1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết luận và khuyến nghị

35 362 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết luận và Khuyến nghị
Trường học Vietnam Textile and Apparel Association (Vitas)
Chuyên ngành Ngành Dệt May
Thể loại Báo cáo chiến lược xuất khẩu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 101,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tầm quan trọng hiện nay của ngành dệt may đối với nền kinh tế đất nước, những thách thức mà ngành đang phải đối mặt trong hệ thống phi hạn ngạch, và đặc biệt là mối đe doạ trước mắt t

Trang 1

Kết luận và khuyến nghị

Xuất khẩu dệt may Việt Nam đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển củaViệt Nam trong nhiều thập kỷ gần đây Sự đóng góp này không chỉ được tính bằngngoại tệ mà ngành mang lại mà còn ở khía cạnh giải quyết công ăn việc làm và giảmnghèo Tuy nhiên, việc tháo bỏ TCA từ đầu năm 2005 đã làm cho sự cạnh tranhmạnh hơn trong xuất khẩu dệt may, đặc biệt là từ các nước Trung Quốc và Ấn độ; tỉ

lệ tăng trưởng xuất khẩu của dệt may trong năm 2005 đã giảm xuống còn 9,5% sovới 20% năm 2004 Theo ước tính thì nếu Trung Quốc và Ấn Độ không bị áp lại hạnngạch ở các thị trường EU và Hoa Kỳ vào giữa năm 2005, tỉ lệ xuất khẩu dệt maycủa Việt Nam còn thấp hơn nữa Hạn ngạch cho hai nước này sẽ được tháo bỏ vàonăm 2008 và Việt Nam có hai năm để chuẩn bị

Để đạt được Mục tiêu vào năm 2010 rằng kim ngạch xuất khẩu dệt may của ViệtNam sẽ đạt được từ 8-9 tỉ đôla Mỹ và xếp vị trí thứ 9 trong số những nhà xuất khẩudệt may lớn nhất, những động thái mang tính chiến lược sau đây cần phải được thựchiện

4.1 Tập trung hơn vào thị trường EU đồng thời tiếp tục quan tâm đầy đủ đối với các thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Như đã phân tích trong Phần 2.2.1, EU là thị trường tiềm năng nhất đối với xuất khẩusản phẩm dệt may của Việt Nam Một phần lớn sự tăng trưởng xuất khẩu trong tươnglai có khả năng lớn bắt nguồn từ thị trường này Đồng thời, các chương trình xúc tiếnthương mại sâu hơn vào thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản nên được tiến hành khi haithị trường này hiện chiếm 67,5% tổng số xuất khẩu sản phẩm dệt may

4.2 Chính phủ quan tâm hơn đối với ngành dệt may

Như đã phân tích ở Phần 2.5, Việt Nam chỉ còn gần 03 năm để chuẩn bị cho tình hình khi Trung Quốc được dỡ bỏ hạn ngạch vào thị trường EU và Hoa Kỳ Do đó, chính phủ nên chú trọng hơn nữa vào ngành dệt may để hỗ trợ cho ngành đối phó vớitình hình này Các chính sách trong Quyết định số 55 và Thông tư 106 cần phải đượcthực hiện một cách nghiêm túc.Quan trọng nhất là chính sách sử dụng kinh phí hạn ngạch để xúc tiến xuất khẩu Do tầm quan trọng hiện nay của ngành dệt may đối với nền kinh tế đất nước, những thách thức mà ngành đang phải đối mặt trong hệ thống phi hạn ngạch, và đặc biệt là mối đe doạ trước mắt từ Trung Quốc khi hạn ngạch vào thị trường EU và Hoa Kỳ được dỡ bỏ, chính phủ có nên cân nhắc để thiết lập một uỷ ban quốc gia về điều phối và giám sát các hoạt động của ngành

Trang 2

4.3 Chuyển trọng tâm từ CMT sang FOB

Như đã phân tích, chuyển từ CMT sang FOB là một bước chuyển đối hợp lý và cầnthiết cho ngành dệt may của Việt Nam Việc chuyển đổi này không những làm tăngkim ngạch xuất khẩu, khuyến khích sản xuất nguyên liệu trong nước mà còn làm chonhu cầu của khách hàng tăng lên Ví dụ như, khách hàng EU đang ngày càng yêu cầudoanh nghiệp Việt Nam chịu trách nhiệm về việc tìm nguồn nguyên liệu và hiện thờikhoảng 60% xuất khẩu vào thị trường EU dưới dạng FOB Loại hình II

4.4 Cải thiện hệ thống nghiên cứu và đào tạo cho ngành dệt may.

Như đã phân tích trong Phần 2.7, với một ngành lớn như ngành dệt may của Việt Nam, hệ thống đào tạo và nghiên cứu để hỗ trợ cho ngành vẫn chưa có sự phát triển tương xứng Hệ thống này có khả năng mang lại cho một ngành cơ sở vững chắc để phát triển ổn định, đối phó được những thay đổi và cải thiện được tình hình Hệ thống này cũng cho phép một sự chuyển đổi thành công từ CMT sang FOB Cải thiện hệ thống nghiên cứu và đào tạo hiện hành là yếu tố quan trọng trong các chính sách của chính phủ nhằm thúc đẩy xuất khẩu của ngành

