Là một nhà triết học, nhà logíc học, nhà đạo đức học, nhà kinh tế chính trị học, sự nghiệp và hoạt động của J.S.Mill để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử châu Âu; đặc biệt là triết học ch
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS TS ĐỖ MINH HỢP
2 PGS TS TRƯƠNG VĂN CHUNG
3 PGS TS ĐINH NGỌC THẠCH
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013
Trang 3JOHN STUART MILL (1806 - 1873)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của mình Nếu có sự gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người cam đoan
Ngô Thị Như
Trang 5TRANG LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 12
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 12
6 Cái mới của luận án 12
7 Ý nghĩa khoa học của luận án 13
8 Kết cấu của luận án 13
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL 15
1.1 Điều kiện lịch sử, tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị John Stuart Mill 15
1.1.1 Điều kiện lịch sử hình thành triết học chính trị John Stuart Mill 15
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị John Stuart Mill 21
1.2 Quá trình chuyển biến triết học chính trị John Stuart Mill 36
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của John Stuart Mill 36
1.2.2 Các giai đoạn trong triết học chính trị John Stuart Mill 43
Kết luận chương 1 53
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL 55
2.1 Vấn đề tự do trong triết học chính trị John Stuart Mill 55
2.1.1 Vấn đề tự do cá nhân 55
Trang 6John Stuart Mill 83
2.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá hình thức chính thể 84
2.2.2 Chức năng của các cơ quan quyền lực hợp thành chính thể đại diện 98
2.2.3 Dân chủ với quyền bầu cử 112
Kết luận chương 2 123
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL 125
3.1 Giá trị và hạn chế của triết học chính trị John Stuart Mill 125
3.1.1 Giá trị của triết học chính trị John Stuart Mill 125
3.1.2 Hạn chế của triết học chính trị John Stuart Mill 144
3.2 Bài học lịch sử từ triết học chính trị John Stuart Mill 163
3.2.1 Bài học về phát huy vai trò của giáo dục 163
3.2.2 Bài học về đề cao bình đẳng cho nữ giới 169
3.2.3 Bài học về xây dựng hình thức chính thể dựa trên nền tảng là lợi ích của người dân 179
3.2.4 Bài học về xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp 188
Kết luận chương 3 193
PHẦN KẾT LUẬN 196
CHÚ THÍCH 200
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 219
TÀI LIỆU THAM KHẢO 220
PHỤ LỤC 233
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lĩnh vực chính trị là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, chiếm vị trí quan trọng và có sự chi phối đến các lĩnh vực khác Qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, lĩnh vực chính trị luôn vận động cùng với sự vận động của xã hội loài người, và được khái quát hóa thành tri thức lý luận tổng quát, thành các học thuyết, khuynh hướng, trào lưu triết học chính trị Như thế, triết học chính trị vừa là sự phản ánh của thực tiễn chính trị sinh động, vừa bao hàm cả tính định hướng cho hoạt động thực tiễn Vậy nên, nghiên cứu triết học chính trị là công việc cần thiết nhằm phát triển trình độ tư duy lý luận, nâng cao năng lực nhận thức của con người; thông qua đó tăng cường hiệu quả cho hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn chính trị
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, triết học chính trị phương Tây nổi bật như một trong những mạch nguồn của phong cách tư duy duy lý Trong
những tên tuổi tiêu biểu của triết học Anh và triết học Pháp, thì John Stuart
Mill (1806 - 1873) là một triết gia có ảnh hưởng lớn, vượt ra khỏi biên giới
xứ sở sương mù thế kỷ XIX Ông là triết gia đại diện cho chủ nghĩa kinh nghiệm Anh thời đại Victoria Không chỉ là nhân vật kế tục truyền thống chủ nghĩa kinh nghiệm Anh, J.S.Mill còn được ghi nhận là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa thực chứng, một phong trào triết học và chính trị phổ biến rộng rãi trong nửa cuối thế kỷ XIX Điều đặc biệt ở chỗ, J.S.Mill đã triển khai chủ nghĩa thực chứng theo phương án thuyết đạo đức công lợi của Anh Và do đó, ông đã thành công khi đưa triết học thực chứng vượt ra khỏi khía cạnh thực chứng xã hội học, để gắn với khuynh hướng thực chứng chính trị học Vì thế, nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill nhằm mở ra một hướng tiếp cận đối với lịch sử triết học phương Tây cận đại, từ đó góp phần quan trọng làm sáng rõ thêm bức tranh lịch sử triết học phương Tây nói chung cũng như triết học chính trị pháp quyền tư sản nói riêng
Trang 8Là một nhà triết học, nhà logíc học, nhà đạo đức học, nhà kinh tế chính trị học, sự nghiệp và hoạt động của J.S.Mill để lại dấu ấn đậm nét trong lịch
sử châu Âu; đặc biệt là triết học chính trị của ông được thể hiện qua hai tác
phẩm tiêu biểu: Bàn về tự do1
và Chính thể đại diện2 Trong các tác phẩm của mình, J.S.Mill đã khẳng khái thể hiện quan điểm về tự do, về dân chủ, về chính thể nhà nước Bằng những trước tác đó, ông đã đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển lý thuyết tự do chủ nghĩa và chính trị pháp quyền Là một học thuyết lý luận sắc sảo, triết học chính trị của J.S.Mill chứa đựng nhiều bài học giá trị không chỉ đối với thời đại của ông, mà còn đối với các quốc gia đang xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị pháp quyền giai đoạn hiện nay, trong
đó có Việt Nam Thực tế cho thấy rằng, chỉ có thể dựa trên sự kế thừa tinh hoa triết học chính trị thế giới thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại sẽ trở nên hiệu lực hơn và tránh được những hạn chế đang tồn đọng
Thêm nữa, bối cảnh thế giới hiện nay vẫn đang chứa đựng những vấn
đề bất ổn như: xung đột lợi ích giữa các quốc gia không thể tránh khỏi, mối quan hệ cá nhân - xã hội nảy sinh những tình huống mới, tình trạng vi phạm quyền tự do cá nhân chưa chấm dứt, … Đặt triết học chính trị của J.S.Mill trong mối liên hệ với bối cảnh hiện thời mới thấy rằng triết học của ông vẫn mang tính thời sự rõ nét Những vấn đề về mối quan hệ giữa các dân tộc, về
tự do cá nhân và bình đẳng giới, về vai trò của giáo dục, … mà J.S.Mill đã từng bàn đến vẫn còn nhiều giá trị thực tiễn đối với không riêng Việt Nam mà còn với các quốc gia khác Có lẽ, thời đại ngày nay vẫn có thể tìm thấy được trong triết học chính trị J.S.Mill những bài học lịch sử ý nghĩa
Xét mặt hạn chế, triết học chính trị của J.S.Mill vẫn thể hiện lập trường giai cấp tư sản, là học thuyết bảo vệ trật tự xã hội tư sản Dẫu chưa thể đoạn tuyệt hẳn với một số hạn hẹp có tính lịch sử, nhưng điều đó hoàn toàn không ngăn J.S.Mill trở thành nhà tư tưởng dũng cảm, táo bạo, mới mẻ và tiến bộ trong lịch sử tư tưởng triết học Do đó, nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill
Trang 9là công việc nhằm chắt lọc những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại
Đổi mới và phát triển tư duy là một quá trình liên tục, phải luôn cần có yếu tố kế thừa Như Ph.Ăngghen đã viết: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … Nhưng tư duy
lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [28, tr.489, 487]
Xuất phát từ những ý nghĩa nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài
“Triết học chính trị của John Stuart Mill - giá trị và bài học lịch sử” làm
Luận án Tiến sĩ của mình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
J.S.Mill là một nhà tư tưởng bách khoa, có nhiều tác phẩm luận bàn đến nhiều lĩnh vực, như chính trị, đạo đức, kinh tế, logíc Sự thật suốt một thời gian dài, công việc nghiên cứu về J.S.Mill chưa đánh giá hết tầm quan trọng của ông, nhất là đối với các tác phẩm chính trị và xã hội Điều này được lý giải bởi nguyên do phần nhiều từ những biến cố chính trị của thế kỷ XX Nhiều lá thư của J.S.Mill bị thất lạc trong chiến tranh thế giới thứ hai Triết học J.S.Mill dường như bị quên lãng trong khói lửa hai cuộc đại chiến Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cuộc đời và sự nghiệp của J.S.Mill được đặc biệt quan tâm Các tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhiều công trình nghiên cứu về ông được công bố dồn dập Friedrich A.Hayek (1899 - 1992), một nhà kinh tế học, nhà khoa học chính trị người Anh, cho rằng không có một nhân vật lớn nào của thế kỷ XIX như J.S.Mill phải chờ đến một trăm năm cho lần xuất bản bộ sưu tập đầy đủ các tác phẩm [dẫn theo
