật Dân sự Việt Nam, chúng ta đivào nghiên cứu từng đối tượng cụ thể được liệt kê trong điều luật quy định
1 Vật:
Vật là một bộ phận của thế giới khách quan, mà con người có thể cảm giácđược bằng các giác quan của mình Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đốitượng của quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con ngườikhông thể kiểm soát được, chiếm hữu được nó thì đồng nghĩ với việc con ngườikhông thể tác động được vào nó Theo đó, các yếu tố như nước, không khí, gió,ánh sáng thuộc về mặt vật chất nhưng không thể coi là tài sản về mặt pháp lý.Hay những hành tinh cách Trái Đất hàng ngàn năm ánh sáng mà các nhà khoahọc phát hiện ra và được đặt tên theo những người phát hiện ra nó nhưng khôngđược gọi là tài sản của các nhà khoa học đó hay của bất cứ một ai Đồng thời, làđối tượng trong quan hệ pháp luật nên phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủthể khi tham gia vào quan hệ Như vậy để trở thành vật trong luật dân sự cầnphải hội tụ đủ 4 điều kiện:
Một là, là bộ phận của thế giới vật chất Đây là một điều kiện không thể
thiếu để trở thành vật trong giao lưu dân sự Nói như vậy để hiểu đúng rằng thếgiới vật chất vô cùng rộng lớn và chỉ có 1 phần nhỏ của thế giới vật chất là vậttrong quan hệ dân sự Nó tồn tại ở các dạng rắn, lỏng hoặc khí Đồng thời tacũng có thể coi đó là sự khác nhau giữa “vật” và “quyền tài sản” Ta có thể hiểuquyền tài sản là một cái gì đó rất trừu tượng, nó không phải là một bộ phận củathế giới vật chất mà tồn tại phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Ví dụ:Đất đai được coi là vật trong giao lưu dân sự vì nó là một bộ phận của thế giớivật chất, nó tồn tại không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Nhưng,quyền sử dụng mảnh đất đó lại không được coi là vật, vì nó không tồn tại kháchquan, không phải là một bộ phận của thế giới vật chất, nên trong giao lưu dân sự
nó là một loại tài sản khác mang tên “quyền tài sản” Do vậy, “đất đai” thuộc sở
Trang 8hữu Nhà nước còn “quyền sử dụng đất” lại có thể thuộc về cá nhân, tổ chức hay
cơ quan nhà nước,…
Hai là, con người phải chiếm hữu được nó Như chúng ta đã nói, vật chỉ có
ý nghĩa trong giao dịch dân sự khi nó trở thành đối tượng, bộ phận của thế giớikhách quan mà con người có thể chiếm giữ, kiểm soát nó Con người phải kiểmsoát được bề dày, nội dung, giá trị, công năng của vật Có những bộ phận thếgiới vật chất, ở dạng này thì coi là vật, ở dạng khác thì lại không phải là vật chođến khi con người có thể chiếm hữu được nó Ví dụ: Khí metan (CH4) là mộtchất khí tự do tồn tại ngoài tự nhiên, nó không là của ai và nó không do ai chiếmgiữ, nên nó không phải là vật trong quan hệ dân sự mà nó là vật chất trong tựnhiên Ngược lại, nếu chúng ta thực hiện các phản ứng hóa học và thu khí metanvào bình, rồi sử dụng để đun nấu, lúc này, “khí metan” đã trở thành một đốitượng của quan hệ dân sự - “vật”
Ba là, mang lại lợi ích cho chủ thể và phải có đặc trưng là giá trị Một vật
được coi là “vật” trong quan hệ dân sự phải mang lại giá trị, được con người ápdụng, sử dụng, đưa vào sản xuất, trao đổi, tặng cho, để lại thừa kế, mua bán,kinh doanh, dịch vụ,…Trong thực tế, nhiều vật là một bộ phận của thế giới vậtchất, nhưng không phải là vật trong giao lưu dân sự bởi lẽ nó không thỏa mãnđiều kiện này, ví dụ: một mẩu giấy vụn; vỏ một lon bia; cát bụi;…rõ ràng chúng
là những vật có thực chúng ta có thể chiếm hữu nó nhưng vì nó không mang lạicho chúng ta lợi ích gì cả và cũng không có đặc trưng là giá trị nên cũng khôngthể coi là “vật” được Ở đây, cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giáđược thành tiền của tài sản Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó có ý nghĩa
về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau
Bốn là, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai Đây là một
nội dung mới và thể hiện kĩ thuật lập pháp tiến bộ của BLDS 2015 so với cácBLDS trước đây Điều 172 Bộ luật Dân sự 1995 quy định: “Tài sản bao gồm:vật có thực, tiền, giấy tờ giá trị được thành tiền và các quyền về tài sản” Theo