4.5 Giảm chi phí sản xuất

Giá cả vẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định củakhách hàng về việc nước nào/nhà máy nào sẽ được lựa chọn là nguồn cung cấp sảnphẩm Hệ thống phi hạn ngạch đã thúc đẩy xu hướng giảm giá trong tất cả các loạisản phẩm Để có thể phát triển một thời đại không hạn ngạch, Việt Nam nên giảm chiphí sản xuất Việc này có thể thực hiện thông qua:

 Giảm chi phí cho nguyên liệu bằng cách tăng khả năng sẵn có về nguồn nguyênliệu trong nước bao gồm cả nguyên liệu sản xuất trong nước và nguyên liệu nhậpkhẩu

 Nâng cao năng suất lao động; và

 Giảm chi phí cho cơ sở hạ tầng gồm có vận chuyển, thông tin liên lạc, internet vàđiện

Trang 3

4.6 Giảm thời gian sản xuất

Thời gian sản xuất kéo dài là một trong những bất lợi lớn của xuất khẩu hàng dệtmay Việt Nam trong khi thời gian sản xuất đang ngày càng trở thành một nhân tố rấtquan trọng Bên cạnh những bất lợi về địa lý, là một bất lợi không thể khắc phụcđược, ngành dệt may Việt Nam có thể giảm bớt thời gian sản xuất thông qua một sốbiện pháp sau:

 Tăng khả năng về sự sẵn có của nguyên liệu ở trong nước, điều này có thể thựchiện được thông qua thiết lập những trung tâm về nguồn nguyên liệu và thúc đẩyviệc sản xuất nguyên liệu ở Việt Nam

 Giảm thời gian làm thủ tục hải quan;

 Tăng cường sự phối hợp giữa doanh nghiệp dệt may để chia xẻ những hợp đồnglớn; và

 Nâng cao năng suất

4.7 Nâng cao ý thức tuân thủ các tiêu chuẩn lao động.

Việc khai thác nguồn lao động rẻ trong ngành dệt may ở các nước đang phát triển hiện đang là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và những người phản đối những tác động bất lợi của quá trình toàn cầu hoá Trong một nỗ lực nhằm nâng cao hình ảnh, các nhà bán lẻ quốc tế và những công ty phát triển thương hiệu đã coi những quy phạm lao động là một nhân tố quan trọng khi quyết định lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm Kinh nghiệm từ các nước xuấtkhẩu dệt may khác như Campuchia cho thấy rằng tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn lao động không chỉ khuyến khích khách hàng quốc tế tìm đến mà còn có khả năng tăng năng suất và giảm đi hoạt động thay thế công nhân Chẳng hạn như, dự án “Cải thiện cho các nhà máy ở Campuchia” (Better Factories Cambodia) do ILO thực hiện nhằm nâng cấp điều kiện làm việc trong các nhà máy dệt may của Campuchia đã cải thiện được trên thực tế những vấn đề về lao động, hình ảnh và năng suất lao động Điều kiện làm việc tốt ở Campuchia, theo như khách hàng quốc tế, thì đó là một nhân tố có tính chất quyết định quan trọng trong việc tìm nguồn hàng từ Campuchia9.Tuân thủ quy phạm lao động trong ngành dệt may của Việt Nam vẫn cần phải được cải thiện hơn nữa do chưa tạo dựng được hình ảnh thực thụ đối với khách hàng quốc

tế như đề cập trong bảng 15 Trong lần kiểm tra nhà máy đầu tiên10, khoảng 70% cácdoanh nghiệp dệt may không đáp ứng được các yêu cầu về quy phạm lao động của

99 Trách nhiệm xã hội của ngành dệt may và những liên quan đối với các ngành khác, FIAS, 2005.

1010 Đánh giá ngành dệt may sau BTA, Vitas 2005

Trang 4

khách hàng quốc tế Một nghiên cứu do Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện năm

2005 về các bệnh gây ra do điều kiện làm việc trong nhiều nhà sản xuất dệt may ở

Hà Nội đã chỉ ra rằng điều kiện làm việc kém (ca kéo dài và các hoạt động nặng nhọc

và lặp đi lặp lại, nghỉ giải lao ngắn, nhà xưởng nóng bức) đã gây ra hậu quả là gần 65% công nhân bị stress, rối loạn giấc ngủ và những bệnh liên quan đến nghề nghiệp,dẫn tới năng suất lao động thấp, tuổi nghề ngắn

Bảng 19: Điểm chuẩn tuân thủ về mặt xã hội

1= xuất sắc; 2=tốt; 3= trung bình; 4= dưới mức trung bình; 5= yếu hoặc kém

Nguồn: Gherzi Textile Organization

Để cải thiện về vấn đề quy phạm lao động, cần phải có một đánh giá thực trạng hiện nay về lao động trong các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam cũng như đề xuất

Trang 5

có thể thực hiện nhiều dự án nhằm nâng cao hơn nữa việc áp dụng các quy phạm lao động với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ chính phủ hoặc các nhà tài trợ quốc tế