118, tr.8] Sự quan tâm và đánh giá của giới học thuật về J.S.Mill cũng như về các tác phẩm của ông minh chứng cho sức sống một triết gia lớn và một học thuyết giá trị
Trang 10Nhà xuất bản Đại học Toronto - Canada (University of Toronto Press)
đã xuất bản một số tác phẩm của J.S.Mill từ những năm 1950, ấn hành lần đầu
tiên Toàn tập tác phẩm (gồm 33 tập) của ông từ năm 1963 Toàn tập John
Stuart Mill (The Collected Works of J.S.Mill)3 được biên tập bởi Hội đồng biên tập từ Khoa Nghệ thuật và Khoa học của trường Đại học Toronto (the Faculty of Arts and Science of the University of Toronto) Tổng biên tập của Hội đồng là ông John M.Robson, giáo sư Anh ngữ của trường Đại học Toronto
Mục đích chính của ấn bản Toàn tập là trình bày một cách đầy đủ toàn
bộ tác phẩm của J.S.Mill, mà trong đó một số tác phẩm đã từng được xuất bản
riêng lẻ Bên cạnh đó, Toàn tập John Stuart Mill cũng nhằm cung cấp các văn
bản chính xác của một số tác phẩm trước đó chưa từng được công bố hoặc
tương đối khó tiếp cận Với 33 tập, Toàn tập tập hợp trọn vẹn các tác phẩm
của J.S.Mill ở những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, những lá thư trao đổi giữa J.S.Mill và nhiều nhân vật cùng thời
Quá trình xuất bản Toàn tập John Stuart Mill nhận được sự hỗ trợ rất
lớn của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Canada (Social Sciences and Humanities Research Council of Canada), nhận được sự hợp tác của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực triết học, chính trị, kinh tế chính
trị, ngôn ngữ, lịch sử Với những thuận lợi đó, Toàn tập John Stuart Mill là
một ấn bản công phu, kỹ lưỡng và có giá trị khoa học Hầu như trong mỗi tập, trước phần văn bản tác phẩm thường có phần giới thiệu sơ lược về chính tác phẩm đó Phần giới thiệu này tuy ngắn gọn nhưng cung cấp cho người đọc một cách nhìn tổng quan về từng tác phẩm của J.S.Mill Vì thế, có thể nói,
Toàn tập John Stuart Mill là một nguồn tham khảo vô cùng quý giá cho
nghiên cứu sinh thực hiện đề tài Luận án Tiến sĩ
Tuy nhiên, trong những tác phẩm của J.S.Mill, hiện nay, chỉ có hai tác
phẩm được dịch ra tiếng Việt Đó là Bàn về tự do (bản dịch của Nguyễn Văn
Trang 11Trọng, nhà xuất bản Tri thức ấn hành) và Chính thể đại diện (Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích) Bàn về tự do và
Chính thể đại diện là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác phong
phú của J.S.Mill Những bản chuyển ngữ của hai dịch giả Nguyễn Văn Trọng
và Bùi Văn Nam Sơn, cũng có thể đánh giá, là những bản dịch công phu, kỹ lưỡng và tỉ mỉ Hai tác phẩm dịch đó, trước hết, là tài liệu sách rất quan trọng
hỗ trợ trực tiếp cho quá trình nghiên cứu của tác giả luận án Sau nữa, hai tác phẩm được dịch phần nào chứng tỏ sức hấp dẫn từ tư tưởng của một triết gia thế kỷ XIX
Bàn về tự do (1859) là một luận văn nổi tiếng, được xem như bản
“tuyên ngôn” của J.S.Mill thuyết trình cho chủ nghĩa tự do Tác phẩm được kết cấu thành 5 chương nên nó là một luận văn nhỏ gọn Tuy khiêm tốn về số
trang nhưng Bàn về tự do lại chứa đựng nhiều tư tưởng giá trị và ý nghĩa,
trong đó có những quan điểm vẫn luôn phù hợp với thời đại hiện nay Trong tác phẩm, J.S.Mill đã nêu ra và phân tích những vấn đề nổi bật như tự do cá nhân, mối quan hệ giữa tự do cá nhân và xã hội Từ đó, J.S.Mill nhấn mạnh tự
do như điều kiện cần thiết cho sự phát triển hoàn thiện của con người cá nhân
Bằng tác phẩm Bàn về tự do, tư tưởng của J.S.Mill có sức ảnh hưởng lớn đối
với lịch sử triết học chính trị cận đại, và bản thân nó cũng trở thành một
quyển sách kinh điển về triết học chính trị Sau một thế kỷ rưỡi, Bàn về tự do
vẫn còn là đối tượng được trích dẫn và bàn luận trong các nghiên cứu hiện đại Điều đáng chú ý là tác phẩm này đã được người Nhật dịch và xuất bản ngay từ năm 1871 với hàng triệu ấn bản, và rất được các nhà duy tân Nhật Bản coi trọng
Nếu như Bàn về tự do ngắn về số trang thì Chính thể đại diện là một tác
phẩm khá dày dặn, với kết cấu 18 chương Là một trong những kiệt tác của
triết học chính trị thực chứng, Chính thể đại diện (1861) đã làm sáng tỏ bức
tranh chính trị sinh động của xã hội tư sản thời kỳ cận đại Tác phẩm là những
Trang 12khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị - xã hội ở các nước Anh và Hoa Kỳ thế kỷ XIX Với tinh thần khách quan khoa học, mọi phán xét J.S.Mill đưa ra đều có căn cứ lập luận rõ ràng và dựa trên những
bằng chứng thực tế đương thời hay lịch sử Vì vậy, tác phẩm Chính thể đại
diện cung cấp tri thức khả tín để hiểu được cơ sở cũng như bản chất của nền
dân chủ phương Tây
Với số lượng hai tác phẩm đã được dịch, có thể nói, J.S.Mill vẫn còn là một cái tên chưa phổ biến, chưa được đề cập đến nhiều trong các công trình nghiên cứu lịch sử triết học ở nước ta hiện nay Cùng là triết gia phương Tây, nhưng nếu so sánh với Th.Hobbes, J.Locke, hay Montesquieu thì J.S.Mill hãy còn là một nhân vật mới mẻ
Đối với số ít tài liệu tiếng Việt nghiên cứu về J.S.Mill, cần thiết nói đến
quyển Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida của Forrest E.Baird,
(Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch) Đây là một công trình nghiên cứu khá công phu về triết học, với sự phân kỳ từng giai đoạn lịch sử, gắn liền với một số đại diện tiêu biểu cho từng giai đoạn đó Quyển sách có kết cấu 6 phần, tương ứng với mỗi phần là một giai đoạn cụ thể Trong phần V - Triết học thế kỷ XIX, tác giả quyển sách đã đề cập đến J.S.Mill Khi nghiên cứu về J.S.Mill, tác giả Forrest E.Baird đã trình bày được đôi nét về tiểu sử của ông Đồng thời, tác giả cũng sơ lược giới thiệu về đạo đức học công lợi của J.S.Mill Sự trình bày của Forrest E.Baird
bám sát các chương trong tác phẩm Chủ nghĩa công lợi: một là, nhận xét tổng
quát; hai là, thuyết công lợi là gì; ba là, sự tán thành tối hậu nguyên tắc công lợi; bốn là, có thể có loại chứng minh nào cho nguyên tắc công lợi; năm là, về
sự liên hệ giữa công bằng và lợi ích Nói chính xác hơn, tác giả đã giới thiệu
sơ lược về nội dung của tác phẩm Chủ nghĩa công lợi Vậy nên, Tuyển tập
danh tác triết học từ Plato đến Derrida mới chỉ tiếp cận J.S.Mill ở khía cạnh
một nhà đạo đức học công lợi; chứ chưa đề cập đến triết học chính trị của J.S.Mill
Trang 13Nghiên cứu triết học thông qua các chủ đề riêng biệt, Lịch sử triết học
và các luận đề của Samuel Enoch Stumf (Nxb Lao động, Hà Nội, 2004, Đỗ
Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch) cũng dành hẳn một phần không nhỏ nghiên cứu J.S.Mill Quyển sách được chia thành 8 chương với các chủ đề khác nhau Trong đó, chương VI là phần viết về J.S.Mill Ngoài việc tóm lược tiểu sử J.S.Mill, quyển sách đã nêu lên quan niệm của ông về tự do, dù hết sức ngắn
gọn Lịch sử triết học và các luận đề là một tài liệu nghiên cứu triết học bổ
ích, nhưng lại chỉ dành cho J.S.Mill một phần viết rất khiêm tốn
Bên cạnh Lịch sử triết học và các luận đề, thì quyển Câu chuyện triết
học của Bryan Magee (Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003, Huỳnh Phan Anh và
Mai Sơn dịch) là một tác phẩm thành công khi thể hiện lịch sử triết học như một dòng chảy từ cổ đại đến hiện đại Với cách trình bày đó, J.S.Mill xuất hiện trong phần viết về các triết gia thuyết công lợi Vì trình bày lịch sử triết học một cách khái quát nên quyển sách khó có thể chuyên sâu nghiên cứu tư
tưởng của J.S.Mill Và tài liệu này, cũng giống như quyển Tuyển tập danh tác
triết học từ Plato đến Derrida, vẫn quan tâm đến đạo đức học công lợi của
J.S.Mill nhiều hơn
Nhập môn triết học phương Tây (Samuel Enoch Stumf, Donal C.Abel,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, Lưu Văn Hy biên dịch) cũng là một tài liệu chuyên sâu nghiên cứu triết học Quyển sách được nhóm tác giả viết thành 7 phần với 31 chương Không viết về triết học như một dòng chảy lịch
sử, quyển sách đã nghiên cứu triết học thông qua các luận đề (như triết học về tôn giáo, triết học về tri thức, đạo đức học, triết học chính trị và xã hội, siêu hình học, bản ngã cá nhân và sự bất tử) Ở cả hai luận đề về đạo đức học và triết học chính trị, J.S.Mill đều được bàn luận đến Trong quyển sách này, tiểu
