Quá trình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vitoàn cầu làm hình thành nên mạng sản xuất toàn cầu mà trên thực tế, đây là hiện tượngxảy ra khi có sự hoạt động của các công ty xuyên quốc
Trang 1LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỀM VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
1 Khái niệm
Giá trị
Theo quan niệm của C.Mác trong bộ Tư bản, quá trình sản xuất hàng hóa tư bảnchủ nghĩa, về thực chất là quá trình sáng tạo ra giá trị và thực hiện giá trị Quá trìnhsản xuất hàng hóa có thể hiểu được theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, sảnxuất hàng hóa là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất (công
cụ lao động và đối tượng lao động) và sức lao động để tạo ra sản phẩm Theo nghĩarộng, sản xuất hàng hóa là quá trình tái sản xuất mở rộng bao gồm bốn khâu: sản xuất– phân phối – trao đổi – tiêu dùng; trong đó, vị trí, vai trò của các khâu trong quá trìnhtái sản xuất đó không như nhau Sản xuất là khâu quyết định còn các khâu sau chịu sựchi phối của sản xuất mặc dù chúng có tác động ngược lại như tiêu dùng hợp lý sẽ tạođiều kiện đế sản xuất có hiệu quả cao hơn Khâu phân phối và trao đổi là những khâutrung gian kết nối sản xuất với tiêu dùng Cách tiếp cận nghiên cứu của C.Mác là dựatrên phương pháp trừu tượng hóa và có tính khái quát cao, chủ yếu đề cập đến quátrình sáng tạo giá trị từ trong lưu thông Có thể nói sản xuất là điều kiện cần còn thựchiện hàng hóa là điều kiện đủ C.Mác cũng đã mô phỏng mô hình tái sản xuất giảnđơn và tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cấu tạo
kỹ thuật (tỷ lệ vốn/ lao động hay c/v) không thay đổi Thực chất, mô hình này là việcxây dựng một quy trình tạo ra được giá trị sử dụng hay công dụng Giá trị được tạo ratrong sản xuất chỉ là giá trị cá biệt và khi hàng hóa được tiêu dùng thì mới hình thànhgiá trị xã hội tức là giá trị đích thực của hàng hóa
Cũng theo quan niệm của C.Mác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình tạo ragiá trị theo cơ cấu: C + V + M; trong đó, C là tư bản bất biến, V là tư bản khả biến, M
là giá trị thặng dư Mức độ phân bố giá trị vào các thành phần của chuỗi giá trị này có
sự khác nhau tùy theo đặc điểm của ngành
Trong mô hình với giả định nền kinh tế không có ngoại thương, C.Mác đã trừutượng hóa nền kinh tế tư bản trong giai đoạn toàn cầu hóa hoàn toàn, không còn sự
Trang 2chia cắt và tách biệt giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới Vì vậy, quátrình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vi toàn cầu và giá trị được sản xuất và thựchiện cũng trên phạm vi toàn cầu Quá trình tái sản xuất được mở rộng trên phạm vitoàn cầu làm hình thành nên mạng sản xuất toàn cầu mà trên thực tế, đây là hiện tượngxảy ra khi có sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia kéo theo sự hình thànhmạng lưới sản xuất quốc tế là một trong những điều kiện quyết định sự ra đời của nềnkinh tế thế giới hay nói cách khác nền kinh tế thế giới, về thực chất, là tập hợp của cácchuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản xuất hoặc tổ hợp của các chuỗi sản phẩm vàdịch vụ.
