1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tư tưởng chính trị của John Stuart Mill

112 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại, một trong những tác gia mà sự nghiệp chính trị và học thuật của ông có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng thể c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Đoàn Trường Thụ Các thông tin trong Luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày… tháng …năm 2014

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Nguyễn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy, cô giáo đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học, đặc biệt là TS Đoàn Trường Thụ người hướng dẫn khoa học, trực tiếp giúp đỡ tôi rất nhiều để có kết quả nghiên cứu này

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 9

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA J S MILL 9

1.1 Tiền đề lịch sử và lý luận 9

1.1.1 Tiền đề lịch sử 9

1.1.2 Tiền đề lý luận 14

1.2 Thân thế và sự nghiệp của J S Mill 21

1.2.1 Sơ lược tiểu sử của J S Mill 21

1.2.2 Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của J S Mill 28

Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA J S MILL 35

2.1 Tư tưởng về tự do 35

2.1.1 Tự do cá nhân 36

2.1.2 Tự do và quyền bình đẳng của phụ nữ 46

2.2 Tư tưởng về thể chế chính trị 54

2.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá chính thể đại diện 54

2.2.2 Các cơ quan quyền lực cấu thành chính thể đại diện 62

2.2.3 Dân chủ và quyền bầu cử 68

Trang 6

Chương 3: NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA JOHN STUART MILL VÀ BÀI HỌC THAM KHẢO ĐỐI

VỚI VIỆT NAM 75

3.1 Những giá trị, hạn chế của tư tưởng chính trị của J S Mill 75

3.1.1 Giá trị của tư tưởng chính trị của J S Mill 75

3.1.2 Hạn chế của tư tưởng chính trị của J S Mill 86

3.2 Bài học tham khảo đối với Việt Nam 93

3.2.1 Bài học về đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị 93

3.2.2 Bài học về bảo đảm tự do cá nhân và quyền bình đẳng cho phụ nữ 96

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Lịch sử tư tưởng chính trị Châu Âu thời kỳ cận - hiện đại là lịch sử của những dòng tư tưởng vì tự do của con người, vì một xã hội dân chủ với sự tham gia tối đa của công dân vào các quyết định chung Những dòng tư tưởng này đã được áp dụng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình hình thành hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, với

sự phát triển của kinh tế thị trường, quan hệ đối ngoại thời mở cửa, các dòng

tư tưởng này cũng đã có điều kiện thâm nhập và đóng góp những bài học kinh nghiệm lớn vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và xã hội công bằng dân chủ văn minh

Ngày nay, sự nghiệp Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng

và lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu tốt đẹp, tạo đà cho giai đoạn tiếp theo của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đặt ra khi kết thúc thời kỳ quá độ là "xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của Chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị,

tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc" [4, tr 71] thì bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, chúng ta còn phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Nhận thức rõ yêu cầu đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực

Trang 8

Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa…" [4, tr 85].

Công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của Việt Nam hiện nay cần tới việc tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết chính trị trong lịch sử Bởi vì, những tư tưởng và học thuyết đó không chỉ là sản phẩm của một cá nhân hay một chế độ chính trị nào mà đã trở thành giá trị chung của nhân loại và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn các cuộc đấu tranh vì dân chủ và tiến bộ xã hội Chúng có tác dụng to lớn trong việc khai mở những giá trị học thuật, định hướng những giá trị thực tiễn nhằm tìm

ra được con đường đúng đắn và những giải pháp hữu hiệu để xây dựng một thể chế chính trị thực sự vì dân Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại, một trong những tác gia mà sự nghiệp chính trị và học thuật của ông có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng thể chế chính trị của nhiều quốc gia trên thế giới là John Stuart Mill (J S Mill)

J S Mill (1806-1873) được coi là người đại diện chính cho trường phái

chủ nghĩa Công lợi (Utilitarianism) Tư tưởng chính trị nổi bật của ông có thể

coi là xuất phát từ lập luận rằng mọi hành động của con người đều phải hướng tới việc mang lại tối đa hạnh phúc (tức sự thỏa mãn các nhu cầu) cho tối đa số người Học thuyết của ông đã có đóng góp rất lớn trong việc đem lại các quyền tự do, dân chủ cho phụ nữ và tầng lớp lao động ở nước Anh đầu thế kỷ XIX cũng như để lại nhiều bài học to lớn đối với các quá trình thực hiện quản

lý xã hội của các nhà nước dân chủ

Đối với Việt Nam, do đặc trưng của xã hội phương Đông và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, việc tiếp cận tinh hoa tư tưởng chính trị

Trang 9

phương Tây gặp không ít khó khăn Về tổng quan, có thể nói rằng, các học thuyết tư tưởng của phương Tây từ thời Cổ đại đến Khai sáng và Cận đại vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Khoảng trống học thuật này là một trong những bất lợi lớn với một đất nước đang trên đà xây dựng nền kinh

tế tri thức và mở rộng quan hệ quốc tế với các nước phát triển Do đó, việc nghiên cứu tưởng chính trị của J S Mill là điều cấp thiết, góp phần bù đắp khoảng trống tri thức về lịch sử tư tưởng chính trị và gợi mở những giá trị tham khảo cho việc xây dựng và củng cổ thể chế chính trị Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài

J S Mill là một nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực như chính trị học, kinh tế học, logic học, đạo đức học,…Tuy nhiên, trước chiến tranh thế giới thứ II, công cuộc nghiên cứu về Mill chưa đánh giá hết tầm quan trọng của ông Sau khi thế chiến II kết thúc, các vấn đề về tự do, dân chủ, xây dựng chính thể, phục hưng kinh tế,… của các quốc gia được đặt

ra cấp thiết thì công cuộc nghiên cứu về ông mới được triển khai rộng rãi

Ở Việt Nam, trong số các tác phẩm của J S Mill, mới chỉ có hai tác

phẩm được dịch ra tiếng Việt đó là Bàn về tự do (Nguyễn Văn Trọng dịch, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành) và Chính thể đại diện (Nguyễn Văn Trọng và

Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành) Đây là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp nghiên cứu đồ sộ của J

S Mill Các bản dịch của hai dịch giả Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn cũng là những bản dịch công phu, tỉ mỉ, có lời giới thiệu của người dịch phân tích đánh giá khái quát toàn bộ nội dung

Việc nghiên cứu về J S Mill ở Việt Nam do đó cũng chưa đầy đủ Trong số các tài liệu tiếng Việt nghiên cứu về J S Mill, trước hết cần phải kể

đến cuốn "101 triết gia" do Mai Sơn biên soạn (Nhà xuất bản Tri thức, Hà

Nội, 2007) Cuốn sách là một công trình nghiên cứu về các tác gia triết học,

Trang 10

với sự xếp đặt theo trình tự thời gian xuất hiện của mỗi triết gia Trong công trình này, J S Mill được đề cập một cách khái quát về chân dung, tiểu sử, tóm lược triết thuyết cũng như tầm ảnh hưởng và danh sách trước tác của ông

Đề tài "Tư tưởng chính trị phương Tây cận, hiện đại", thuộc đề tài

nhánh KX 10-10, do TS Ngô Huy Đức, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ nhiệm là đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng chính trị Đề tài dành chương II để nghiên cứ về các tư tưởng của Mandison và Mill, trong đó, tư tưởng chính trị của J S Mill được để cập thông qua các luận đề như quan niệm về con người chính trị, quan niệm về thể chế chính trị, mối quan hệ giữa con người chính trị và thể chế chính trị

Là cuốn kỷ yếu tập hợp các bài nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học và giáo dục, tri thức và phát triển của nhiền nhà nghiên cứu hàng đầu Việt Nam,

cuốn sách "Trong ngần bóng gương - Kỷ yếu mừng GS.TS Đặng Đình Áng

Thượng thọ 80" (PGSTS Nguyễn Dũng TS Nguyễn Xuân Xanh chủ biên, Nhà

xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2006) có bài viết "Đọc lại Bàn về tự do của John

Stuart Mill" của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn Bài viết phân tích cách

đặt vấn đề, nội dung, những giá trị, hạn chế của lý thuyết về tự do trong tác phẩm Bàn về tự do của J S Mill

Các tài liệu nghiên cứu về J S Mill bằng tiếng nước ngoài được dịch thuật ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của J S Mill trên các lĩnh vực triết học, đạo đức học, kinh tế học, một số công trình tiêu biểu trong số đó là:

"Nhập môn triết học phương Tây" (Samuel Enoch Stumpf và Donal

C.Abel, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, Lưu Văn Hy biên dịch) Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Triết học Trong cuốn sách này, tác giả sắp xếp các vấn đề của Triết học theo các luận đề như Triết học về tôn giáo, Triết học về tri thức, đạo đức học, Triết học chính trị Tư tưởng của J S Mill

Trang 11

được bàn đến ở cả hai luận đề về Đạo đức học và Triết học chính trị, tuy nhiên,

sự phân tích của tác giả chưa được sâu sắc

"Tuyển Tập Danh Tác Triết Học Từ Plato Đến Derrida" (Forrest

E.Baird, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn

Hy dịch) là công trình nghiên cứu về triết học theo sự phân kỳ lịch sử, mỗi giai đoạn gắn liền với một số tác gia tiêu biểu J S Mill được đề cập ở phần