sử của J.S.Mill cũng được giới thiệu vắn tắt Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã trình bày khái quát nội dung chính trong tư tưởng tự do của J.S.Mill Thông qua sự trình bày đó, độc giả có thể có một cái nhìn chung nhất về tư tưởng tự
Trang 14do của ông với các quan điểm như: nguyên tắc về quyền tự do; tự do ý kiến,
tự do tư tưởng và tự do thảo luận; tự do diễn tả cá tính như một yếu tố của hạnh phúc; các giới hạn của quyền bính, của xã hội và cá nhân Hầu như sự trình bày ở đây chỉ là nêu lại các quan điểm của J.S.Mill, mà ít có sự phân tích
và đánh giá dưới nhiều góc độ
Như vậy, dễ nhận thấy triết học chính trị của J.S.Mill là một đề tài nghiên cứu chưa nhiều ở Việt Nam, do vậy có rất ít tài liệu bàn luận về nó Số
ít tài liệu bằng tiếng Việt thì chủ yếu là những công trình của các tác giả nước ngoài đã được chuyển ngữ Trong số tài liệu này, J.S.Mill thường được xếp vào phần nghiên cứu các nhà đạo đức học Điều này không phải không hợp
lý, bởi lẽ J.S.Mill thực chất là một nhà đạo đức học công lợi Tuy nhiên, không chỉ là nhà nghiên cứu đạo đức, J.S.Mill còn là nhà triết học chính trị đại diện cho tư tưởng chính trị tư sản pháp quyền thế kỷ XIX ở Anh Và dường như, J.S.Mill ít được biết đến với tư cách này
Đề tài “Quan điểm về tự do trong Bàn về tự do của John Stuart Mill” là
luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Hải Hoàng, bảo vệ năm 2008 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Luận văn đã bước đầu nghiên cứu triết học chính trị của John Stuart Mill ở quan điểm về tự do cá nhân Tác giả đã khá thành công khi chỉ ra các điều kiện hiện thực dẫn đến sự phát triển của phong trào giải phóng con người ở phương Tây thế kỷ XVIII - XIX Tuy nhiên, luận văn mới chỉ dừng lại ở sự tiếp cận một vấn đề trong một tác phẩm
cụ thể của J.S.Mill
Về tài liệu tiếng nước ngoài, The liberal self: John Stuart Mill’s moral
and political philosophy (Wendy Donner, Cornell University Press, London,
1991) là một trong những quyển sách bàn luận khá cụ thể về J.S.Mill cùng những quan điểm, tư tưởng của ông Trong khi trình bày về tư tưởng của J.S.Mill, tác giả Wendy Donner luôn đặt J.S.Mill trong mối liên hệ đối chiếu với J.Bentham Quyển sách đã chỉ ra một luận điểm quan trọng rằng: “Vấn đề
Trang 15tự do và phát triển cá nhân là một trong những chủ đề phổ biến nhất của triết học chính trị và triết học đạo đức của J.S.Mill”4
[72, tr.142] Song, tác phẩm
The liberal self vẫn nghiêng về trình bày quan điểm đạo đức công lợi của
J.S.Mill còn tư tưởng chính trị của ông thì mờ nhạt hơn
Cũng chủ yếu bàn về tư tưởng đạo đức công lợi của J.S.Mill, nhưng
Since Socrates của các tác giả Robert C.Solomon và Clancy Martin,
(Thomson Wadsworth press, New York, 2005) đã có cố gắng làm rõ nhiều
vấn đề của thuyết công lợi Since Socrates được thiết kế như một cuốn sách
ngắn gọn, dễ dàng tra cứu trong quá trình đọc Nó bắt đầu nghiên cứu lịch sử
tư tưởng từ thời cổ đại, trung cổ, cận đại đến thế kỷ XX Qua sự đánh giá thuyết công lợi của J.S.Mill, các tác giả cũng phần nào gợi mở về triết học chính trị của ông
Là một tác phẩm nghiên cứu triết học, Philosophy made simple (A
made simple book, 1993) là một tài liệu hữu ích dành cho sinh viên bắt đầu khóa học về triết học và những học viên nghiên cứu triết học như là một học phần bổ trợ trong các khóa học như xã hội học, giáo dục học, ngôn ngữ học, thần học và tâm lý học Quyển sách đã dành hẳn chương 2 (chapter two) để bàn về triết học chính trị Bên cạnh những tên tuổi như Plato, Th.Hobbes, J.Locke, C.Mác thì J.S.Mill được nhắc đến như một nhà triết học chính trị tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng thế giới Quyển sách đã tập trung phân tích các quan điểm của J.S.Mill về bản chất của nền dân chủ, về sự bổ sung của J.S.Mill so với tư tưởng dân chủ của J.Locke Ngoài vấn đề trên, quyển
Philosophy made simple vẫn chưa trình bày đến những quan điểm chủ đạo
khác của triết học chính trị J.S.Mill như vấn đề quyền lực nhà nước, các cơ quan cấu thành bộ máy quyền lực đó
Great political thinhkers (Oxford University Press, New York, 1992) là
một tác phẩm nghiên cứu tập hợp bốn nhà triết học chính trị, gồm N.Machiavelli, Th.Hobbes, J.S.Mill, C.Mác Trong phần viết về J.S.Mill, tác
Trang 16giả William Thomas lần lượt đi theo từng tiểu mục thời ấu thơ, sự giáo dục
thủa nhỏ, kinh tế chính trị học Như vậy, quyển sách Great political thinhkers
giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của J.S.Mill nhiều hơn là phân tích và đánh giá về tư tưởng của ông Tuy nhiên, một cách ngắn gọn thì tác giả William Thomas cũng đã nêu lên một nhận định quan trọng rằng J.S.Mill là “giáo chủ” (schoolmaster) của chủ nghĩa tự do Thông qua một số kết luận trong quyển
Great political thinhkers, J.S.Mill hiện lên như một nhân vật quan trọng của
lịch sử tư tưởng thế kỷ XIX, một nhà triết học chính trị tiêu biểu của thời đại
Ngoài ra, có thể kể thêm một số quyển viết về J.S.Mill như: J.S.Mill
của tác giả Alan Ryan, xuất bản năm 1974, (Routledge & Kegan Paul Ltd,
London xuất bản); J.S.Mill của John Skorupski, xuất bản năm 1989,
(Routledge, London, New York xuất bản) Đây là những tài liệu viết về J.S.Mill ngay từ những thập niên 70, thập niên 80 của thế kỷ trước Bản thân hai tác giả Alan Ryan và John Skorupski cũng đều là những tên tuổi nổi tiếng trong giới nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về J.S.Mill
Nếu như ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về J.S.Mill còn rất ít, thì ở các nước phương Tây (như Mỹ, Anh, Pháp), J.S.Mill là một nhân vật có sức hấp dẫn lớn trong nghiên cứu triết học nói chung cũng như triết học chính trị nói riêng Nhìn chung, một số tài liệu tiếng Anh kể trên đã nghiên cứu về tư tưởng của J.S.Mill, nhưng chỉ là sự tiếp cận một cách tổng thể, khái quát nhất
Về cơ bản, các tài liệu này cũng chỉ chú trọng về tư tưởng đạo đức học J.S.Mill nhiều hơn Một số tài liệu nghiên cứu riêng về triết học chính trị J.S.Mill thì lại chưa bao quát được nhiều luận điểm cơ bản trong triết học chính trị của ông
Bên cạnh một số ấn phẩm sách, có thể tra cứu và tìm hiểu về J.S.Mill qua một số địa chỉ website như:
- http://vi.wikipedia.org/wiki/John_Stuart_Mill
- http://en.wikipedia.org/wiki/John_Stuart_Mill
Trang 17có thể xem Luận án này là sự nỗ lực đầu tiên trong việc trình bày và hệ thống hóa triết học chính trị của J.S.Mill Và cũng vì thế, quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận án không thể tránh khỏi những khó khăn, những thiếu sót nhất định
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
Trình bày triết học chính trị J.S.Mill với tư cách một hệ thống, đánh giá những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của hệ thống triết học này; từ đó, gợi
mở và liên hệ đến một số vấn đề thực tiễn của xã hội đương đại
Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát cuộc đời và sự nghiệp của J.S.Mill, trong đó nêu
bật lên sự hình thành triết học chính trị của ông
Trang 18Thứ hai, trình bày và phân tích nội dung cơ bản trong triết học chính trị
J.S.Mill, gồm năm vấn đề: tự do cá nhân, bình quyền phụ nữ, tiêu chuẩn đánh giá hình thức chính thể, chức năng của các cơ quan quyền lực hợp thành chính thể đại diện, dân chủ với quyền bầu cử
Thứ ba, phân tích những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của triết học
chính trị J.S.Mill
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản trong triết học chính trị của J.S.Mill Mặc dù sự nghiệp sáng tác của J.S.Mill rất phong phú với một khối lượng không nhỏ các tác phẩm, nhưng triết học chính trị của ông được
thể hiện tập trung nhất trong Bàn về tự do và Chính thể đại diện Do đó, khi
trình bày về triết học chính trị của J.S.Mill, luận án chủ yếu khảo cứu những tác phẩm này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, luận
án còn kết hợp phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cái mới của luận án
Thứ nhất, luận án trình bày một cách hệ thống triết học chính trị
J.S.Mill và chỉ ra những nội dung cơ bản trong triết học chính trị của ông
Thứ hai, luận án phân tích và rút ra những giá trị, bài học lịch sử của
triết học chính trị J.S.Mill trong vấn đề tự do cá nhân, quyền lực nhà nước, dân chủ, bầu cử, giáo dục và giải phóng phụ nữ
Thứ ba, luận án cũng chỉ rõ những hạn chế của triết học chính trị