5 Định hướng

5.1.1 Vấn đề chiến lược 1: Kĩ năng tìm kiếm nguồn nguyên liệu:

Kĩ năng tìm kiếm nguồn nguyên liệu là điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể chuyển

từ phương thức CMT sang to FOB Rất ít doanh nghiệp may mặc của Việt Nam nắmđược đầy đủ kĩ năng này và ở Việt Nam cũng không có hình thức đào tạo nào về kĩnăng tìm kiếm nguồn nguyên liệu Kĩ năng này đòi hỏi những người chuyên tìmkiếm nguồn nguyên liệu phải có hiểu biết về tất cả các loại sợi, bao gồm đặc điểm,giá trị sử dụng của chúng, các nhà cung cấp và năng lực đàm phán Các chuyên gianày cũng cần nắm được cách thức xây dựng quan hệ đối tác với nhà cung cấp để cóđược giá và dịch vụ tốt nhất Các cuộc phỏng vấn với doanh nghiệp dệt may của ViệtNam đã cho thấy họ rất quan tâm và sẵn sàng trả phí để tham gia vào những khóađào tạo về kĩ năng tìm kiếm nguồn nguyên liệu Hiện đang có 01 doanh nghiệp đangxây dựng kế hoạch tham gia khóa đào tạo này tại một nước châu Âu

Khuyến nghị:

Bằng mối hệ của mình, Vitas, Vinatex hoặc Dự án nên xem xét việc mời chuyên gianước ngoài chuyên về tìm kiếm nguồn nguyên liệu sang Việt Nam để đào tạo chodoanh nghiệp trong nước cũng như những người làm công tác nghiên cứu và đào tạonhằm đào tạo lại cho các doanh nghiệp khác sau này

5.1.2 Vấn đề chiến lược 2: Củng cố năng lực thiết kế

Năng lực thiết kế là một trong những điều kiện đầu tiên quan trọng nhất để mộtdoanh nghiệp may mặc chuyển từ CMT sang FOB Trừ một vài ngoại lệ, có thể nóinăng lực thiết kế của doanh nghiệp may mặc Việt Nam yếu Nguyên nhân có thể do:

Đa số nhà sản xuất hàng may mặc của Việt Nam tập trung vào CMT, đòi hỏi tươngđối ít năng lực thiết kế để sản xuất hàng mẫu Do đó, các nhà thiết kế thiếu động lực

để nâng cao năng lực thiết kế và những khả năng cần thiết như tiếng Anh và kĩ năngtìm kiếm trên internet nhằm bắt kịp xu hướng về thời trang Nhìn chung, chất lượngnhà thiết kế của các doanh nghiệp sản xuất chưa đủ để thiết kế được hàng may mặcmang phong cách riêng để xuất khẩu

Trang 6

Thị trường nội địa luôn là nền tảng cho ngành thời trang phát triển Nhu cầu thờitrang tại thị trường nội địa càng cao thì ngành thời trang càng phát triển Một mặt, thịtrường may mặc nội địa của Việt Nam không khó tính Mặt khác, doanh nghiệp maymặc đã quá tập trung vào xuất khẩu mà bỏ ngỏ thị trường trong nước quá lâu.

Thực tế, phương thức sản xuất CMT với đòi hỏi không cao về năng lực thiết kế đãdẫn tới sự phối hợp yếu kém giữa các viện nghiên cứu thời trang, các nhà thiết kế vàdoanh nghiệp may mặc Bên cạnh đó, khả năng bắt kịp các xu hướng thời trang vàthiết kế mẫu mã chất lượng cao cũng là điểm yếu của ngành may mặc Việt Nam.Tuy nhiên, trái với tình trạng yếu kém về thiết kế của các doanh nghiệp may mặc,một số nhà thiết kế độc lập lại có kĩ năng thiết kế rất tốt Những buổi trình diễn thờitrang của họ tại những nước Châu Á khác đã được đánh giá cao

Khuyến nghị:

Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp may mặc về lượng gia tăng giá trị thu đượcnhờ đầu tư vào thiết kế là chìa khóa để cải thiện năng lực thiết kế cho doanh nghiệpmay mặc Việt Nam Hiểu rõ sự đóng góp thiết thực của thiết kế đối với việc tăng giátrị xuất khẩu sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho công tác thiết kếbằng cách tái đào tạo nhà thiết kế, tìm kiếm nguồn lực về thiết kế từ các nhà thiết kếđộc lập hay hợp tác với các viện thiết kế Có thể xem xét lựa chọn các phương phápsau:

 Phổ biến những bài học thực tế tốt nhất về những doanh nghiệp may mặc ViệtNam đã cải thiện được năng lực thiết kế một cách hiệu quả để gia tăng lợi nhuận;

 Dành ra một số giải thưởng trong các giải thưởng hàng năm của doanh nghiệp dệtmay để trao cho doanh nghiệp nào có những thiết kế tốt nhất;

 Với kĩ năng thiết kế rất tốt của nhà thiết kế độc lập, với phong cách thời trangkhác biệt, và những thiết kế độc đáo bằng lụa và hàng thêu, việc tổ chức tuần lễthời trang Việt Nam tại các quốc gia mục tiêu như Anh, Đức, Mỹ có thể thu hút

sự chú ý của công chúng, giới thời trang, cửa hàng bán lẻ các công ty phát triểnthương hiệu Điều này sẽ nâng cao hình ảnh của thời trang Việt Nam tại các thịtrường xuất khẩu mục tiêu và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp may mặctiến tới xuất khẩu theo phương thức FOB;