Chuỗi giá trị
Có ba luồng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị, đó là:
i) Filièle (Chuỗi):
Phương pháp Filièle (filièle có nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy
và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dùng đểphân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địacủa Pháp Phân tích chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hoạt động sảnxuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bông, cà phê và dừa) được tổ chức tại các nướcđang phát triển Trong bối cảnh này, khung Filièle chú trọng đặc biệt đến các hệ thốngsản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu vàkhâu tiêu dùng cuối cùng
Khái niệm chuỗi (filièle) bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng
để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vàocác hoạt động Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu tập trung vào vấn đề của các mốiquan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của cáchàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi Phân tích Filièle có hai đặc điểm nổi bậtsau:
- Việc đánh giá chuỗi giá trị về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo
và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí cũng như thu nhậpgiữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để nghiên cứu ảnh hưởng của chuỗiđến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP
Trang 3- Phân tích chuỗi lấy sự phát triển của nông nghiệp làm trọng tâm nghiên cứu;quan tâm tới các vấn đề như sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng tham gia, nhữngcản trở và kết quả thu được cho mỗi bên liên quan trong chuỗi, các chiến lược cá nhân
và tập thể cũng như các hình thái quy định Chẳng hạn ở châu Phi có bốn loại quyđịnh liên quan đến chuỗi hàng hóa được phân tích gồm: quy định trong nước, quy định
về thị trường, quy định của nhà nước và quy định kinh doanh nông nghiệp quốc tế.Năm 1989, hai nhà nghiên cứu là Moustier và Leplaideur (Pháp) đã đưa ra một khungphân tích về tổ chức chuỗi giá trị hàng hóa, bao gôm lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân
và tập thể, và hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên mônhóa của nông dân và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa
ii) Khung phân tích của Michael Porter
Luồng nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của Michael Porter (Havard
Busniess School) trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining
Superior Performance” (1985) về các lợi thế cạnh tranh M.Porter đã dùng khungphân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nàotrên thị trường và trong mối quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnhtranh khác
Theo M.Porter, chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động; trong đó sản phẩm đi qua tất
cả các hoạt động của chuỗi một cách tuần tự và tại mỗi hoạt động, sản phẩm sẽ tíchlũy thêm một giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiềugiá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng vớichuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công tykhông chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Mô hình chuỗi giá trị này là một tập hợpcủa nhiều công đoạn hay nhiều khâu khác nhau và có quan hệ với nhau cùng tạo ra giátrị như thiết kế sản phẩm, logistics đầu vào, logistics đầu ra, sản xuất, marketing &bán hàng, các dịch vụ hậu mãi cùng với các hoạt động bổ trợ gia tăng giá trị cho sảnphẩm như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu,…Với góc độ nghiên cứu này, chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh của doanhnghiệp; do vậy phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý vàchiến lược điều hành của một doanh nghiệp, một công ty cụ thể
Trang 4Logistics đầu vào Sản xuất Logistics đầu raMarketing & bán hàng Dịch vụ
Cơ sở hạ tầng Quản trị nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Mua sẳm
Các hoạt động chính
Các hoạt động bổ trợ
GIÁ TRỊ
HÌNH 1: KHUNG PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA M.PORTER
Nguồn: Michael Porter, 1985
Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá trị;thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạtđộng của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là hệthống giá trị Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty thamgia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệuthô đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trịrộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp
iii) Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Duke University) lần đầu tiên ápdụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia hộinhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu.Sau đó, Raphael Kaplinsky [21;4] đưa ra những khái niệm về chuỗi giá trị như sau:
Theo nghĩa hẹp (giản đơn): Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động cần có để
sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ giai đoạn xây dựng khái niệm, qua các giaiđoạn khác nhau của sản xuất tới phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, dịch vụ hậumãi và việc vứt bỏ sản phẩm sau khi sử dụng
HÌNH 2: MÔ HÌNH CHUỖI GIÁ TRỊ ĐƠN GIẢN
Trang 5THIẾT KẾ
SẢN XUẤT
Logistics đầu vào Sản xuất Logistics đầu ra Đóng gói MARKETING TIÊU THỤ
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001
Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người
tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân,người cung cấp dịch vụ…) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bántới tay người tiêu dùng Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệuthô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong các hoạtđộng như kinh doanh, chế biến, lắp ráp…
Như vậy, mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi cácmắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong thời đại toàn cầu hóa, các mắt xích tạonên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới một quốc gia, lãnhthổ khi các chi tiết của nó được thiết kế ở một nước, sản xuất ở một nước khác, lắp ráp
ở nước thứ ba, và tiêu thụ ở nước thứ tư… hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời tại mộtđịa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu Vì vậy, khái niệm chuỗi giá trịtoàn cầu đã xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới
Chuỗi giá trị toàn cầu
Mọi sản phẩm mới - từ phần mềm cho tới đồ dùng - đều phải trải qua một chu
kỳ, bắt đầu bằng nghiên cứu cơ bản rồi nghiên cứu ứng dụng, thời kỳ ấp ủ, phát triển,thử nghiệm, sản xuất, triển khai, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến Mỗi khâu trênđều được chuyên môn hóa và có tính đơn nhất Các quốc gia đang phát triển như Ấn
Độ, Trung Quốc và Nga đều không đủ nhân lực và năng lực để đảm nhiệm toàn bộchu kỳ sản phẩm cho một công ty đa quốc gia lớn ở Mỹ hay các nước phương Tâyphát triển Song các nước đang phát triển trên đang dần nâng cao năng lực nghiên cứu
và phát triển của họ để có thể đảm nhiệm nhiều khâu hơn Quá trình này tiếp tục diễn
ra sẽ đánh dấu sự kết thúc của mô hình cũ – khi một công ty đa quốc gia tự tiến hànhtất cả các khâu của chu kỳ phát triển sản phẩm bằng nguồn lực riêng của mình Từ đótạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs-Global Value Chains) là các chuỗi giá trị cho
Trang 6phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng mang lạihiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
2 Đặc điểm
a) Quản trị chuỗi
Định nghĩa (Humphrey & Schmitz, 2002): Quản trị chuỗi là mối quan hệ giữacác bên tham gia và các cơ chế, thể chế mà thông qua đó các hoạt động điều phối phithị trường được thực hiện Quản trị chuỗi giúp trả lời bốn câu hỏi quan trọng: Sản xuấtcái gì? Sản xuất như thế nào? Khi nào thì sản xuất? Số lượng là bao nhiêu?
In a paper that emerged from the deliberations of the GVC Initiative (GaryGereffi, John Humphrey, and Timothy Sturgeon, “The governance of global valuechains,” , vol 12, no 1, 2005), five different GVC governance patterns wereidentified:Gary Gereffi, John Humphrey, và Timothy Sturgeon, trong nghiên cứu
“Quản trị chuỗi giá trị toàn cầu” [18;85] đưa ra năm mô hình quản trị GVC khác nhaunhư sau:
Markets are the simplest form of GVC governance - Thị trường: là hình thức
đơn giản nhất của quản trị GVC.The central governance mechanism is price Cơ chếquản trị trung tâm là giá cả The linkages between value chain activities are not very
"thick" because the information that needs to be exchanged and knowledge that needs
to be shared is relatively straightforward.Liên kết giữa các hoạt động chuỗi giá trịkhông chặt chẽ vì thông tin được trao đổi và kiến thức chia sẻ bên trong tương đối đơngiản Do đó, chi phí để chuyển sang đối tác khác là thấp đối với các tác nhân trongchuỗi
- This is the most market-like of three network-style GVC governance patterns Chuỗi giá trị mẫu: Typically, suppliers in modular value chains make products or
provide services to a customer's specifications.các nhà cung cấp trong kiểu quản trịnày cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ theo chỉ dẫn chi tiết của khách hàng Tuy vậy,khi cung cấp dịch vụ “chìa khóa trao tay”, nhà cung cấp có xu hướng chịu trách nhiệmhoàn toàn về quy trình công nghệ và thường sử dụng các loại máy móc phổ biến đểthu hồi đầu tư từ một lượng khách hàng lớn.This keeps switching costs low and limitstransaction-specific investments, even though buyer-supplier interactions can be very