J.S.Mill thể hiện ở tính chủ quan, thiếu nhất quán và thiếu một cơ sở thực tiễn thể hiện ở quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân
Trang 197 Ý nghĩa khoa học của luận án
Về ý nghĩa lý luận, luận án trình bày một cách hệ thống và cụ thể nội dung cơ bản của triết học chính trị J.S.Mill Trên cơ sở đó, luận án nêu bật và đánh giá vị trí triết học chính trị của ông trong triết học chính trị nhân loại Đồng thời, luận án góp thêm một cách tiếp cận về triết học chính trị phương Tây thời kỳ cận đại
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án rút ra những bài học lịch sử của triết học chính trị J.S.Mill, gồm: bài học về phát huy vai trò của giáo dục, bài học về đề cao quyền bình đẳng giới, bài học về xây dựng hình thức chính thể dựa trên nền tảng là lợi ích của người dân và bài học về xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp Những bài học này, khi được vận dụng, sẽ phát huy hiệu quả cao trong cộng đồng và xã hội, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời, luận án khi hoàn thành có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill nói riêng, cũng như triết học phương Tây nói chung
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Điều kiện, tiền đề hình thành và quá trình phát triển triết học chính trị John Stuart Mill
Gồm hai tiết (chia thành bốn tiểu tiết):
1.1 Điều kiện lịch sử, tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị John Stuart Mill 1.2 Quá trình chuyển biến triết học chính trị của John Stuart Mill
Chương 2: Nội dung triết học chính trị John Stuart Mill
Gồm hai tiết (chia thành năm tiểu tiết):
2.1 Vấn đề tự do trong triết học chính trị John Stuart Mill
Trang 202.2 Chính thể và quyền lực hợp thành chính thể trong triết học chính trị John Stuart Mill
Chương 3: Giá trị và hạn chế trong triết học chính trị John Stuart Mill
Gồm hai tiết (chia thành sáu tiểu tiết):
3.1 Giá trị và hạn chế của triết học chính trị John Stuart Mill
3.2 Bài học lịch sử từ triết học chính trị John Stuart Mill
Trang 21PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL
1.1.1 Điều kiện lịch sử hình thành triết học chính trị John Stuart Mill
John Stuart Mill (1806 - 1873) là triết gia và nhà hoạt động chính trị nổi tiếng nước Anh thế kỷ XIX Tư tưởng của J.S.Mill mang đậm dấu ấn thế kỷ XIX Hay nói cách khác, xã hội nước Anh thời đó đã tác động sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng J.S.Mill
Đầu thế kỷ XIX, Anh đã trở thành một nước công nghiệp thực thụ Cảnh sống điền viên trước đây không còn nữa Thay vào đó là một đời sống công nghiệp nhộn nhịp, với những chuyển biến kinh tế từ nông thôn đến thành thị Công nghiệp đã trở thành mạch máu của đất nước Bước chuyển quan trọng trong lĩnh vực kinh tế của nước Anh được khai mở bởi cuộc cách mạng công nghiệp Từ nửa sau thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp nổ ra ở Anh, đánh dấu một bước ngoặt trong phát triển sản xuất Cuộc cách mạng này sau đó phát triển lan rộng ra toàn thế giới, ảnh hưởng tới vận mệnh của nhân loại, cuối cùng thay đổi hướng đi của lịch sử Đó là cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới5
“Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với nước Pháp và cuộc cách mạng triết học đối với nước Đức” [24, tr.348]
Cuộc cách mạng công nghiệp đã thay đổi căn bản diện mạo của nước Anh, một quốc gia khiêm tốn về diện tích trên bản đồ thế giới Năm 1780, sản lượng sắt của Anh không bằng Pháp Đến năm 1848, Anh đã vượt tổng sản lượng sắt của tất cả các nước trên thế giới, chiếm 2/3 tổng sản lượng than, 1/2
Trang 22sản lượng vải bông trên thế giới Giá trị tổng sản phẩm quốc dân từ năm 1801
- 1851 tăng 125,6%, từ năm 1851 - 1901 tăng 213,9% [15, tr.196-197] Nước Anh nhanh chóng trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới Năng lực sản xuất của nước Anh còn mạnh hơn tổng sản lượng công nghiệp của tất cả các quốc gia khác trên thế giới
Năm 1851, nước Anh tổ chức hội nghị triển lãm thế giới ở trung tâm London6 Sản phẩm trưng bày của nước Anh chủ yếu là hàng công nghiệp, còn sản phẩm của nước ngoài phần lớn là hàng nông nghiệp và thủ công nghiệp Bằng cuộc triển lãm quy mô, nước Anh dường như muốn tuyên bố với toàn thế giới rằng nó đã bước vào thời đại công nghiệp, đứng đầu thế giới
về công nghiệp Với một nền kinh tế có sức mạnh tăng trưởng vượt trội, nước Anh thế kỷ XIX được gắn danh hiệu “đế quốc thứ nhất” của thời kỳ tư bản chủ nghĩa
J.S.Mill sinh ra tại London và phần nhiều cuộc đời ông đã trải nghiệm tại thành phố phát triển sầm uất bậc nhất thế giới này Những bước tiến như
vũ bão của nền kinh tế Anh thế kỷ XVIII - XIX đã tác động rất lớn đến sự hình thành một thế hệ những nhà kinh tế học tiêu biểu, trong đó có J.S.Mill Không phải ngẫu nhiên khi J.S.Mill trở thành nhân vật kế tục xuất sắc truyền thống kinh tế học cổ điển Anh giai đoạn cận đại Và chính những nhận định sâu sắc của J.S.Mill về kinh tế sẽ hộ trợ ông rất nhiều trong lĩnh vực triết học chính trị Thế nên, dễ hiểu khi tư tưởng kinh tế chính trị, triết học chính trị của J.S.Mill tuy bao quát nhưng vẫn rất nhạy bén
Cách mạng công nghiệp đã khiến nền kinh tế Anh phát triển nhanh chóng, đồng thời cũng làm biến đổi kết cấu xã hội nước này một cách rõ rệt Ph.Ăngghen từng viết: “Cuộc cách mạng mà hiện nay người ta chỉ vừa mới bắt đầu nhận thức được ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của nó thì đồng thời nó cũng đã làm biến đổi toàn bộ xã hội công dân” [24, tr.331] Sau cách mạng công nghiệp, các giai cấp trong xã hội có sự chuyển biến không đồng nhất
Trang 23Máy móc ra đời đã ảnh hưởng mạnh đến đời sống của tầng lớp thợ thủ công, khiến họ bị đào thải Với sự ứng dụng máy móc vào sản xuất, từng ngành, từng nghề được cơ giới hóa và được công xưởng hóa Do đó, hàng loạt thợ thủ công của nhiều ngành nghề bị mất việc làm Nước Anh khi này xuất hiện ngày càng nhiều người thất nghiệp Số thợ thủ công còn có việc làm thì đời sống sinh hoạt cũng khá eo hẹp, khó khăn và thiếu thốn Tình trạng đó khiến phụ nữ và trẻ em cũng phải tìm kiếm việc làm, thậm chí chấp nhận cả những công việc nặng nhọc ở nhà máy, để mưu sinh qua ngày Đây chính là
cơ sở thực tế lý giải vì sao bình đẳng giới trở thành vấn đề được quan tâm trong triết học của J.S.Mill
Nếu như tầng lớp thợ thủ công đứng trước nguy cơ diệt vong thì một giai tầng mới sẽ ra đời thay thế nó Cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời của một giai cấp mới là giai cấp công nhân Nói cách khác, công nhân công xưởng là sản phẩm của nền đại công nghiệp Trong cuộc cách mạng công nghiệp, họ trải qua một quá trình phát triển từ không đến có, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn Nhưng, thực tế đời sống công nhân rất khó khăn
và khổ cực Họ bị chủ xưởng bóc lột nặng nề Công nhân làm việc trên 10 giờ trong một ngày, tiền công thấp, kỷ luật lao động nghiêm khắc, điều kiện làm việc thiếu an toàn Tình trạng nan giải đó khiến cho giai cấp công nhân có những đòi hỏi rất bức thiết về quyền lợi kinh tế cũng như quyền lợi chính trị Trong hầu hết các nhà máy đã hình thành công đoàn hay những hiệp hội để công nhân hỗ trợ lẫn nhau
Ngược lại với sự bần cùng hóa của giai cấp công nhân lao động nghèo khổ là quá trình giàu lên nhanh chóng của những chủ xưởng, hay những ông chủ tư bản Bằng vị trí kinh tế và địa vị xã hội thuận lợi, giai cấp tư sản đã làm giàu thông qua việc bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê Sự đối nghịch đó tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội tư bản Anh thế kỷ
Trang 24XIX nói riêng, cũng như xã hội tư bản phương Tây nói chung Đó là những mâu thuẫn cụ thể về lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị
Như vậy, có thể thấy, đại cách mạng công nghiệp đã tích tụ được khối lượng tài sản khổng lồ Tuy nhiên, sự phân phối tài sản không đồng đều đã tạo nên trạng thái căng thẳng trong xã hội và mâu thuẫn gay gắt giữa các giai cấp Tình hình kinh tế - xã hội đó đã tạo điều kiện và tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị Anh thế kỷ XIX
Chính trị nước Anh thế kỷ XIX được gọi là thời đại cải cách nghị viện7
