1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dân chủ Châu Á trong tư tưởng chính trị Lý Quang Diệu : Luận văn ThS. Khoa học chính trị: 603102

104 45 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù là một nước nhỏ và là một trường hợp rất đặc biệt, nhưng những kết quả mà đất nước Singapore dưới thời Lý Quang Diệu đạt được và đặc biệt các tư tưởng về cách thức đạt được đó, tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN BẢO CHÂU

DÂN CHỦ CHÂU Á TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

LÝ QUANG DIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN BẢO CHÂU

DÂN CHỦ CHÂU Á TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Bảo Châu

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Khoa Khoa học Chính trị lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc về quá trình đào tạo trong 2 năm học Cao học vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy giáo hướng dẫn TS.Ngô Huy Đức – Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn 10

7 Kết cấu luận văn 11

Chương 1 12

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ SỰ TRANH LUẬN DÂN CHỦ GIỮA Á – ÂU 12

1.1 Lý luận chung về dân chủ 12

1.1.1 Một số quan niệm về dân chủ 12

1.1.2 Nan giải của vấn đề dân chủ 17

1.2 Những vấn đề tranh luận dân chủ giữa Á – Âu, đặc biệt giữa các nước 23

Đông Á với khối Anh Mỹ 23

1.2.1 Nguồn gốc của cuộc tranh luận 23

1.2.2 Những vấn đề chính trong cuộc tranh luận dân chủ giữa các nước Á – Âu 24

1.2.3 Hiện trạng cuộc tranh luận dân chủ châu Á 39

Chương 2 42

CÁC LUẬN ĐIỂM CỦA LÝ QUANG DIỆU VỀ GIÁ TRỊ CHÂU Á, DÂN CHỦ CHÂU Á VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM 42

2.1 Sự phát triển của các nước Đông Á và vấn đề đặt ra cho dân chủ 42

2.2 Những luận điểm chủ đạo của Lý Quang Diệu về dân chủ châu Á 44

2.2.1 Về triết lý chung: dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của giới tinh hoa 46

2.2.2 Nguyên tắc thiết kế nền dân chủ châu Á 58

Trang 8

2.2.3 Các biểu hiện của tư tưởng dân chủ châu Á trong hệ thống chính trị của

Singapore 68

2.3 Giá trị tham khảo đối với Việt Nam 76

2.3.1 Khai thác tính tích cực trong các giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa 77

2.3.2 Kinh nghiệm phòng chống tham nhũng 78

2.3.3 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài cho đất nước 82

2.3.4 Kinh nghiệm lãnh đạo của PAP 83

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân chủ được công nhận như một giá trị phổ quát nhưng nội dung và phần nào hình thức của dân chủ lại là cuộc đại tranh luận không chỉ ở phương Tây, mà đặc biệt là giữa phương Tây với phần còn lại của thế giới Nổi bật là cuộc tranh luận giữa các nước Đông Á với phương Tây vào thập kỷ cuối của thế kỷ XX mà nguyên nhân chính là dù ở các nước này có kiểu dân chủ khác mà nền kinh tế vẫn phát triển thịnh vượng, phúc lợi xã hội tốt, mà Singapore là một ví dụ điển hình Rõ ràng dân

chủ phương Tây, mà chủ yếu là Liberalism- chủ nghĩa tự do chưa phải là một mô hình phổ quát, chưa phải là “The end of history” như Francis Fukuyama quan niệm

Trong cuộc tranh luận Đông – Tây đó nổi lên Lý Quang Diệu, ông vừa là một nhà

tư tưởng vừa là nhà lãnh đạo chính trị đã xây dựng và phát triển đất nước Singapore đạt được những thành quả to lớn Singapore đã vươn lên trở thành một trong bốn con rồng ở châu Á tạo ra bước phát triển thần kỳ như Lý Quang Diệu đã miêu tả

trong cuốn hồi ký của ông với tên gọi “Từ thế giới thứ ba lên thứ nhất” [8] Là biểu

tượng cho sự phát triển đầy sức sống từ một làng chài với một cảng biển nhỏ, tài nguyên thiên nhiên không có, nông nghiệp không, điện nước không thể tự túc và luôn trong tình trạng bị nước láng giềng đe dọa cắt điện, cắt nước Singapore đã vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực châu Á Mặc dù là một nước nhỏ và là một trường hợp rất đặc biệt, nhưng những kết quả mà đất nước Singapore dưới thời Lý Quang Diệu đạt được và đặc biệt các tư tưởng về cách thức đạt được đó, trong đó có tư tưởng của ông về dân chủ mà cốt lõi là thiết kế hệ thống chính trị cũng như các nguyên tắc và giá trị nền tảng làm nên hồn cốt của hệ thống chính trị đó có ý nghĩa và ảnh hưởng khá quan trọng với tình hình chính trị thế giới Bản thân các nhà nghiên cứu phương Tây theo chủ nghĩa tự do thường coi Singapore chưa có nền dân chủ đầy đủ hay thậm chí còn gọi đó là một kiểu nhà nước độc tài Nói cách khác, vấn đề đặt ra là “liệu có mô hình dân chủ khác và thích hợp hơn với một số nước đang phát triển không?” Và các mô hình dân chủ đó thậm

Trang 10

chí cũng có những giá trị phổ quát nhất định, tương tự như nền dân chủ phương Tây hiện đại đang thống trị thế giới

Lý Quang Diệu (1923-2015), nhà chính trị kiệt xuất, người sáng lập ra đất nước Singapore hiện đại và là một trong những chiến lược gia vĩ đại nhất châu Á, việc nghiên cứu tư tưởng chính trị của ông được các nhà nghiên cứu, các học giả trong

và ngoài nước đặc biệt quan tâm vì tầm ảnh hưởng của những tư tưởng đó đối với chính trị Singapore nói riêng, chính trị thế giới nói chung Đặc biệt tư tưởng của Lý Quang Diệu về dân chủ là nội dung có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn cấp bách trong thời đại ngày nay khi mà nhiều nước có nền văn hóa tương tự cũng đang đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa

Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu đến vấn đề dân chủ, mô hình dân chủ châu Á; có những công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị của Lý Quang Diệu

có đề cập tới nội dung dân chủ châu Á trong tư tưởng của ông Tuy nhiên trong các công trình đó mới chỉ đề cập tới dân chủ nói chung, hoặc dân chủ trong một khía cạnh nào đó của đời sống mà chưa có công trình nào bàn riêng về dân chủ châu Á trong tư tưởng chính trị của Lý Quang Diệu Bản thân nội dung dân chủ châu Á cũng là thuật ngữ còn nhiều tranh luận, chưa được nghiên cứu cụ thể, chi tiết mà chỉ dừng lại ở việc điểm qua, khái quát lại bằng những luận điểm chung

Nhận thấy đây là vấn đề được nhiều người quan tâm, có giá trị và ý nghĩa đặc

sắc nên tác giả lựa chọn vấn đề “Dân chủ châu Á trong tư tưởng chính trị Lý Quang Diệu” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Thạc sỹ Chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, qua đó đánh giá những thành công cũng như hạn chế của các công trình đi trước, chỉ ra những khoảng trống về mặt học thuật còn tồn tại và khẳng định tính cần thiết, sự đóng góp của luận văn

2.2 Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Trang 11

Nghiên cứu về dân chủ đã và đang trở thành những vấn đề được nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống Rất nhiều vấn đề, nội dung liên quan cũng đã được phân tích, làm rõ cả về lý luận và thực tiễn như: khái niệm, bản chất, nội dung, các hình thức dân chủ và các mô hình dân chủ; mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển;

sự phát triển của các thể chế dân chủ trong đời sống xã hội; vai trò của xã hội dân

sự đối với sự phát triển dân chủ Cần phải kể đến ở đây một số công trình tiêu biểu

như: “Capitalism, Socialism, and Democracy” (Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Dân chủ) của Joseph Schumpeter; “Minimalist Conception of Democracy” (Khái niệm tối thiểu về dân chủ) của Adam Przeworski; “Democracy and Disagreement” (Dân chủ và bất đồng ý kiến) của Amy Gutmann và Dennis Thompson; “Defining and Developing Democracy” (Xác lập và Phát triển Dân

chủ) của Larry Diamond,…

Đây có thể coi là những công trình tổng quan về dân chủ, bao quát được các vấn

đề xã hội hiện đại quan tâm Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy, giá trị cốt lõi của dân chủ được nhắc đến và giải thích nhiều nhất là phạm trù tự do Các

nghiên cứu đều bắt đầu từ một trong hai quan niệm về tự do: tự do thụ động (tự do

khi một cá nhân không bị người khác bắt buộc và mỗi người làm chủ chính mình -

tự do theo nghĩa nguyên thủy) và tự do chủ động (tự do có được trên cơ sở của lý

tính, tức làm chủ được "dục vọng", "biết" được những điều đúng và "nhận thức được cái tất yếu", kể cả khi con người sống riêng biệt) Đây là tự do khi con người sống thành xã hội, ảnh hưởng lẫn nhau, và ý thức được rằng, sự tự do của mỗi cá nhân có ảnh hưởng đến sự tự do của các cá nhân khác, và vì vậy, tự do cá nhân phải bị hạn chế Nhưng sự hạn chế đó lại được căn cứ trên cách hiểu về quyền tự nhiên của con người

Những người ủng hộ chủ nghĩa tự nhiên chính trị của Aristotle coi quyền công dân là gốc của mọi quyền, làm nảy sinh quyền tư hữu và các quyền dân sự khác Những người theo trường phái Locke cho rằng con người sở hữu các quyền tự nhiên, quyền công dân là quyền phái sinh và mang tính công cụ để phục vụ quyền

tự nhiên Hai cách hiểu tự do đó, vì đều có lý trong những trường hợp cụ thể, đặt ra

Trang 12

vấn đề: những lĩnh vực nào là lĩnh vực mà tự do cá nhân cần được điều chỉnh (bằng quyền lực, bằng sức ép của thể chế v.v.) Đây là cơ sở để xác lập những cách thức

tổ chức quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội khác nhau, là cơ sở để phân chia các trường phái nghiên cứu thành chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa hiến pháp, chủ nghĩa đa trị

Trong bộ sách này, gần đây có cuốn "Democratization and diversity: Political engineering in the Asia-Pacific" (Dân chủ và đa dạng: vận động chính trị tại châu