 Phối hợp với các viện thiết kế trong hoặc ngoài nước tổ chức các khóa đạo tạo vềthiết kế cho doanh nghiệp may mặc;

Trang 7

 Doanh nghiệp may mặc nên đầu tư nhiều hơn vào thiết kế và coi đây như mộtkhoản đầu tư dài hạn Họ có thể cử nhà thiết kế của mình tham gia các khoá đàotạo chuyên sâu hơn ở trong nước hoặc nước ngoài, tuyển dụng mới hoặc tìmkiếm nguồn lực về thiết kế từ các tổ chức chuyên môn;

 Doanh nghiệp may mặc cần quan tâm hơn tới thị trường nội địa Họ có thể pháttriển những bộ sưu tập riêng; xây dựng thương hiệu riêng cho từng phân đoạn thịtrường đặc biệt là thị trường hàng cao cấp Dựa vào thị trường trong nước, doanhnghiệp có thể tiếp cận khách hàng nước ngoài để trực tiếp bán các sản phẩm đãđược phát triển

5.1.3 Vấn đề chiến lược 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động tham gia Hội chợ

thương mại, xúc tiến liên hệ trực tiếp với khách hàng và quan hệ với công chúng.

Tham gia hội chợ thời trang là công cụ marketing truyền thống để tiếp cận kháchhàng quốc tế Tuy may mặc là một ngành chịu nhiều ảnh hưởng của khách hàng songcác nhà cung cấp đã tính toán số lượng khách hàng hơi cao so với thực tế Lượngkhách quốc tế tới tham quan hội chợ thương mại là thấp so lượng người bán Do vậy,doanh nghiệp dệt may khó có thể thu hút sự chú ý của khách hàng quốc tế

Mặc dù Vitas và các doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động tham gia vào các hội chợthương mại ở nước ngoài nhưng hiệu quả và kết quả vẫn còn rất khiêm tốn Ngoài lý

do trên, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa được trang bị và chuẩn bị chu đáo chohoạt động tham gia hội chợ thương mại Thông tin về đặc điểm, chủ đề và thànhphần tham gia hội chợ không được thu thập, phân tích và phổ biến thích đáng Báocáo về kết quả và bài học thu được từ các hội chợ đã tham gia hoặc không được thựchiện hoặc chưa được chia xẻ lẫn nhau Vì vậy, các doanh nghiệp đi sau vẫn có thểmắc những sai lầm mà các doanh nghiệp đi trước đã từng mắc phải

Khuyến nghị:

Việc tham gia hội chợ cần được thực hiện một cách có chọn lọc và có thể kết hợp vớicác hoạt động khác như đi thăm và gặp gỡ khách hàng để nắm bắt xu hướng thờitrang, những gu của của khách hàng và xây dựng quan hệ Vitas nên tóm tắt và phổbiến các kết quả và kinh nghiệm từ những hội chợ thời trang mà Vitas và các doanhnghiệp may mặc Việt Nam đã tham gia Từ các báo cáo này, doanh nghiệp dệt may

Trang 8

có thể chọn được những hội chợ thích hợp nhất và tham khảo cách thức chuẩn bị tốt

nhất để tham gia hội chợ đã chọn

Tham gia hội chợ chỉ là một phương pháp để tiếp cận khách hàng quốc tế Doanhnghiệp dệt may nên tiên phong chủ động liên hệ với khách hàng quốc tế, các đại lý,

và văn phòng đại diện thu mua chứ không nên bị động chờ đợi khách hàng tìm đến.Doanh nghiệp có thể chuẩn bị (i) hồ sơ điện tử của công ty trong đó nêu tóm tắt lịch

sử, năng lực sản xuất, khách hàng cũ, các chứng nhận và dịch vụ khách hàng nhưdịch vụ trọn gói (ii) một ca-ta-lô điện tử về sản phẩm may mặc của công ty (iii) danhthiếp của người liên hệ, để gửi cho các khách hàng tiềm năng Các tài liệu trên cầnđược chuẩn bị bằng tiếng Anh với mẫu thiết kế chuyên nghiệp và sáng tạo Doanhnghiệp dệt may cũng cần chuyên nghiệp hóa vấn đề thông tin liên lạc Người phụtrách liên lạc phải sử dụng tiếng Anh nói và viết một cách hiệu quả Cần nhanhchóng và chuyên nghiệp khi trả lời thư điện tử của khách hàng và sử dụng tiếng Anhchính xác

Cũng nên tìm hiểu các phương pháp xúc tiến thương mại khác như lập đại diệnthương mại và tổ chức trưng bày hoặc cử đoàn khảo sát tới các thị trường mục tiêu.Phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam không quan tâm nhiều tới hoạt độngmarketing như công tác thương hiệu, quan hệ công chúng Khuyến nghị đối vớinhững doanh nghiệp này là chuyên nghiệp hóa hoạt động marketing Cần tuyển dụngcán bộ marketing chuyên nghiệp Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng tư vấn trongnước hoặc quốc tế để tổ chức đi thăm văn phòng của khách hàng, thiết kế gian hàng,

tổ chức hội thảo và tập huấn…

5.1.4 Vấn đề chiến lược 4: Nâng cao năng suất

Thiếu cán bộ quản lý có chất lượng bậc trung, quy trình sản xuất và quản lý khôngphù hợp, tốc độ thay thế nhân công nhanh là các nguyên nhân chính dẫn tới năngsuất lao động của ngành may mặc Việt Nam thấp Vẫn các công nhân thêu như thếnhưng nếu làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài với máy móc tương tự có thể đạtnăng suất cao hơn tới 20% Có thể tái cơ cấu quy trình sản xuất và quản lý để nângcao năng suất