Những biến cố xã hội và sự xuất hiện của các giai cấp mới khiến cho thể chế chính trị cũ không còn phù hợp Hiện thực xã hội đòi hỏi phải thay đổi chế độ tuyển cử, để mọi giai cấp đều có quyền lợi chính trị tương xứng Đó chính là tính tất yếu lịch sử của cải cách nghị viện
Từ thế kỷ XIII, nghị viện đã được thành lập ở Anh Nghị viện Anh gồm hai viện: thượng viện (viện nguyên lão) và hạ viện (viện dân biểu) Thượng viện được quyền kế thừa, cha truyền con nối; còn hạ viện phải thông qua những cuộc bầu cử nghiêm ngặt Sau cách mạng quang vinh (1688), chế độ quân chủ lập hiến Anh được xác lập, quyền lực nghị viện trở thành trung tâm Bản thân nghị viện cũng chia thành hai phái Hai phái này về sau được mệnh danh bằng hai tên gọi mang tính vĩnh cửu: đảng Whig (tiền thân của đảng Tự do) và đảng Tory (tiền thân của đảng Bảo thủ) Chế độ chính đảng của nước Anh bắt đầu lộ diện Đảng Whig đại diện cho quyền lợi của bộ phận quý tộc giàu có nhờ mua tài sản, đất đai phong kiến trong thời cách mạng và có liên
hệ chặt chẽ với đại tư sản thương nghiệp hay chủ ngân hàng Còn đảng Tory thể hiện quyền lợi của đại địa chủ Hai đảng thay nhau phụ trách công việc quản lý nhà nước, cạnh tranh nhau để chiếm ưu thế về số ghế trong nghị viện Tuy nhiên, sau cuộc cách mạng 1688, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản vẫn
là một liên minh chính trị bền vững Vậy nên, cả hai đảng đều bảo vệ quyền
Trang 25lợi của giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc, cố gắng duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị
Chế độ tuyển cử cũ của Anh tồn tại những bất cập về phân phối nghị sĩ, khu vực tuyển cử và tư cách quyền bầu cử Những hạn chế như phân phối ghế nghị viện không hợp lý, quyền bầu cử bị giới hạn, thủ đoạn bầu cử hủ bại đều được cải thiện và khắc phục từng bước thông qua cải cách
Năm 1789, cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, gây tiếng vang lớn đối với thế giới Khi cách mạng Pháp mới bùng nổ, dư luận trong và ngoài chính phủ Anh đều ủng hộ, cho rằng nó thể hiện được lý tưởng chính trị Anh Nhưng không bao lâu, tầng lớp trên thay đổi thái độ Họ lo ngại biến cố chính trị của nước Pháp uy hiếp đến chế độ nước Anh Đặc biệt, thời kỳ chuyên chính Gia-cô-banh (Jacobin) ở Pháp đã làm tầng lớp trên ở Anh chuyển hẳn sang khuynh hướng bảo thủ Chính phủ đảng Tory tiến hành trấn áp yêu cầu cải cách của quần chúng, với mục đích nhằm ngăn chặn bạo loạn Thế nhưng, ánh sáng cách mạng Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiệt tình chính trị của quần chúng nhân dân Đại cách mạng tư sản như mang một thông điệp khuyến khích quần chúng lao động bình thường cũng có thể tham gia chính
sự Điều đó khiến phong trào cải cách nghị viện càng trở nên rầm rộ
Phong trào cải cách bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XIX, với sự tham gia của nhiều tầng lớp, như chủ đất nhỏ, thợ thủ công, công nhân Ngày 16/11/1830, lãnh tụ đảng Whig tổ chức chính phủ, lập tức định ra phương án cải cách Đến ngày 1/3/1831, đảng Whig công bố phương án cải cách Trải qua một thời gian đấu tranh kịch liệt, ngày 7/6/1832, Luật cải cách được nhà vua ký, chính thức có hiệu lực Cải cách nghị viện lần thứ nhất đã thành công
Nó mở rộng quyền bầu cử cho bộ phận tầng lớp trung lưu mới nhằm giảm bớt căng thẳng chính trị trong xã hội Số cử tri nước Anh từ 48,8 vạn tăng lên 80,8 vạn; chiếm từ 2% dân số tăng lên thành 3,3% [15, tr.219]
Trang 26Nhưng sau cải cách không lâu, xuất phát từ sự bất mãn, giai cấp công nhân phát động phong trào Hiến chương rầm rộ Lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân trên toàn thế giới vẫn luôn nhắc nhở đến sự kiện Hiến chương Anh như một tấm gương điển hình cho lòng dũng cảm của giai cấp đó khi vừa mới ra đời Mục đích trước nhất của phong trào Hiến chương là tiến hành cải cách nghị viện triệt để, khiến nghị viện thực sự đại diện cho nhân dân, trong
đó có giai cấp công nhân
Cương lĩnh của phong trào Hiến chương tập trung trong bản “Hiến chương nhân dân”, với sáu điều khoản8
thể hiện rất rõ lợi ích nhân dân, thể hiện rõ cách thức tiến hành nghị viện Sau ba cao trào (từ 1836 - 1858), phong trào Hiến chương kết thúc và không đạt được mục đích chung cuộc Tuy nhiên, phong trào Hiến chương vẫn là một dấu ấn đậm nét của chính trị Anh thế kỷ XIX Như V.I.Lênin từng đánh giá, phong trào Hiến chương là “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị” [21, tr.365]
Lịch sử chính trị Anh tiếp tục ghi dấu ấn bằng cuộc cải cách nghị viện lần thứ hai năm 1867 Cải cách nghị viện lần thứ hai đã mở rộng hơn nhiều quyền bầu cử, đem lại quyền đi bầu cho người lao động ở các đô thị, đặc biệt
là giai cấp công nhân cơ bản (ngoại trừ công nhân mỏ và công nhân nông nghiệp) Số cử tri tại Anh khi đó tăng lên rõ rệt Hai lần cải cách nghị viện thế
kỷ XIX đã làm thay đổi rất nhiều tình hình chính trị nước Anh Cũng chính những lần cải cách nghị viện đã thu hút được sự quan tâm lớn của cha, con James Mill và J.S.Mill Có thể thấy, cải cách nghị viện là sợi dây xuyên suốt trong nền chính trị nước Anh thế kỷ XIX
Như vậy, bằng cuộc cách mạng công nghiệp và phong trào cải cách chính trị, nước Anh bước vào một giai đoạn lịch sử được miêu tả như là thời đại cổ điển của thế kỷ XIX Đó là thời đại Victoria9, thời đại cải cách Tại London náo nhiệt, J.S.Mill chứng kiến rõ nhất những cải cách trong lĩnh vực
Trang 27kinh tế - chính trị - xã hội đã và đang làm thay đổi diện mạo của chủ nghĩa tư bản qua từng ngày Như J.S.Mill từng viết năm 1831 rằng, một người “thông qua chuyến đi dạo vòng quanh London, có thể học về lịch sử nước Anh thế kỷ XIX nhiều hơn cả những giai đoạn lịch sử của mười tám thế kỷ trước đó”10
[106, tr.230] Nước Anh thời đại Victoria chính là cơ sở xã hội, nền tảng hình thành triết học chính trị J.S.Mill
Trên thực tế, tất cả những nhà tư tưởng lớn thời đại Victoria đều là những nhà phê phán xã hội Trong đó, “nhà tư tưởng nổi tiếng và lừng danh nhất vào thời đại Victoria chính là J.S.Mill”11
[134, tr.82] Có thể dễ dàng bắt gặp những vấn đề chính trị mang hơi thở thời đại trong các tác phẩm của J.S.Mill như về quyền lực nhân dân, nghị viện, dân chủ, quyền tự do cá nhân J.S.Mill sống trọn vẹn trong thế kỷ cải cách nghị viện Điều đó khiến tư tưởng chính trị của J.S.Mill mang đậm phong cách điển hình của thời đại mình
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị John Stuart Mill
Nước Anh thế kỷ XIX với những biến động lịch sử - chính trị dữ dội đã tác động rất lớn đến sự hình thành tư tưởng J.S.Mill Và đặt trong dòng chảy chung của lịch sử, triết học chính trị của J.S.Mill như là một sự nối tiếp mạch nguồn tư tưởng trước đó Nói cách khác, với tư cách là học thuyết lý luận thì triết học chính trị của J.S.Mill không thể không kế thừa những tư tưởng của
quá khứ Trong cuốn Tự truyện (Autobiography, 1873), J.S.Mill đã đề cập và
luận bàn về rất nhiều nhà tư tưởng nổi bật trong lịch sử như Plato, Aristotle, Epicurus, Aquinas, Hobbes, Locke, Bentham, Francis Place, James Mill, Smith, Ricardo, Tocqueville, Von Humboldt, Goethe, Coleridge, Saint Simon, Comte Song, khi nói về tiền đề lý luận dẫn đến hình thành triết học J.S.Mill, luận án chỉ giới hạn bàn về tiền đề lý luận trực tiếp
Những tiền bối trực tiếp tác động đến tư tưởng của J.S.Mill là John Locke, người cha James Mill, nhà đạo đức học Jeremy Bentham, nhà kinh tế
Trang 28học David Ricardo, nhà triết học thực chứng August Comte Về mặt siêu hình học, J.S.Mill kế thừa quan điểm của George Berkeley và David Hume
John Locke (1632 - 1704) là một triết gia Anh nổi tiếng thế kỷ XVII, là một trong những tên tuổi có tầm ảnh hưởng rộng ở giai đoạn cận đại trong triết học phương Tây Tư tưởng của J.Locke có một ảnh hưởng to lớn đến
nhận thức luận và triết học chính trị Trong tác phẩm tiêu biểu nhất là Hai
khảo luận về chính quyền (Two Treatises of Government, 1689), J.Locke đã
nêu ra quan điểm về nguồn gốc nhà nước, đường lối cai trị, nhà nước và các quyền công dân Theo ông, nhà nước được xác lập nhằm bảo đảm các quyền của con người, trong đó có quyền tự do Con người sinh ra tự do và sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách để tồn tại như một chủ thể tự do Như vậy, ở góc độ triết học chính trị, J.Locke đã có nhiều đóng góp vào học thuyết tự do
Các nhà nghiên cứu đánh giá J.Locke là người xác lập học thuyết phân quyền, có ảnh hưởng to lớn đến lý luận nhà nước pháp quyền hiện đại Theo