Trang 9đó, vật phải cần có điều kiên: có hình dáng, kích thước cụ thể; con người có thểtri giác được và có giá cả tương ứng với giá trị của vật Tại điều 163 BLDS năm2005: “Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Khoản 2,điều 105 BLDS năm 2015 : “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tàisản”.Theo tinh thần của các điều luật này, vật bao gồm cả vật có thực và nhữngvật sẽ hình thành trong tương lai Vật có thực là vật có tại thời điểm hiện tại, đãxác lập quyền sở hữu đối với chủ sở hữu Ví dụ: Nhà cửa đã xây xong, xe cộ,…Còn những vật hình thành trong tương lai? Chúng có phải là một khái niệm quátrừu tượng Với thời đại ngày nay, chúng ta có thể bắt gặp nhiều dự án chung cưcao tầng, dự án cầu đường chuẩn bị khởi công chắc chắn sẽ được hoàn thiện,…
và các nhà xây dựng luật Dân sự 2005 và bộ luật 2015 đã tỉnh táo nhận ra rằng,thật thiếu sót đáng kể nếu như không quy định những vật sẽ hình thành trongtương lai là một đối tượng của giao lưu dân sự
2 Tiền:
Trong kinh tế - chính trị học, tiền là một loại hàng hóa đặt biệt, được coi làvật ngang giá chung, là thước đo giá trị cho tất cả các loại hàng hóa khác Tiền làtài sản hiếm, tượng trưng cho lao động quá khứ của con người Một tài sản đượccoi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu thông trên thực tế Tiền được coi làmột dạng đặc biệt của tài sản và cũng là thước đo để xác định toàn bộ khối tàisản của một chủ thể nào đó trong quan hệ pháp luật dân sự Loại tài sản này cónhững đặc điểm pháp lý khác với vật, thể hiện ở những mặt sau:
Một là, tiền do Nhà nước độc quyền phát hành Tiền được coi là một trong
những tài sản đánh dấu chủ quyền quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam Tiềntrong luật dân sự Việt Nam phải là tiền do Ngân hàng nhà nước CHXHCN ViệtNam độc quyền phát hành Chủ sở hữu vật có quyền từ bỏ quyền sở hữu đối vớivật của mình bằng cách hủy bỏ nó, còn đối với tiền, chúng ta không thể làmđược điều tương tự Không được phép tiêu hủy tiền (xé, cắt, đốt, sửa chữa, làmgiả,…), đó là hành vi vi phạm pháp luật
Trang 10Hai là, tiền phải đang có giá trị lưu thông Tiền phải đang có giá trị trong
lưu thông tại thời điểm hiện tại Tiền cổ không được coi là tiền, chủ sở hữu củatiền cổ được coi là chủ sở hữu của một “vật” giống như chúng ta đã phân tích ởphần “vật”
Ba là, không có thời hạn và không ghi danh Đây là một trong những đặc
điểm quan trọng để xác định tiền hay vật hay giấy tờ có giá.Tiền được sử dụngngày nay đều không ghi thời hạn sử dụng của nó là bao nhiêu Bởi khi sản xuất
ra một đồng tiền, tất cả các quốc gia đều mong đồng tiền đó sẽ sử dụng ổn địnhlâu dài chứ không phải trong một thời hạn nào đó.Mặt khác, khi kí tên vào tờtiền của mình, thì vô tình bạn đã biến tờ tiền quý giá trở thành vật về mặt pháp
lý Vì việc ghi tên như thế đã làm cho tờ tiền có một đặc trưng riêng chỉ có củachủ sở hữu, không thể xem nó như những tờ tiền khác trong lưu thông
Bốn là, tiền được xác định thông qua mệnh giá Tiền được đặc trưng bởi
mệnh giá in trên nó Giá trị của đồng tiền được xác định bằng mệnh giá in trênđồng tiền Tiền trong luật Dân sự Việt Nam được quy định rõ có đơn vị là ViệtNam đồng (NVĐ).Trong bộ luật Dân sự 1995 trước đây quy định, tiền đemthanh toán phải là tiền nội tệ, tức là vô hình chung ngoảng lưng đối với nhữngđồng ngoại tệ đang thấp thỏm trên thị trường Bộ luật Dân sự 2005 đã bỏ quyđịnh này, và quy định cả ngoại tệ cũng là đối tượng tiền trong luật dân sự bởinền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang ngày càng phát triển ở nước ta
Bộ luận Dân sự 2015 thì để ngỏ về nội dung này Xét thấy, ngoại tệ không phải
do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành, không có chức năng giữ độc lậpchủ quyền, và khi sử dụng để thanh toán ở Việt Nam ngoại tệ vẫn phải quy đổi
ra tiền Việt Nam, như vậy ngoại tệ không thỏa những điều kiện để trở thànhtiền, nhưng hẳn nhiên, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư ngoại tệ
để sản xuất ở Việt Nam, hay Chính phủ nước Việt Nam vẫn tiến hành vay vốnngoại tệ, như vậy vẫn coi nó như tiền Và, quá trình hội nhập là thiết yếu, nếukhông coi ngoại tệ là tiền liệu có bất hợp lí? Đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi vềviệc tiền ngoại tệ có được coi là tiền hay không?
