1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các tổ chức quốc tế - Câu 6-10

8 278 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quy định về thủ tục thông qua quyết định của Hội Đồng Bảo An LHQ (Điều 27)
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi thành viên Hội đồng bảo an có một phiếu;Những nghị quyết của Hội đồng bảo an về các vấn đề thủ tục được thông qua khi 9 Ủy viên Hội đồng bỏ phiếu thuận; Mới nghe thì có vẻ lá phiế

Trang 1

6 Phân tích quy định về thủ tục thông qua quyết định của Hội Đồng Bảo An LHQ (Điều 27) Cơ chế quyền phủ quyết ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của HĐBA?

1 Mỗi thành viên Hội đồng bảo an có một phiếu;Những nghị quyết của Hội đồng bảo an

về các vấn đề thủ tục được thông qua khi 9 Ủy viên Hội đồng bỏ phiếu thuận;

Mới nghe thì có vẻ lá phiếu của tất cả các nước trong HĐBA đều có giá trị ngang nhau Nhưng thực chất không phải như vậy Những nghị quyết của Hội đồng bảo an về những vấn đề khác (những vấn đề quan trọng) chỉ được thông qua sau khi 9 Ủy viên của Hội đồng bảo an, trong đó có tất cả các Ủy viên thường trực bỏ phiếu thuận, (dĩ nhiên là bên đương sự trong tranh chấp sẽ không bỏ phiếu về các nghị quyết chiếu theo Chương VI và Điều 52, Khoản 3)

Như vậy, đối với các vấn đề ngoài Vấn đề thủ tục, là phiếu của các thành viên Không thường trực có sức mạnh kém hơn các nước thường trực Cho dù có 14 quốc gia chấp thuận, mà 1 quốc gia còn lại là Thành viên thường trực thể hiện quyền phủ quyết của mình thì Nghị quyết đó không được thông qua

- Quy định về thủ tục thông qua nghị quyết của HDBA đòi hỏi làm sáng tỏ 1 số vấn đề :

+ “ các vấn đề thủ tục là gì”

+làm thế nào xác định đâu là các vấn đề thủ tục + các vấn đề khác là gì?

- Chính vì sự không rõ ràng này đã dẫn đến thực tiễn là “phủ quyết kép”: đó là

khả năng các TVTT của HDBA sử dụng quyền phủ quyết 2 lần khi 1 NQ của

HDBA chưa xác định được là vấn đề thủ tục hay không Mục đích sử dụng

quyền này là để các thành viên thường trực của HĐ bỏ phiếu 2 lần cản trở NQ

không có lợi cho họ (ko nhất trí về tính chất của NQ => bỏ phiếu xác định có

phải là thủ tục không=> bỏ phiếu chống=> vấn đề khác => có quyền phủ

quyết tiếp=> phủ quyết kép)

thông tin bên lề: Kề từ khi Liên hiệp quốc được thành lập năm vào 1945 đã có 251 phủ quyết Trong số 251 này, Nga hay Liên Xô cũ dùng nhiều nhất

(120 lần) => Ngoại trưởng Liên xô : mr NO, kế đến là Mĩ (75 lần), Anh (32

lần), Pháp (18 lần), và Trung Quốc (5lần) (số liệu cũ, đọc để tham khảo độ

nhiều thui nha) Ngoại trưởng Liên xô : mr NO

http://www.chuyenluan.net/2003/200311/ThoiSu/QuyenPhuQuyet.htm

2 ảnh hưởng:

Trang 2

“Quyền phủ quyết Veto là quyền của một quốc gia là thành viên thường trực của HDBA bỏ phiếu chống để ngăn cản việc thông qua nghị quyết của HDBA

về một vấn đề không liên quan đến thủ tục khi các thành viên của hdba bỏ phiếu thông qua.”