Á - Thái Bình Dương) của Benjamin Reilly, 2006 Một số công trình như: "East Asia Democratization: Impact of Globalization, Culture, and Economy" (Dân chủ hóa Đông Á: ảnh hưởng của toàn cầu hóa, văn hóa, kinh tế), Nxb, Palgrave, 2000;

"East Asias New Democracies: Deepening, Reversal, Non-liberal Alternatives"

(Các nền dân chủ mới ở Đông Á: củng cố, đảo chiều và các biến thể thiếu tự do) của Yin-wah Chu and Siu-lun Wong, 2010

Đặc biệt, Francis Fukuyama đã nghiên cứu về dân chủ hóa và những tác động tích cực của độc tài đối với sự phát triển kinh tế Trong nhiều bài viết của mình, bài viết đăng trên tờ Commentary số 2/1998, Fukuyama đã tỏ thái độ trân trọng ghi nhận kết quả phát triển kinh tế ngoạn mục dưới sự độc đoán của chính quyền Hàn Quốc và Singapore Ông thẳng thắn thừa nhận mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bàn tay cứng rắn của chính phủ Theo Fukuyama, các nhà nước độc đoán dưới

sự lãnh đạo của giới quân sự ở châu Á, rõ ràng, có năng lực hơn và trung thực hơn

so với các nhà nước độc đoán ở Mỹ Latinh Ông phê phán, ở Mỹ nhiều nhà kinh tế thường suy nghĩ một cách giáo điều rằng, nhà nước can thiệp vào kinh tế thì nền kinh tế càng kém hiệu quả nhưng điều đó không đúng với châu Á Trong những năm 50 - 90 (thế kỷ XX), sự can thiệp như vậy ở châu Á đã tạo ra những bứt phá chưa từng có trong lịch sử so với bất cứ nơi nào trên thế giới [62, tr.23-27] Thái độ của Fukuyama đã hứng chịu nhiều phê phán Những người phản đối Fukuyama đưa

ra lý lẽ rằng, nếu nhà nước không can thiệp, châu Á có thể phát triển hơn

Amartya Sen - là người có uy tín cao trong các trung tâm nghiên cứu dân chủ, người có ảnh hưởng với giới nghiên cứu về chủ đề dân chủ và dân chủ hóa; từng

Trang 13

đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998 cũng đã viết nhiều về dân chủ, dân chủ hóa; mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển Các bài viết điển hình của ông có thể kể đến là

"Quyền con người và các giá trị châu Á" đăng trên tờ The New Republic, số tháng

7 và “Dân chủ với tính cách là giá trị phổ quát” đăng trên tờ Journal of Democracy, số tháng 7/1999; "Dân chủ và Công bằng Xã hội", Báo cáo đề dẫn tại

Hội thảo quốc tế về dân chủ, Kinh tế thị trường và phát triển (2002) Hai cuốn sách

mà về sau Amartya Sen công bố "Phát triển là quyền tự do" (2002), "Bản sắc và bạo lực" (2006), cũng có ý tưởng khơi nguồn từ đây Sen cho rằng: không thể coi

phát triển kinh tế tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore,… như những "bằng chứng" khẳng định rằng nhờ chế độ độc tài mà kinh tế được phát triển mạnh mẽ hơn Ông cho rằng giả thuyết không có mối quan hệ nào giữa tự do và phát triển kinh tế theo cả hai chiều là lập luận khó chấp nhận Không phải ngẫu nhiên mà các nghiên cứu thống kê tuy có mục đích rất khác nhau, nhưng hầu như tất cả lại cùng đồng ý về một bản liệt kê những "chính sách có lợi cho sự phát triển kinh tế" (cởi

mở cho cạnh tranh, sử dụng thị trường quốc tế, nâng cao trình độ học vấn, ) Vai trò tích cực nhất của các quyền tự do chính trị và dân sự thường được thể hiện khi

nó được áp dụng để ngăn chặn những tai họa kinh tế và xã hội Sen cho rằng, điều đáng coi là quan trọng bậc nhất của thế kỷ XX - chính là sự phát triển của chế độ dân chủ Nếu trong thế kỷ XIX, câu hỏi đặt ra là, liệu một nước nào đó có đủ điều kiện, có thích hợp với dân chủ hay không, thì đến thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ đã trở thành mô hình bình thường mà bất cứ nơi nào cũng có thể áp dụng được Những quan điểm trên của Amartya Sen đã nhận được sự tán thưởng của đông đảo các học giả và các nhà hoạt động xã hội

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Dân chủ là một trong những chủ đề trọng tâm thu hút sự chú ý của các nhà lý luận và thực tiễn ở Việt Nam Từ những năm đổi mới đến nay, các nghiên cứu về dân chủ, dân chủ hóa ở Việt Nam vô cùng phong phú với những bước cải cách có tính đột phá về dân chủ Các công trình nghiên cứu này chủ yếu được tiếp cận dưới khía cạnh triết học, kinh tế chính trị học, chính trị học và luật học

Trang 14

Trình bày về lý luận dân chủ mang tính hệ thống phải kể đến các công trình của

tác giả Hồ Văn Thông (1998), "Hệ thống chính trị các nước tư bản phát triển hiện nay"; "Thể chế chính trị thế giới đương đại" của Dương Xuân Ngọc và Lưu Văn

An (Chủ biên), 2003; Ngô Huy Đức (2008), "Các mô hình dân chủ trên thế giới" - chương trình khoa học cấp Nhà nước KX10.10; "Chính trị học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên), 2009…Các nghiên cứu trên

đây đều đề cập tới hệ thống chính trị, tổ chức nhà nước của các quốc gia trên thế giới đặt trên nền tảng hướng tới mục tiêu nền dân chủ, pháp quyền, đảm bảo tính chính đáng

Các nghiên cứu về chính trị, dân chủ của Đông Á mới chỉ hình thành những nền

tảng ban đầu như: "Sự thần kỳ Đông Á - Tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng", trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (1997); "Hướng tới cộng đồng kinh tế Đông Á" của Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2004); “Đông Á phục hồi và phát triển”, World Bank (2000); Điểm nhấn của các công trình này đó là

những phân tích về cải cách kinh tế và tự do chính trị từ các nước Đông Á, trong

đó có nhấn mạnh đến sự cải cách đồng thời giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị Các công trình này cũng đã làm rõ được những nội dung cơ bản của các cuộc cải cách trên những lĩnh vực cụ thể, những yếu tố dẫn đến thành công cũng như những hạn chế trên con đường trở thành những cường quốc về kinh tế, từ đó chỉ ra những nét đặc thù của mô hình phát triển Đông Á và bài học kinh nghiệm cho các quốc gia khác trên thế giới

Cuốn sách “Về giá trị và giá trị châu Á”, của Hồ Sĩ Quý, NXB Chính trị quốc

gia (2005) trong đó những vấn đề giá trị và giá trị châu Á được tác giả luận giải một cách khoa học và có hệ thống Tác giả đã phân tích những giá trị truyền thống châu Á trong bối cảnh thế giới đương đại và có sự đối sánh với những hệ giá trị khác; tổng hợp những quan điểm điển hình của một số học giả có uy tín trong và ngoài nước về lĩnh vực này; luận giải mối tương quan giữa những giá trị truyền thống châu Á và nền văn hoá Việt Nam đồng thời phân tích sự biến động một số

Trang 15

giá trị ưu trội trong bảng giá trị châu Á tại Việt Nam như cần cù, hiếu học, gia đình

và cộng đồng, trước tác động của quá trình toàn cầu hoá

Trong cuốn "Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề về mô hình phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á", Hồ Sĩ Quý (2012), tác giả tập trung bàn về những vấn đề cấp bách

thuộc lý thuyết tiến bộ xã hội và những vấn đề tranh cãi về mô hình phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á Sự thành công của mô hình Đông Á được nhấn mạnh bởi

sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa những giá trị châu Á truyền thống đặc thù của phương Đông với những giá trị phương Tây mà Hàn Quốc, Nhật Bản

là minh chứng rõ ràng nhất cho sự phát triển thần kỳ và tiến trình dân chủ hóa đất nước

Tác giả Hồ Sĩ Quý (2014) với "Dân chủ độc tài và Phát triển" nhấn mạnh rằng:

"Dân chủ cần phải trở thành một thứ văn hóa tồn tại một cách tự nhiên, ngấm sâu vào trong đời sống xã hội Những điều tích cực chỉ khi đã ăn sâu vào đời sống văn hóa, vào phong tục tập quán, thì mới có thể coi là đã hoàn thành và tồn tại bền vững, trở thành nhân tố điều chỉnh hành vi Nếu dân chủ tồn tại một cách hình thức, hời hợt, hoặc chỉ như một thứ trang trí, tô vẽ cho vẻ bề ngoài của xã hội thì

nó không thể nào tạo ra các quan hệ dân sự thực sự có sức mạnh, làm nhiệm vụ điều chỉnh hành vi xã hội và bảo vệ xã hội trong giờ phút hiểm nghèo…Hàn Quốc

là tấm gương chưa từng có tiền lệ trong lịch sử để các nước đi sau nghiên cứu, nhưng con đường tăng trưởng, phát triển, rồi hóa rồng thông qua phương thức độc tài để đi đến dân chủ ở Hàn Quốc là một quá trình nghiệt ngã, đầy mâu thuẫn và không nên đánh giá một cách giản đơn" Có thể thấy, theo định hướng vì mục đích kinh tế của phương Tây, ở các nước, vùng lãnh thổ Đông Á, nơi mà triết lý Khổng giáo đã thâm nhập vào thì nền kinh tế trở nên thịnh vượng như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là những điển hình

Tóm lại, những công trình nghiên cứu đó là nguồn tư liệu quý giá, trên cơ sở kế

thừa những đóng góp của các nhà nghiên cứu, tác giả sẽ nghiên cứu sâu hơn, chuyên biệt hơn về dân chủ châu Á trong tư tưởng của Lý Quang Diệu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 16

3.2 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những luận điểm cơ bản về dân chủ châu Á trong tư tưởng chính trị Lý Quang Diệu, các biểu hiện của chúng trong thực tiễn, từ đó rút ra một số ý nghĩa và những giá trị tham khảo sơ bộ ban đầu cho Việt Nam

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về dân chủ và sự tranh luận dân chủ giữa châu Á và châu Âu (phương Đông và phương Tây)