Trang 11Năm là, tiền có ba chức năng chính Khác với vật, việc có thể khai thác
công dụng của nó là một trong những điều kiện bắt buộc thì với tiền, đó là điềukhông thể Tiền thực hiện ba chức năng chính: công cụ thanh toán đa năng( trao đổi, thanh toán, bồi thường,…), công cụ tích lũy tài sản( dự trữ và tiếtkiệm) và công cụ định giá các loại tài sản khác và vậy nó còn có chức năng bình
ổn giá cả Ngoài ra, vì tiền chỉ do nhà nước ban hành, có các đặc trưng riêng củaquốc gia nên nó còn có chức năng giũ chủ quyền quốc gia (danh dự tổ quốc).Khái niệm “quyền sử dụng” kia chỉ được áp dụng trọn vẹn cho vật còn không ápdụng cho tiền
3 Giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay ởViệt Nam cũng như ở các quốc gia khác, đặc biệt là giao dịch trong hệ thốngngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác
Muốn trở thành giấy tờ có giá cần thỏa mãn hai điều kiện: giấy tờ đó phảiquy đổi được ra giá trị và giá trị đó được tính bằng tiền Đồng thời nó phải đem
ra trao đổi, mua bán được, thanh toán, thanh khoản được
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá baogồm: hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác quyđịnh tài điều 1 Luật công cụ chuyển nhượng 2005; trái phiếu Chính phủ, tráiphiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 điều 4 củaPháp lệnh ngoại hối năm 2005; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và cáccông cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, điều 3Luật quản lí công nợ năm 2009; các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu,chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọnbán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồnggóp vốn đầu tư, các loại chứng khoán khác theo quy định của Bộ Tài chính)
Trang 12được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán; trái phiếu doanh nghiệpđược quy định tại Điều 2 Nghị định số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về pháthành trái phiếu doanh nghiệp.
Trong Bộ luật dân sự 1995, ta cũng đã thấy bóng dáng của quy định nàynhưng khác một điều đó là các nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “giấy tờ trị giáđược bằng tiền” chứ không phải “giấy tờ có giá” như hiện nay Tuy không có gìkhác biệt nhiều nhưng chúng đã nói đúng bản chất
Khi nhắc đến giấy tờ có giá cần phân biệt nó với tiền- một loại tài sản khácđược quy định trong điều 105 Bộ luật dân sự 2015 Vậy tiền có phải là một loạigiấy tờ có giá hay không? Tiền là một loại tài sản riêng biệt Nó có 3 chức năngchính ( đã được phân tích ở phần “tiền”) Tiền được sử dụng trực tiếp đầu tư vàokinh doanh và tiêu dùng còn giấy tờ có giá thì không bao giờ được coi là hành viđầu tư trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng cả Định đoạt (từ bỏ quyền sở hữu, tiêuhủy,…) của giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế nhiều như tiền Nếu tiefn chỉ
do Ngân hàng nhà nước độc quyền phát hành thì giấy tờ có giá có thể được pháthành bởi nhà nước hoặc các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định Đồngthời, việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện cho chủ quyềnmỗi quốc gia Còn việc phát hành giấy tờ có giá là biểu hiện của quan hệ tíndụng thương mại
Ngoài phân biệt với tiền, cần phân biệt giấy tờ có giá với giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm, sổ hưu trí,… đây chỉ là các bằng chứng chứngnhận một quyền tài sản chứ không được coi là giấy tờ có giá, do vậy nó càngkhông phải là tài sản
4 Quyền tài sản:
Theo Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đốivới đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền khác.”