Trang 7complex Điều này giữ chi phí chuyển đổi thấp và giới hạn việc đầu tư vào các giaodịch cụ thể, ngay cả khi quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp là phứctạp.Linkages are necessarily thicker than in simple markets because of the highvolume of information flowing across the inter-firm link, but at the same timecodification schemes and the internalization of coherent realms of knowledge in valuechain "modules," such as design or production, can keep interactions between valuechain partners from becoming highly dense and idiosyncratic Các liên kết trong kiểuquản trị này chặt chẽ hơn kiểu quản trị thị trường giản đơn vì khối lượng thông tinluân chuyển trong liên kết giữa các công ty lớn hơn
In this network-style GVC governance pattern we see mutual dependenceregulated through reputation, social and spatial proximity, family and ethnic ties, and
the like - Chuỗi giá trị quan hệ: trong những mạng lưới có kiểu quản trị này, tương
tác giữa người bán và người mua là tương đối phức tạp, tạo ra những mối quan hệ phụthuộc chặt chẽ hơn và những đặc trưng ở cấp độ cao hơn so với hai kiểu quản trị thịtrường và quản trị mẫu Những liên kết đó bị chi phối bởi danh tiếng, hoặc yếu tố giađình và các ràng buộc xã hội Một số nhà nghiên cứu cho rằng khoảng cách gần gũigiữa các tác nhân giúp tạo các liên kết trong kiểu quản trị này; tuy nhiên sự tin tưởng
và danh tiếng mới thực sự đóng vai trò chính trong việc kết nối các tác nhân, ngay cảđối với những mạng lưới phi tập trung Do cần nhiều thời gian tạo dựng lòng tin và sựphụ thuộc lẫn nhau nên chi phí chuyển đổi sang các đối tác mới thường cao
Since trust and mutual dependence in relational GVCs take a long time to build
up, and since the effects of spatial and social proximity are, by definition, limited to arelatively small set of co-located firms, the costs of switching to new partners tends to
be high Dense interactions and knowledge sharing are supported by the deepunderstanding value chain partners have of one another, but unlike the codificationschemes that enable modular networks, these "short-cuts" tend to be idiosyncratic and
thus difficult and time-consuming to re-establish with new value chain partners.- Chuỗi giá trị phụ thuộc: trong kiểu quản trị chuỗi này, nhà cung cấp nhỏ phụ thuộc
nhiều vào những người mua lớn và người mua chi phối.Depending on a dominant leadfirm raises switching costs for suppliers, which are "captive." Việc phụ thuộc vàocông ty đầu ngành làm tăng chi phí chuyển đổi đối với các nhà cung cấp Trong Such
Trang 8networks are frequently characterized by a high degree of monitoring and control bythe lead firm The asymmetric power relationships in captive networks force suppliers
to link to their customer in ways that are specified by, and often specific to a particularcustomer, leading to thick, idiosyncratic linkages and high switching costs all round.mạng lưới có kiểu quản trị này, các công ty dẫn đầu thường đóng vai trò kiểm soát vàgiám sát chặt chẽ các hoạt động toàn chuỗi Quan hệ quyền lực bất cân xứng buộc cácnhà cung cấp liên kết với khách hàng chặt chẽ hơn và do đó chi phí chuyển đổi cũngcao hơn
This governance pattern is characterized by vertical integration (ie"transactions"
take place inside a single firm) - Cấp bậc: mô hình quản trị này là đặc trưng của hội
nhập theo chiều dọc (khi đó các giao dịch diễn ra bên trong một công ty duynhất).The dominant form of governance is managerial control Hình thức quản trị chiphối là kiểm soát việc quản lý, theo thứ tự từ người quản lý cấp cao tới nhân viên hoặc
từ trụ sở tới các công ty con và chi nhánh
Bảng 1 nêu ra các nhân tố quyết định tới quản trị chuỗi, dựa trên các tiêu chí vềmức độ phức tạp của các giao dịch, khả năng hệ thống hóa giao dịch, năng lực cungứng cũng như mức độ bất cân xứng quyền lực trong các các quản trị chuỗi khác nhau
BẢNG 1: CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH TỚI QUẢN TRỊ CHUỖI Dạng quản
trị
Mức độ phức tạp của giao dịch
Khả năng hệ thống hóa giao dịch
Năng lực cung ứng
Mức độ bất cân xứng quyền lực
Nguồn: Gary Gereffi, John Humphrey, Timothy Sturgeon, 2005
b) Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp trong chuỗi giá trị là quá trình các chủ thể kinh tế, quốc gia, doanhnghiệp, người lao động chuyển từ hoạt động tạo ra giá trị thấp sang những hoạt động
có giá trị cao hơn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Khả năng nâng cấp đề cập tới sự
Trang 9chuyển dịch mà một hay một nhóm các hãng thực hiện để nâng cao vị trí của mìnhtrong chuỗi.