V - Triết học thế kỷ XIX Tuy nhiên, tác giả mới chỉ tiếp cận tư tưởng của J

S Mill dưới góc độ một nhà đạo đức học Công lợi, chưa đề cập đến tư tưởng chính trị của J S Mill

"Lịch sử triết học và các luận đề" (Samuel Enoch Stumf, Nxb Lao động,

Hà Nội 2004, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch) cùng là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về Triết học Các tác giả đã dành một phần không nhỏ

để nghiên cứu về thuyết Công lợi của J S Mill Cùng với việc tóm lược tiểu sử

J S Mill, quan niệm của ông về tự do cũng được nêu lên một cách ngắn gọn Cũng đề cập đến J S Mill trên phương diện nhà tư tưởng của thuyết

Công lợi, "Câu chuyện triết học" (Bryan Magee, Nxb Thống kê, 2003, Huỳnh

Phan Anh và Mai Sơn dịch) trình bày khái quát về tư tưởng của J S Mill trong dòng chảy của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại

"Đạo Đức trong kinh tế" (Francisco Vergar, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2011,

Nguyễn Đôn Phước dịch) là một tác phẩm nghiên cứu các trường phái lớn của chủ nghĩa Tự do từ nửa sau thế kỉ XVIII gồm: Chủ nghĩa tự do công lợi, pháp quyền tự nhiên, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tự do cực đoan Trong tác phẩm này, tư tưởng của J S Mill được nghiên cứu ở khía cạnh chủ nghĩa tự

do công lợi

Về tài liệu tiếng nước ngoài, "John Stuart Mill - a biography" (Nicholas

Capaldi, Cambridge university Press, 2004) là công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của J S Mill, từ đó, tác giả tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng

Trang 12

cũng như những đóng góp về tư tưởng của J S Mill trên các lĩnh vực triết học, chính trị học, đạo đức học,…

"John Stuart Mill on liberty in focus" (Edited by John Gray and

G.W.Smith, Routledge Press, London, 1991) là công trình tập hợp các bài nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới về các vấn đề trong quan điểm của J S Mill về tự do Các bài nghiên cứu cũng tập trung bàn đến cơ sở triết học trong quan điểm về tự do cũng như mối liên hệ giữa lý luận về tự do

và chủ nghĩa Công lợi trong tư tưởng của J S Mill

"The liberal self John Stuart Mill moral and political philosophy"

(Wendy Donner, Comell University Press, London, 1991) là công trình nghiên cứu khá toàn diện về tư tưởng của J S Mill trong mối liên hệ đối chiếu với Jeremy Bentham Tuy nhiên, công trình này nghiêng về trình bày quan điểm đạo đức công lợi của J S Mill Tư tưởng chính trị của ông được

đề cập mờ nhạt hơn

Cũng bàn về tư tưởng đạo đức công lợi của J S Mill, tác phẩm "Since

Socrate" (Robert C Solomon, Clancy Martin, Thomson Wadsworth press,

New York, 2005) đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề của thuyết Công lợi Qua đó, tác giả gợi mở về sự vận dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa Công lợi vào việc nghiên cứu chính trị học của J S Mill

"Philosophy made simple" (a made simple book, 1993) là một công trình

nghiên cứu về triết học chính trị Trong công trình này, tên tuổi của J S Mill được nhắc đến cùng với những tác gia như Plato, Thomas Hobbes, John Locke, Karl Marx Tư tưởng của J S Mill được phân tích một cách khá toàn diện dưới góc độ triết học chính trị

"Great political thinkers" (William Thomas, Oxford University Press,

New York, 1992) là công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị của 4 nhà tư tưởng gồm Niccolo Machiavelli, Thomas Hobbes, J S Mill và Karl Marx

Trang 13

Trong công trình này, tác giả nghiên cứu về J S Mill theo từng luận điểm: tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học J S Mill được đánh giá như một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ XIX, một nhà tư tưởng tiêu biểu của thời đại

Như vậy, tư tưởng chính trị của J S Mill là một đề tài chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Một số tài liệu có nghiên cứu về tư tưởng của ông nhưng chỉ đề cập một cách khái quát hoặc chú trọng vào các khía cạnh khác như đạo đức, kinh tế, triết học,…rất ít tài liệu bàn về tư tưởng chính trị của ông

Chính trị học với tư cách là một khoa học độc lập mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 1990 Việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng nói chung dưới góc độ chính trị học vẫn còn là lĩnh vực cần được quan tâm Xét riêng về J S Mill, có thể nói rằng Luận văn là nỗ lực đầu tiên trong việc nghiên cứu tư tưởng chính trị của J S Mill một cách có hệ thống Do vậy, quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn không tránh khỏi những thiếu sót

và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

- Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn:

Làm rõ các vấn đề trong nội dung tư tưởng chính trị của J S Mill từ đó rút ra một số giá trị có thể tham khảo đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:

+ Nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng chính trị của J S Mill

+ Trình bày, phân tích nội dung tư tưởng chính trị của J S Mill

+ Nhận xét, đánh giá những giá trị hạn chế trong tư tưởng chính trị của J

S Mill và rút ra bài học tham khảo đối với Việt Nam

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn được xác định là nội dung tư tưởng chính trị của J S Mill

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các tác phẩm của J S Mill, trong đó

tập trung khảo cứu các tác phẩm Chính thể đại diện, Bàn về tự do, Sự nô dịch

phụ nữ - là những tác phẩm thể hiện tập trung nhất tư tưởng chính trị của ông

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Cơ sở lý luận của Luận văn là chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử; Lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; Các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng và đổi mới bộ máy Nhà nước

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể là phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, đối chiếu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

- Luận văn đánh giá và nêu ra một số giá trị trong tư tưởng chính trị của

J S Mill đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

ở Việt Nam hiện nay

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập trong lĩnh vực chính trị học và các ngành khoa học khác trong phạm

vi có liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 03 chương,

06 tiết

Trang 15

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA J S MILL

1.1 Tiền đề lịch sử và lý luận

1.1.1 Tiền đề lịch sử

1.1.1.1 Tình hình Châu Âu thế kỉ XIX

Các cuộc phát kiến địa lý từ thế kỷ XV đã mở rộng thị trường tư bản, tạo

đà cho sự lớn mạnh của giai cấp tư sản Sự phát triển của thị trường trên quy

mô toàn thế giới đã tác động tới sự phát triển của nhiều quốc gia, trước hết là các nước bên bờ Đại Tây Dương Sự thay đổi về mặt chế độ xã hội sẽ diễn ra

là điều tất yếu Giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về kinh tế nhưng chưa có địa vị chính trị tương xứng, chế độ chính trị đương thời ngày càng cản trở sự phát triển của kinh tế Thế kỉ XVI-XVIII nhiều cuộc cách mạng tư sản ở Tây

Âu và Bắc Mỹ đã lần lượt nổ ra và giành thắng lợi như: Cách mạng tư sản Hà Lan (1566-1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ (1775-1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799),

Các cuộc biến động xã hội đó tuy diễn ra ở các quốc gia riêng lẻ trong nhiều thế kỷ nhưng đều có chung mục đích là lật đổ chế độ phong kiến lạc hậu đang là lực cản của sự tiến bộ, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phát triển Với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của các quốc gia tư sản, công nghiệp thương nghiệp đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ Đến thế

kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với những phát minh vĩ đại

đã đánh dấu một giai đoạn văn minh mới của châu Âu và nhân loại

Do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng như cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người, một loạt các phát minh khoa học

đã ra đời ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, tạo nên cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng này là sự thay thế nền sản xuất giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay bằng công nghiệp và

Trang 16

chế tạo máy móc quy mô lớn Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng của công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự ra đời của kênh đào giao thông và đường sắt Đường sá cũng được nâng cấp phục

vụ cho hoạt động giao thương nhộn nhịp Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác Thế kỉ XIX đã đánh dấu bước ngoặt căn bản chuyển từ lao động bằng tay sang lao động bằng máy Loài người đã chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra cách nhìn mới, kéo theo những biến đổi lớn về chính trị, văn hóa, xã hội Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp làm xuất hiện nhiều khu công nghiệp cùng với quá trình cơ cấu lao động

và đô thị hoá đã thay đổi bộ mặt của đời sống xã hội phương Tây Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ dừng lại trong công thương nghiệp mà còn xâm nhập vào cả nông nghiệp Việc kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa với kĩ thuật canh tác mới làm gia tăng năng suất và chất lượng nông phẩm

Về chính trị, thế kỉ XIX vẫn là thế kỉ của những cuộc đấu tranh nhằm xác lập địa vị thống trị của giai cấp tư sản về chính trị Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản và quần chúng lao động giai đoạn này có thêm nội dung mới là nhằm xác lập và thi hành hiến pháp tư sản Tiêu biểu cho các cuộc đấu tranh này là cuộc cách mạng Tây Ban Nha kéo dài trong hai năm 1820-1823 đòi thực hiện Hiến pháp 1812, cách mạng 1830 ở Bỉ với sự ra đời của Hiến pháp Khi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra song song với các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động đòi các quyền chính trị, tự do, dân chủ dưới chế độ tư sản cũng là lúc J S Mill đang sống những tháng năm tuổi trẻ