Khuyến nghị:

Trang 9

Nâng cấp các viện đào tạo và nghiên cứu về dệt may để các tổ chức này có thể cungcấp dịch vụ đào tạo và tư vấn cho doanh nghiệp may mặc Vinatex đang quản lý một

số viện nghiên cứu và đào tạo như Viện Nghiên cứu dệt may Hà Nội và họ đã thiếu

sự chủ động trong một thời gian dài Vinatex và Vitas cần xem xét việc nâng cấp cácviện này bằng cách tái đào tạo cán bộ nghiên cứu và cán bộ đào tạo, phát triển cácchương trình trao đổi với các viện nghiên cứu ở nước ngoài và trang bị công nghệmới Các viện này có thể cung cấp cho doanh nghiệp may mặc một số dịch vụ baogồm:

 Đào tạo kĩ thuật trong công tác quản lý sản xuất và nhân sự, đào tạo về marketingcho lãnh đạo bậc trung và cấp cao

 Các dịch vụ tư vấn về nâng cao năng suất

Một phương pháp nữa là Vinatex hoặc Vitas xây dựng liên doanh với các việnnghiên cứu khác gồm cả tư nhân và nước ngoài để cung cấp dịch vụ đào tạo và tưvấn

Ở cấp doanh nghiệp, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng như ISO 9000cũng là phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng suất Để nhận được chứng chỉ,doanh nghiệp dệt may phải chuẩn hóa các quy trình và phương pháp làm việc khiếncho năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng cao Ngoài ra, những chứng chỉ vềquản lý chất lượng sẽ gây được lòng tin đối với khách hàng, giúp cho việc đàm phán

và ký kết hợp đồng trở nên dễ dàng hơn Muốn vậy, Vitas cần xem xét việc soạn thảo

và phổ biến rộng rãi các bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp dệt may đã đạtđược năng suất cao nhờ việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng

Doanh nghiệp dệt may cũng nên xem xét để tái cơ cấu tổ chức hiện có Cơ cấu tốthơn về bồi hoàn, chức năng, điều phối sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động đượcthuận lợi hơn và tiếp thêm động lực cho nhân viên, kết quả là năng suất được tănglên

5.1.5 Vấn đề chiến lược 5: Thúc đẩy hoạt động phát triển SMEs

Khoảng 87% doanh nghiệp dệt may Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuymang những bất lợi về quy mô, các SMEs này có nhiều tiềm năng phát triển do có sựlinh hoạt trong quản lý, cơ cấu và sản xuất Họ có thể là những thành viên tiềm năngtại các thị trường ngách Ví dụ, các SMEs có thể rất hiệu quả khi sản xuất các phụ

Trang 10

kiện để sản xuất hàng may mặc như đồ trang trí, khóa kéo, khuy, hoặc có thể xuấtkhẩu hàng may mặc làm từ lụa hoặc đồ thêu

Mặc dù Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã hỗ trợ phát triển cho các SMEs, tuynhiên, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về SMEs trong ngành dệt may để nắmđược tình hình hiện tại và xây dựng những phương hướng giải quyết Vitas nên đềxuất các chương trình tăng cường sự phát triển của SMEs và những liên kết trongngành Dưới đây là các hoạt động có thể thực hiện để phát triển SMEs:

 Nâng cao năng suất thông qua hợp lý hóa sản xuất;

 Phát triển sản phẩm;

 Nâng cao năng lực marketing;

 Đào tạo kĩ năng chuyên môn và kĩ năng quản lý;

 Khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ.

5.2 Cải thiện môi trường kinh doanh cho Các doanh nghiệp

5.2.1 Vấn đề chiến lược 6: Xây dựng các Trung tâm tìm kiếm nguồn nguyên

liệu

Doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may Việt Nam hiện đang rất cần các trung tâm tìmkiếm nguồn nguyên liệu, nếu tìm được nguồn nguyên liệu ngay trong nước, doanhnghiệp có thể giảm chi phí sản xuất (giảm bớt chi phí đầu vào cho vận chuyểnnguyên liệu và thủ tục hải quan), rút ngắn thời gian của quá trình sản xuất (đàmphán, chứng nhận chất lượng, vận chuyển, hải quan) và giảm bớt rủi ro về chậm chễtrong quá trình vận chuyển

Việc xây dựng các trung tâm này đòi hỏi đầu tư lớn trong khi lợi nhuận có thể khôngnhiều Việc này cần có sự nỗ lực từ cả 2 phía: nhà nước và khu vực tư nhân Nhànước cần đóng vai trò hỗ trợ còn khu vực tư nhân chủ động và điều hành các trungtâm này