Trong nâng cấp chuỗi giá trị, vấn đề then chốt là khả năng sáng tạo để có được
sự đổi mới không ngừng trong sản phẩm cũng như cả quy trình; sự đổi mới đó phảiđảm bảo không chậm hơn các đối thủ cạnh tranh nhằm duy trì thị phần và giá trị giatăng thu về Việc đầu tiên là tập trung vào giá trị cốt lõi (“core competence”), cácdoanh nghiệp cần phải kiểm tra năng lực của mình để quyết định xem sẽ tạo ra giá trị
gì cho người tiêu dùng cuối cùng, và sẽ thu lại những giá trị gì?
Có bốn loại nâng cấp chuỗi giá trị chính [21;38], đó là:
- Nâng cấp quy trình: nâng cao hiệu quả của các quy trình nội bộ để có các hoạt
động tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thắt chặt các liên kết bên trong một mắt xích (nhưtăng số vòng quay hàng tồn kho, giảm phế liệu) và các liên kết giữa các mắt xíchtrong chuỗi (giao hàng thường xuyên hơn, khối lượng nhỏ hơn và đúng thời hạn hơn)
- Nâng cấp sản phẩm: giới thiệu sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm cũ nhanh
hơn các đối thủ Việc này bao hàm cả thay đổi quy trình phát triển sản phẩm mới giữacác liên kết bên trong doanh nghiệp và trong mối quan hệ giữa nhiều doanh nghiệpđóng vai trò là các mắt xích khác nhau của chuỗi
- Nâng cấp chức năng: làm tăng giá trị gia tăng thông qua thay đổi các hoạt động
được quản lý trong doanh nghiệp hoặc chuyển các hoạt động sang các liên kết kháctrong chuỗi giá trị
- Nâng cấp toàn chuỗi: chuyển sang một chuỗi giá trị mới dựa trên những kỹ
năng, kinh nghiệm học hỏi từ trước do tham gia một chuỗi giá trị có liên quan Chẳnghạn, các doanh nghiệp Đài Loan chuyển từ sản xuất đài bán dẫn sang máy tính, tivi,màn hình máy vi tính rồi sau đó là máy tính xách tay và giờ đây là điện thoại WAP.Việc nâng cấp chuỗi giá trị thường được thực hiện theo trình tự từ nâng cấp quytrình tới nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp chuỗi (Bảng 2)
BẢNG 2: CÁC QUY TRÌNH NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ
Nâng cấpquy trình Nâng cấp sản phẩm Nâng cấp chức năng Nâng cấp chuỗiTrình tự
Trang 10Ví dụ thiết bị chínhLắp ráp
(OEA)
Sản xuất
có thiết kể riêng (ODM)
Sản xuất
có thương hiệu (OBM)
Chuyển sangchuối giá trị mới
Mức độ độc lập
với người mua
nước ngoài
Giá trị gia tăng thu về tăng dần
Nguồn: Raphael Kaplinsky and Mike Morris, 2001
Kinh nghiệm từ thành công của các nước Đông Á đã cho thấy một quy trìnhnâng cấp chuỗi giá trị từ sản xuất OEA (lắp ráp thiết bị chính) tạo ra ít giá trị sang sảnxuất thiết bị chính đến cung cấp các sản phẩm mang nhãn mác của người mua, rồiODM (sản xuất có thiết kế) và giờ đây là OBM (sản xuất có thương hiệu cho riêngmình) Đó cũng là quy trình mà người sản xuất dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào ngườimua toàn cầu trong việc thiết kế, tạo dựng thương hiệu cho chính mình và nhờ đó thulại nhiều giá trị gia tăng từ sản phẩm
3 Phân loại
Trong cuốn sách “A Commodity Chains Framework for Analyzing GlobalIndustries” [19], Gary Gereffi dựa vào nhân tố chi phối chuỗi đã chỉ ra có hai loạichuỗi giá trị khác nhau cơ bản, đó là chuỗi giá trị do người bán chi phối và chuỗi giátrị do người mua chi phối