- Veto là một phiếu phủ quyết của một thành viên thường trực HDBA về một quyết định mang tính quan trọng Vì thế veto có thể được coi là sự thất bại của HDBA trong việc thông qua một nghị quyết do một hoặc nhiều thành viên HDBA bỏ phiếu chống trong một cuộc bỏ phiếu mà 9 hoặc nhiều hơn các thành viên HDBA bỏ phiếu thuận -> VETO ngăn cản sự ra đời của một ý chí chính trị tập thể dưới dạng văn bản của HDBA liên quan đến chức năng chính là gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế của HDBA

+ Veto có ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa ra các quyết định của cả HDBA Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp việc đe dọa sử dụng quyền veto trong các cuộc họp không chính thức còn quan trong hơn việc sử dụng thực sự quyền veto trong các cuộc họp chính thức

+ Quyền veto chính là công cụ để các thành viên thường trực HDBA thực thi quyền lực của mình Nếu bất kì một thành viên thường trực HDBA nào phủ quyết một đề xuất thì HDBA hoàn toàn bị tê liệt

+ nhóm nước P5 vẫn tiếp tục gây sức ép với HDBA bằng các phiếu phủ quyết ngầm hoặc đe dọa dùng quyền phủ quyết

- 5 thành viên thường trực sd veto ngầm chủ yếu tại các phiên họp tham vấn không chính thức Bằng việc đưa ra cảnh báo về việc sử dụng quyền phủ quyết trước khi các cuộc bỏ phiếu diễn ra, P5 hầu như thuyết phục được các thành viên hội đồng đi theo hướng mà họ muốn, P5 thương sử dụng quyền phủ quyết ngầm để điều khiển chương trình nghị sự của HDBA và ngăn cản ĐHĐ hành động trong một số trường hợp nhất định -> việc lạm dụng quyền phủ quyết ngầm của P5 đáng khiến cho HDBA ngày càng thiếu dân chủ , minh bạch, hoạt động kém hiệu quả

- Việc đe dọa dùng quyền phủ quyết có ảnh hưởng vừa tiêu cực vừa tích cực đến hoạt động của HDBA: Vd: Mỹ thường xuyên cảnh báo dùng quyền phủ quyết trong các vấn đề liên quan đến Israel

Trang 3

Kết luận: Cơ chế này nhằm giúp 5 thành viên thường trực HDBA thực hiện tốt những trách nhiệm nặng lề của mình giải quyết các việc quốc tế Nhưng giờ đây nó thành công cụ phục vụ mục đích của các quốc gia thành viên Thường trực ( đặc biệt

là Hoa kì) Các nghị quyết của HDBA giờ đây không được các nước đánh giá cao, nếu như không muốn nói là xem thường, nó được cho là những văn bản để đe dọa, khống chế, và khủng bố các nước khác không nằm trong quĩ đạo ảnh hưởng của của các nước thường trực Vì vậy, có một số những nghị quyết dù thành văn bản nhưng đã không được các bên liên quan thi hành như nghị quyết về Cơ chế này dường như đã lỗi thời và làm HDBA mất đi giá trị của nó ( khó mà cải tổ được vì các nước thường trực phản đối)

Thông tin bên lề:

- Cở chế quyền phủ quyết:

+ Phủ quyết với vấn đề đăng kí thành viên : HDBA có quyền quyết đinh đối với 1 nước có được gia nhập vào LHQ hay không thông qua việc đánh giá các khía cạnh liên quan tới ANTG

+Phủ quyết đối với vấn đề bảo vệ các nước khỏi bị kết tội hoặc cấm vận: các nước thường trực thường sử dụng veto đề bảo vệ nước có QHKT hoặc Ngoại giao với mình khỏi các lời buộc tội hoặc cấm vận kinh tế

+ Phủ quyết đối với các vấn đề ngăn cản nỗ lực gìn giữ hòa bình của LHQ +Phủ quyết kép