- Nghiên cứu, đánh giá về các luận điểm của Lý Quang Diệu về giá trị châu Á

và dân chủ châu Á

- Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn rút ra ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của

tư tưởng Lý Quang Diệu về dân chủ Châu Á và bài học đối với Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng chính trị của Lý Quang Diệu

5.3 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp; giữa phương pháp logic và lịch sử; phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp so

sánh; cùng những phương pháp mang tính chuyên ngành khác

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Trang 17

- Luận văn trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về dân chủ và sự tranh luận dân chủ giữa Á- Âu

- Luận văn làm rõ các luận điểm của Lý Quang Diệu về giá trị châu Á và nền dân chủ Châu Á, từ đó chỉ ra những bài học mà Việt Nam có thể tham khảo

- Kết quả của luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu cho việc nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến giá trị dân chủ châu Á, đến tư tưởng của các nhà chính trị quốc tế về dân chủ châu Á

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về dân chủ và sự tranh luận dân chủ giữa Á-Âu

Chương 2: Các luận điểm của Lý Quang Diệu về giá trị châu Á, dân chủ châu Á

và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Trang 18

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ

SỰ TRANH LUẬN DÂN CHỦ GIỮA Á – ÂU

1.1 Lý luận chung về dân chủ

1.1.1 Một số quan niệm về dân chủ

Dân chủ là sản phẩm của xã hội phát triển đến một trình độ nhất định mới đạt được và vấn đề dân chủ luôn được giới lý luận bàn bạc khá sôi nổi Ngay từ thời cổ đại các nhà hiền triết như Platon, Aristotle, Socrat … đã có những luận giải khác nhau về dân chủ Đến thế kỉ XVII- XVIII, lý luận về dân chủ tiếp tục phát triển gắn liền với các tên tuổi như Mongtexkio, Rutxo…Sang thế kỷ XIX - XX, C.Mác,

Ph.Ăngghen và V.I.Lênin thông qua các tác phẩm của mình như “Phê phán cương lĩnh Gota”, “Nhà nước và cách mạng”… đã tiếp tục phát triển lý luận dân chủ lên

một tầm cao mới và vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa tất yếu ra đời thay thế cho dân chủ tư sản

Cội nguồn của khái niệm dân chủ bắt nguồn từ xã hội Athen cổ đại, dân chủ

theo gốc tiếng Hy Lạp là“demokratia” được tạo thành bởi “demos” nghĩa là quần chúng, nhân dân và “cratos” nghĩa là chính quyền, quyền lực Do đó,“demokratia”

có nghĩa là nhân dân cai trị, quyền lực thuộc về nhân dân hay quyền làm chủ của nhân dân Như vậy, trong nguyên nghĩa, dân chủ là sự ra quyết định trực tiếp của người dân về các vấn đề của chính mình, không thông qua bất cứ một người đại diện nào Nói cách khác dân chủ khởi thủy có nghĩa là dân chủ trực tiếp, tức đòi hỏi sự phúc quyết của toàn dân Cách đây hơn một thế kỷ, Abraham Lincoln đã đúc

kết về dân chủ trong một tuyên bố cô đọng: “Dân chủ là chính quyền của dân, do dân và vì dân” [70]

Cùng với sự vận động và phát triển của lịch sử, khái niệm dân chủ được bổ sung thêm nhiều nội dung mới Dân chủ là một khái niệm rộng lớn, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: dân chủ là chế độ chính trị, dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước, dân chủ là phương thức trong sinh hoạt cộng đồng, dân chủ với tư

Trang 19

cách là một hệ giá trị xã hội Ở những khía cạnh khác, dân chủ được thể hiện trong các quan hệ khác của đời sống xã hội, đôi khi cũng được một số tài liệu coi là định nghĩa khái niệm dân chủ [42]: dân chủ là một lối sống dựa trên sự tôn trọng quyền

cá nhân; dân chủ là quyền bình đẳng của mỗi người trong việc nhận thức và hành động xây dựng xã hội, theo cách mà đa số đều đạt được lợi ích; dân chủ là một tư tưởng chính trị, mà các giá trị cơ bản của nó là tự do, bình đẳng và thừa nhận lẫn nhau; dân chủ là sự trao đổi và đối thoại được thực hiện một cách tự do nhất giữa các thành viên xã hội…Sự khác biệt trong quan niệm về dân chủ là một vấn đề nan giải, chính vì vậy cách tiếp cận khác nhau là cần thiết Sự khác biệt trong tiếp cận dân chủ có thể thấy rõ ngay từ sự khác biệt trong quan niệm về bản chất con người giữa các tư tưởng cánh tả và cánh hữu: đối với cánh hữu nói chung, và đặc biệt với trường phái dân chủ tự do nói riêng, "dân chủ" tập trung vào việc hạn chế các mặt tiêu cực của tự do cá nhân Trong khi đó với các tư tưởng cánh tả, đặc biệt là chủ nghĩa Mác, dân chủ tập trung vào việc phát huy các mặt tích cực của con người như ý thức tự giác, tinh thần làm chủ, tự do với trách nhiệm xã hội

Sự khác nhau trong thái độ và quan niệm về dân chủ đã tồn tại từ hàng ngàn năm trong lịch sử Khái niệm dân chủ, như nhiều người quan niệm, dường như là một sản phẩm của văn minh phương Tây, đúng hơn là văn minh Hy Lạp Khi nói

về thể chế chính trị, khái niệm này được đặt đối lập với khái niệm quân chủ, tức là

sự đối lập một hình thức quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước thuộc

về tất cả mọi công dân và một hình thức khác, trong đó quyền lực thuộc về một cá nhân Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, khái niệm dân chủ được hiểu như là một phương thức quan hệ giữa các cá nhân, trong đó quyền và nghĩa vụ của cá nhân được tôn trọng tuyệt đối

Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã coi nhà nước là một thể chế phát triển tự nhiên

và con người là "những động vật chính trị - xã hội" trong bản chất tự nhiên của nó, tức là không thể tồn tại như "người" nếu không tồn tại với tư cách là những cá thể trong một quần thể được tổ chức thành xã hội chính trị, tức là công dân của một nhà nước Hơn thế nữa, chỉ có sống hợp quần một cách có tổ chức như vậy, con

Trang 20

người mới có thể đảm bảo được tự do của mình một cách tốt nhất, nếu có các thiết

kế thích hợp về nền dân chủ, tức có các thể chế thích hợp Ở phương Đông cổ đại, vấn đề về tự do cá nhân không được đặt ra một cách trực tiếp như vậy, tuy nhiên việc cai trị để giữ được sự hài hòa và ổn định xã hội cũng đã gián tiếp ngầm định

về sự hài lòng của các cá nhân (về tự do và hạnh phúc của cá nhân) Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chính trị học hiện đại, có thể thấy "dân chủ" là khái niệm phát sinh khi con người sống thành xã hội, do hành động của cá nhân này có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến phúc lợi của cá nhân khác, "tự do" của mỗi cá nhân sẽ không còn toàn vẹn như khi họ sống riêng rẽ, cần phải có những điều chỉnh cả về phạm vi

và tính chất Đây cũng chính là mâu thuẫn cơ bản nằm dưới khái niệm "dân chủ" Nói cách khác, vấn đề cơ bản của "dân chủ" chính là những nan giải đối với tự do của các cá nhân, khi họ không thể tự do như trước khi sống thành xã hội, tức tự do của mỗi người có sự ảnh hưởng đến tự do và hạnh phúc của người khác Các tư tưởng về dân chủ nhằm đảm bảo tự do, bình đẳng và hạnh phúc rõ ràng đều xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa nhu cầu về một nhà nước (quyền lực công) và nguyện vọng của tự do cá nhân (thoát khỏi mọi quyền lực, được làm mọi điều theo ý thích) Đây cũng là cách đặt vấn đề cơ bản của Mác: phải xây dựng một xã hội dân chủ như thế nào để tự do của mỗi người ảnh hưởng tích cực đến tự do của người khác "là điều kiện của tự do cho mọi người" [44]

Aristote trong các phân tích của mình đã lần đầu tiên phân tích và chỉ ra rằng:

"Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ là tự do, mỗi nền dân chủ đều coi tự do là mục đích của mình" Đối với những người dân chủ, theo Aristotle, tự do và bình đẳng là mối liên hệ không thể tách rời Có hai chuẩn mực của tự do: (1) "Cai trị và bị cai trị trở lại", và (2) "Sống như chính mình lựa chọn" Để đưa chuẩn mực thứ nhất thành nguyên tắc hình thành và hoạt động của nhà nước, bình đẳng là yếu tố căn bản: nếu không có sự "bình đẳng về số lượng" thì tính đa dạng của xã hội là cái không thể cai trị "Bình đẳng về số lượng" - sự chia sẻ bình đẳng trong việc thực thi quyền cai trị thông qua nguyên tắc đa số - là một ý tưởng có tính hiện thực bởi vì: (i) việc tham gia chính trị được trả lương sao cho người tham gia không bị nghèo đi vì

Trang 21

chính việc tham gia đó; (ii) mọi công dân đều có quyền bầu cử bình đẳng; (iii) về nguyên tắc, mọi công dân đều có cơ hội như nhau để tham gia chính trị Với ý nghĩa như vậy, bình đẳng là cơ sở thực tiễn của tự do, và nó cũng là cơ sở đạo lý của tự do Sự gắn bó này với giá trị bình đẳng có thể dẫn đến sự xung đột với tự do nếu như tự do được đo lường theo chuẩn mực thứ hai là “Sống theo chính mình lựa chọn” Tuy nhiên, về vấn đề này, những người dân chủ cho rằng: sự lựa chọn cá nhân phải bị hạn chế vì tự do của người khác Trong chừng mực mà mọi công dân đều có cơ hội như nhau trong việc "cai trị và bị cai trị trở lại" thì mọi nguy cơ xâm hại đến vấn đề bình đẳng có thể bị giảm thiểu, và vì vậy, cả hai chuẩn mực của tự

do có thể hòa hợp với nhau Đây chính là vấn đề mà Aristotle đặc biệt chú trọng, và chính quan điểm này có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng chính trị của thời kỳ Phục Hưng sau này - tư tưởng cho rằng con người là những động vật chính trị, chỉ có thể hoàn thiện mình trong các hoạt động vì lợi ích công cộng

Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) trong tác phẩm Khế ước xã hội đã thừa

nhận trong “trạng thái tự nhiên” mọi người đều có tự do và bình đẳng Khi con người cố kết với nhau thành xã hội, con người bước vào “trạng thái xã hội”, bất công xuất hiện, tự do vốn có của con người bị xâm phạm Nguyên nhân ông lý giải

đó là do sự phát triển của sản xuất, của chế độ tư hữu trở thành lực thúc đẩy bất công chính trị trong các xã hội nô lệ và chuyên chế Quan niệm về tự do của ông có những nội dung đáng chú ý sau: (1) tự do là thuộc tính bản chất của con người vì vậy “từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người” [43,tr.59]; (2) tiêu chí quan trọng nhất của tự do là con người làm chủ lấy mình; (3)

dù tự do gắn với bản chất con người, nhưng nó không phải là phẩm chất tự nhiên

mà là kết quả của quá trình xã hội hóa con người; (4) tự do không do lực lượng siêu nhiên nào ban tặng mà chính con người tạo ra những tiền đề hay điều kiện để thực hiện tự do Để tồn tại con người phải liên kết thành xã hội, gia đình chính là hình thái đầu tiên của sự liên kết này Do đó, Rousseau là người kêu gọi phải xóa

bỏ tư hữu với tính cách là một chế độ sở hữu, một quan hệ sở hữu như là cơ sở sinh

ra áp bức và bóc lột, điều mà sau này Mác và những người mácxít nói đến như là

Trang 22

chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và nhất là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

John Stuart Mill (1806-1873) là một trong những người đã đóng góp lớn trong

lý luận dân chủ với tác phẩm Bàn về tự do (On Liberty) Ông quan niệm vấn đề

quyền tự do cá nhân phải được đặt trong quan hệ của họ với cộng đồng Ông nhấn mạnh nguyên tắc: tự do của mỗi người không được ngăn cản hay xâm phạm đến tự

do của người khác, “Mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình trong chừng mực ta không mưu toan xâm phạm tự do của người khác hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc” [35] Trong mối quan hệ giữa

sự kiểm soát xã hội với tự do cá nhân ông viết: “tự do dân sự hay tự do xã hội tức

là bản chất và các giới hạn của quyền lực mà xã hội có thể thực thi một cách chính đáng với cá nhân” [35, tr.17] Theo đó, quyền lực xã hội – quan trọng nhất là quyền lực chính trị và thể chế của nó phải bảo vệ quyền của các cá nhân được sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống theo ý của những người xung quanh

Mác, Ăngghen, Lênin cũng đã bàn khá nhiều về dân chủ Dân chủ mà các ông bàn đến trước hết và cuối cùng là "dân chủ" với tư cách là một giá trị xã hội, một

hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để thực hiện quyền con người, quyền công dân, quyền cộng đồng, quyền dân tộc, đặc biệt là quyền của giai cấp vô sản và những người lao động trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản

mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội

Trong Mười đề cương về chính quyền Xô-viết, Lê-nin nhấn mạnh: "Dân chủ là

tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì cao hơn tự do, bình đẳng, quyết định của đa số nữa" [28, tr.414] Dân chủ nói một cách cụ thể là: 1) Bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; 2) Tự do chính trị cho mọi công dân; 3) Quyết định theo đa số của mọi công dân; 4) Quyết định bằng cách biểu quyết, đó là thực chất của dân chủ hòa bình hoặc dân chủ thuần túy v.v [29, tr.515-517]

Dân chủ không chỉ là thể chế chính trị, là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước,

mà còn là giá trị tinh thần của xã hội Dân chủ gắn liền với tự do, đoàn kết, công bằng, bình đẳng xã hội Muốn tạo dựng được sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, trước

Trang 23

hết, phải có dân chủ Dân chủ khẳng định quyền lực thực sự của người dân và tôn trọng dân

Xét trên phương diện giá trị, Amartya Sen cho rằng: thứ nhất, dân chủ đóng

góp bằng cách làm giàu cuộc sống của công dân với việc bảo đảm có nhiều quyền

tự do công dân và chính trị hơn Như vậy, quyền chính trị và công dân là mục đích

tự thân, và dân chủ mang lại những phương thức tốt nhất để đạt được mục đích

này Thứ hai, về mặt công cụ hiệu dụng, bằng cách tạo động cơ kích thích chính trị

cho một lối cầm quyền tốt đẹp và kịp thời Hệ thống kiềm chế và đối trọng vốn cố hữu trong một hệ thống dân chủ góp phần hình thành một phương thức cầm quyền

tốt Thứ ba, về mặt xây dựng, bằng cách tạo cơ hội và ưu tiên Đó là dựa trên định

đề thứ nhất, sự thiên ái của xã hội không thể chỉ nhận biết bằng suy luận, mà phải được xác lập thông qua thảo luận của công chúng, chính quá trình dân chủ mới có khả năng nhất để rút ra, miêu tả và điều chỉnh thiên ái này

Như vậy, các cách tiếp cận khác nhau, dù có thể dùng các tiêu chí, tên gọi khác

nhau, nhưng khi nhìn nhận các quá trình dân chủ trong thực tiễn đều đặt ra các vấn

đề chung nhất định Dân chủ là giá trị xã hội, thể hiện ở trình độ đạt được về bảo đảm các quyền cơ bản của con người, tự do của công dân trong việc quyết định vận mệnh của mình và sự tham gia của họ vào đời sống xã hội Biểu hiện trong hệ thống thể chế, thiết chế xã hội, dân chủ là hiện tượng in đậm dấu ấn chủ quan của các lực lượng, các giai cấp tham gia đời sống xã hội với những đặc trưng về hoàn cảnh sống, địa vị kinh tế - xã hội Nhưng trước khi bị chi phối bởi tính chính trị, các quan điểm học thuật, hệ tư tưởng, dân chủ là một hệ giá trị có tính phổ biến,

tính nhân loại của cuộc sống con người

Dân chủ, như phân tích ở trên, có rất nhiều giá trị và ưu điểm, nhưng bản thân dân chủ cũng chứa những vấn đề nan giải nhất định Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung làm rõ 2 vấn đề nan giải sau:

1.1.2.1 Nan giải thứ nhất: vấn đề chủ nghĩa đám đông - đa số thiển cận

Trang 24

Vì dân chủ = ý chí của đa số nên nan giải đầu tiên: “đa số thiển cận” thì quyết định theo đa số sẽ sai, thiếu tầm nhìn dài hạn Như đã biết, nan giải lớn nhất của việc mọi quyền lực nhà nước là nếu quyền lực đủ lớn để có hiệu lực áp đặt một ý chí chung thì nó cũng đủ lớn để áp đặt ý chí và lợi ích riêng, tức trở thành chuyên chế của phe phái và lợi ích nhóm Vấn đề khắc phục sự chuyên chế đó luôn là vấn

đề nan giải của mọi thời đại và của mọi nhà nước

Nếu dân chủ chỉ thuần túy là quyết định theo ý chí và lợi ích của đa số thì nan giải khác có thể xảy ra, đó là trường hợp thiểu số "đúng" bị áp chế bởi đa số "sai" Đây được coi là sự nghịch lý của nền dân chủ Tình huống này đã được suy ngẫm

và chỉ ra từ rất lâu trong lịch sử tư tưởng chính trị Để làm rõ bản chất của nan giải này, Madison đã xem xét nó trong các cuộc bầu cử Ông cho rằng các cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu định kỳ có 4 điều không thích hợp với tư cách là kiềm chế bên ngoài đối với chính quyền:

i) Sự soi xét, kháng cáo thường xuyên sẽ phóng đại các khuyết điểm của chính phủ, làm giảm sự tôn trọng cần thiết đối với chính phủ, dễ dẫn tới mất ổn định ii) Trật tự xã hội cũng dễ bị đe dọa bởi sự quá khích do cảm tính, tâm trạng xã hội (public passions)

iii) Những người được dân bầu (ngành lập pháp) là những người gần dân hơn

do vậy sẽ có ưu thế so với những người nắm quyền tư pháp và hành pháp Và do vậy, nhánh lập pháp sẽ có lợi thế hơn nhiều trong cuộc chiến giành quyền lực thực

Trang 25

hiểu biết, sẽ là cách tốt nhất để xây dựng nên một chế độ độc tài, phi dân chủ Ông cũng nhìn nhận dù mức độ của điều này là khác nhau, nhưng vẫn không thể chấp nhận được Lý do chủ yếu của nó chính là "tinh thần phe phái" (factious spirit) đã gây nên sự "bất ổn và bất công" trên đây, và làm suy đồi bộ máy điều hành công Một HTCT tốt phải "bẻ gãy và kiểm soát được sự lộng hành của phe phái" Đây là chủ đề quan trọng trong tư tưởng chính trị của ông, và cần được xem xét thận trọng hơn trong thiết kế HTCT

Chính vì vậy, trong các thiết kế về HTCT dân chủ phải thiết lập được một nền cộng hòa không chuyên chế Theo đó, "nền cộng hòa" được hiểu là một chính phủ

do đa số nhân dân lập nên và có nhiệm kỳ Điều kiện đủ cho điều này là "những người lãnh đạo chính phủ đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do nhân dân bổ nhiệm theo nhiệm kỳ" [44] Điều kiện tối thiểu (cần thiết) để cho nền cộng hòa đó không chuyên chế (tức không vi phạm các quyền tự do cá nhân, cũng như làm tổn hại các

lợi ích cộng đồng) là: thứ nhất, không tập trung tất cả quyền lực vào cùng một

người, hay một nhóm, hay bất kỳ một cơ quan nào, dù là được bầu lên, do bổ

nhiệm, hay thế tập; thứ hai, phải kiểm soát được các lợi ích cục bộ, phe phái Khi

đề cập đến các chủ thể, các lực lượng khác nhau trong đời sống xã hội, Madison cho rằng: phe phái (faction) được hiểu là "một số các công dân, chiếm đa số hay thiểu số, được kết hợp lại và kích thích bởi một thúc đẩy tình cảm (impulse of passion) hay quyền lợi (interest) chung, xâm hại tới quyền lợi tổng thể và thường xuyên của cộng đồng (permanent and aggregate interest of community) Để tránh được các mối nguy hại của phe phái, theo ông, có hai cách: 1) Xóa bỏ nguyên nhân gây ra phe phái, hoặc 2) Chấp nhận phe phái, nhưng kiểm soát được các tác động của nó