Chuỗi giá trị do người bán chi phối (“Producer-driven commodity chain”) là
chuỗi trong đó các công ty, chủ yếu là các công ty đa quốc gia đóng vai trò trung tâmtrong việc kết hợp hệ thống sản xuất (bao gồm cả liên kết xuôi chiều và ngược chiều).Đây là đặc điểm của ngành sản xuất chiếm dụng nhiều tư bản và đòi hỏi hàm lượngcông nghệ cao như điện thoại, máy bay, sản phẩm bán dẫn và máy móc công nghiệp
Chuỗi giá trị do người mua chi phối (“Buyer-driven comodity chain”) là chuỗi
trong đó những nhà bán lẻ lớn và các nhà sản xuất uy tín đóng vai trò then chốt trongviệc thiết lập hệ thống sản xuất phi tập trung tại các nước đang phát triển, mà đặc biệt
là tại các nước thuộc thế giới thứ ba Loại chuỗi này phổ biến ở các ngành sử dụngnhiều lao động, hàng tiêu dùng như hàng dệt may, giày dép, đồ chơi, đồ gia dụng, đồđiện tử và các loại đồ thủ công
Bảng 3 dưới đây là những so sánh giữa hai loại chuỗi: do người bán và ngườimua chi phối
Trang 11BẢNG 3: SO SÁNH CHUỖI GIÁ TRỊ DO NGƯỜI BÁN VÀ NGƯỜI MUA CHI PHỐI
Các tiêu chí Chuỗi do người bán chi phối Chuỗi do người mua chi phối
Hoạt động chi
phối
Sản xuất công nghiệp Thương mại
Năng lực cốt lõi Nghiên cứu và phát triển, Sản xuất Thiết kế, Marketing
Rào cản gia nhập Lợi thế kinh tế theo quy mô Lợi thế kinh tế theo đặc thù
Các công ty xuyên quốc gia Các công ty nội địa, chủ yếu ở
các nước đang phát triển
Những liên kết hệ
thống chính
Kết cấu hệ thống Theo chiều dọc Theo chiều ngang
Nguồn: Gary Gereffi, 1999
Ngoài ra, có những chuỗi giá trị lại kết hợp hai kiểu quản trị theo định hướng của
cả người mua và người bán Chẳng hạn, trong ngành quần áo, GAP là ví dụ về mộthãng hoạt động không có nhà máy sản xuất và là đại diện điển hình cho loại chuỗi dongười mua chi phối, trong khi đó Levi-Strauss lại quản trị một chuỗi giá trị hội nhậpdọc Trong ngành sản xuất ô tô, Ford đang chuyển dần sang chuỗi do người mua chiphối trong khi Toyota và các nhà sản xuất khác vẫn tiếp tục hoạt động trong chuỗi giátrị do người bán chi phối Trong ngành sản xuất vật liệu bán dẫn, Intel kiểm soát chuỗi
do người sản xuất chi phối còn ARM lại sử dụng silicon để thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng
Các dạng của chuỗi giá trị
Mô hình chuỗi giá trị có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau Sựphân bố hay mật độ giá trị trong các ngành sản xuất khác nhau có sự khác nhau đáng
kể và phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học – công nghệ, trình độ tổ chức và
Trang 12sản xuất, tư duy kết nối toàn cầu cũng như mức độ mở của các nền kinh tế, các thịtrường đầu vào và đầu tư Mức độ phân bố giá trị của các khâu trong GVCs của một
số mặt hàng cụ thể có thể được mô phỏng qua các dạng dưới đây:
(1) Dạng parabol “ngửa”
Với dạng này, mật độ giá trị cao rơi vào các khâu đầu là thiết kế và khâu cuối làtiêu thụ Khâu đầu đòi hỏi đầu tư nhiều về kiến thức và thông tin hoặc đội ngũ các nhàkhoa học đầu ngành; khâu cuối - tiêu thụ là khâu phức tạp nhất trong điều kiện cạnhtranh của nền kinh tế thị trường bao gồm các hoạt động thiết kế kênh tiêu thụ, quảng