tư tưởng của J.Locke, hai nhánh quyền lực xã hội là quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu như quyền lập pháp là quyền làm ra luật để quản lý con người trong một quốc gia, nhằm bảo vệ trật tự xã hội thì quyền hành pháp là bảo đảm việc thi hành các luật ấy Đối với J.Locke, tư pháp không phải là một nhánh quyền lực Ông xem chức năng phán xử thuộc về cơ quan hành pháp
Từ rất sớm, J.S.Mill đã đọc các bài Khảo luận của J.Locke Sự quan
tâm đến các vấn đề chính trị của J.S.Mill được khơi nguồn chính từ tác giả
của Khảo luận Và tư tưởng của J.S.Mill, xếp vào tiến trình chung của lịch sử
triết học chính trị, là sự phát triển tiếp nối các triết gia trước đó, mà gần nhất
là J.Locke Thật xác đáng khi nói rằng J.Locke là kiến trúc sư về mặt lý luận cho chế độ dân chủ trong triết học chính trị phương Tây12
[xem 122, tr.70] Ông đã đưa ra những cơ sở chính của lý thuyết dân chủ, như chính phủ luật hóa, quyền tự nhiên, quyền lực của đa số J.Locke nhấn mạnh quyền lực của
đa số như một trong những chủ thuyết cơ bản của chế độ dân chủ Trên cơ sở
Trang 29kế thừa J.Locke, J.S.Mill đã luận giải thêm cho lý thuyết dân chủ bằng cách hướng đến sự khẳng định quyền lực của nhóm thiểu số “Không chính phủ nào được coi là dân chủ khi nó không chú ý đến sự bảo vệ dành cho thiểu số”13
[122, tr.76] J.S.Mill đã thêm vào cái hệ thống mà J.Locke khởi xướng một điều khoản rằng, thiểu số cần phải được bảo vệ để chống lại sự chuyên chế của đa số có thể xảy ra14
[xem 122, tr.81]
Vì không chấp nhận thuyết về quyền tự nhiên, J.S.Mill đã cố gắng chứng minh những giới hạn quyền lực của đa số trên nền tảng công lợi Một cách phác thảo, luận cứ của ông chỉ ra rằng, rốt cuộc, sự can thiệp vào các vấn
đề cá nhân sẽ tỏ ra có hại đối với xã hội dân chủ Sự phát triển khả năng cá nhân và toàn thể công dân trưởng thành sẽ bị ngăn chặn nếu những gì thích hoặc không thích của đa số được cho phép trở nên uy quyền đến mức như luật bất thành văn
J.S.Mill sinh ra và lớn lên trong gia đình có điều kiện rất thuận lợi Cha ông, James Mill (1773 - 1836), là một triết gia, sử gia, nhà tâm lý học, nhà kinh tế học, nhà lý luận giáo dục, đồng thời là nhà luật học và nhà cải cách
chính trị nổi tiếng Sau này, chính J.S.Mill viết trong Tự truyện rằng, sự phát
triển trí tuệ của ông chịu ảnh hưởng lớn từ người cha, ở sự giảng dạy và ở sự định hướng [xem 85, tr.21-22] Thế nên, có thể khẳng định James Mill là người đã tác động tích cực đến sự hình thành tư tưởng của người con, J.S.Mill
James Mill là một nhà tư tưởng có sự ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt học thuật nước Anh cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Những quan điểm và cuộc đời hoạt động của ông đã in dấu ấn lên hành trình tư tưởng của J.S.Mill James từng có thời gian dài làm việc tại công ty Đông Ấn (East India Company) Thế nên, về sau, khi mới 17 tuổi, J.S.Mill đã bắt đầu làm việc tại công ty Đông Ấn, theo sự chỉ bảo của cha
Trang 30James Mill có mối liên hệ rất đặc biệt với Jeremy Bentham Mặc dù giữa họ có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng James Mill vẫn được coi như là
“người bạn đồng minh” quan trọng nhất của J.Bentham Là một nhà diễn giải khôn ngoan, ông đã giúp cho những tư tưởng của J.Bentham trở nên dễ dàng được chấp nhận James Mill đã quyết tâm dành trọn nhiệt huyết của mình để phổ biến những nguyên lý công lợi Và chủ yếu qua những nỗ lực của ông mà J.Bentham cùng chủ nghĩa công lợi tạo được một ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị của Anh [xem 39, tr.235] Có thể thấy, bằng nhiệt huyết của James Mill và tư tưởng của J.Bentham, hệ thống quan điểm của chủ nghĩa công lợi về luật pháp, chính trị, cải cách giáo dục đã thu hút được đông đảo khán giả và những môn đồ ủng hộ Tất nhiên, trong số đó thì J.S.Mill là môn
đồ nhiệt thành nhất
James Mill được đánh giá rất cao trong việc tổ chức và lãnh đạo những nhân vật cấp tiến cùng thời Ông đã cùng bạn bè tập hợp lại thành một nhóm được biết đến với tên gọi Những người cấp tiến về triết học (Philosophic radicals) Và bản thân người con J.S.Mill cũng tham gia vào sự sáng lập và duy trì nhóm học thuật này
Với khả năng nghiên cứu chuyên sâu, James Mill viết bài cho rất nhiều
tờ báo như Anti - Jacobin Review, British Review, The Eclectic Review,
Edinburgh Review, Westminster Review Có lẽ sự nghiệp viết báo của
J.S.Mill, dù ít hay nhiều, đều có sự dẫn dắt và định hướng của cha
Sự nghiệp của James Mill cũng rất phong phú, với những tác phẩm lớn
như: Lịch sử Ấn Anh (The History of British India, 1818); Các nguyên lý kinh
tế chính trị (Elements of Political Economy, 1821); Các bài luận: về Chính phủ, Luật học, Tự do báo chí, Nhà giam và kỷ luật nhà giam, Thuộc địa, Luật quốc gia, Giáo dục (Essays on: Government, Jurisprudence, Liberty of the Press, Prisons and Prison Discipline, Colonies, Law of Nations, Education,
Trang 311828); Những phân tích về hiện tượng của ý thức con người (Analysis of the
Phenomena of the Human Mind, 1829)
Ngòi bút của James Mill khuấy đảo nhiều lĩnh vực từ lịch sử, kinh tế, đến triết học chính trị, đạo đức Điều này đem lại sự hấp dẫn đối với J.S.Mill
Khi còn ấu thơ (1817), cậu bé John từng đọc bản in thử tác phẩm Lịch sử Ấn
Anh (History of British India)15 giúp cha Khi nhớ lại về điều này, J.S.Mill đã
viết trong Tự truyện: “Cuốn sách đã góp phần lớn lao đối với sự giáo dục tôi
là tác phẩm Lịch sử Ấn Anh của cha”16
sự khởi đầu ý nghĩa và đặc biệt Sau này, J.S.Mill đã bày tỏ sự biết ơn dành
cho người cha: “Ông đã hoàn toàn thành công khi bảo vệ tôi khỏi những ảnh hưởng xấu mà ông lo sợ Tôi cũng ngạc nhiên về tri thức mà tôi có được ở độ tuổi của mình”17
[85, tr.35] Cậu bé John được tiếp cận rất sớm những bài học
về tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp, về lịch sử, triết học, kinh tế chính trị,
về văn học và thơ ca
Thông qua việc giáo dục John, James Mill đã xem người con là “bằng chứng sống” chứng minh cho nền tảng những lý luận của ông Tuy nhiên, như J.S.Mill đã chỉ ra rằng, cách giáo dục của cha không phải là sự nhồi nhét, mà
là một phương pháp đem lại hiệu quả rất lớn J.S.Mill tin rằng, cách giáo dục
đó đã tạo điều kiện và khuyến khích ông tư duy về chính mình Với J.S.Mill,
đó là phương pháp hướng đến mục đích: không chỉ trả lời mà còn biết hoài nghi, không chỉ nhận lấy mà còn cho đi, không chỉ ghi nhớ mà còn khám phá18 [xem 85, tr.xi]
Trang 32Sự ảnh hưởng của người cha đối với J.S.Mill hoàn toàn có tính tất yếu
Và khi nói về tiền đề lý luận hình thành triết học chính trị của J.S.Mill, thì trước hết, nền tảng giáo dục mà người cha trang bị là một nhân tố hết sức
quan trọng Chính J.S.Mill, sau này trong Tự truyện, cũng thừa nhận rằng, quá
trình giáo dục đóng vai trò là nền tảng cần thiết cho sự thành công của ông J.S.Mill viết như bày tỏ sự biết ơn thành kính đến cha: “Nếu tôi đã thực hiện được bất cứ điều gì, trong cả những trường hợp may mắn khác, thì thực tế là thông qua sự giáo dục sớm mà cha đã sắp đặt cho tôi, có thể nói rằng tôi đã bắt đầu có lợi thế hơn chúng bạn một phần tư thế kỷ”19
[85, tr.33]
Dễ thấy, bắt đầu từ chính chương trình giáo dục đầy đủ và vất vả này, J.S.Mill như được đổ nền về mặt tri thức để từ đó định hướng và phát triển nhân cách cũng như tài năng Không thể phủ nhận được tầm quan trọng của hành trang tri thức mà J.S.Mill đã được thụ hưởng từ nền giáo dục do người cha sắp đặt Do đó, vai trò của James Mill không chỉ là người cha, người thầy,
mà còn là người bạn, người đồng hành cùng J.S.Mill trong sự nghiệp
Là một triết gia cấp tiến, James Mill có mối quan hệ thân thiết với rất nhiều nhà tư tưởng cùng thời Do đó, ngay từ thủa ấu thơ, J.S.Mill đã được tiếp xúc trực tiếp với quan điểm, tư tưởng của nhiều nhân vật nổi tiếng ở những lĩnh vực khác nhau Nhờ sự quen biết của cha, cậu bé J.S.Mill đã được John Austin20 giảng môn luật học; được nghiên cứu kỹ lưỡng học thuyết đạo đức của Jeremy Bentham, và được David Ricardo giảng môn kinh tế học Như vậy, trong quá trình được giáo dục và tự hoàn thiện học vấn, J.S.Mill đã tiếp nhận rất nhiều ảnh hưởng từ những nhân vật cấp tiến của thời đại