+phủ quyết ngược: 7 phiếu chống của e10 tương đương 1 phiếu chống của p5

7 Quyền hạn của HĐBA trong trường hợp hoà bình và an ninh quốc

tế bị phá hoại (Chương VII) Phân tích ý nghĩa của Điều 39 HC LHQ

1 Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các điều các biên pháp hòa bình (điều 41) hoặc các biện pháp dùng vũ lực (điều 42 )để duy trì hoặc khôi

Trang 4

phục hoà bình và an ninh quốc tế Trước đó, để ngăn chặn tình thế trở nên

nghiêm trọng hơn HDBA có quyền áp dụng các biện pháp hòa bình theo

điều 40

Để góp phần vào việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, theo yêu cầu của Hội đồng bảo an (và phù hợp với những thỏa thuận đặc biệt hoặc các

thỏa thuận cần thiết cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế) tất cả các

quốc gia thành viên Liên hợp quốc có nghĩa vụ cung cấp cho Hội đồng bảo

an những lực lượng vũ trang, sự yểm trợ, và mọi phương tiện khác, kể cả

cho quân đội Liên hợp quốc qua lãnh thổ của mình (điều 43 khoản 1)

Nhưng số lượng, mức độ, chủng loại như thế nào thì phải có sự đàm phán và

đi đến 1 thỏa thuận bằng văn bản Khi HDBA quyết định dùng vũ lực,

HDBA phải mời thành viên đó, nếu họ muốn, tham gia việc định ra những

nghị quyết của Hội đồng bảo an về sử dụng lực lượng vũ trang của thành

viên ấy

Nhưng các biện pháp sd vũ lực theo điều 42 chương VII đã được sử

dụng rất ít trong CTL Do các quốc gia thành viên chưa bao giờ đạt được

thỏa thuân đặc biệt để trao cho HDBA 1 lực lượng quân sự như đã nêu tại

Đ43 và Ủy ban tham mưu quân sự ơr điều 47 (đã thành lập nhưng chấm dứt

tồn tạo), HDBA, trên thực tế, chưa từng sử dụng vũ lực mà ủy quyền cho các

quốc gia thành viên sử dụng vũ lực:

-Lm do Mỹ đứng đầu tại Triều Tiên năm 1950, Iraq, Kuwait năm 1990…

- Các hoạt động do Pháp đứng đầu tại Rwanda năm 1994

- Hoạt động của Italia tại Albania

-Hoạt động của Australia tại Đông Timor năm 1990

2 Điều 39: “Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế.”

=> Điều 39 quy định khả năng đầu tiên áp dụng các quyền cưỡng chế của HDBA,

được coi là tiền đề cho cơ chế cưỡng chế tập thể được nêu ra trong chương VII của

HV, là cơ sở giúp HDBA có thể đưa ra các kiến nghị với các QG liên quan hoặc áp

dụng các điều khoản tiếp theo của chương VII

Trang 5

Để có thể cưỡng chế một quốc gia thông qua các biện pháp QS hay phi QS theo điều 41 và 42 thì trước tiên HDBA cần phải sử dụng đến điều 39 để xác định các điều khoản tiếp theo của chương VII

Tuy nhiên, những yếu tô nào sẽ cấu thành nên một mối đe doạ hay phá hoại

HB & ANQT hoặc hành vi xâm lược lại không được nêu hay giải thích trong HC Như vậy, HDBA phải tự xác định những tình huống có khả năng đe dọa hòa bình và ANQT

 Những người dự thảo lên Điều 39 cũng đã có ý định cho phép HDBA thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với nhiều vụ việc và không giới hạn nó trong một khuôn khổ nhất định đồng thời không gây ra cản trở tới Quyết định

về thời điểm thực hiện các biện pháp đó:

Khi nào 1 hành động được xem là đe dọa hòa bình? Nó có thể chỉ là diễn biến trong

1 quốc gia mà không thuộc thẩm quyền về của LHQ hay HDBA, ví dụ sự sụp đổ trật tự và luật pháp của một quốc gia Hiện nay, ANQT được được mở rộng ra xung đột nội bộ không có quyết định nào cho phép HDBA can thiệp vào công việc nội bộ trừ chương 7 khi HDBA thấy no đe dọa tới ANQT Nhờ kết hợp Điều 39 và điều 2 khoản 7, HDBA sẽ quyết định xem khi nào có một “mối đe dọa tới hòa bình” mang tính “ quốc tế” Điều 39 sẽ xác định một mối đe dọa mang tính quốc tế và khiến mối quan hệ đó không thuộc thẩm quyền nội bộ quốc gia đó nữa

-HDBA đã mở rộng cách xác định một số trường hợp ảnh hưởng tới HB và ANTG

do nó tạo ra cản trở trong việc mang đem đên các nhu cầu nhân đạo Vấn đề này được coi là quốc tế dựa trên cơ sở là nếu không có các nhu cầu nhân đạo đó thì có thể khiến cho người dân chạy đi tị nạn ở các quốc gia láng giềng và khiến cho cuộc khủng hoảng trở nên nghiêm trọng hơn

- Trong vấn đề xâm lược, hiến chương cũng không quy định rõ, chỉ có NQ 3314 về Định nghĩa xâm lược của DHD – LHQ Theo NQ này, xâm lược là việc 1 nước sử dụng lực lưỡng vũ trang tấn công, vi phạm chủ quyền , toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của 1 nước khác , hoặc dưới bất kì hình thức nào khác Nghị quyết lập

ra 1 danh sách không giới hạn những hành vi bị coi là xâm lược NQ trao cho HDBA quyền được kết luận có hay không hành vi xâm lược trong cách tình huống cụ thể

Trang 6

-Ngoài việc xác định mối đe dọa tới Hòa bình , vế thứ 2 của điều 39 nêu lên rằng HDBA sẽ đưa ra các khuyến nghị để không làm cho các vấn đề trở nên trầm trong hơn Trong trường hợp này, HDBA sẽ viện dẫn tới các biện pháp tạm thời theo Điều 40 nhằm ngăn ngừa các bên tranh chấp làm cho cuộc xung đột trở nên nghiêm trọng hơn Điều 39 đồng thời cũng cho phép HDBA viện dẫn các biện pháp trừng phạt phi quân sự theo Điều 41, và khi những biện pháp này

tỏ ra không hiệu quả, áp dụng các biện pháp quân sự theo Điều 42

8 Khái niệm “hoà bình và an ninh quốc tế” được hiểu như thế nào? Sự

phát triển trong cách tiếp cận khái niệm này và những tác động đến thực tiễn

hoạt động của HĐBA.

Nhiệm vụ của Hội đồng Bảo an là “gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế“ Tuy

nhiên, bản hiến chương lại không đưa ra 1 định nghĩa cho khái niệm này, nó xuất

hiện ở các điều 1, 24,39, 41,42 một cách chung chung Do đó, cùng với sự phát

triển của QHQT, khái niệm “hòa bình và an ninh quôc tế” có thể hiểu theo nghĩa

rộng

- Cựu TTK LHQ Kofi Annan từng nói rằng ngày nay hòa bình không chỉ mang nghĩ

đen (sự không tồn tại các cuộc đụng độ quân sự và xung đột) của nó mà ,thêm vào

đó, lợi ích chung của nhân loại còn bị ảnh hưởng bởi thực trạng kinh tế và xã hội

như nghèo đói , dịch bệnh, và cũng được coi là “đe dọa tới hòa bình “

- An ninh quốc tế không chỉ liên quan đến an ninh giữa các quốc gia mà còn bị ảnh

hưởng bởi an ninh trong phạm vi mỗi quốc gia(như là nội chiến, sắc tốc) vì nó ảnh

hưởng tới con người ở quốc gia đó Ngoài ra, An ninh quốc tế còn hiểu bao gồm:

+ An ninh quốc gia +An ninh con người +An ninh môi trường + An ninh lương thực +An ninh kinh tế

9 Phân tích các biện pháp cưỡng chế theo quy định của điều 41, Chương

VII, Hiến chương LHQ Bình luận về vị trí và tính hiệu quả so với các

biện pháp khác theo quy định của chương VII

Điều 41: Hội đồng bảo an có thẩm quyền quyết định những biện pháp nào phải được

áp dụng mà không sử dụng vũ lực để thực hiện các nghị quyết của Hội đồng, và có

thể yêu cầu các thành viên của Liên hợp quốc áp dụng những biện pháp ấy Các biện

Trang 7

pháp này có thể là cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao

Phân tích: Trên tinh thần đảm bảo Hòa bình và an ninh quốc tế các biện pháp trừng

phạt cua HDBA trc hết mang tinh thần hòa bình Vì vậy điều 41 phải được sử dụng đầu tiên Danh sách các biện pháp này không hạn chế , HDBA hoàn toàn có thể bổ sung thêm trong trường hợp cần thiết cả biện pháp hay được dùng nhất hiện nay là cấm vận kinh tế Các biện pháp này không phải theo thứ tự tăng dần về mức độ và tính chất , không bắt buộc phải sự dụng lần lượt hoặc dùng tất cả Hội đồng bảo an

có thể yêu cầu tất cả các thành viên trong liên hợp quốc áp dụng biện pháp mà hội đồng bảo an áp dụng những biện pháp này Như vậy, nước bị áp dụng sẽ bị cô lập gần như hoàn toàn Trong thời đại toàn cầu hóa thì bị áp dụng lệnh trừng phạt này thì sẽ gây ra thiệt hại rất to lớn cho kinh tế nước đó

Bình luận:

- các biện pháp này là các biện pháp phi quân sự, không tác động lên 1 quốc gia bằng vũ lực , song mức độ ảnh hưởng của nó có thể không nhẹ hơn các biện bằng biện pháp quân sự được trình bày ở điều 42

Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao của nước bị áp dụng lệnh trừng phạt này Nó làm cho tình hình các lĩnh vực trên của quốc gia bị áp dụng gặp nhiều khó khăn,

10 Phân tích các biện pháp cưỡng chế theo quy định của điều 42, Chương VII, Hiến chương LHQ Bình luận về vị trí và tính hiệu quả so với các biện pháp khác theo quy định của chương VII

Điều 42: Nếu Hội đồng bảo an nhận thấy những biện pháp nói ở điều 41 là không thích hợp, hoặc tỏ ra là không thích hợp, thì Hội đồng bảo an có quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong toả và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thực hiện

Trang 8

Phân tích: Việc áp dụng Hải, lục, không quân không phụ thuộc vào việc sử dụng

điều 41 Nhưng trong thời đại hiện nay, thì điều 41 được sử dụng trước, sau đó HDBA mới xem xét điều 42 nếu các biên pháp ở điều 42 không thích hợp, hoặc tỏ ra

là không thích hợp, hoặc đã mất hiệu lực Các biện pháp đưa ra không bắt buộc theo mức độ tăng dần HDBA có toàn quyền xác định xem việc sử dụng điều 42 có thích hợp hay không

Bình luận:

Việc áp dụng các biện pháp Hải, Lục, không quân tác dụng trực tiếp tới nước bị áp dụng

Các biện pháp ở điều 42 được sử dụng rất ít Do các quốc gia thành viên chưa bao giờ đạt được thỏa thuận quân sự nêu ở điều 43 và Ủy ban tham mưu quân sự ở điều

47 thì thành lập nhưng cũng nhanh chóng chấm dứt tồn tại, HDBA, trên thực tế, chưa từng tự nó sử dụng vũ lực mà ủy quyền cho các quốc gia thành viên sự dụng vũ lực

Ngày đăng: 19/10/2013, 18:15

w