bá, xây dựng quan hệ công chúng, chiến lược giá cả, khuếch trương,… do sự thay đổinhanh chóng của ngành sản xuất và sản phẩm với sự xuất hiện của các sản phẩm tinhxảo, có độ phức tạp cao trong thiết kế hoặc sản phẩm đáp ứng nhu cầu cao của mộtnhóm khách hàng khó tính trong sử dụng
Chẳng hạn, trong GVC ngành dệt may, thiết kế chiếm tới 35% giá trị, tiêu thụchiếm tới khoảng 35 – 40% giá trị Còn khâu sản xuất chỉ chiếm khoảng 20 – 25% giátrị, thậm chí còn thấp hơn Cả khâu đầu và khâu cuối tập trung vào các nước côngnghiệp phát triển như các nước Bắc Mỹ, EU và Nhật Bản,… còn khâu sản xuất ở giữa– khâu trực tiếp tạo ra giá trị, lại được đặt ở các nước có nguồn lao động dồi dào vàgiá lao động rẻ như Trung Quốc, Việt Nam, Bangladesh,…
(2) Dạng parabol “úp”
Dạng chuỗi giá trị này phù hợp với quá trình sản xuất các sản phẩm đơn giản về
thiết kế và có khả năng tiêu thụ dễ dàng Vì thế sản xuất, chế biến trở thành các khâutạo giá trị cao nhất hay có mật độ tập trung giá trị cao nhất Những nước xuất khẩu sảnphẩm thô, sản phẩm sơ chế đặc biệt là các hàng nông sản sơ chế thường có hình dạngchuỗi giá trị này hoặc các nền kinh tế mới công nghiệp hóa sơ khai như thời kỳ chủnghĩa tư bản do cạnh tranh có tính đặc trưng tương tự chuỗi giá trị các sản phẩm Lúcnày, thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như tiêu thụ không phải là vấn đề khókhăn, hoạt động marketing chưa phải là hoạt động đóng vai trò quyết định trong việcthực hiện giá trị
(3) Dạng đường thẳng
Dạng này phản ánh mật độ phân bố giá trị đều đặn và như nhau đối với các khâutrong chuỗi giá trị Dạng này gần như đóng vai trò cân bằng hai dạng chuỗi giá trị trên
Trang 13HÌNH 3: CÁC DẠNG CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ
Nguồn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, 2008
Các dạng phân bố mật độ giá trị của các khâu trong chuỗi giá trị được mô phỏngtrong Hình 3 Các dạng này có mối quan hệ và bổ sung lẫn nhau Mỗi dạng phân bốmật độ giá trị trong chuỗi gắn liền với một trình độ phát triển nhất định của đất nướchoặc phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định Vị trí của quốc gia trong chuỗigiá trị cũng là căn cứ để đánh giá vị thế của quốc gia đó trong nền kinh tế thế giới.Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp, sản phẩm được sản xuất rakhá đơn giản và hầu như được tiêu thụ một cách dễ dàng, dạng của GVC là dạng (2).Trong giai đoạn nền kinh tế đã đạt trình độ kinh tế cao, trình độ tiêu dùng cao, mức độcạnh tranh gay gắt để tiêu thụ hàng hóa trên phạm vi thế giới, dạng của chuỗi giá trị làdạng (1) Trong các nền kinh tế sản xuất và nhu cầu đơn giản tối đa, dạng của chuỗigiá trị là (3) Hiện nay, thị trường thế giới và những giá trị mang tính toàn cầu sẽ làđộng lực cơ bản để phát triển các giao dịch tạo ra giá trị toàn cầu
II MỤC ĐÍCH CỦA PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU MẶT HÀNG NÔNG SẢN
Sản xuất hàng nông sản là một lĩnh vực sản xuất nhạy cảm trong cơ cấu kinh tếcủa mỗi nước do có những đặc điểm riêng biệt so với các ngành khác như cung cấplương thực, thực phẩm nuôi sống con người, sử dụng nhiều lao động, lại chịu nhiều