Trang 17

đầy nhiệt huyết Với nền tảng kiến thức được trang bị từ sự giáo dục nghiêm khắc của người cha và sự truyền thụ của những người thầy hàng đầu về các lĩnh vực khoa học khác thời bấy giờ, ông bắt đầu tự mình tìm hiểu các vấn đề về kinh

tế, chính trị, xã hội và đưa ra những nhận xét độc lập Để rồi, những giai đoạn sau đó, ông dành trọn thời gian và tâm huyết để nghiên cứu về loại hình chính thể này cũng như các vấn đề mới phát sinh xung quanh nó để tìm ra một phương thức hoạt động hiệu quả nhất, đem lại lợi ích tối đa cho số đông

1.1.1.2 Tình hình nước Anh thế kỷ XIX

Nửa cuối thế kỉ XVIII, cách mạng công nghiệp nổ ra ở Anh sau đó lan ra toàn thế giới Đầu thế kỉ XIX, trong khi cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước khác mới chỉ bắt đầu hoặc đang tiến hành thì ở Anh đã hoàn thành về căn bản Anh trở thành một nước công nghiệp thực thụ Nếp sống chậm rãi với những lễ nghi rườm rà của quý tộc phong kiến được thay thế bằng đời sống công nghiệp bận rộn Những năm 50-60 của thế kỷ XIX, công nghiệp Anh phát triển mạnh, đứng hàng đầu trên thế giới

Anh chiếm độc quyền về các ngành công nghiệp nặng, có thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, thu nhiều lợi nhuận Do sự phát triển nhanh chóng về công nghiệp mà quy mô các xí nghiệp cũng thay đổi Những nhà máy sử dụng hàng ngàn công nhân trở nên khá phổ biến, có những xí nghiệp còn lên tới hàng vạn người Nhiều thành phố, bến tàu, cửa biển trở nên sầm uất Tốc độ

đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Về thương nghiệp, năm 1846, chính sách tự

do buôn bán được tiến hành mạnh mẽ qua việc xóa bỏ phần lớn các thứ thuế nhập khẩu làm cho giá nguyên liệu và lúa mì hạ xuống, hàng hóa sản xuất ra đều hạ giá thành Năm 1849, đạo luật Hàng hải được hủy bỏ sau gần hai thế

kỷ tồn tại Tàu bè của Anh được tự do đi lại buôn bán Trong những năm

40-60 của thế kỷ XIX, chính phủ Anh tiếp tục giảm thuế đối với những mặt hàng xuất nhập khẩu và ký kết những hiệp nghị hạ thuế quan với các nước khác,

Trang 18

đưa tổng sản lượng xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng Sự phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế Anh trong thế kỷ XIX đã đưa nước Anh bước vào thời đại phồn vinh Nước Anh được mệnh danh là "công xưởng thế giới" và giữ vị trí

bá quyền trên mặt biển [nguồn: 21, tr.230]

Sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa đòi hỏi nguyên liệu và thị trường Vấn đề thuộc địa trở nên vô cùng cấp thiết Ireland

là thuộc địa sớm nhất và gần gũi nhất của Anh Năm 1856, Anh tiến hành cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai để xâm lược Trung Quốc, buộc triều đình Mãn Thanh phải bồi thường và mở thêm cửa biển để buôn bán Cùng năm đó, quân Anh bắt đầu xâm lược Ba Tư, kết quả của cuộc xâm lược này là chính quyền địa phương thừa nhận độc quyền của nhà buôn Anh được tự do

đi lại trong vịnh Ba Tư Năm 1863, tàu chiến Anh cùng với các nước khác (Pháp, Hà Lan, Mỹ) bắn phá Kagoshima buộc Nhật phải bồi thường chiến phí

và mở rộng cửa biển cho hàng hóa nước ngoài tràn vào Cũng trong thời gian những năm 30-60, Anh còn xâm chiếm New Zealand, miền Tây Miến Điện, Nam Phi, can thiệp vào Jamaica, Etiopia Giữa thế kỷ XIX, Anh hoàn thành cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ Đến năm 1900, diện tích đất đai thuộc Anh lên tới 33 triệu km2 với số dân là 370 triệu người [nguồn 21, tr 235] Cùng với việc mở rộng thuộc địa, số người di cư từ Anh sang Canada, Australia, New Zealand và Nam Phi ngày càng đông

J S Mill sinh ra tại London và trải qua phần lớn cuộc đời ở thành phố hoa lệ bậc nhất thế giới này Sự phát triển nhanh chóng của xã hội Anh trong thời đại cách mạng công nghiệp đã tạo cảm hứng cho các nhà tư tưởng trong

đó có J S Mill

Lịch sử chính trị Anh thế kỉ XIX ghi dấu sâu sắc các cuộc đấu tranh đòi cải cách nghị viện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Phong trào đấu tranh cải cách nghị viện bắt đầu từ đầu thế kỉ XIX

Trang 19

Năm 1832, những cải cách của đảng Wig mặc dù đã mở rộng quyền bầu

cử cho tầng lớp trung lưu mới nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nguyện vọng của phần lớn người lao động Giai cấp công nhân Anh đã phát động cuộc đấu tranh rầm rộ gọi là "Phong trào Hiến chương" Trung tâm tổ chức của phong trào là "Hiệp hội công nhân London" được thành lập năm 1836 do một người thợ thủ công đứng đầu Tháng 5 năm 1838, Ban lãnh đạo Hội đã gửi tới nghị viện Anh bản Hiến chương nhân dân, gồm 6 điểm: Quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới đủ 21 tuổi, bỏ phiếu kín, các khu vực bầu cử ngang nhau, bãi bỏ chế độ phải đưa tài sản ra để đảm bảo tư cách bầu cử đối với mỗi ứng cử viên ứng cử nghị sĩ, tiền lương của nghị sĩ, hàng năm bầu cử nghị viện Từ năm 1836-1858, ba cao trào Hiến chương đã diễn ra với các cuộc mittinh, biểu tình, bãi công rầm rộ trong toàn quốc Các cuộc đấu tranh này đều bị đàn áp và không đạt được mục đích cuối cùng Tuy nhiên, phong trào Hiến chương trở thành một tấm gương về lòng dũng cảm cho các cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới

Năm 1857, ở Anh cũng như nhiều nước châu Âu khác, cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa xảy ra hết sức trầm trọng Đối tượng đầu tiên chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này là công nhân và người lao động Do hàng hóa sản xuất không bán được, chủ xưởng đã tiến hành việc sa thải nhân công vô điều kiện, những người còn giữ lại được việc làm cũng bị cắt giảm lương, tăng giờ làm và siết chặt điều kiện lao động Ở Manchester, hơn một nửa số công nhân bị mất việc Cuộc đấu tranh đòi cải cách nghị viện lần thứ hai diễn ra

Cuộc đấu tranh sôi nổi và quan trọng của công nhân trong những năm 60 của thế kỷ XIX tập trung vào yêu cầu cải cách chế độ tuyển cử Trung tâm của cuộc đấu tranh là Manchester Cơ sở quần chúng của phong trào đòi cải cách chế độ tuyển cử là các nghiệp đoàn, phần lớn bao gồm công nhân có kỹ thuật lành nghề Cuộc đấu tranh của công nhân làm rung động chính phủ và

Trang 20

nghị viện, chính phủ phái Tự do sụp đổ Đảng Bảo thủ lên cầm quyền buộc phải đưa ra trước nghị viện Đạo luật Cải cách tuyển cử năm 1867, mở rộng quyền bầu cử cho các tầng lớp lao động

Hai cuộc đấu tranh đòi cải cách nghị viện đã làm cho đời sống chính trị nước Anh có rất nhiều thay đổi Hai lần cải cách đó, cuộc đời J S Mill đều chứng kiến Với nhãn quan chính trị thiên tài, ông đã đưa các vấn đề của thời đại như: quyền tự do, dân chủ, nghị viện,…vào các tác phẩm của mình Điều

đó khiến các tác phẩm của ông dù mang đậm phong cách của thời đại vẫn mới

mẻ và sâu sắc

1.1.2 Tiền đề lý luận

Lịch sử tư tưởng chính trị đã cho thấy, mỗi học thuyết chính trị ra đời đều mang đậm dấu ấn của thời đại và kế thừa những quan điểm của các nhà tư tưởng trước đó Châu Âu thế kỉ XIX với sự phát triển như vũ bão của kinh tế cùng nhiều biến động chính trị, đặc biệt là những thành tựu lẫn hạn chế của cuộc cách mạng tư sản đã ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức chính trị của Mill Cuộc cách mạng khoa học công nghệ sớm ở Anh quốc và các phong trào đấu tranh của quần chúng cũng là một tiền đề quan trọng góp phần hình thành tư tưởng chính trị J S Mill Bên cạnh đó, với tư cách là học thuyết lý luận, tư tưởng chính trị của ông còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều khuynh hướng tư tưởng của các thời đại trước Các tiền đề trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị của ông được nghiên cứu trong luận văn bao gồm: Ảnh hưởng từ người cha - James Mill, ảnh hưởng từ Jeremy Bentham, ảnh hưởng từ David Ricardo, ảnh hưởng từ Alexis de Tocqueville

1.1.2.1 Ảnh hưởng từ người cha - James Mill

J S Mill sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nền tảng về học vấn, cha ông - James Mill là một nhà sử học, kinh tế, chính trị học, tâm lí học người Scotland James Mill sinh ngày 06 tháng 4 năm 1773, mất ngày 23