Jeremy Bentham (1748 - 1832) là triết gia, nhà kinh tế học và là cha đẻ của chủ nghĩa công lợi (Utilitarianism) với tư cách là một học thuyết Ông là
nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử nước Anh Năm 1776, Tiểu luận về
việc cai trị (A Fragment on Government), tác phẩm đầu tiên của J.Bentham ra
đời Tác phẩm nhằm chống lại những ngụy biện, những “ngôn từ lộn xộn và
Trang 33vô nghĩa về các quyền tự nhiên của con người” [50, tr.294] Cho nên, J.Bentham chủ yếu là một nhà cải cách Hướng đi triết học của ông vạch sẵn như một con đường nối kết những nguyên lý công lợi với nhiều vấn đề khác của thời đại
J.Bentham để lại rất nhiều tác phẩm cả trên lĩnh vực triết học, luật học,
đạo đức học Trong đó, Dẫn nhập vào các nguyên tắc của đạo đức học và luật
pháp (Introduction to the Principles of Morals and Legislation, 1789) là tác
phẩm tiêu biểu nhất, thể hiện rất rõ quan điểm và các nguyên tắc của
J.Bentham về chủ nghĩa công lợi Ông bắt đầu cuốn Dẫn nhập vào các
nguyên tắc của đạo đức học và luật pháp với câu nói kinh điển: “Tạo hóa đã
đặt con người dưới sự cai trị của hai ông chúa tể, là khổ và sướng Chỉ có
chúng mới cho chúng ta biết phải làm gì, cũng như quyết định chúng ta sẽ làm gì”21
[71, tr.1] Đây là luận điểm cơ bản của chủ nghĩa công lợi Gia tăng niềm vui sướng và tránh nỗi đau khổ là những điều có thể đo đếm được Con người nói chung nên làm những gì hướng tới tối đa hóa niềm vui sướng và tối thiểu hóa đau khổ Khi tính toán về sự vui sướng (lạc thú), J.Bentham chủ yếu quan tâm đến các khía cạnh định lượng của chúng; cho nên mọi hành động đều tốt bằng nhau nếu chúng tạo ra cùng một lượng hạnh phúc như nhau Như thế cũng có nghĩa, J.Bentham đã lấy lượng giá trị để đánh giá kết quả của hành động
Tư tưởng của J.Bentham đã ảnh hưởng rất lớn đến J.S.Mill Sự tiếp xúc với những nguyên tắc về hạnh phúc lớn nhất (the greatest happiness principle) của J.Bentham khiến J.S.Mill thực sự bị thuyết phục Ông đã thổ lộ: “Trong tâm trạng của tôi, tính ưu việt hiển nhiên này đưa đến cảm giác như thêm vào tầm ảnh hưởng của học thuyết Bentham đối với tôi, bằng cách nâng cao ấn tượng của sức mạnh tinh thần Và viễn cảnh về sự tiến triển mà ông đã mở ra
đủ lớn lao và rực rỡ, để thắp sáng cuộc đời tôi, cũng như đưa lại sự xác định cho những khát vọng của tôi”22
[85, tr.71] Xuất phát từ tình cảm đó, với
Trang 34J.S.Mill, những nguyên tắc của chủ nghĩa công lợi trở thành những tín điều tôn giáo
J.S.Mill đã viết tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa công lợi (Utilitarianism)
nhằm mục đích bảo vệ nguyên tắc công lợi mà ông đã học được ở cha ông và J.Bentham Trong tác phẩm, J.S.Mill định nghĩa thuyết công lợi hoàn toàn phù hợp với quan điểm của J.Bentham Ông viết: “Cơ sở của đạo đức là lợi ích, hay nguyên tắc hạnh phúc lớn nhất Điều này có nghĩa, những hành động
là đúng nếu chúng làm gia tăng hạnh phúc, là sai nếu chúng đi ngược lại hạnh phúc”23
[94, tr.210] Tuy nhiên, khi bênh vực thuyết này, ông đã bổ sung nhiều ý tưởng, nhằm làm mới chủ nghĩa công lợi Với J.S.Mill, quan niệm về hạnh phúc đã được hiệu đính lại Ông cho rằng, những niềm hạnh phúc không chỉ khác nhau về lượng, mà còn khác nhau về chất; và chất của hạnh phúc mới là tiêu chí để phân biệt chúng với nhau Trong khi J.Bentham nói: “Số lượng của lạc thú là như nhau, cái đinh cũng tốt như một bài thơ”24
[94, tr.113]; thì J.S.Mill nói: “Thà làm một người bất mãn hơn là một con lợn thỏa mãn, thà làm Socrates bất mãn hơn là một thằng ngốc thỏa mãn”25
[94, tr.212] Như vậy, J.S.Mill đã vượt qua quan niệm định lượng để đạt tới thuyết công lợi định tính
Trong triết học đạo đức, J.Bentham và J.S.Mill không phải là những nhà “phát minh” vì nguyên lý công lợi đã có tiền đề từ trước đó Điều làm cho J.Bentham và J.S.Mill nổi tiếng, thành công nhất là họ đã gắn chủ nghĩa công lợi với nhiều vấn đề của thời đại họ Đạo đức học công lợi của J.S.Mill đã khiến ông xem xét các vấn đề trong triết học chính trị bằng một nhãn quan hoàn toàn mới lạ, vì các luật và chính sách của chính quyền ảnh hưởng lớn tới hạnh phúc và an lành của nhân dân
Về lý luận kinh tế học, J.S.Mill chịu ảnh hưởng trực tiếp từ người thầy David Ricardo D.Ricardo (1772 - 1823) là một nhà kinh tế học người Anh,
có ảnh hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển D.Ricardo là người cổ vũ thương
Trang 35mại tự do dựa trên lý luận về lợi thế so sánh Năm 1817, ông xuất bản tác
phẩm có tính chất lý luận Những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính trị học và
thuế khóa (Principles of Political Economy and Taxation) Với tác phẩm này,
D.Ricardo được xem là người phát triển cao nhất của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển ở nước Anh Trong các lý luận kinh tế của D.Ricardo, chủ yếu nổi bật lý luận giá trị - lao động Theo ông, sự quy định giá trị của hàng hóa là do lao động của người sản xuất hàng hóa đó tạo ra Các lý luận của ông đã ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng kinh tế chính trị của các nhà triết học sau này26, trong đó có J.S.Mill
Ngay từ năm 13 tuổi, J.S.Mill đã bắt đầu học các lý thuyết kinh tế của D.Ricardo J.S.Mill rất kính nể nhà kinh tế học D.Ricardo, và dành nhiều
quan tâm cho tác phẩm Những nguyên lý cơ bản của kinh tế chính trị học và
thuế khóa J.S.Mill đánh giá: “Năm 1819, cha cho tôi hoàn tất một khóa học
về kinh tế chính trị Một người bạn thân thiết và quý mến của cha tôi, ông Ricardo, vừa mới xuất bản một cuốn sách có thể xem là đột phá khẩu cho một
kỷ nguyên vĩ đại trong lĩnh vực kinh tế chính trị”27
[85, tr.31] Là một người bạn chân tình nhất của James Mill, D.Ricardo đã dạy bảo cậu bé John theo một cách rất thân mật Qua những buổi đi dạo trong sân nhà D.Ricardo, cùng trao đổi và thảo luận nhiều vấn đề về kinh tế, J.S.Mill đã tiếp cận với tư duy kinh tế học cổ điển, để từ đó nghiên cứu sâu hơn triết học chính trị Ông được đánh giá là nhân vật kế tục xuất sắc trường phái kinh tế chính trị cổ điển của Tây Âu vào thế kỷ XIX
J.S.Mill chủ yếu luận bàn về kinh tế chính trị trong tác phẩm Nguyên lý
của kinh tế chính trị học (Principles of Political Economy) J.S.Mill viết tác
phẩm này rất nhanh, từ cuối năm 1846 đến khi hoàn thành bản thảo đầu tiên vào tháng 3 năm 1847 Nó đã được sửa đổi nhiều lần cho đến ấn bản thứ bảy vào năm 1871 Tác phẩm chính là sự tổng kết từ những quan điểm kinh tế thủa niên thiếu của J.S.Mill và những tư tưởng kinh tế mà ông tiếp thu từ
Trang 36D.Ricardo Các học giả đánh giá Nguyên lý của kinh tế chính trị học có thể là
một tài liệu bổ ích nên đọc trước khi bắt đầu nghiên cứu kinh tế học D.Ricardo Trong thời gian trước khi xuất bản tác phẩm, J.S.Mill đã tâm sự với một người bạn rằng: “Tôi băn khoăn liệu có quan điểm nào về kinh tế chính trị trong quyển sách không được thể hiện ra như là một hệ quả từ học thuyết của Ricardo”28
[97, tr.731] Vậy nên, không sai khi xem tác phẩm của J.S.Mill như một quyển sách điển hình theo chủ nghĩa Ricardo29 [xem 127, tr.312]
Ngay sau khi được công bố (năm 1848), Nguyên lý của kinh tế chính trị
học đã thành công khi phổ biến rộng rãi kinh tế chính trị, thay đổi quan niệm
về lĩnh vực này như một khoa học tối tăm và ảm đạm Bằng cách đó, Nguyên
lý của J.S.Mill đã làm được những gì mà Nguyên lý của kinh tế chính trị học
(1821) của James Mill cùng với những sách vở nơi trường học chưa làm được Với những biện luận rõ ràng, khúc chiết về sản xuất, phân phối, lợi thế
so sánh, tác phẩm của J.S.Mill được xem như là một trong những quyển sách giáo khoa về kinh tế chính trị và kinh tế học quan trọng của thế kỷ XIX Sang đầu thế kỷ XX, nó vẫn được sử dụng nhiều trong một số trường đại học ở Anh như đại học Oxford danh tiếng
J.S.Mill là một triết gia mến mộ văn hóa Pháp, trong đó có triết học thực chứng của A.Comte Auguste Comte (1798 - 1857) là nhà tư tưởng đặt nền tảng cho xã hội học và chủ nghĩa thực chứng cổ điển (Positivism) Khi bàn về lịch sử phát triển của nhân loại, A.Comte đã nêu lên học thuyết ba giai đoạn: giai đoạn thần học (Theological Stage), giai đoạn siêu hình học (Metaphysical Stage), giai đoạn thực chứng (Positive Stage) Đồng thời, A.Comte xác lập con đường thứ ba trong triết học bằng cách thủ tiêu vấn đề