Đầu năm 2004, Vitas, Lefaso và Vinatex đề xướng xây dựng 2 trung tâm tìm kiếmnguồn nguyên liệu dưới hình thức công ty cổ phần tại Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh dành cho các ngành may mặc, dệt, da, giày Số tiền đầu tư cho mỗi trung tâm

Trang 11

khoảng 1 triệu đô la Mỹ Mặc dù dự án đã được phê duyệt, việc khởi công xây dựngvẫn chưa được thực hiện do:

 Chưa thống nhất giữa UBND thành phố HCM và Hà Nội với Vitas, Lefaso vàVinatex về giá đất nơi đặt trụ sở hai trung tâm

 Khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là đền bù cho các hộ tạithành phố HCM

Khuyến nghị:

Do việc xây dựng 2 trung tâm này nhằm phục vụ cho sự phát triển của ngành dệtmay và giúp tăng giá trị xuất khẩu để đáp ứng những mục tiêu đặt ra trong Quyếtđịnh số 55/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Vitas và Lefaso nên đề xuất vớiUBND của thành phố nhằm hỗ trợ giải quyết bất đồng về giá đất

5.2.2 Vấn đề chiến lược 7: Xây dựng trung tâm thông tin

Một trong những phương pháp hiệu quả nhất để nâng cao xuất khẩu của ngành là tạođiều kiện cho từng doanh nghiệp tự ra quyết định để cải tiến hoạt động của chínhmình Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp cần có đầy đủ thông tin về xu hướng trên thịtrường, thị hiếu, tình hình xuất nhập khẩu để đưa ra các quyết định sáng suốt và cầnthiết Tuy nhiên, việc doanh nghiệp tự thu thập và phân tích những thông tin cần thiết

là không hiệu quả Giải pháp tốt nhất là có một hệ thống thu thập, phân tích và phổbiến thông tin cho toàn ngành Một hệ thống như thế, dưới hình thức trung tâm thôngtin cũng cần thiết đối với cấp lập chính sách nhằm xây dựng kế hoạch kịp thời và đưa

ra những chính sách hợp lý Ngành dệt may Việt Nam chưa xây dựng được một hệthống như vậy và nên xây dựng một trung tâm thông tin trong thời gian tới Trungtâm thông tin cần có các chức năng sau:

 Thu thập và phân tích hàng tháng thông tin về tình hình xuất khẩu của Việt Nam,

có thể gồm tổng kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu tại từng thị trường,thành phần xuất khẩu (CMT và FOB);

 Cung cấp thông tin về đặc điểm, tốc độ phát triển, sở thích của khách hàng và cơhội tiềm năng để xuất khẩu tại mỗi thị trường;

Cung cấp thông tin về xu hướng thời trang từng mùa, gồm màu sắc, kiểu dáng, nguyên liệu;

Trang 12

 Cung cấp thông tin về chính sách của Nhà nước liên quan tới ngành dệt may nhưcác hình thức khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu và tình hình phân bổhạn ngạch;

 Làm đầu mối cho khách hàng quốc tế muốn mua hàng dệt nay của Việt Nam

Trung tâm thông tin này nên do Vitas điều hành với sự hỗ trợ của Bộ Thương mại và

Bộ Công nghiệp Một số hình thức cung cấp tài chính cho trung tâm gồm có:

 Từ hội phí;

 Từ phí cung cấp dịch vụ về thông tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư;

 Từ việc xuất bản các bản tin về ngành;

 Từ tài trợ của Nhà nước

5.2.3 Vấn đề chiến lược 8: Thúc đẩy thương mại điện tử

Thương mại điện tử là một công cụ hiệu quả giúp người mua và người bán dù cách

xa nhau về mặt địa lý vẫn có thể gặp gỡ được nhau Trên thế giới, hiện có một sốcổng thông tin thương mại mà doanh nghiệp may mặc Việt Nam có thể kết nối vàtham gia giao thương Tại các cổng thông tin này, có rất nhiều các nhà kinh doanh(người bán hàng), nhiều nhất là từ Trung Quốc, Ấn Độ, có ảnh hưởng lớn khiến chogiá cả có khả năng xuống khá thấp Khuyến nghị đưa ra là doanh nghiệp may mặcViệt Nam nên tham gia vào các cổng thông tin này vì họ sẽ không chỉ có khả năngnhận được một vài đơn hàng mà còn làm quen được với thương mại điện tử, công cụđang ngày càng quan trọng đối với thương mại thế giới

Tuy nhiên, một cổng thông tin thương mại dành riêng cho ngành dệt may Việt Nam

sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho các doanh nghiệp của Việt Nam và cho kháchhàng quốc tế có nhu cầu đối với hàng may mặc Việt Nam Mới đây, Vitas đã được tàitrợ để xây dựng một trang web mang tên http://www.vietnamtextile.org.vn với mụctiêu làm cổng thương mại để giao thương trực tuyến cho khách hàng nước ngoài vàdoanh nghiệp dệt may Việt Nam Hiện nay, trang web đang trong giai đoạn đầu xâydựng, do đó chưa được đưa vào hoạt động

Vitas cần thực hiện một số hoạt động để đảm bảo sự thành công của cổng thươngmại như:

Trang 13

 Tiến hành đánh giá nhu cầu khách hàng quốc tế về cổng thương mại, căn cứ vàođánh giá đó, tiến hành phát triển cổng thông tin Điều này rất quan trọng vì trangweb này hiện đang được xây dựng dựa trên những đánh giá mang chủ quan, trongkhi hoạt động này rất cần phương pháp dựa trên đánh giá từ bên ngoài.