Trang 21

tháng 6 năm 1836 Trong cuộc đời của mình, James Mill đặt nhiều kì vọng vào con cái, đặc biệt là J S Mill - đứa con mà ông sớm phát hiện ra những

năng khiếu đặc biệt Trong cuốn Tự truyện, J S Mill kể lại rằng: Mỗi ngày,

cha ông đều dành thời gian để chăm sóc và hướng dẫn con cái như một phần công việc bằng một sự kiên trì hiếm thấy, với hi vọng các con ông có thể tiếp thu và phát triển các quan điểm của mình

Về sự nghiệp, thời trẻ, James Mill là người rất đam mê nghiên cứu lịch

sử và chính trị Với nhiều tham vọng về chính trị và học vấn, năm 1802 ông đến London và sau đó trở thành đại biểu quốc hội của quận Kincardineshire, bắt đầu sự nghiệp chính trị và viết báo Năm 1804, ông đã viết một cuốn sách nhỏ về thương mại, lập luận chống lại chính sách chiết khấu hoa hồng của nhà nước về về xuất khẩu ngũ cốc Năm 1805, ông xuất bản một bản dịch (với các

ghi chú và trích dẫn) của cuốn Một tiểu luận về Thánh chúa và ảnh hưởng của

các cuộc cải cách của Luther, cuốn sách là sự công kích vào các cáo buộc của

hệ thống giáo hoàng Và cuối năm đó, ông bắt đầu viết cuốn Lịch sử của Ấn

Độ thuộc Anh (The History of British India) Tác phẩm này được xuất bản

năm 1818 và gây được tiếng vang lớn Sự nghiệp báo chí của ông còn hết sức

phong phú với những tác phẩm lớn như: Luận về chính phủ (1820, Government), Các nguyên lý kinh tế chính trị (1821, Elements of Political Economy), Luận về tự do báo chí (1823, Liberty of the Press), Các bài luận

về Chính phủ, Luật học, tự do báo chí, Giáo dục, nhà tù và kỉ luật nhà tù (1823, Essays on Government, Jurisprudence, Liberty of the Press, Education,

and Prisons and Prison Discipline), Phân tích về các hiện tượng của ý thức

con người (1829, Analysis of the Phenomena of the Human Mind) J S Mill,

ngay từ thời thơ ấu đã được tiếp xúc với các tác phẩm của cha Ông còn giúp việc cho cha ông như một người thư kí Do vậy, tư tưởng chính trị của J S Mill sớm chịu ảnh hưởng từ các quan điểm của cha Cũng có thể khẳng định

Trang 22

rằng James Mill là người đầu tiên tác động tích cực đến sự hình thành tư tưởng chính trị của J S Mill

Năm 1808, James Mill gặp gỡ và nhanh chóng trở nên thân thiết với Jeremy Bentham Ông rất tán thành với các nguyên tắc của Bentham và dành nhiều tâm huyết để diễn giải các nguyên tắc này cũng như mang nó đến với toàn thế giới Nhờ mối quan hệ này của cha mà J S Mill được tìm hiểu về chủ nghĩa Công lợi của Bentham cũng như phát triển nó trong tư tưởng của mình Với kì vọng lớn ở con trai, James Mill còn mời những người thầy hàng đầu về giảng dạy cho J S Mill như: John Austin giảng môn Luật học, David Ricardo giảng môn Kinh tế học Đây là những tri thức quan trọng làm tiền đề

lý luận hình thành tư tưởng chính trị của J S Mill sau này Trong cuốn Tự

truyện, Mill đã bày tỏ sự tri ân đối với người cha của mình: ―Ông đã hoàn

toàn thành công khi bảo vệ tôi khỏi những ảnh hưởng xấu mà ông lo ngại Tôi thực sự ngạc nhiên về những tri thức mà tôi có ở độ tuổi này"1 [59, pg 184] James Mill còn là một trong những người sáng lập và lãnh đạo một nhóm các nhân vật cấp tiến cùng thời có tên là ―Philosophic radical‖ (Hội triết học cấp tiến) J S Mill cũng tham gia vào nhóm học thuật này và có nhiều đóng góp quan trọng

Như vậy, James Mill với những nỗ lực trong nghiên cứu và cải cách cũng như việc rèn luyện J S Mill trong một môi trường giáo dục nghiêm khắc đã tạo cho J S Mill một nền tảng tri thức phong phú, sâu sắc Từ đó J S Mill xây dựng nên hệ thống tư tưởng chính trị của riêng mình

1.1.2.2 Ảnh hưởng từ Jeremy Bentham

1

He completely succeeded in preserving me from the sort of influences he so much dreaded I was not at all aware that my attainments were anything unusual at my age

Trang 23

Tư tưởng của Bentham là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nên tư tưởng chính trị của J S Mill Ngay từ thời thơ ấu, Bentham

đã là người thầy tận tụy của Mill Tư tưởng của Bentham được Mill và các môn đồ rất ngưỡng mộ Bên cạnh đó, tư tưởng của Bentham cũng tác động đến J S Mill từ rất sớm thông qua các hoạt động nhằm phổ biến các nguyên

lý Công lợi về luật pháp, chính trị, giáo dục của James Mill Jeremy Bentham (1748-1832) là một triết gia, luật gia, nhà cải cách xã hội Các quan điểm của Bentham như ủng hộ quyền tự do cá nhân và tự do kinh tế, tách nhà thờ khỏi

sự can thiệp vào nhà nước, quyền bình đẳng cho phụ nữ, bãi bỏ chế độ nô lệ, bãi bỏ án tử hình và các hình phạt về thể chất bao gồm cả hình phạt đói với trẻ em, đều được J S Mill tiếp thu và phát triển Năm 1823, Bentham đồng

sáng lập Tạp chí Westminster với James Mill Tạp chí là cơ quan ngôn luận

của "Hội triết học cấp tiến" J S Mill cũng đóng góp nhiều bài viết quan trọng cho Tạp chí này

Trong sự nghiệp của mình, Bentham đã để lại rất nhiều tác phẩm trên tất

cả các lĩnh vực, tiêu biểu là các tác phẩm: Tản luận về chính quyền (1776, Fragment on government), Dẫn nhập vào các nguyên tắc luân lý và pháp chế (1780, Introduction to the Principles of Morals and Legislation), Trừng phạt

và tưởng thưởng (1811, Punishments and Rewards) Ông được coi là cha đẻ

của chủ nghĩa Công lợi Các nguyên lý của chủ nghĩa Công lợi như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, kết nối tất cả các vấn đề khác của thời đại Nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Công lợi là mọi giá trị chân, thiện, mĩ đều được đặt dưới hình thức lạc thú, nó nhằm mang lại hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất Dựa trên nguyên tắc này, Bentham cho rằng, một hành động được coi là tốt hặc xấu căn cứ trên kết quả của nó Những kết quả tốt là những kết quả đem lại sung sướng cho ai đó, còn những kết quả xấu là những kết quả gây đau khổ cho người nào đó Do đó, hướng hành động đúng là nhằm gia tăng tối đa

Trang 24

sự sung sướng hoặc giảm tới mức tối thiểu sự đau khổ Trong tác phẩm Dẫn

nhập vào các nguyên tắc luân lý và pháp chế (1789), Bentham viết: "Thực

chất, nguyên tắc Công lợi được sử dụng để tán thành hoặc phủ nhận mọi loại hành vi xét theo cách chúng xuất hiện để làm tăng thêm hay giảm đi sự hạnh phúc của cộng đồng "2 [35, pg 151] Ông cho rằng, lợi ích là tất cả những gì đem lại hạnh phúc, tiện nghi, tiến bộ hoặc bất cứ hình thức nào ngăn ngừa được khổ đau, tội ác và bất hạnh

Tư tưởng của Bentham đã tác động rất lớn đến J S Mill Sau này, ông

đã viết tác phẩm Chủ nghĩa Công lợi để bảo vệ nguyên tắc hạnh phúc tối đa

cho số đông Không chỉ diễn giải, kế thừa các quan điểm của Bentham mà Mill còn làm mới nguyên tắc này Đối với Mill, hạnh phúc không chỉ được tính bằng lượng mà còn tính bằng chất Chất của hạnh phúc là tiêu chí quan trọng để phân biệt chúng Mill cũng vận dụng các nguyên tắc đạo đức học của Bentham trong việc nghiên cứu chính trị học và trong hoạt động chính trị thực tiễn của mình, với mục tiêu cải cách các chính sách và luật pháp sao cho

chúng mang lại lợi ích lớn nhất cho số đông quần chúng Trong cuốn, Tự

truyện, Mill đã viết những dòng rất cảm động về suy nghĩ của ông khi được

tiếp xúc với nguyên tắc đạo đức học của Bentham: ― Trong tâm trí tôi, sự xuất hiện cao cả này đưa đến cảm giác như thêm vào tầm ảnh hưởng mà học thuyết của Bentham đã tạo ra trong tôi, bằng cách nâng cao ấn tượng của sức mạnh tinh thần, và viễn cảnh về sự tiến triển mà ông đã mở ra thật lớn lao và rực rỡ để thắp sáng cuộc đời tôi, cũng như đem lại một khuôn mẫu xác định cho những khát vọng của tôi‖3 [59, pg 201]