Lập luận về cách thứ nhất, ông cho rằng để xóa bỏ nguyên nhân gây ra phe phái chỉ có hai cách: i) Áp chế, tức loại bỏ tự do; ii) Biến mọi người thành giống nhau

về cả tình cảm lẫn quyền lợi Cả hai cách này đều không thực tế vì cách thứ nhất làm cho tình hình còn tồi tệ hơn cả việc chấp nhận phe phái vì thủ tiêu mục tiêu tối hậu Trong khi cách thứ hai lại là không tưởng bởi trái với tự nhiên, trái với bản

Trang 26

chất con người Trong đó, ông nhấn mạnh vào vấn đề của nhận thức luận hơn và các sự khác biệt xã hội hiện thực hơn là về bản chất sinh học: "Một khi sự suy luận còn có sai lầm, thì việc các quan điểm khác nhau là còn tồn tại" và do vậy còn tồn tại sự khác biệt về tình cảm Tương tự, sự khác biệt về nghề nghiệp kiếm sống cũng như về sở hữu hiện có sẽ dẫn tới sự khác biệt về quyền lợi Nói cách khác, không thể xóa bỏ được nguyên nhân gây ra phe phái, vì "nguyên nhân đó được gieo mầm trong bản chất con người" Sự khác biệt là tất yếu, là phải chấp nhận nếu HTCT đặt mục tiêu phát triển dân chủ, tự do Chính vì vậy, ông tập trung vào cách thứ hai: kiểm soát sự tác động (hậu quả) của phe phái Nếu một phe phái không phải là đa số, việc kiểm soát nó chính là sự bầu cử vì lúc đó, đa số kia sẽ bỏ phiếu phế truất quyền lực của phe phái Hiển nhiên điều này cũng không phải là dễ dàng trong thực tế, tuy nhiên, về căn bản cũng cho rằng nhóm thiểu số đó có thể "làm bế tắc bộ máy hành chính, có thể gây rối loạn xã hội; nhưng nó không thể thực hiện được và che giấu được sự áp đặt bạo lực (violence) dưới các hình thức hiến pháp" Nói cách khác, việc kiểm soát thiểu số là khá hiển nhiên trong HTCT có cơ chế bầu

cử phổ thông, chính phủ đại diện thì hiệu quả và hậu quả của việc áp dụng nó sẽ khác nhau

1.1.2.2 Nan giải thứ hai: Tính tư lợi, lạm dụng quyền lực - đa số tư lợi

Dân chủ, theo một ý nghĩa chính thức thuần túy, có thể được mô tả như một phương pháp mà nhờ đó ý chí của nhà nước được xây dựng bởi đa số Như vậy, một trong những nội dung quan trọng của dân chủ là quyết định theo ý chí và lợi ích của đa số Theo cách hiểu này, bất kỳ quyết định nào do đa số đưa ra tự thân nó

đã có thể là dân chủ Tuy nhiên, vấn đề nan giải thứ hai sẽ xuất hiện khi đa số lại là phe phái, “đa số tư lợi” tức bỏ phiếu theo lợi ích riêng của mình tổn hại đến lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của thiểu số khác

Khi đề cập đến tình huống nan giải này, Madison đặt vấn đề là: "Khi phe phái chiếm đa số, hình thức chính phủ dân túy lại có thể cho phép phe phái này, vì tình cảm và lợi ích riêng, không đếm xỉa đến các giá trị công cộng (public goods) cũng như các quyền cá nhân, nguyện vọng và quyền lợi của các công dân khác Vậy

Trang 27

chúng ta phải tìm cách để vừa tránh nguy cơ của phe phái như vậy, nhưng lại đồng thời bảo tồn được tinh thần của chính phủ dân túy" Vậy làm thế nào để sự cai trị của đa số không thể đàn áp và loại bỏ quyền của thiểu số khỏi cuộc sống cộng đồng? Đây có thể coi là thách thức lớn đối với thiết kế các HTCT Theo lập luận của Madison, có 2 cách làm được điều này:

1) Phải làm thế nào để ngăn cản sự xuất hiện của một quyền lợi và tâm trạng ở

số đông

2) Nếu một đa số có chung quyền lợi và tâm trạng thì phải làm cho (chia cắt về

số lượng và vị trí) theo cách khiến đa số đó không thể phối hợp và tạo ra sự áp đặt của mình

Khi xem xét về phe phái đa số như vậy, ông cũng đã để ý đến cả chuẩn mực đạo đức và tôn giáo như các cơ chế tự kiểm soát Sự tự kiểm soát như vậy, theo ông, là không đủ trong những thời điểm đặc biệt, khi có sự bốc đồng của đa số lại gặp thời điểm thuận lợi Khả năng này, ông cho rằng thường xảy ra trong các cộng đồng dân chủ thuần nhất - tức một hình thức dân chủ trực tiếp trong cộng đồng ít người Trong một nước cộng hòa, được ông hàm ý là nước có nền dân chủ đại diện, có hai đặc điểm quan trọng khác biệt nổi lên: (i) Sự ủy quyền cho một nhóm nhỏ được bầu lên bởi toàn thể dân chúng; (ii) Số lượng công dân nhiều hơn cũng như lãnh thổ rộng hơn Đặc điểm thứ nhất có thể dẫn đến hai hệ quả tích cực hay tiêu cực: 1) Tích cực: các nhóm nhỏ này có thể có các kiến thức và sự thông tuệ làm cho các quan điểm của dân chúng trở nên rõ ràng và đúng đắn hơn, xác định tốt hơn các lợi ích chung của cộng đồng, và nếu họ là những người yêu nước và công bằng, sẽ không chịu bỏ qua các lợi ích cộng đồng đó vì các lợi ích nhóm hay các xem xét ngắn hạn, thiển cận khác 2) Tiêu cực: nhóm này cũng có thể dùng các thủ đoạn để được bầu lên, chiếm lấy quyền lực và sau đó lợi dụng quyền lực, phản bội các lợi ích chung Vậy bài toán được ông đặt ra là một đất nước như thế nào thì sẽ khiến việc bầu cử có thể chọn được đúng những người đại diện mình Các lập luận của ông tất nhiên gắn liền với các tranh luận chính trị thực tiễn lúc đó về việc cần thành lập chính phủ liên bang hay không, và nếu có thì liên bang đó cần được thiết kế

Trang 28

như thế nào Tuy nhiên, trong quá trình lập luận, Madison cũng đưa ra các nhận xét

lý thuyết tinh tế cần tham khảo

Thứ nhất, ông cho rằng dù đất nước có bé đến đâu thì số lượng những người đại

diện cũng không nên ít hơn một con số nhất định Ngược lại, dù đất nước có lớn đến đâu, số lượng này cũng không nên vượt quá giới hạn nhất định Do vậy, sẽ không có sự tỷ lệ thuận giữa quy mô dân số và quy mô nghị viện Tỷ lệ người đại diện/số dân có ý nghĩa quan trọng là cho thấy sự gắn bó hay xa cách dân chúng của người được bầu Nếu tỷ lệ này cao có nghĩa người đại diện sẽ do một số ít người hơn bầu (trong một không gian hẹp hơn), và vì vậy chịu ảnh hưởng lớn hơn bởi dân chúng Và ngược lại, nếu tỷ lệ đó thấp, người đại diện sẽ xa cách dân chúng, có thể không đáp ứng các quyền lợi của họ Như vậy, sự tối ưu được nằm đâu đó ở giữa vì hai lý do: (i) với khu vực bầu cử đủ lớn, khả năng lựa chọn được đúng người đại diện sẽ dễ hơn; (ii), người đại diện cũng sẽ đáp ứng được tốt sự hài hòa giữa lợi ích của toàn quốc với lợi ích địa phương Đây là lý do quan trọng để ông cho rằng hiến pháp liên bang sẽ đáp ứng được các yêu cầu này, và là sự tối ưu cần có

Thứ hai, số lượng công dân nhiều hơn cũng như lãnh thổ rộng hơn - của nước

cộng hòa cũng có lợi cho việc lựa chọn được các đại biểu xứng đáng Với quy mô dân số và lãnh thổ như vậy sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển của nhiều đảng với

sự đa dạng về lợi ích trong nhiều khu vực bầu cử Đây chính là yếu tố sẽ ngăn cản

sự hình thành các phe phái, đặc biệt là phe phái đa số (như đã định nghĩa ở trên - tức các nhóm chỉ vì lợi ích cục bộ, không vì lợi ích cộng đồng) Hơn nữa, trong trường hợp số đông có thể có cùng động cơ, hay tâm trạng (và vì vậy có tiềm năng tạo thành phe phái đa số), sự phân tán của các khu vực cử tri và sự trải rộng của lãnh thổ cũng làm suy giảm khả năng trở thành hiện thực của nó

Tóm lại, có thể thấy ý tưởng cơ bản cho một HTCT vận hành tốt của Madison là HTCT đó được bầu lên bởi dân chúng (kiểm soát sự chuyên quyền của phe phái thiểu số) đồng thời các quyết định của chính phủ có thể bị phủ quyết bởi các nhóm thiểu số với quy mô nhất định(kiểm soát sự chuyên quyền của phe phái đa số)

Trang 29

1.2 Những vấn đề tranh luận dân chủ giữa Á – Âu, đặc biệt giữa các nước Đông Á với khối Anh Mỹ

1.2.1 Nguồn gốc của cuộc tranh luận

Dân chủ và độc tài, mối quan hệ giữa dân chủ và độc tài với sự phát triển xã hội lâu nay luôn là chủ đề được giới lý luận, các nhà chính trị, các nhà hoạt động xã hội và báo giới quan tâm Tuy vậy, rất ít những bài viết tránh được những thiên kiến chính trị đã định hình nhiều năm nay về châu Á, về Đông Á, mà đặc biệt là về một số nước có Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhiều người mặc nhiên coi độc tài, chuyên chế, độc đoán, chỉ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển Khởi đầu cho những tranh luận về mối liên quan dân chủ/độc tài với phát triển chính là những phát biểu của Lý Quang Diệu và sau đó là của Mahathir Mohamad, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi “bốn con rồng châu Á” xuất hiện Cả Lý Quang Diệu và Mahathir Mohamad đều lo ngại sự chấm dứt chiến tranh lạnh và áp lực của Mỹ đối với Trung Quốc về nhân quyền và dân chủ sau sự kiện Thiên An Môn (1989) sẽ làm mất ổn định khu vực Bức tường Bec-lin sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc, chủ nghĩa Mác dường như trở nên không còn ý nghĩa khiến nhiều người cho rằng nền dân chủ tự do phương Tây nhất định là tiêu chuẩn quốc tế của chính quyền Lý Quang Diệu đặt vấn đề và có chủ ý biện hộ cho sự thành công ở khu vực Đông Á bằng chủ đề “giá trị châu Á” Hai ý tưởng cốt lõi mà về sau có người gọi

là “giả thuyết họ Lý” bao gồm: 1) Các hệ thống chính trị phi dân chủ “hữu hiệu” hơn các hệ thống khác trong việc phát triển kinh tế 2) Ở châu Á có hệ thống giá trị khác với các giá trị phương Tây và tốt hơn cho châu Á trong sự phát triển Văn hoá Khổng giáo, trách nhiệm cá nhân, trật tự xã hội là những biểu hiện của hệ thống giá trị châu Á.[39]