 Nghiên cứu các phương thức hiệu quả để quảng bá cổng thương mại này vớikhách hàng quốc tế và doanh nghiệp trong nước

 Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn sử dụng internet và thương mại điện tử đểnâng cao khả năng kinh doanh của doanh nghiệp may mặc Việt Nam

5.2.4 Vấn đề chiến lược 9: Củng cố năng lực của Vitas

Dệt may Việt Nam là một ngành lớn với hơn 2.000 doanh nghiệp, sử dụng hơn 2triệu lao động và mang lại khoảng 4,8 tỉ đô la Mỹ từ xuất khẩu hàng năm Với tưcách đại diện cho các nhà sản xuất trong ngành, Vitas giữ một vai trò quan trọng từvận động chính sách, thực hiện chính sách tới thu thập và cung cấp thông tin chodoanh nghiệp Tuy nhiên, quy mô và tài chính của Vitas hiện chưa đủ Để phát triểnngành, cần củng cố năng lực của Vitas và Vitas cũng cần cung cấp nhiều dịch vụ hơncho các thành viên

Vitas cũng nên nghiên cứu một số hoạt động có thể phát triển để cung cấp cho cácthành viên Trước tiên, Vitas có thể tiến hành đánh giá nhu cầu với các thành viên đểnắm được những dịch vụ đang được yêu cầu nhiều nhất Sau đó, Vitas cần tìm cáchcung cấp các dịch vụ đó, tự mình thực hiện hoặc kết hợp với các tổ chức khác nhưcác trường đại học có liên quan hoặc viện thời trang trong nước hoặc nước ngoài tạiViệt Nam

Năng lực của Vitas cũng có thể được cũng cố thông qua những chương trình hợp tácvới các hiệp hội tại các quốc gia khác Sự trao đổi về nhân viên, diễn đàn, đào tạo kĩthuật sẽ tăng cường năng lực cho nhân viên của Vitas

5.3 Cải thiện các chính sách của Nhà nước liên quan tới Ngành

5.3.1 Vấn đề chiến lược 10: Nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp dệt may nhà nước và Thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào thượng nguồn.

Trang 14

Chính phủ đã đầu tư hơn 8.000 tỉ vào hơn 200 dự án về sản xuất nguyên liệu Tuynhiên, kết quả vẫn rất hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là thiếu nghiên cứu khả thi, lập

kế hoạch kinh doanh và không đủ trình độ quản lý

Khuyến nghị:

Cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp dệt may nhà nước9.Cần thực hiện các biện pháp như sáp nhập và mua lại những doanh nghiệp làm ănkhông tốt

Khuyến nghị đối với Chính phủ là vẫn tiếp tục đầu tư nhưng với phương pháp hiệuquả hơn như liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài vàothượng nguồn cần được xúc tiến bằng các hình thức như tổ chức hội thảo để kêu gọiđầu tư

5.3.2 Vấn đề chiến lược 11: Cải tiến thủ tục hải quan

Theo đánh giá của một dự án đang được Ngân hàng Thế giới thực hiện nhằm cảicách hải quan Việt Nam, hải quan Việt Nam được xem là chậm, không thuận lợi,không nhất quán và dễ nảy sinh tiêu cực Trước nhu cầu ngày càng cao của kháchhàng về thời hạn giao hàng, thủ tục chậm trễ của hải quan Việt Nam khiến xuất khẩuhàng may mặc càng kém cạnh tranh Số ngày trung bình để hoàn thành thủ tục hảiquan để nhập khẩu là hơn 4 ngày và tối đa lên tới hơn 8 ngày Nguyên nhân chính là

do việc khai hải quan phức tạp và quá trình kiểm tra hết 100% số hàng hóa xuất nhậpkhẩu làm mất quá nhiều thời gian

Khuyến nghị:

Khuyến nghị được đưa ra là thông lệ giám định hàng hóa hiện hành được thay bằngkiểm tra sau thông quan theo đề xuất của Dự án VIE/97/059 về Cũng cố năng lực hảiquan Việt Nam để giảm bớt thời gian thông quan

Khai hải quan và thông quan điển tử đã được thử nghiệm tại thành phố Hồ Chí Minh

và Hải Phòng Dù vẫn bị hạn chế do khả năng của phần mềm và lượng doanh nghiệpđược phép sử dụng hệ thống này, thời gian thông quan cũng được rút ngắn từ 7-8 giờxuống còn chưa đầy nửa giờ Để có thể hoạt động hiệu quả, trước hết các vấn đề về

hệ thống cần được khắc phục và doanh nghiệp phải có kết nối internet

Trang 15

5.3.3 Vấn đề chiến lược 12: Cải thiện chính sách thuế

Nguyên liệu sản xuất trong nước bán cho doanh nghiệp dệt may để sản xuất hàngxuất khẩu hiện đang phải chịu 10% thuế VAT trong khi các nguyên liệu tương tự nàynhưng nếu xuất khẩu lại không phải chịu VAT (0% thuế VAT) Điều này sẽ khôngkhuyến khích doanh nghiệp dệt bán hàng trong nước