Trang 25

1.1.2.3 Ảnh hưởng từ David Ricardo

Những ảnh hưởng từ David Ricardo đến J S Mill chủ yếu được thể hiện trong lý luận về Kinh tế học David Ricardo là một nhà kinh tế học người Anh, ông sinh ngày 18 tháng 4 năm 1772, mất ngày 11 tháng 9, 1823, cùng với Adam Smith và Thomas Malthus, ông là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển David Ricardo là người theo trường phái thương mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh Kế thừa các quan điểm của Adam Smith, ông có đóng góp lớn vào việc phát triển thuyết giá trị lao động J S Mill bắt đầu học các lý thuyết về kinh tế của David Ricardo từ năm ông 13 tuổi David Ricardo cũng là thầy dạy học trực tiếp của Mill Qua

sự truyền thụ của thầy, J S Mill đã dần tiếp thu các nguyên lý của Kinh tế học cổ điển, từ đó vận dụng vào nghiên cứu Chính trị học Tác phẩm xuất sắc

của Mill bàn về kinh tế chính trị là Nguyên lý của kinh tế chính trị học

(Principles of political Economy), xuất bản năm 1848

1.1.2.4 Ảnh hưởng từ John Locke

John Locke (1632–1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh Ông là một trong những người có ảnh hưởng lớn đối với triết học

phương Tây Cận đại Tác phẩm tiêu biểu của ông là Hai khảo luận về chính

quyền (1689, Two Treatises of Government) Trong tác phẩm này, John

Locke cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền tự do, bình đẳng và tư hữu, các quyền này bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người Bởi vậy, không ai có thể làm thay đổi được chúng Ông thừa nhận quyền tư hữu như một trong các quyền tự nhiên, quyền này bắt nguồn từ lao động cá nhân Theo ông, mặc dù có sự hữu ái và hòa bình trong trạng thái

tự nhiên, các quyền này của con người cũng đã không được đảm bảo chắc

power And the vista of improvement which he did open was sufficiently large and brilliant

to light up my life, as well as to give a definite shape to my aspirations

Trang 26

chắn Vì vậy, mỗi người buộc phải phán xử và trừng trị những kẻ vi phạm quyền hạn của mình Để tránh tranh cãi và bảo đảm các quyền tự nhiên, mọi người đã có một giao ước chung về việc thành lập nhà nước Nhà nước được thành lập để bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, thiết lập luật pháp để tạo lập và bảo vệ sở hữu cũng như sử dụng các lực lượng xã hội để thực hiện các đạo luật này và bảo vệ sự tấn công từ bên ngoài

Các bài khảo luận của John Locke đã khơi nguồn cho Mill quan tâm đến các vấn đề chính trị Đặt trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng chính trị, tư tưởng của J S Mill có sự kế thừa tư tưởng của các nhà lý luận trước đó mà gần nhất và trực tiếp nhất là John Locke Trên cơ sở các quan điểm về chủ quyền tự nhiên của con người, J S Mill đề xuất tư tưởng quyền lực kiểm soát tối thượng đối với chính thể thuộc về nhân dân thông qua các đại diện Phát triển lý thuyết về quyền tự nhiên trên nền tảng Công lợi, ông cũng phản đối việc can thiệp của đa số vào các vấn đề cá nhân và cho rằng điều này là có hại đối với xã hội dân chủ vì nó hạn chế sự phát triển khả năng cá nhân và toàn thể công dân trưởng thành

1.1.2.5 Ảnh hưởng từ Alexis de Tocqueville

Alexis-Charles-Henri Maurice Clérel de Tocqueville (1805–1859), không chỉ là nhà lý luận chính trị mà còn là nhà hoạt động chính trị thực tiễn Ông từng là đại biểu Quốc hội (từ năm 1839 đến năm 1848), Phó Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Ngoại giao (năm 1849) của Pháp Alexis de Tocqueville sống cùng thời kì với Mill nên tư tưởng chính trị của ông có ảnh

hưởng không nhỏ đến J S Mill Tác phẩm Nền dân trị Mỹ là một trong

những khảo luận đầu tiên và sâu sắc nhất của Alexis de Tocqueville về lĩnh

vực chính trị học Năm 1835, J S Mill đã đọc tác phẩm Nền dân trị Mỹ và

dành sự quan tâm đặc biệt cho những lập luận của Tocqueville Ông rất tâm đắc với luận điểm của Tocqueville rằng chế độ cai trị theo số đông có thể

Trang 27

cũng có tính chất đàn áp như là chế độ của một kẻ chuyên quyền Khi nhận xét rằng tình trạng tự do cá nhân sẽ bị áp chế khiến tính sáng tạo của cá nhân

bị mất đi, J S Mill đã viện dẫn luận điểm của Tocqueville: ―Ngài Tocqueville đã nhận xét rằng những người Pháp ngày này giống nhau nhiều hơn so với ngay cả thế hệ liền kề trước đó Cũng có thể nhận xét như thế về

điểm của Tocqueville để biện minh cho tư tưởng cần phải giáo hóa quần chúng: ―Nếu có ai đó đó cho rằng con đường ấy sẽ không dẫn tới đích, tôi xin dẫn chứng bằng toàn bộ nội dung công trình vĩ đại của ông de Tocqueville‖

điểm của Tocqueville trong hai tác phẩm Bàn về tự do và Chính thể đại diện.

Như vậy, bối cảnh lịch sử xã hội Anh thế kỉ XIX đã tạo cơ sở cho Mill tiếp cận với các vấn đề chính trị thực tiễn của đời sống Bên cạnh đó, việc tiếp thu có chọn lọc tư tưởng chính trị của các nhà lý luận tiền bối khiến tư tưởng

dấu ấn đậm nét trong dòng chảy lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại

1.2 Thân thế và sự nghiệp của J S Mill

1.2.1 Sơ lược tiểu sử của J S Mill

J S Mill sinh ngày 20 tháng 5 năm 1806 tại Pentonville, London Ông

là con trai cả của James Mill J S Mill được cha trực tiếp dạy học với sự giúp

đỡ của Bentham và Francis Place trong một chương trình nghiêm khắc, không được đến trường học và tiếp xúc với những đứa trẻ cùng lứa

Lên 8 tuổi, Mill đã đọc các truyện ngụ ngôn Hy Lạp của Aesop, Cuộc viễn chinh (Anabasis) của Xenophon và toàn bộ các tác phẩm của Herodotus Ông cũng sớm làm quen với các tác phẩm của nhà văn trào phúng Lucian, nhà lịch sử triết học Diogenes Laertius, nhà văn Isocrates và 6 hội thoại của Plato Ngoài ra, J S Mill còn đọc nhiều tác phẩm lịch sử khác bằng tiếng Anh

Trang 28

Cũng ngay từ khi 8 tuổi, ông đã bắt đầu học tiếng Latin, hình học Euclid, đại

số và dạy học cho các em trong gia đình Mill cũng học qua tất cả các tác giả Hi-Lạp và La-Mã thường được dạy ở trường

Năm 10 tuổi, ông đã đọc được các tác phẩm của Plato và Demosthenes một cách dễ dàng Với mong muốn con mình không chỉ có tri thức khoa học phong phú mà còn phát triển tư duy văn chương Người cha James Mill còn dạy con cả việc sáng tác thơ, văn Một trong những sáng tác thơ sớm nhất của

J S Mill là phần viết mở rộng thêm của trường ca Iliat Tuy là một đứa trẻ, nhưng Mill không có thời gian để vui chơi như lứa tuổi của mình Thời gian rảnh rỗi, cậu thường đọc nhiều loại sách về các môn khoa học tự nhiên và các tiểu thuyết văn chương

Với khả năng trí tuệ đặc biệt và sự giáo dục sớm của người cha, Mill được người ta biết đến như một thần đồng Năm 12 tuổi, Mill bắt đầu nghiên cứu Logic, Triết học kinh viện, đồng thời đọc các luận thuyết Logic của Aristote Năm 13 tuổi, J S Milll đã có kiến thức tương đương với chương trình cử nhân

Vì thế, chính cha ông đã từ chối cơ hội đưa cậu bé J S Mill đến trường đại học Cambridge để được đào tạo trong môi trường giáo dục chuyên nghiệp

Dưới sự hướng dẫn của cha, trong những năm tiếp theo, ông học kinh tế chính trị, nghiên cứu các tác phẩm của Adam Smith và David Ricardo Từ tháng 5 năm 1820 đến tháng 7 năm 1821, Mill sang Pháp Mục tiêu ban đầu của chuyến đi này là để học thêm về tiếng Pháp, Hóa học, Thực vật học và Toán học nâng cao Tại Pháp, Mill sống nhờ trong gia đình của Samuel Bentham (anh trai Jeremy Bentham) Ông cũng đến Paris và lưu lại đó một vài ngày tại nhà của nhà kinh tế học danh tiếng Jean Baptiste Say - một người bạn thân của cha ông Quãng thời gian ngắn ngủi này thực sự rất có ý nghĩa với Mill Ông đã có dịp gặp gỡ nhiều chính khách và cùng họ trao đổi các vấn

Trang 29

đề chính sự, cũng là lần đầu tiên, ông được tiếp xúc với Henri Saint Simon Cuối năm 1821, ông trở về Anh, bắt đầu học Tâm lý học và Luật La-Mã Năm 1822, Mill tham gia nhóm "Utilitarian Society" (Hội những người ủng hộ thuyết Công lợi) và tiếp tục nghiên cứu sâu rộng về Chủ nghĩa Công lợi do Bentham khởi xướng Cũng năm này, Mill vào làm việc cho Công ty Đông Ấn Anh quốc (British East India Company) - là một công ty được thành lập theo Điều lệ Hoàng gia năm 1.600 và là một trong những công ty cổ phần đầu tiên của nước Anh Công ty được thành lập ban đầu nhằm mục đích thương mại với Đông Ấn, nhưng thực ra nó chỉ giao dịch chủ yếu với tiểu lục địa Ấn Độ và Trung Quốc Chính hoạt động của Công ty đã tạo cảm hứng cho