Trong bài phỏng vấn của Tạp chí Foreign Affairs năm 1994 với Fareed Zakaria (“Văn hóa là số mệnh”, Tháng Ba / Tháng Tư năm 1994), Lý Quang Diệu cảnh báo các nước phương Tây không nên gán một cách bừa bãi hệ thống của họ lên những xã hội vốn không thể dung nạp Ông Lý tuyên bố rằng dân chủ kiểu phương Tây với sự nhấn mạnh về quyền cá nhân không phù hợp với các nền văn hóa coi

Trang 30

trọng giá trị gia đình của khu vực Đông Á Lập luận của ông là người châu Á đã quen với việc đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân Người châu Á về bản chất

là tuân phục giới cầm quyền với giả định là người cầm quyền cũng phải lo lắng cho dân chúng như các bậc cha mẹ, “phụ mẫu chi dân”

Cả Lý Quang Diệu và Mahathir đều cho rằng chính “các giá trị châu Á” đã hỗ trợ cho mô hình chính quyền của mình và là yếu tố quan trọng cho sự thành công rực rỡ của các nước NIC Đông Á “Giá trị châu Á” mà các ông hàm ý bao gồm nhiều khía cạnh như tinh thần lao động cần cù và tiết kiệm, hiếu học, sự tuân thủ thứ bậc xã hội, lòng trung thành với gia đình và bằng hữu, …

Trong cuộc tranh luận này, theo quan điểm của Lý Quang Diệu, chắc chắn rằng

đa số người dân Ấn Độ không đồng tình rằng về văn hóa, họ không thích hợp với nền dân chủ Ông muốn đề cập tới giá trị châu Á, nền dân chủ châu Á của các nước Đông Á có chung gốc rễ văn hóa Khổng giáo như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Malaysia… Chính vì vậy, khi trình bày những vấn đề chính trong cuộc tranh luận dân chủ giữa Đông và Tây, tác giả sẽ trọng tâm vào cuộc tranh luận ở các nước Đông Á với khối Anh, Mỹ

1.2.2 Những vấn đề chính trong cuộc tranh luận dân chủ giữa các nước Á – Âu

1.2.2.1 Quan niệm về giá trị châu Á và dân chủ

Trong những thập niên 1970 – 1990 do sự thành công về kinh tế của các nước Đông Á, cuộc tranh luận về sự khác biệt và tương hợp giữa các tập quán truyền thống châu Á với nền dân chủ phương Tây trở nên vô cùng sôi nổi Sau cuộc khủng hoảng 1997 – 1998, các giá trị châu Á cùng các thiết chế chính trị của các nước này tiếp tục được nghiên cứu với các bằng chứng mới, đặc biệt là dưới sự chuyển đổi chính trị của các nước như Indonesia, Thái Lan, v.v Tâm điểm của cuộc tranh luận chính là việc nhìn nhận các “giá trị châu Á” (Asia value) trong sự

so sánh với phương Tây

Cần lưu ý rằng, vấn đề “giá trị châu Á” là cách gọi được nhiều chính khách và các nhà hoạt động xã hội ưa sử dụng mới chỉ trong vài năm gần đây để thay thế

Trang 31

nhằm mở rộng hơn nội dung của cách gọi vấn đề “giá trị Đông Á” quen dùng khi vấn đề mới được nổi lên vào đầu những năm 90 (thế kỷ XX) Lúc đó, thuật ngữ

“giá trị Đông Á” được sử dụng nhiều hơn, cũng bởi nội dung cốt lõi của nó là cái được đặt ra từ sự phát triển của chính khu vực Đông Á Nhưng ngay sau đó, chuyện đặt ra đã không còn là của riêng các nước Đông Á Toàn bộ châu Á với đặc thù văn hóa được thừa nhận từ lâu đã tìm cách lý giải mối quan hệ có phần bí ẩn giữa hệ giá trị riêng biệt của mình với sự phát triển Cho đến nay, mặc dù một số học giả, đặc biệt các học giả Trung Quốc vẫn thích sử dụng thuật ngữ “giá trị Đông Á”, song phần đông lại thấy cần thiết phải chấp nhận thuật ngữ “giá trị châu Á” cho phạm vi khái quát của vấn đề được phổ biến hơn, dù rằng trong một số trường hợp, vấn đề phải được gọi bằng cái tên Đông Á thì mới chính xác

Chúng ta biết rằng Đông Á và châu Á là những khái niệm địa lý và địa chính trị khác nhau Song điều chủ yếu đặt ra khi sử dụng hai thuật ngữ này để khám phá vấn đề về mối quan hệ giữa giá trị đặc thù và sự phát triển, thì về cơ bản, lại vẫn có cùng một lôgíc Bởi vậy, nói giá trị Đông Á, hay giá trị châu Á thì vấn đề cũng vẫn

là có thừa nhận hay không sự tồn tại của các giá trị đặc thù châu Á? và nếu chúng tồn tại khách quan thì các giá trị đặc thù châu Á đóng vai trò như thế nào đối với sự phát triển? Có lẽ đây chính là lý do mà ngay cả Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng Malaysia, một trong những chính khách sớm đưa vấn đề giá trị Đông Á ra thảo luận trên diễn đàn quốc tế, đến nay cũng thường gọi vấn đề bằng thuật ngữ

Trang 32

ii) Nếu thừa nhận châu Á có bảng giá trị riêng của mình, thì phải chăng trong nhiều trường hợp, văn hóa phương Tây không thể là khuôn thước áp đặt cho châu

Á, đặc biệt trong những giá trị về dân chủ và nhân quyền?

iii) Trong tương quan với văn hoá phương Tây, các giá trị châu Á có thế mạnh của mình Những giá trị nào của truyền thống châu Á đang là tích cực, cần phải được đặc biệt phát huy để châu Á tiếp tục phát triển?

iv) Nhiều dự báo cho rằng, thế kỷ XXI là “thế kỷ của các giá trị châu Á” Điều

đó liệu có trở thành hiện thực? Hay ngược lại, sau khủng hoảng tài chính châu Á sẽ

là “sự sụp đổ của các giá trị châu Á” như dự báo bi quan của một vài học giả? Giá trị châu Á có khả năng ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đối với sự phát triển của xã hội hiện đại?

v) Khi nhìn sang phương Tây, châu Á là mảnh đất của những nét đặc thù và bí

ẩn Nhưng đó là những nét đặc thù khá biệt lập với nhau, dường như không dựa trên một cái chung nào xác định cả Quan niệm này cũng khá phổ biến ở châu Á và ngoài châu Á [63] Vậy, cái có ý nghĩa phân biệt châu Á với phương Tây là gì? Cảm nhận châu Á ở người châu Á là có thật hay chỉ là tưởng tượng? Những nền văn hoá nào ở châu Á đủ để coi là điển hình, tiêu biểu cho đặc thù châu Á?

Bước vào thế kỷ XXI, việc thảo luận những vấn đề này có nhiều ý nghĩa và rõ ràng đây là những vấn đề khá phức tạp nên không dễ gì giải quyết thấu đáo trong một tương lai gần Bởi vậy, việc góp thêm tiếng nói cho cuộc đại thảo luận về Đông và Tây đang diễn ra trên phạm vi quốc tế là điều cần thiết Trong luận văn này, tác giả xin dẫn ra một số quan điểm nổi bật trong cuộc tranh luận về giá trị châu Á của những nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu, học giả tiêu biểu nhất có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Cuộc phỏng vấn của Lý Quang Diệu với tạp chí Foreign Affairs của Mỹ xuất bản vào tháng 2 năm 1994, đã gây ra một sự náo động nho nhỏ giữa những người

Mỹ quan tâm đến cuộc tranh cãi về các giá trị của châu Á so với các giá trị của phương Tây Trong những câu trả lời của mình, LQD tránh sử dụng đến cụm từ

“các giá trị châu Á”, vốn có nhiều dạng khác nhau, thay vào đó, ông đề cập đến các

Trang 33

giá trị Nho giáo, thịnh hành trong các nền văn hóa của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam [8, tr.586] Ông cho rằng có sự khác biệt căn bản giữa xã hội tự do phương Tây với xã hội Nho giáo Đông Á Các xã hội Nho giáo tin rằng

cá nhân tồn tại trong phạm vi của gia đình, đại gia đình, bạn bè và đoàn thể rộng lớn hơn, chính phủ không thể và không nên đảm nhận vai trò của gia đình Trái ngược lại, nhiều người phương Tây cho rằng chính phủ có khả năng thực hiện bổn phận của gia đình khi gia đình thất bại, như với những bà mẹ đơn thân Những người Đông Á tránh cách tiếp cận này Singapore là một xã hội Nho giáo đặt quyền lợi cộng đồng lên trên quyền lợi cá nhân Singapore dựa vào sức mạnh và ảnh hưởng của gia đình để giữ xã hội trật tự, gìn giữ một nền văn hóa cần kiệm, chăm chỉ, hiếu nghĩa, kính trọng bề trên và sự uyên bác, ham học hỏi Những giá trị này hun đúc nên một dân tộc có năng suất và giúp phát triển kinh tế