Khuyến nghị:

Chính phủ cần xem xét việc thay đổi và áp dụng cùng một mức thuế VAT cho nhữngnguyên liệu sản xuất tại Việt Nam phục vụ sản xuất hàng may mặc để xuất khẩubằng với mức thuế VAT đánh vào nguyên liệu xuất khẩu

5.4 Tăng cường sự đóng góp của ngành dệt may vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

5.4.1 Vấn đề chiến lược 13: Cải tiến quy phạm lao động

Cần thực hiện một nghiên cứu về quy phạm lao động của ngành dệt may Việt Nam,những biện pháp can thiệp khả thi và một dự án về cải thiện những nội dung về quiphạm lao động trong ngành dệt may Có một số lựa chọn như Vitas có thể tiến hànhvới sự hỗ trợ của Chính phủ hoặc tài trợ quốc tế hoặc Vitas có thể yêu cầu Chính phủhoặc các nhà tài trợ quốc tế thực hiện

Các nhà tài trợ quốc tế có thể là những nhà tài trợ tiềm năng cho dự án này bởi hơn aihết, họ là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề về giới và lao động, hơn nữa, tiếng nói

có trọng lượng của họ trên thế giới sẽ nâng cao hình ảnh của ngành dệt may ViệtNam thông qua các kết quả của dự án

Trang 16

về tìm kiếm nguồn nguyêu liệu giảng dạy

khóa học trên giảng dạy

1

Củng cố năng

lực thiết kế

nghiệp may mặc Việt Nam đã tiến hành hiệu quả việc nâng cao năng lực thiết kế của mình nhằm tăng lợi nhuận;

doanh nghiệp dệt may để trao cho doanh nghiệp nào có những thiết kế tốt nhất;

khóa tập huấn;

2

Nâng cao hiệu

quả của hoạt

ngoài rồi phổ biến cho doanh nghiệp may mặc;

may mặc Việt Nam;

gửi thư điện tử hoặc tới thăm văn phòng Chuyên nghiệp hóa vấn

đề thông tin liên lạc thông qua phát triển hồ sơ công ty, ca-ta-lô sản phẩm, danh thiếp và nâng cao kĩ năng tiếng Anh.

3

Trang 17

Nâng cao năng

suất

Hồ Chí Minh để cung cấp các dịch vụ đào tạo và tư vấn;

may đã đạt được năng suất cao;

4

Thúc đẩy phát

triển SMEs

may mặc và các phương pháp nhằm cải thiện tình hình hoạt động của họ;

Vitas đề nghị UBND 2 thành phố hỗ trợ giải quyết vướng mắc Vitas

có thể thu thập chữ kí của các doanh nghiệp may mặc để ủng hộ đề xuất của mình.

2

Xây dựng trung

thương mại đang được Vitas xây dựng.

thương mại với khách hàng quốc tế và doanh nghiệp trong nước

mại điện tử để cải thiện việc kinh doanh của doanh nghiệp may mặc Việt Nam

3

Củng cố năng

lực của Vitas

của họ về những dịch vụ họ cần được cung cấp nhất Vitas sẽ căn

cứ vào đó để phát triển dịch vụ của mình.

những quốc gia khác.

4

Ngày đăng: 20/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Đề xuất nghiên cứu sơ bộ về tình hình doanh nghiệp SMEs về may mặc và các phương pháp nhằm cải thiện tình hình  hoạt động của họ; - Kết luận và khuyến nghị
xu ất nghiên cứu sơ bộ về tình hình doanh nghiệp SMEs về may mặc và các phương pháp nhằm cải thiện tình hình hoạt động của họ; (Trang 19)
 Nhà nước tiếp tục đầu tư vào thượng nguồn dưới hình thức hiệu quả hơn như  thành lập liên doanh - Kết luận và khuyến nghị
h à nước tiếp tục đầu tư vào thượng nguồn dưới hình thức hiệu quả hơn như thành lập liên doanh (Trang 20)
Mục tiêu 1 Đánh giá tình hình hiện tại của SME về may mặc và tìm ra các biện pháp phù hợp. - Kết luận và khuyến nghị
c tiêu 1 Đánh giá tình hình hiện tại của SME về may mặc và tìm ra các biện pháp phù hợp (Trang 26)
Mục tiêu 1 Thu thập và phân tích thông tin về tình hình xuất khẩu và các thị trường nhập khẩu dành cho các doanh nghiệp và cán bộ làm chính sách - Kết luận và khuyến nghị
c tiêu 1 Thu thập và phân tích thông tin về tình hình xuất khẩu và các thị trường nhập khẩu dành cho các doanh nghiệp và cán bộ làm chính sách (Trang 27)
Mục tiêu 1 Nâng cao hình ảnh ngành may mặc Việt Nam. Đảm bảo an toàn lao động cho công nhân - Kết luận và khuyến nghị
c tiêu 1 Nâng cao hình ảnh ngành may mặc Việt Nam. Đảm bảo an toàn lao động cho công nhân (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w