cơ bản của triết học truyền thống Với những luận thuyết táo bạo như vậy, A.Comte xuất hiện như một triết gia khai mở con đường duy lý phi cổ điển trong triết học phương Tây Sự ảnh hưởng của A.Comte có sức lan tỏa mạnh mẽ
Trang 37Những độc giả đầu tiên của các tác phẩm viết bởi A.Comte được tìm thấy ở vương quốc Anh Các dự án cải cách của nhóm Những người cấp tiến
về triết học (Philosophic radicals) ở Anh có nhiều điểm chung với những mối quan tâm của chủ nghĩa thực chứng Là một thành viên nhiệt thành của nhóm, J.S.Mill rất quan tâm đến triết học thực chứng của A.Comte Ấn tượng lần
đầu đọc tác phẩm Giáo trình triết học thực chứng (Course on Positive
Philosophy) của A.Comte đủ mạnh để khiến J.S.Mill phải viết thư cho triết gia người Pháp
Suốt từ năm 1841 đến năm 1847, J.S.Mill và A.Comte thường xuyên trao đổi thư từ với nhau Trong một lá thư viết gửi nhà triết học thực chứng Pháp, J.S.Mill tự giới thiệu mình như là một môn đồ của A.Comte [xem 136, tr.1] J.S.Mill thừa nhận rằng, khi đọc những tác phẩm của A.Comte (từ những năm 1822) đã giải phóng J.S.Mill ra khỏi ảnh hưởng của J.Bentham Với số lượng 89 lá thư, sự liên hệ giữa hai triết gia trở nên rất đặc biệt trong lịch sử triết học A.Comte và J.S.Mill đón nhận cuộc gặp gỡ tư tưởng một cách nồng nhiệt J.S.Mill khâm phục sự am hiểu của người đồng sự lớn tuổi hơn Còn A.Comte tìm thấy ở J.S.Mill một tầm hiểu biết uyên bác về tư tưởng đương đại Đặc biệt ở thời kỳ đầu mới quen nhau, cả hai ông viết cho nhau một cách thẳng thắn về sự khủng hoảng tinh thần của họ, về những hy vọng
và lo sợ trong họ
Qua những lần trao đổi thư từ, J.S.Mill và A.Comte đã thảo luận các vấn đề có tính thời đại từ xã hội, chính trị, triết học đến khoa học A.Comte và J.S.Mill đều xem cách mạng Pháp (1848) là bước ngoặt lịch sử A.Comte cảm thấy bản thân như là đứa con của cách mạng Pháp, thậm chí ngay cả khi ông
từ chối thành quả của nó J.S.Mill cũng có cảm tình với cách mạng Pháp Với J.S.Mill, đây không chỉ là một sự kiện mang tính địa phương của một quốc gia riêng lẻ, mà có tầm ảnh hưởng chung đến toàn thể châu Âu cũng như đối với nước Anh30
[xem 127, tr.325] Vì vậy, khi cách mạng Pháp nổ ra vào
Trang 38tháng 2 năm 1848, J.S.Mill đã rất hào hứng và nhiệt thành chào đón nền Cộng hòa thứ hai (second Republic) ra đời
Qua những biến cố lớn của lịch sử, J.S.Mill cho rằng các triết gia cần phải giúp đỡ chính phủ nhận thấy những bổn phận đạo đức mà chính phủ cần
có Cả A.Comte và J.S.Mill đều đồng quan điểm cần phải cải thiện thời đại
“tiêu cực” (“negative” age) [xem 136, tr.xiv] Là những người tin vào sự phát triển có tính quá trình, hai ông chống lại những phẩm trật (tôn ti trật tự) của giáo hội cũng như Condillac31
và Voltaire32 của thời đại Khai sáng Như những nhân vật tiên phong cho triết học thực chứng, “họ cùng nhau chống lại những tư tưởng (siêu hình học) thống trị, để đưa ra những nguyên lý cơ bản bao quát có thể hợp nhất triết học châu Âu Họ mơ đến khối thịnh vượng chung của các quốc gia phương Tây, nơi mà truyền thống tự do chủ nghĩa của Anh và tinh thần tự do của cách mạng Pháp có thể hợp nhất”33
[136, xxiv]
tr.xxiii-Dễ nhận thấy sự tương đồng trong tư tưởng giữa A.Comte và J.S.Mill Thế nhưng, hai khuynh hướng tư tưởng của hai triết gia, về thực chất, là những khuynh hướng riêng biệt Từ chỗ tiếp cận chủ nghĩa thực chứng Pháp của A.Comte, J.S.Mill đã phát triển triết học thực chứng vượt lên khỏi khuôn khổ thực chứng xã hội học Với J.S.Mill, chủ nghĩa thực chứng được triển khai theo phương án Anh, và được nhấn mạnh ở khía cạnh triết học chính trị J.S.Mill nhấn mạnh tự do cá nhân (individual liberty), còn A.Comte nhấn mạnh tính thống nhất xã hội (social solidarity) [xem 136, tr.xxiii] Hay nói cách khác, “những lá thư của họ đã cho thấy một cách rõ rệt cuộc gặp gỡ giữa chủ nghĩa kinh nghiệm Anh và chủ nghĩa duy lý Pháp”34
[136, tr.xxiii]
Ở lĩnh vực triết học chính trị thế kỷ XIX, nếu như J.S.Mill là đại diện cho triết học Anh thì triết học Pháp có đại diện là Alexis de Tocqueville Là một nhà sử học, nhà triết học chính trị Pháp nổi tiếng, A.Tocqueville (1805 -
1859) được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm Nền dân trị Mỹ (Democracy in
Trang 39America)35, gồm tập 1 được xuất bản năm 1835 và tập 2 được xuất bản năm
1840 Cuốn sách được hình thành sau chuyến đi của tác giả đến Liên bang
Mỹ Ngày nay, nó được xem như một tác phẩm kinh điển về xã hội học và khoa học chính trị Trong tác phẩm của mình, A.Tocqueville đã phân tích hệ thống lập pháp và hành pháp của Mỹ cùng ảnh hưởng của những định chế xã hội và chính trị đối với thói quen và cách hành xử của dân chúng Với những quan điểm đó, A.Tocqueville trở thành một đại diện xuất sắc cho truyền thống
tự do cổ điển trong triết học chính trị
J.S.Mill sống cùng thời đại với A.Tocqueville, nên dễ hiểu trong tư duy triết học chính trị của J.S.Mill có sự giao thoa và cộng hưởng với triết gia người Pháp này Họ thường xuyên trao đổi thư từ, cùng nhau bàn luận những vấn đề liên quan đến lịch sử, chính trị của Anh, của Pháp và của thời đại mình Từ năm 1835 đến năm 1856, J.S.Mill đã viết cho tác giả A.Tocqueville khoảng trên 10 lá thư, bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp Trong một tờ thư gửi tháng 9 năm 1835, J.S.Mill đề nghị A.Tocqueville viết bài trình bày về lịch sử nước Pháp giai đoạn trước cách mạng 1848 J.S.Mill hy vọng rằng, thông qua những bài viết của A.Tocqueville, người Anh sẽ hiểu rõ hơn về nước Pháp, đặc biệt là chính trị Pháp đương thời [xem 96, tr.271-272]
Khi đọc tác phẩm Nền dân trị Mỹ, J.S.Mill đã viết hai bài luận36
[xem
102, tr.47-90, tr.153-204] bày tỏ sự quan tâm và những đánh giá của ông đối với tư tưởng chính trị của A.Tocqueville Với J.S.Mill, quyển sách có ý nghĩa rất lớn khi nghiên cứu triết học chính trị J.S.Mill nhận định: “Quyển sách ngay lập tức chiếm giữ một vị trí đặc biệt trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thời đại chúng ta”37
[102, tr.57] Bên cạnh sự phân tích tác phẩm của A Tocqueville, trong hai bài luận trên, J.S.Mill còn gián tiếp thể hiện quan điểm
và lập trường của ông về các vấn đề chính trị - xã hội khi đó
J.S.Mill cho rằng tác giả A.Tocqueville đã có một thái độ rất khách quan khi nghiên cứu nền chính trị Mỹ Vì thế, những dữ kiện cũng như những
Trang 40phán đoán trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ đều có thể hiểu được và có độ tin
cậy nhất định Theo J.S.Mill, hầu như nền chuyên chế hay nền dân chủ thường được xem xét một cách chung nhất, hoặc ca ngợi như điều tốt, hoặc bị chỉ trích như điều xấu Thế nhưng, A.Tocqueville đã tạo nên một tác phẩm điển hình về sự phân tích nền dân chủ, sự phân biệt những đặc điểm và những khuynh hướng của nó, từ đó, chỉ ra đâu là điểm tích cực và đâu là điểm tiêu cực J.S.Mill đánh giá rằng, sự phân tích sâu sắc của A.Tocqueville khiến ông dường như “tương đồng với Montesquieu nhất trong số các tác giả Pháp”38
[102, tr.57]
Có thể thấy, J.S.Mill dành nhiều sự quan tâm đến A.Tocqueville và tác phẩm của ông Thái độ của J.S.Mill đối với A.Tocqueville không chỉ là cách nhìn nhận của một học giả đối với một học giả, mà còn là sự giao thoa, tương đồng giữa những tư tưởng lớn J.S.Mill viết: “Chúng ta không nghĩ rằng mọi kết luận của Tocqueville đều đúng, nhưng chúng ta cho rằng chúng luôn xứng đáng nhận được sự quan tâm kính cẩn nhất”39
[102, tr.57]
J.S.Mill đặc biệt quan tâm đến những lập luận của tác giả A.Tocqueville về các trở ngại cũng như triển vọng của một chính thể dân chủ Khi đánh giá về tình trạng tự do cá nhân đang bị áp chế khiến tính đa dạng của cá nhân bị mất dần đi, J.S.Mill đã dẫn ra nhận định sắc bén của A.Tocqueville như một sự tương hợp J.S.Mill viết: “Ngài Tocqueville đã nhận xét rằng những người Pháp ngày nay giống nhau nhiều hơn so với ngay
cả thế hệ liền kề trước đó Cũng có thể nhận xét như thế về người Anh ở mức
độ còn lớn hơn nữa” [41, tr.165] Tương tự vậy, về quan điểm giáo hóa cho đông đảo quần chúng, J.S.Mill biện minh cho tính cần thiết của nó bằng cách liên hệ đến A.Tocqueville Ông bày tỏ rằng, giáo hóa quần chúng không phải
là một con đường ảo tưởng: “Nếu có ai đó cho rằng con đường ấy sẽ không dẫn tới đích, tôi xin dẫn chứng bằng toàn bộ nội dung công trình vĩ đại của
ông de Tocqueville .” [42, tr.249] Trong cả hai kiệt tác Bàn về tự do và