Ông cũng nhấn mạnh rằng: sự tự do chỉ có thể tồn tại trong một tình trạng trật

tự, chứ không phải khi có sự bất hòa liên tục hay tình trạng hỗn loạn Trong các xã hội phương Đông, mục tiêu chính là có một xã hội ngăn nắp để mọi người có thể thụ hưởng tự do đến mức cao nhất Nước Mỹ không nên gán hệ thống tự do dân chủ kiểu Mỹ một cách bừa bãi vào các xã hội khác nơi mà hệ thống đó sẽ không hoạt động Các quan điểm này của ông đã nảy sinh từ những kinh nghiệm của ông

ở đầu thập kỷ 1950 khi ông khám phá ra hố sâu văn hóa giữa trí thức kiểu Trung Hoa và trí thức kiểu Anh Ông nhận ra rằng, một dân tộc thấm nhuần các giá trị Trung Hoa có kỷ luật hơn, lịch sự hơn và kính trọng bề trên Kết quả là một xã hội trật tự hơn [8, tr.587]

- Mahathir Mohamad là một trong những người đã đánh thức giới nghiên cứu

cũng như giới chính trị phương Tây phải nhìn lại châu Á với các giá trị đặc thù ưu việt của nó Mahathir Mohamad, tiến sĩ y khoa, là Thủ tướng của Malaysia trong hơn hai thập kỷ qua (1981 - 2003), thành tích lãnh đạo của ông rõ rệt đến mức, các chuyên gia khó tính, giới chính trị, các chức sắc tôn giáo và cả dân chúng, tất cả đều công nhận, ông là người thành công trong việc hàn gắn nạn chia rẽ tôn giáo và sắc tộc ở Malaysia, cứu nguy đất nước trong nhiều tình huống nghiệt ngã, thiết kế

Trang 34

sự phát triển khá ngoạn mục của một quốc gia Hồi giáo đa dân tộc, đem lại sự ổn định và thịnh vượng cho đất nước này Sự thật, Mahathir không phát hiện ra giá trị châu Á, nhưng ông làm sống lại cách nhìn công bằng hơn về giá trị châu Á

Quan điểm về giá trị châu Á của Mahathir Mohamad được trình bày trong nhiều

ấn phẩm và tại nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế Theo những thảo luận trên các

diễn đàn, nhìn chung các học giả thường dẫn bài “Thảo luận về các giá trị châu Á”

được trình bày tại Hội nghị cấp cao lần thứ 29 Hội đồng kinh tế khu vực Thái Bình Dương, tổ chức tại Washington, Mỹ ngày 21-5-1996 [74] Tham luận này được đánh giá là linh hồn (spirit) của toàn bộ quan điểm của Mahathir, chứa đựng đầy

đủ nhất, tập trung nhất và cũng rõ ràng nhất những tư tưởng của ông về giá trị châu

Á Mahathir phê phán tình trạng nhiều người phương Tây thành thực tin rằng chỉ tồn tại một loại giá trị là giá trị toàn cầu Mahathir lưu ý, không phải việc đề cao một thứ giá trị nào khác ngoài phương Tây đều chỉ là biện giải cho sự áp bức, độc tài và thiếu văn minh Đã đến lúc cần loại bỏ quan niệm này Ông viết: “Tôi tin rằng có sự khác biệt tự nhiên về giá trị Những ai không thừa nhận sự khác biệt đó thì chẳng khác gì một kẻ mù màu – chỉ nhìn thấy màu xám mà không thấy được các sắc của cầu vồng – nên họ cho rằng làm gì có sự khác biệt” [55]

Theo Mahathir, không thể lập luận, thế giới này chỉ có giá trị toàn cầu Những người đấu tranh cho quan điểm toàn cầu hóa về giá trị đã đi lạc đường Nếu người châu Âu thành tâm tin rằng giá trị của họ toàn cầu hơn các giá trị Mỹ, thì cũng y như thế, người châu Á với số dân hàng tỷ người cũng có đủ cơ sở để nói giá trị của mình còn toàn cầu hơn cả giá trị Mỹ và châu Âu Tranh cãi về điều này quả thực rất khó, vì vậy, “tôi cầu nguyện sẽ không bao giờ có một người châu Á nào lại đứng lên tự nhận chỉ có giá trị châu Á là giá trị duy nhất mang tính toàn cầu, hay lấy các giá trị Mỹ, Âu và phương Tây chỉ để chứng minh cho những điều xấu xa, tội lỗi đang xảy ra đâu đó”[55]

- Francis Fukuyama, Giáo sư kinh tế học chính trị quốc tế thuộc trường Đại học

Johns Hopkins (Hoa Kỳ) khi bàn về giá trị châu Á, đáng kể nhất trong số các ấn

phẩm của ông là bài “Các giá trị châu Á và cuộc khủng hoảng châu Á”, đăng trên

Trang 35

tờ Commentary tháng 2/1998 Ở đây, Fukuyama trình bày quan điểm của mình và bình luận, phê phán một số quan niệm khác xung quanh vấn đề giá trị châu Á Theo ông, các giá trị châu Á thường được nói đến là: (1) đề cao giáo dục, (2) tôn trọng kỷ luật lao động; (3) tôn trọng cộng đồng; (4) tôn trọng quyền lực; (5) đề cao chính quyền “độc đoán” Ông đặc biệt chú ý tới mô hình chính quyền “độc đoán” ở những xã hội đạt tới tăng trưởng kinh tế cao như Hàn Quốc và Singapore Fukuyama không bác bỏ mà thẳng thắn thừa nhận có mối liên hệ nào đó giữa tăng trưởng kinh tế với bàn tay cứng rắn của chính phủ; ông cũng thấy ở các xã hội châu Á tôn trọn quyền lực hơn so với phương Tây và thái độ này cũng có thể tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển tích cực hơn Tuy nhiên, về căn bản, ông cho rằng các khác biệt trong thang bậc giá trị như vậy không dẫn tới các khác biệt về tổ chức chính thể

- Richard Robinson, học giả người Australia, hiện là Giáo sư kinh tế học chính

trị Viện nghiên cứu xã hội Hague, Hà Lan là tác giả và đồng tác giả của hơn 10 cuốn sách có tiếng vang nhất định về các vấn đề quốc tế, trong đó có những tác phẩm đáng chú ý về châu Á Về giá trị châu Á, Richard Robinson thể hiện tư

tưởng của mình trong hầu hết các ấn phẩm, song tập trung hơn cả là ở bài “Chính trị của các giá trị châu Á, 1999 Ông nhấn mạnh đặc thù của các giá trị châu Á với

những điểm sau:

(1) Gia đình là cốt lõi của tổ chức xã hội

(2) Lợi ích của cộng đồng được đặt trên những lợi ích cá nhân Do đó, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng được đặt trên quyền lợi của cá nhân

(3) Các quyết định chính được thông qua bằng sự đồng thuận chứ không phải bằng sự đối đầu thông qua các tổ chức chính trị

(4) Một chính phủ mạnh và sự gắn kết xã hội luôn luôn đi cùng với sự phát triển kinh tế

(5) Coi trọng sự gắn kết và hài hòa xã hội Sự gắn kết và hài hòa đó đạt được thông qua các nguyên tắc đạo đức và một chính phủ mạnh

Trang 36

Là người thừa nhận sự tồn tại của các giá trị châu Á, song Richard Robinson nhìn nhận những đặc thù của hệ thống giá trị khu vực này với hàm ý tiêu cực nhiều hơn tích cực Tuy nhiên, về căn bản có thể thấy ông có cảm tình khá rõ với các giá trị lợi ích cộng đồng, sự hòa hợp xã hội, đề cao gia đình và sức mạnh của chính phủ Theo Robinson, các giá trị này đã thể hiện được vai trò của chúng trong sự phát triển đặc thù của châu Á giai đoạn vừa qua Điều này, một vài chính khách phương Tây không muốn chấp nhận vì nó mâu thuẫn ít nhiều với các giá trị dân chủ phương Tây

- Trần Lâm Phong, nhà nghiên cứu Trung Quốc là một trong những người tin

tưởng và khẳng định mạnh mẽ nhất vai trò tích cực của các giá trị châu Á đối với

sự phát triển của các xã hội ở khu vực này Trong bài viết đăng trên tạp chí

“Waiguo wenti yanjiu”, số 4, năm 1998, Trần Lâm Phong cho rằng: các nước thuộc khu vực Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên,… và cả những nước thuộc Đông Nam Á, dưới ảnh hưởng của văn minh nông nghiệp và văn hóa Nho giáo đã hình thành nên một kiểu đời sống tinh thần của riêng mình, bao gồm phương thức tư duy, đời sống tín ngưỡng, lề thói phong tục, đặc trưng tâm thế và đặc biệt, hệ giá trị riêng biệt “Ngày nay, một số quan niệm giá trị và mệnh đề triết học của Đông Á vẫn có ý nghĩa tích cực và giá trị bất hủ Nó có khả năng gợi mở và tham khảo rất lớn đối với việc uốn nắn các tệ nạn xã hội và với tự nhiên” [37] Theo ông, sự gắn bó đến mức “ba ngôi nhập một” giữa nhà nước, dân tộc và xã hội đã bắt rễ tự nhiên trong đời sống tinh thần Đông Á và trở thành giá trị lấy cộng đồng làm bản vị (cơ bản, chính yếu) Chủ nghĩa gia tộc trong làm ăn kinh

tế ở Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan chính là biểu hiện của giá trị này Trần Lâm Phong đã tổng hợp các quan niệm về giá trị Đông Á thành những nội dung chính như sau: (1) định hướng giá trị lấy giá trị cộng đồng làm bản vị; (2) đề cao ý thức

tự cường (lấy mệnh đề “Thiên hành kiện, quân từ dĩ tự cường bất tức” làm tín điều nhân sinh); (3) quan tâm đến cả “nghĩa” và “lợi”; (4) đề cao cần kiệm

Trước làn sóng dân chủ tự do mạnh mẽ ở phương Tây, một số nhà lãnh đạo châu Á, nổi bật nhất là LQD và Mahathir Mohamad coi mối quan tâm bất thường