Adam Smith nghiên cứu về các tập đoàn độc quyền trong cuốn Nguồn gốc

của cải của các quốc gia Tại thời điểm Mill vào làm việc, cha ông đang là

một trong những viên chức kỳ cựu nhất Trong 20 năm, từ 1836 đến 1856, Mill đảm trách mối quan hệ của Công ty Đông Ấn Anh quốc với các bang Ấn

Độ Công việc này cho phép ông có nhiều thời gian để nghiên cứu về kinh tế chính trị Trong khoảng thời gian từ 1824-1828, J S Mill tham gia viết báo Năm 1826, Mill bị rơi vào trạng thái trầm cảm Ở độ tuổi 20, khi mà bút lực đang dồi dào nhất, ông lại trở nên khủng hoảng và suy sụp tinh thần Nguyên nhân của tình trạng này là do áp lực học tập và sự kìm nén cảm xúc

quá lớn suốt thời thơ ấu Trong Tự truyện, ông đã miêu tả cảm nhận của bản

thân lúc đó như sau: ―Một tâm trạng mà những gì lẽ ra rất thoải mái thì trong khoảng thời gian này bỗng trở nên vô vị hoặc bất thường với tôi‖4 [59, pg

233] Và rồi, ông tự đặt câu hỏi về những niềm vui trong cuộc sống, rằng nếu mọi mục đích trong cuộc sống đều được thực hiện ngay lập tức thì đó có phải

là niềm vui hay không và cũng tự trả lời là ―không‖ Đối với ông lúc này, mọi ước vọng dường như đổ vỡ, mọi cảm xúc không còn Tâm trạng đó hành hạ

4

one of those moods when what is pleasure at other times, becomes insipid or indifferent.

Trang 30

Mill khiến ông không thể sáng tạo Ông dường như buông xuôi tất cả: ―Lúc này, trái tim tôi chìm đắm, toàn bộ nền tảng cuộc sống suy sụp‖5

[59, pg

243] Ông tiếp tục làm những cử chỉ hàng ngày một cách máy móc mà không

có một thứ cảm xúc nào Căn bệnh trầm cảm của Mill kéo dài trong khoảng hai năm và nó từ từ biến mất như "mây mờ rồi cũng tiêu tan"6

[59, pg 234] Tình cờ lúc đó, Mill được đọc một cuốn sách đóng vai trò quan trọng khiến ông hết bệnh: ấy là một tập thơ Wordsworth Qua những câu thơ tuyệt đẹp của Wordsworth, Mill thấy cảm xúc của mình như được thăng hoa: ―Những vần thơ ấy giống như một dòng suối mang lại cho tôi một niềm vui thanh thản của tâm hồn, nhiều thú vị của lòng thông cảm và bay bổng mà mọi người ai cũng có thể hiệp thông với nhau được… Tôi bấy giờ đang cần có ai giúp mình cảm nhận được rằng trong sự chiêm ngưỡng thầm lặng của các vẻ đẹp thiên nhiên có một niềm hạnh phúc vừa chân thật vừa bền lâu Wordsworth đã dạy cho tôi điều đó, chẳng những không làm tôi xa lánh cái cảm giác đời thường

và số phận chung của nhân loại, mà còn nhân thêm gấp bội tình cảm tự tôi dành cho nó‖7

[59, pg.240]

Từ năm 1831, Mill làm cộng tác viên của nhiều tạp chí lớn, có khuynh

hướng cấp tiến thời bấy giờ như: Tait’s Magazine, The Jurist và Monthly

Repository Các bài viết của ông giai đoạn này chủ yếu nhằm thảo luận các vấn

đề xã hội đương thời Năm 1835, J S Mill làm biên tập viên cho Tạp chí The

London Review Năm 1836, tờ báo này sáp nhập với tờ The Westminster và ông

5

At this my heart sank within me: the whole foundation on which my life was constructed fell down

6

The cloud would pass away of itself

7 ―In them I seemed to draw from a source of inward joy, of sympathetic and imaginative pleasure, which could be shared in by all human beings; which had no connexion with struggle or imperfection, but would be made richer by every improvement in the physical or social condition

of mankind I needed to be made to feel that there was real, permanent happiness in tranquil contemplation Wordsworth taught me this, not only without turning away from, but with a greatly increased interest in, the common feelings and common destiny of human beings‖

Trang 31

tiếp tục làm biên tập viên ở đó cho đến năm 1840 Cũng trong thời gian này,

ông viết nhiều tác phẩm quan trọng như: Tinh thần thời đại (The Spirit of age, 1831), Bentham (Essay on Bentham, 1838), Từ sau năm 1840, Mill cộng tác với tờ Edinburgh Review và đóng góp nhiều bài viết cho Tạp chí này

Từ 1841 đến 1847, J S Mill thường xuyên trao đổi thư từ với Auguste Comte Những ảnh hưởng từ nhà triết học thực chứng người Pháp thể hiện rõ

nhất trong tác phẩm Hệ thống Logic (System of Logic) Tác phẩm này được Mill

hoàn thành vào năm 1841 nhưng bị nhà xuất bản từ chối in ấn Bởi vậy, năm

1843, J S Mill chủ động công bố tác phẩm Đây là tác phẩm lớn, đánh dấu sự nghiệp học thuật vĩ đại của ông Sau năm 1843, một loạt những tác phẩm tiêu

biểu lần lượt ra đời như: Nguyên lý của kinh tế chính trị (1848, Principles of Political Economy), Bàn về giới tự nhiên (1850-1858, On Nature), Ba khảo luận

về tôn giáo (1850-1858, Three Essays on Religion), Bàn về tự do (1859, On

Liberty), Chính thể đại diện (1861, Representative Government), Chủ nghĩa

Công lợi (1861, Utilitarianism), Auguste Comte và chủ nghĩa thực chứng (1865,

Auguste Comte and Positivism), Khảo luận về triết học của ngài William

Hamilton (1865, Examination of Sir William Hamilton’s Philosophy), Sự nô dịch phụ nữ (1869, The Subjection of Women)

Năm 1830, Mill gặp Harriet Taylor - một nữ triết gia và là người tích cực đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ Harriet Taylor sinh ngày 08 tháng 10 năm

1807, mất ngày 03, tháng 11 năm 1858 Bà là cộng tác viên thường xuyên cho

mảng thơ ca, phê bình sách và những mẩu chuyện văn học của Tạp chí The

Monthly Repository Sau cuộc gặp gỡ, Mill thường xuyên liên lạc với Harriet

Taylor và hỏi ý kiến của bà về các tác phẩm mà ông đang dự thảo, hai người nhanh chóng trở nên thân thiết Đến khi Mill cũng trở thành cộng tác viên của

The Monthly Repository thì họ bắt đầu viết cùng nhau Về sự nghiệp của Harriet

Taylor, ngoại trừ các bài viết trên Tạp chí Monthly Repository, tác phẩm của bà

Trang 32

hầu như không được công bố Tuy nhiên, bà là người viết chung với Mill đa số các tác phẩm đứng tên ông sau này Bởi vì, xã hội Anh thế kỉ XIX vẫn còn tồn tại nhiều sự bất bình đẳng với phụ nữ nên việc xuất bản các tác phẩm dưới tên một người đàn ông dễ được chấp nhận về mặt pháp lý hơn với phụ nữ

Năm 1851, Mill kết hôn với Harriet Taylor Mối tình trong sáng, bền lâu của họ trong 20 năm đã tạo nên nhiều câu chuyện trong nền văn học Anh Harriet Taylor là người có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của Mill, đặc biệt là trong việc nghiên cứu về lĩnh vực quyền của phụ nữ Theo quan điểm của bà, nền chính trị Anh quốc đương thời thiếu môi trường cho sự phát triển cá nhân, có khuynh hướng đàn áp tôn giáo và những tư tưởng chính trị cấp tiến Vì thế, bà đã dồn toàn bộ tâm huyết của mình trong suốt 27 năm để

cộng tác với Mill trong cuốn sách Bàn về tự do, như một lời biện hộ cho quan

điểm ủng hộ tự do cá nhân của mình

Năm 1856, J S Mill trở thành Giám đốc điều hành, chịu trách nhiệm mọi mặt hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh quốc Thời kỳ Mill làm giám đốc điều hành, Công ty Đông Ấn Anh quốc đang bước vào giai đoạn suy thoái Tại Anh, những người ủng hộ quan điểm tự do thương mại theo quan điểm của Adam Smith đấu tranh kịch liệt đòi gỡ bỏ độc quyền của Công ty Đông Ấn Anh quốc trong thương mại với Ấn Độ J S Mill với tư cách Giám đốc điều hành đã bảo vệ Công ty khỏi những cuộc tấn công dữ dội trong Quốc hội, nhưng nỗ lực của ông cũng không thể ngăn chặn sự sụp đổ của Công ty như một tất yếu của lịch sử Năm 1858, sau cuộc binh biến ở Ấn Độ, Công ty

bị tước bỏ các trách nhiệm hoạt động và thời kỳ British Raij (Sự cai trị của vương quốc Anh ở tiểu lục địa Ấn Độ) bắt đầu Do không có việc làm, J S Mill chuyển đến Avignon ở Pháp

Năm 1858, Harriet Taylor qua đời Sự ra đi của bà đối với Mill là một mất

mát lớn Trong cuốn Bàn về tự do, ông đề tặng người vợ quá cố của mình những

Trang 33

dòng đầy xúc động: ―Để tưởng nhớ với lòng yêu mến và tiếc thương tới nàng, người truyền cảm hứng và một phần là tác giả của những gì tốt đẹp nhất mà tôi viết ra - người bạn và người vợ mà sự thấu hiểu tuyệt vời của nàng đối với chân

lí và quyền năng là sự cỗ vũ mạnh mẽ cho tôi, và sự tán thành của nàng là phần thưởng lớn nhất cho tôi - tôi xin dâng tặng tập sách này‖ [17, tr 18]

Từ 1865-1868, J S Mill giữ chức Hiệu trưởng ở Đại học St Andrew Cũng vào khoảng thời gian này, ông là thành viên của Nghị viện Anh, có mối quan hệ liên đới thường xuyên với Đảng Tự do Với cương vị của mình, Ông đã đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, cho người Ireland, cho Đạo luật Cải cách 1832 và 1867, cho cách mạng 1848, ủng hộ những người miền Bắc trong cuộc nội chiến ở Mỹ, cho cuộc vận động thành lập hợp tác xã Ông chống lại chế

độ quý tộc, phản đối những thu nhập không làm mà có, chống lại Napoleon III, chống lại sự bóc lột nhân công tàn nhẫn và nhiều bất công khác

Do không tái đắc cử trong cuộc tổng tuyển cử năm 1868, Mill trở lại Pháp Ông thường xuyên đi lại giữa hai vùng Avignon và London để nghiên cứu và viết Với tầm hiểu biết rộng lớn về nhiều lĩnh vực, những năm cuối đời, ông còn dành thời gian để tìm kiếm, phân loại các loài hoa mùa xuân và cho ra đời một danh mục quần thể thực vật ở địa phương này Ông mất ngày

07 tháng 5 năm 1873

Cuộc đời của J S Mill giống như huyền thoại của một thiên tài Ông có khả năng học tập và tiếp thu một cách sâu sắc mọi lĩnh vực khoa học Có thể nói rằng, thời thơ ấu và nền giáo dục sớm đã tạo đà cho ông bước đi trên con đường nghiên cứu Tuy nhiên, để đạt đến thành công, phần lớn là nhờ sự nỗ lực học tập, lao động suốt đời của bản thân ông Với những công trình nghiên cứu công phu, uyên bác, J S Mill được đánh giá là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại thế kỉ XIX

Trang 34

1.2.2 Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của J S Mill

Sự nghiệp nghiên cứu của Mill giống như một dòng chảy thống nhất, có

sự kế thừa, phát triển quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đó Đồng thời, các lĩnh vực nghiên cứu là tiền đề, cơ sở cho nhau Và suy cho cùng thì tất cả đều vì con người Bởi vậy, việc phân chia các giai đoạn trong quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của J S Mill chỉ mang tính chất tương đối Về cơ bản, quá trinh này gồm 3 giai đoạn:

1.2.2.1 Giai đoạn hình thành tư tưởng chính trị (Thời thơ ấu đến năm 1826)

Ở giai đoạn này, nền tảng gia đình và sự giáo dục nghiêm khắc của người cha đã tạo tiền đề cơ bản đầu tiên để ông trở thành một nhà lý luận Sự giảng dạy của cha và những người thầy đã hướng ông đến sự quan tâm đối với những vấn đề chính trị lớn của thời đại Cha ông - James Mill - là người

có mối quan hệ rộng rãi trong giới học thuật Những cuộc viếng thăm của các nhà lý luận và các chính khách thời đó đã thu hút sự quan tâm của cậu bé Mill Cậu lắng nghe các câu chuyện của họ với sự thích thú và đam mê

Quá trình xây dựng nền tảng tư tưởng chính trị của Mill được bắt đầu bằng việc nghiên cứu lịch sử và chính trị thời kì cổ đại Mill có hứng thú thực sự với nền văn minh Hy Lạp rực rỡ Dưới sự hướng dẫn của cha, ông tìm hiểu về thể chế chính trị Athens, về những nguyên tắc của quyền lực và luật pháp ở Hy-Lạp Từ

đó, nền cộng hòa Athens là mô hình thể chế chính trị đầu tiên mà Mill được tiếp cận Sau này, trong một số tác phẩm lý luận chính trị, ông đã đề cập đến mô hình này trong sự so sánh với thể chế chính trị thời đại mà ông đang sống

Mười lăm tuổi, Mill bắt đầu nghiên cứu các chuyên luận của Bentham Từ

đó, quan điểm công lợi của Bentham đã truyền cảm hứng rất lớn cho J S Mill

Để rồi, trong sự nghiệp của mình, ông dành nhiều thời gian và tâm huyết cho việc luận chứng các quan điểm của Bentham với tham vọng cải tạo thế giới nhằm đem lại cuộc sống vui vẻ, khỏe mạnh cho con người

Trang 35

Đặc biệt ở giai đoạn này, ông đã tiếp cận với các nhà tư tưởng tiêu biểu,

trong đó có Thomas Hobbes và John Locke Sau này, Mill kể lại trong Tự

truyện: "Tôi đọc những bài khảo luận của Locke rồi viết bài diễn giải chúng,

bao gồm mỗi bài tóm tắt chung cho từng phần8 [59, pg 201] Việc đọc và nghiên cứu tư tưởng chính trị của John Locke đã trang bị cho Mill những hiểu biết về quyền tự nhiên của con người, về tự do cá nhân, về mối quan hệ giữa

cá nhân và nhà nước,…

Giai đoạn này, ông cũng viết một số bài báo cho tạp chí Edinburgh

Review Trong các bài viết này, Mill chỉ trích các đặc quyền của tầng lớp quý

tộc và cho rằng các đặc quyền ấy đi ngược lại với lợi ích của số đông và ủng

hộ các quan điểm về tự do cho phụ nữ, và một số bài viết về đạo đức và dục vọng của cá nhân

Giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp học thuật vĩ đại của Mill kết thúc vào năm 1826, khi ông bị trầm cảm nặng nề Thời kì khủng hoảng tinh thần này kéo dài khoảng hơn 1 năm (1826-1827) nhưng tạo nên một sự chuyển biến rất lớn trong nhận thức và tư tưởng của Mill

Như vậy, giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp của Mill có thể coi là giai đoạn hình thành, tạo nền tảng, điều kiện cho sự phát triển của giai đoạn sau

1.2.2.2 Giai đoạn tìm kiếm, nghiên cứu, đối chứng các tư tưởng chính trị

Giai đoạn này kéo dài từ khi Mill vượt qua căn bệnh trầm cảm đến khi nghỉ việc tại Công ty Đông Ấn (1858) Sau khi trải qua cuộc khủng hoảng tâm lý, Mill cho rằng chính những tình cảm bị dồn nén và sự giáo dục nghiêm ngặt của gia đình là nguyên nhân khiến ông bị bệnh Vì thế, ông tìm đến thơ văn như một cách giải tỏa Mill dành thời gian để đọc tác phẩm của các nhà thơ lãng mạn của nước Anh (Wordsworth, Coleridge, Carlyle) Ông cũng bắt

8 I now read Locke’s Essay, and wrote out an account of it, consisting of a complete abstract of every chapter

Trang 36

đầu hình thành quan điểm triết học của mình Trong nhiều tác phẩm viết ở giai đoạn này, Mill đấu tranh cho tự do cá nhân chống lại quyền lực của nhà nước Ông cũng tin rằng, một hành động đúng phải là hành động mang lại tối

đa hạnh phúc cho số lượng người tối đa Mill cũng bắt đầu nghiên cứu Logic học và Kinh tế học Đây là bước đệm quan trọng giúp ông hình thành các quan điểm chính trị độc lập của mình Cũng vào thời gian này, ông dành sự

quan tâm cho tác phẩm Nền dân trị Mỹ của Alexis de Tocqueville Sau này,

trong nhiều tác phẩm của mình, ông có sự đối chiếu, so sánh, dẫn chứng các quan điểm của Alexis de Tocqueville

Năm 1828, Mill gặp Gustave d'Eichtahl và D'Eichtahl chính là người đã giới thiệu Mill đến với những tác phẩm của Auguste Comte Việc Mill tiếp xúc với tư tưởng của Auguste Comte có thế nói là cuộc gặp gỡ giữa các tư tưởng lớn của thời đại, tạo nên bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng chính trị của J S Mill

Auguste Comte (1798-1857) là một nhà tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã hội, ông được coi là cha đẻ của ngành Xã hội học và chủ nghĩa thực chứng cổ điển Trong sự nghiệp nghiên cứu của mình, Auguste Comte luôn nỗ lực để tìm kiếm một hệ thống triết lí có thể làm cơ sở để tổ chức chính trị thích ứng với xã hội công nghiệp hiện đại Trong quá trình tìm kiếm đó, ông đã nêu ra

luật Ba giai đoạn với nội dung: Sự phát triển tri thức của con người đã vận

động qua ba giai đoạn: Thứ nhất, giai đoạn thần học, trong đó thế giới và số phận con người được giải thích bằng ngôn ngữ của thần linh; Thứ hai, giai đoạn siêu hình học, trong đó mọi sự giải thích đều dựa vào các yếu tính, các nguyên nhân cuối cùng và những khái quát trừu tượng khác và cuối cùng là giai đoạn thực chứng Giai đoạn này được phân biệt bằng sự nhận biết các giới hạn của tri thức con người Việc biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác không trôi chảy, nhẹ nhàng, mà thường trải qua thời kỳ bất ổn định, mâu

Trang 37

thuẫn giữa cái cũ và cái mới Với những luận thuyết mới mẻ của mình, Auguste Comte có sức ảnh hưởng rất lớn trong giới học thuật thời bấy giờ Mặc dù Auguste Comte là một nhà nghiên cứu người Pháp nhưng các tư tưởng của ông lại bắt đầu có sức lan tỏa từ Anh quốc Các nhà cải cách của

nhóm Những người cấp tiến về triết học (Philosophic Radicals) là những

người đầu tiên quan tâm đến các vấn đề của Auguste Comte Là một thành viên của nhóm, Mill rất ấn tượng với chủ nghĩa Thực chứng của Auguste

Comte Sau khi đọc tác phẩm Con đường của triết học thực chứng (Course of

positive philosophy), ông quyết định viết thư cho Auguste Comte Từ năm

1841 đến 1847, J S Mill và Auguste Comte thường xuyên trao đổi thư từ với nhau Qua những lần trao đổi thư từ này, Mill dần tiếp cận với chủ nghĩa Thực chứng của Auguste Comte và mang đến cho chủ nghĩa Thực chứng một cách nhìn nhận mới mẻ Với Mill, chủ nghĩa Thực chứng đã vượt qua khỏi ranh giới của thực chứng Xã hội học và được nhấn mạnh ở khía cạnh Chính trị học, trong đó, Mill nhấn mạnh khía cạnh tự do cá nhân (individual liberty) còn Auguste Comte nhấn mạnh tính thống nhất xã hội (social solidarity)

Sự nghiệp nghiên cứu nổi tiếng của ông bắt đầu bằng các bài viết về

"Linh hồn của Thời đại" đăng trên tờ Người thanh tra trong những năm

1830-1831 Từ 1832-1833, ông viết nhiều bài luận cho các tạp chí Tait's Magazine,

The Jurist, và Monthly Repository Năm 1835, Mill làm biên tập cho tờ The London Review Sau khi báo này sáp nhập với The Westminster năm 1836,

Mill vẫn tiếp tục làm biên tập cho đến năm 1840

Sau năm 1840, ông xuất bản một số bài báo quan trọng trên The

Edinburgh Review Trong thời gian này, Mill cũng viết một số tác phẩm lớn

về Logic học và Kinh tế chính trị Mill thực sự nhiệt tình và tâm huyết với chủ nghĩa nhân đạo Những nghiên cứu của ông đã cung cấp một phương pháp chứng minh đáng tin cậy cho đạo đức học và khoa học xã hội

Trang 38

Năm 1837, khi đọc Triết học của khoa học quy nạp của William Whewell và đọc lại tác phẩm Mở đầu về Nghiên cứu Triết học tự nhiên của John F.W Herschel,

Mill đã thấy được con đường rõ ràng để thành lập các phương pháp nghiên cứu khoa

học và sáp nhập logic mới vào logic cũ như một sự bổ sung Tác phẩm nổi tiếng Hệ

thống logic, gồm hai tập, được xuất bản năm 1843 Cuốn sách của ông là sự nỗ lực

xây dựng một hệ thống logic cho các khoa học nhân văn dựa trên sự giải thích nhân quả, nó bao quát cả lịch sử, tâm lý học, và xã hội học

Năm 1844, ông xuất bản tác phẩm Bàn về những vấn đề phức tạp của Kinh tế

chính trị Một số bài luận trong đó là những lời giải cho các bài toán chuyên môn rắc

rối, như sự phân chia lợi ích của thương mại quốc tế, ảnh hưởng của tiêu dùng đối với sản xuất, việc định nghĩa lao động năng suất và không năng suất, các mối liên hệ chính xác giữa lợi nhuận và tiền công Ở đây, Mill tỏ ra là một người kế tục xuất sắc David Ricardo, đưa ra những nhận định chính xác hơn và rút ra những hệ quả sâu sắc hơn Trong giai đoạn thứ hai, tính độc lập và sáng tạo trở nên rõ ràng hơn trong tác

phẩm Những Nguyên lý của Kinh tế chính trị, xuất bản năm 1848 Cũng vào thời

gian đó, Mill đang ủng hộ việc xây dựng hình thức sở hữu nông dân, một giải pháp cho sự nghèo đói và bất ổn ở Ireland Sau đó, ông thực hiện một nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về các nhà văn xã hội chủ nghĩa Mill tin rằng, vấn đề xã hội cũng quan trọng như vấn đề chính trị Từ sự phân tích về các vấn đề của sản xuất và phân phối, ông không chấp nhận một hình thức phân phối mà thường xuyên đẩy các tầng lớp lao động vào một cuộc sống khốn khó, thậm chí là đói kém Tuy Mill không đi đến một giải pháp Xã hội chủ nghĩa, nhưng ông đã có những phân tích xuất sắc đối với việc xây dựng lại một xã hội tốt đẹp hơn

Trong suốt bảy năm sau khi lập gia đình, Mill bị cuốn vào công việc của Công

ty Đông Ấn, và đây là thời kỳ mà ông xuất bản ít tác phẩm nhất Năm 1858, công ty

bị giải thể, Mill được mời vào một ghế trong hội đồng mới nhưng ông đã từ chối và

về nghỉ với số tiền hưu 1500 bảng

Trang 39

1.2.2.3 Giai đoạn hoàn thiện tư tưởng chính trị

Đây là giai đoạn từ khi công bố tác phẩm Bàn về tự do đến cuối đời

Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự hoàn thiện tư tưởng chính trị của ông

được thể hiện bằng một loạt các tác phẩm như: Bàn về tự do, Chính thể đại

diện, Chủ nghĩa Công lợi, Sự nô dịch phụ nữ

Trong tác phẩm Bàn về tự do (1859), Mill cho rằng, tự do của mỗi

người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác và tự do xã hội

là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập của cá nhân Đối với ông, mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình J S Mill bảo

vệ quyền của các cá nhân để họ được ―sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh‖ Sự tự do của con người được J S Mill đề cập đến gồm: tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do thảo luận, tự do về sở thích, tự do đặt kế hoạch cho cuộc sống theo sự xét đoán của mình và tự do hội họp

Năm 1861, ông viết tác phẩm Chủ nghĩa Công lợi (Utilitarianism) Mục

đích ban đầu của J S Mill khi viết tác phẩm này là bảo vệ và gạn lọc chủ nghĩa Công lợi của Jeremy Bentham, nhưng cuối cùng ông nhận thức ra rằng quan điểm của mình đối lập với học thuyết ấy Mill đã phát triển một thái độ phê phán tiền đề cơ bản của Bentham rằng lạc thú thể xác (hay khoái cảm) là

lẽ Chân - Thiện - Mỹ trong đời và cho rằng lạc thú phải có tính phân biệt về chất Lạc thú của con người khác hẳn với lạc thú của loài vật Ông cũng tán thành với quan điểm không những hạnh phúc chung mà cả hạnh phúc cá nhân cũng được tối đa hóa

Tác phẩm Chính thể đại diện được xem là khảo cứu các vấn đề nền tảng

tạo nên các thiết chế chính trị - xã hội ở các nước Anh thế kỷ XIX Trong tác phẩm này, Mill phân tích tình trạng của dân chúng quyết định sự thành bại của chính thể Ông lưu ý rằng các thiết chế chính trị là sản phẩm của con

Trang 40

người, có nguồn gốc và toàn thể sự tồn tại nhờ cậy vào ý chí con người, chúng có vận hành được hay không là tùy thuộc vào dân chúng Ông cũng bàn đến chức năng của các bộ phận quyền lực hợp thành chính thể đại diện và một số chủ đề liên quan đến đặc thù của nước Anh thế kỷ XIX

Tác phẩm Khảo cứu triết học Hamilton (1865) là tác phẩm triết học của

Mill thể hiện rõ nhất ông là người theo chủ nghĩa kinh nghiệm Triết học của Mill là một sự gắn kết đúng đắn các học thuyết của Berkeley và Hume Qua việc khảo cứu triết học Hamilton, Mill thể hiện sự nghi ngờ của đối với chủ nghĩa siêu hình, phủ nhận yếu tố nhận thức không qua trải nghiệm và chống lại mọi hình thức trực giác

Tác phẩm Sự nô dịch phụ nữ (1869) là một tuyên ngôn kinh điển về các

quyền tự do của phụ nữ Trong tác phẩm này, Mill đã chống lại sự phân biệt đối xử, đòi các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, xã hội cho phụ nữ

Tác phẩm Ba khảo luận về tôn giáo (1874) nêu lên vấn đề không thể có

một vũ trụ được điều khiển bởi thượng đế toàn năng và nhân ái, nhưng không phải không thể có một sức mạnh nhân từ ít toàn năng hơn đang hoạt động trong vũ trụ

Tác phẩm Tự truyện (1873) là một cuốn hồi ký của Mill kể về cuộc sống,

nền giáo dục cũng như những sự kiện và chiêm nghiệm trong cuộc đời ông

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w