Trang 37

đối với cải cách thương mại và những lo lắng mang tính nhân bản về quyền con người và cải cách dân chủ của phương Tây như là những thủ đoạn vụ lợi được ngụy trang, hòng triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của các nước châu Á – lợi thế dựa trên nguồn lao động giá rẻ và tận khai thác các trữ lượng lớn tài nguyên thiên nhiên Các nước Đông Á dường như luôn có tính hạn chế các quyền cá nhân hơn so với các nước phương Tây D.Bell – một nhà nghiên cứu về Đông Á trong khi phê phán việc sử dụng các “giá trị châu Á” để biện hộ cho sự hạn chế tùy tiện các quyền cá nhân, ông vẫn công nhận các truyền thống văn hóa và sự đóng góp của các nước Đông Á và là các thách thức đáng kể với nền dân chủ tự do theo kiểu phương Tây Phản bác lại các lý lẽ của các học giả, nhà nghiên cứu phương Tây, Lý Quang Diệu lập luận rằng các xã hội châu Á sẽ phát triển mạnh không phải bằng cách áp dụng các mô hình kinh tế, các chuẩn mực xã hội và các chiến lược quản trị theo kiểu phương Tây mà bằng cách bảo tồn những gì ông mô tả là năm mối quan hệ (ngũ thường) quan trọng nhất đối với đạo Khổng: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín

Những quan điểm của LQD cũng như quan điểm tương tự của những người khác trở thành giả thuyết các “giá trị châu Á” Và theo quan điểm này, không chỉ các giá trị châu Á xung đột với dân chủ tự do phương Tây mà cả những giá trị từng

là yếu tố chính đằng sau sự tăng trưởng kinh tế mà các nước châu Á hưởng thụ trong những năm 1990 Những “giá trị châu Á” theo quan điểm của ông Lý chưa được chấp nhận rộng rãi ngay cả trong khu vực vì nhiều người cho rằng đó là độc đoán, hạn chế tự do dân chủ Theo LQD các nước châu Á có khuynh hướng thiên

về HTCT do một đảng duy nhất đứng đầu hơn là hệ thống đa nguyên như các nước phương Tây Và ông cũng cho rằng người châu Á đánh giá sự đồng lòng và hòa hợp xã hội cao hơn tranh cãi và bất đồng chính kiến vốn tiêu biểu cho các nền dân chủ, điều quan trọng hơn hết theo ông có lẽ là họ quan tâm đến phúc lợi kinh tế -

xã hội hơn là tự do dân chủ và nhân quyền Ông Lý thật sự tin rằng người dân ở châu Á có tính tương thích tự nhiên với các chính quyền chuyên chế Tất nhiên, với tư cách là nhà cầm quyền độc đoán tại Singapore trong ba thập niên (1959 –

Trang 38

1990) mà không gặp phải sự chống đối thật sự nào, ông Lý hoàn toàn có cơ sở để tin vào quan điểm của mình

Khái quát lại, những giá trị khác biệt nổi bật so với phương Tây và các tranh luận quanh chúng liên quan tới dân chủ ở phương Đông và phương Tây được thể hiện ở những điểm căn bản sau:

(1) Tinh thần cộng đồng là giá trị có tính phổ biến và có nhiều biểu hiện trong lối sống thực tế và giao tiếp hàng ngày, khác với các nước phương Tây – thường nhấn mạnh tính riêng tư cá nhân Một số học giả cho rằng Nho giáo hàm chứa các lập luận không tương hợp với dân chủ, trong đó giá trị cộng đồng nhấn mạnh đến tập thể và hy sinh các quyền cá nhân Phản bác lại lập luận trên một số học giả đưa

ra quan niệm của Khổng Tử trong Kinh Lễ “Đại đạo chỉ hành dã, thiên hạ vi công”, tức là khi đạo lớn được thi hành, thiên hạ là của chung Cũng theo hướng này, câu “Thiên hạ không chỉ của một người, thiên hạ là của thiên hạ” cũng được cho rằng bao chứa các giá trị tương hợp với dân chủ Tuy nhiên, trong cách diễn giải của một số học giả Trung Quốc có ý về một sự cầm quyền trung lập, không thiên vị ai (impartial), do vậy có thể tương thích với cả quân chủ và dân chủ [66] Fukuyama đã nhận xét về các diễn giải này: “Nếu coi Nho giáo là hệ thống giá trị chi phối ở châu Á, chúng ta thấy rằng, hệ thống này mô tả một thế giới đạo đức

mà ở đó, con người sinh ra không phải có quyền lợi mà có nghĩa vụ” Từ đó, ông cho rằng các giá trị châu Á không có khái niệm về cá nhân và các quyền cá nhân Ngoài Nho giáo, ông cũng cho rằng các tôn giáo khác ở châu Á như Đạo giáo, Thần đạo và các tôn giáo dân gian cũng “không đặc biệt ủng hộ các nguyên tắc dân chủ ở phương Tây” [23]

LQD đã từng phát biểu công khai rằng các tự do cá nhân cần phải hy sinh một khi làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu kinh tế cơ bản của cộng đồng Hay nói cách khác, nhà nước sẽ cần độc đoán để có thể huy động sự nhất trí cho mục tiêu chung về phát triển

(2) Tính đồng thuận hay sự chấp thuận của dân chúng được Mạnh Tử nhắc đến như một yêu cầu về tính chính đáng của Hoàng đế, song song với thiên mệnh

Trang 39

J.Chan cho rằng, ngay cả khi được dân chúng chấp thuận, chính thể không nhất thiết có tính dân chủ vì một ông vua sáng với quyền lực tuyệt đối vẫn có thể được

đa số nhân dân ca ngợi và chấp thuận, và do vậy, tính đồng thuận không hàm chứa các tư tưởng dân chủ, và cũng không hàm ý sự bình đẳng chính trị cũng như quyền

tự quyết của người dân Bell lại chỉ ra rằng tính đồng thuận được đánh giá cao cũng đồng thời cho phép chính quyền các nước châu Á có các quyết định cứng rắn, gạt bỏ tinh thần phe phái làm chia rẽ xã hội, cản trở nỗ lực chung [60]

(3) Trọng trật tự và thứ bậc: truyền thống trọng trật tự và thứ bậc thể hiện khá

rõ trong đời sống hàng ngày Thuyết chính danh của Khổng Tử được nhìn nhận như một lý thuyết chính trị, không chỉ nhấn mạnh vào thứ bậc mà còn đồng thời nhấn mạnh vào tính chính đáng của thứ bậc từ vua đến dân, từ ngoài xã hội đến trong gia đình

(4) Coi trọng học hành Nho giáo rất coi trọng việc tu thân, do vậy chủ trương chọn tầng lớp lãnh đạo có thực tài Bản thân giá trị này là rất phù hợp với nền dân chủ hiện đại phương Tây và đời sống xã hội phức tạp ngày nay

(5) Chăm chỉ và tiết kiệm.Trong các giá trị truyền thống tương đối nổi bật của châu Á thì đây là giá trị dường như ít tác động trực tiếp nhất đến sự khác biệt về

mô hình dân chủ giữa phương Đông và phương Tây

Bằng việc dẫn ra những quan điểm điển hình về giá trị châu Á ở trên, tác giả muốn lưu ỷ rằng, mặc dù ở từng nhà nghiên cứu, bức tranh cụ thể về các giá trị châu Á có thể là không giống nhau, song về căn bản có thể thấy những điểm giống nhau trong quan niệm của các học giả, nhà nghiên cứu về sự khác biệt giá trị giữa châu Á và phương Tây là: ở các xã hội châu Á chắc chắn có những giá trị đặc thù

so với phương Tây Trong xã hội hiện đại, chúng có thể ưu trội hơn so với các giá trị phương Tây và cần phải đề cao giá trị châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại Đặt vấn đề về giá trị châu Á, tác giả thấy rằng, sự khác biệt đáng phải bàn luận, trước hết là khác biệt về giá trị quan chứ không nhất thiết phải là khác biệt giữa các giá trị Nói đến giá trị đặc thù châu Á, thực chất là nói tới sự khác biệt về giá trị quan, thể hiện trong bảng giá trị hoặc hệ thống giá trị Nghĩa là, với các nền

Trang 40

văn hóa khác nhau, bảng giá trị hay hệ thống giá trị cũng khác nhau.Tuy nhiên, các giá trị cụ thể trong mỗi hệ thống giá trị phần nhiều lại thường giống nhau Rất hiếm

có giá trị đặc thù về tính cách con người chỉ riêng biệt thuộc về một dân tộc nào

đó Cần cù, hiếu học, tôn trọng gia đình, đề cao giá trị cộng đồng…là những đức tính chung của toàn nhân loại Do đó cần phân biệt rõ rằng, sự khác nhau giữa các bảng giá trị,trước hết là khác nhau về vị trí của từng giá trị Những giá trị đặc thù châu Á như đã bàn luận ở trên tuyệt nhiên không phải chỉ có ở châu Á mà không

có ở các nước phương Tây, mà điều đó có nghĩa là các giá trị đó được tôn trọng hơn, được xếp vào vị trí ưu tiên hơn so với các giá trị khác Và rõ ràng những giá trị châu Á không phải chỉ toàn những điều tốt đẹp khiến phương Tây phải thán phục, ngưỡng mộ như một vài tác giả vì quá yêu châu Á đã nhấn mạnh một cách cường điệu Song những nét ưu trội của các giá trị châu Á là có thật,và sự thành công khi áp dụng những giá trị đó đã được minh chứng rõ nét với sự phát triển thần

kỳ của bốn con rồng châu Á trong đó có Singapore là một ví dụ điển hình

Ngày nay ở 6 quốc gia châu Á Khổng giáo (chịu ảnh hưởng lâu dài của Khổng Tử) như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Việt Nam, 5 giá trị tiếp tục định hình nền văn hóa của các xã hội này là:

+ chủ nghĩa tập thể thứ bậc (sự trung thành với các nhà lãnh đạo nhóm)

+ chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng (sự cai trị nhân từ của một giới tinh hoa đạo đức)

+ sự nhân nhượng và thích nghi giữa các cá nhân (tránh xung đột với những người khác)

+ nhấn mạnh lợi ích cộng đồng và sự hài hòa (hy sinh lợi ích cá nhân cho cộng đồng)

+ chủ nghĩa gia đình kiểu Khổng giáo (đặt gia đình lên trên bản nhân)

=> Những đặc điểm này được cho là mang lại hiệu ứng mang tính khu vực trong đó đánh giá tập thể cao hơn cá nhân và sự hài hòa cao hơn sự tự khẳng định Thực tế trong gần ba thập kỷ vừa qua ở khu vực châu Á nói chung, Đông Á nói riêng vấn đề “giá trị châu Á”, “dân chủ châu Á” luôn là một trong những chủ đề

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm