1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

1551757650159 tieu luan hue

16 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi cho quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, nuôi bộ máy nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu. Ở Việt Nam phần lớn nguồn thu của ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có những phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế. Xuất phát từ chủ trương duy trì, phát triển nông nghiệp góp phần quan trọng duy trì phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở nông thôn, thời gian qua chính sách thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản. Chính sách thuế GTGT quy định các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy, hải sản chưa qua chế biến của các tổ chức cá nhân tự sản xuất bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT đã phần nào khuyến khích sản xuất phát triển. Tuy nhiên, để quy định rõ hơn các chính sách đối với đối tượng này, ngày 31122013, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 219TTBTC hướng dẫn chính sách thuế GTGT. Trong thời gian qua có rất nhiều Doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuế gặp nhiều vấn đề bất cấp trong việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ hải sản từ đó xuất hiện những doanh nghiệp gian lận khâu trung gian chiếm đoạt tiền thuế. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn kết hợp với lý luận và vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học tập chương trình: “ bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra viên thuế” tôi quyết định chọn đề tài: “ Chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng nông lâm, thuỷ hải sản cụ thể mặt hàng cám”.

Trang 1

MỤC LỤC

Phần I: Mô tả tình huống 3

Phần II: Phân tích tình huống 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.2 Phân tích tình huống 5

2.2.1 Nguyên nhân 5

2.2.1.1 Khách quan 5

2.2.1.2 Chủ quan 5

2.2.2 Hậu quả 5

Phần III: Đề xuất phương án giải quyết tình huống 6

Phương án 1 8

Phương án 2 9

Phương án 3 10

Phương án 4 11

Phương án 5 12

Phần IV: Kết luận và kiến nghị 13

4.1 Kết luận 13

4.2 Kiến nghị 14

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi cho quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, nuôi bộ máy nhà nước Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu

Ở Việt Nam phần lớn nguồn thu của ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có những phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế

Xuất phát từ chủ trương duy trì, phát triển nông nghiệp góp phần quan trọng duy trì phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở nông thôn, thời gian qua chính sách thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản Chính sách thuế GTGT quy định các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy, hải sản chưa qua chế biến của các tổ chức cá nhân tự sản xuất bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT đã phần nào khuyến khích sản xuất phát triển Tuy nhiên, để quy định rõ hơn các chính sách đối với đối tượng này, ngày 31/12/2013, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 219/TT-BTC hướng dẫn chính sách thuế GTGT

Trong thời gian qua có rất nhiều Doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuế gặp nhiều vấn đề bất cấp trong việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ hải sản từ đó xuất hiện những doanh nghiệp gian lận khâu trung gian chiếm đoạt tiền thuế Xuất phát từ

ý nghĩa thực tiễn kết hợp với lý luận và vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học tập chương trình: “ bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra viên thuế” tôi quyết định

chọn đề tài: “ Chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng nông lâm, thuỷ hải sản cụ thể mặt hàng cám” Do kinh nghiệm còn hạn chế, lý luận chưa chặt chẽ

và thời gian bồi dưỡng ngắn nên không khỏi có những thiếu sót, khiếm khuyết, kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp quý báu của Qúy thầy cô

Trang 3

Phần I: Mô tả tình huống

Ngày 19/12/2018, Cục thuế Thừa Thiên Huế nhận được công văn số 03/TV-CT ngày 19/12/2018 của Công ty Cổ phần kinh doanh Lâm nghiệp Thừa Thiên Huế, xin được hướng dẫn các vướng mắc về thuế GTGT nội dung công văn như sau:

Công ty Cổ phần kinh doanh Lâm nghiệp Thừa Thiên Huế, mã số thuế

3300101029, trụ sở tại lô 95, Khu An Dương Vương, thành phố Huế, thỉnh Thừa Thiên Huế Trước tiên Công ty xin chân thành cảm ơn Qúy Cục thuế đã không ngừng hỗ trợ, hướng dẫn cho Công ty luôn tuân thủ luật thuế trong thời gian qua Tuy nhiên trong tháng 4 và tháng 5/2014, Bộ Tài chính đã ban hành liên tiếp hai công văn sau:

- Công văn số 5165/BTC-TCHQ do BTC ban hành ngày 21/4/2014 và

- Công văn số 7062/BTC-TCT do BTC ban hành ngày 29/5/2014 về việc thuế GTGT đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy, hải sản

Tại Công văn 7062 của BTC một lần nữa xuất hiện mâu thuẩn với Thông tư 219 gây lung túng cho doanh nghiệp khi áp dụng Ngoài ra, dầu năm đến nay, BTC cũng đã ban hành một loại các công văn hướng dẫn về thuế và hóa đơn, tuy nhiên có một số vần đề công ty vẫn chưa nắm rõ do các công văn mâu thuẩn lẫn nhau Do vậy, Công ty kính mong Qúy Cục thuế hướng dẫn chúng tôi vướng mắc sau:

- Áp thuế suất nào cho mặt hàng cám (cám gạo, cám lúa mỳ)

Như Qúy Cục thuế đã biết, tại khoản 3-Điều 10 quy định “thuế suất 5% của Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của BTC hướng dẫn thu hành luật thuế GTGT và Nghị Định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT quy định như sau: “ Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác theo quy định của pháp luật về quản lý thức ăn chăn nuôi bao gồm các loại đã qua chế biến hoặc chưa chế biến như cám, bã, khô dầu các loại, bột cá, bột xương, bột tôm và các loại thức ăn khác dung cho gia súc, gia cầm và vật nuôi

Trang 4

Theo quy định trên, mặt hàng cám/bã/bột đã được ghi rõ và cụ thể trong Thông

tư 219 là “thức ăn chăn nuôi” và chịu thuế suất thuế GTGT là 5% Tuy nhiên, theo Công văn 7062 hướng dẫn them về các loại được phân loại vào “ Hàng nông, lâm, thủy hải sản mới qua sơ chế” thi bao gồm những mặt hàng sau:

 Tôm nguyên liệu (chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường) - làm sạch - để nguyên con hoặc lặt đầu, bóc vỏ (xẻ lưng, rút tim…), cắt bụng, ép duỗi thẳng - xếp vào vỉ - hút chân không - đông lạnh

 Mực tươi - làm sạch - phân loại - cắt khúc, xếp khuôn - cấp đông - đóng gói - xuất bán

 Cá file; tôm, cá cấp đông

 Hạt điều tươi - phơi - hạt điều khô - sàng, hấp, cắt tách - sấy khô - bóc vỏ lụa - hun trùng - đóng thùng

 Lúa (thóc) xay xát ra gạo - gạo đã qua công đoạn đánh bóng

 Sản phẩm cám, tấm, trấu được tạo ra từ quá trình xay xát thóc được coi là sản phẩm trồng trọt mới qua sơ chế thông thường hoặc chưa chế biến thành sản phẩm khác

 Phế phẩm, phụ phẩm của sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản như tấm; trấu; đầu tôm; vỏ tôm; đầu cá; xương cá; nội tạng và phế phẩm thu được sau giết mổ khác của động vật; mỡ tươi; … ở khâu kinh doanh thương mại cũng thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT

Như vậy, rõ ràng là CV 7062 đã mâu thuẩn với TT 219, Vậy Công ty phải tuân thủ theo Thông tư 219 hay công văn 7062 và làm thế nào để phân biệt được mặt hàng nông sản mới qua sơ chế và phụ phẩm của chúng thuộc loại nông lâm, thủy hải sản mới qua sơ chế và mặt hàng nào thuộc loại “ thức ăn chăn nuôi” bị chịu thuế suất thuế GGT là 5%

Kính mong nhận được sự hỗ trợ của Qúy cơ quan.”

Trang 5

Phần II: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

1 Cơ sở lý luận

 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ

 Nghị định 08/2010/NĐ-CP ngày 5/02/2014

 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013

 Công văn số 5165/BTC-TCHQ ngày 21/04/2014

 Công văn số 7062/BTC-TCT ngày 29/5/2014

 Công văn số 2164/TCT-CS ngày 11/6/2014

 Công văn số 11604/BTC-TCT ngày 19/8/2014

2 Phân tích tình huống

2.1 Nguyên nhân

2.1.1 Khách quan:

Hệ thống quy phạm pháp luật ban hành chưa rõ ràng do đó khi đưa vào thực tiễn

áp dụng tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau cho người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế Việc tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế đối với sự thay đổi các chính sách thuế chưa kịp thời tạo nên sự bị động cho người nộp thuế khi có phát sinh những thay đổi trong việc thực thi các chính sách pháp luật của nhà nước

2.1.2 Chủ quan:

Trình độ tiếp thu và xử lý văn bản của cán bộ, công chức còn hạn chế do đó không đáp ứng kịp thời với sự thay đổi của chính sách thuế

2.2.2 Hậu quả

 Đối với Nhà nước:

 Qúa nhiều văn bản được ban hành song chưa có tính cụ thể ứng dụng vào tình hình thực tế do đó khi đưa vào thực tiễn gây ra tình trạng lúng túng trong cách xử lý vấn đề cho người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế, các văn bản ban

Trang 6

hành lại mâu thuẩn nhau không thống nhất càng tạo điều kiện cho người nộp thuế lợi dụng khe hỡ pháp luật

 Nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sự hướng dẫn sai lệch không đúng thần văn bản quy phạm pháp luật ban hành

 Đối với người nộp thuế:

 Việc ban hành nhiều văn bản song văn bản sau lại mâu thuẩn với văn bản được ban hành gây khó khăn cho Doanh nghiệp dẫn đến tình trạng trì truệ trong hoạt động sản xuất do chưa nắm bắt kịp thời các chính sách thuế

 Tăng chi phí cho việc sử dụng các hoạt động tư vấn bên ngoài về chính sách pháp luật thuế do một phần nhận thức của người nộp thuế còn hạn chế

Phần III: Đề xuất phương án giải quyết tình huống

3.1 Mục tiêu giải quyết tình huống:

 Đảm bảo kỷ cương, pháp luật phù hợp với nguyên tắc đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và người nộp thuế

 Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của người nộp thuế

 Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

3.2 Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống

**** Cơ sở giải quyết tình huống

Nhà nước đã thay đổi phương thức quản lý thuế trong Nghị định 209/2013/NĐ-CP và thông tư 219/2013/TT-BTC, tuy nhiên việc áp dụng còn nhiều vấn đề có những cách hiểu khác nhaudo đó khi áp dụng vào thực tế xảy ra tình trạng sai sót Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định: “ đối với mặt hàng nông lâm, thủy hải sản chưa qua chế biến thuế suất thuế GTGT sẽ rơi vào ba nhóm đối tượng:

 Đối tượng không chịu thuế GTGT: áp dụng đối với sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu

Trang 7

 Hàng hóa không phải kê khai tính nộp thuế GTGT: áp dụng đối với sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán cho các doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế theo phương pháp khấu trừ ở khâu kinh doanh thương mại

 Hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 5%: áp dụng đối với sản phẩm đã qua sơ chế biến thành các sản phẩm khác của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán ra ở khâu kinh doanh thương mại

 Hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 10%: áp dụng đã qua sơ chế thành các sản phẩm khác của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán ra ở khâu kinh doanh thương mại

 Hàng hóa phải kê khai tính nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu:

áp dụng đối với sản phẩm do các hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT bán ra ở khâu kinh doanh thương mại (không phân biệt sản phẩm đã qua sơ chế hay chưa)

Trong thời gian đầu thực hiện đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các loại hàng hóa nói trên gặp lúng túng không xác định được loại hàng đang kinh doanh chịu mức thuế suất bao nhiêu Theo quy định mới thì để xác định doanh nghiệp chịu mức thuế xuất bao nhiêu, cần dựa trên các yếu tố sau:

 Sản phẩm bán ra ở giai đoạn ban đầu tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra hoặc nhập khẩu ở giai đoạn kinh doanh thương mại

 Sản phẩm đã qua chế biến hay chưa

 Sản phẩm do doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán ra hay do tổ chức, cá nhân khác nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp bán ra

 Sản phẩm được bán ra cho các tổ chức, cá nhân khác nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

Trang 8

Căn cứ nội dung trên, phân tích lựa chọn phương án giải quyết đưa ra như sau:

Phương án 1: Giả thuyết Bộ Tài Chính chưa ban hành công văn

7062/BTC-TCT và mặt hàng Cám thuộc nhóm đối tượng chịu thuế suất thuế GTGT 5%

 Cơ sở pháp lý:

 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013

 Nghị định 08/2010/NĐ-CP ngày 5/02/2014

 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 5, Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của

Bộ Tài Chính về thuế GTGT hướng dẫn: “ Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại không phải

kê khai, tính nộp thuế GTGT Trên hóa đơn GTGT, ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ”

Tại khoản 3 Điều 10 Thông tư 219/2013/TT-BTC có quy định đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 5%: “Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác theo quy định của pháp luật về quản lý thức ăn chăn nuôi, bao gồm các loại

đã qua chế biến hoặc chưa chế biến như cám, bã, khô dầu các loại, bột cá, bột xương, bột tôm và các loại thức ăn khác dung cho gia súc, gia cầm, vật nuôi.” Đồng thời căn cứ vào khoản 1, Điều 3 Nghị định 08/2010/NĐ-CP ngày 5/02/2013 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi: “Thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống dưới dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn chăn nuôi, Premix, hoạt chất và chất mang.”

Căn cứ vào những quy định nêu trên thì cám gạo, cám lúa mỳ đáp ứng quy định về thức ăn chăn nuôi tại Nghị định 08/2010/NĐ-CP và thuộc Danh mục tạm thời thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm ban hành kèm Thông tư

Trang 9

26/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/6/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT là 5%

Căn cứ nội dung trên, phương án giải quyết tình huống được đưa ra như sau:

Phương án 2: Giả thuyết Bộ Tài Chính chưa ban hành công văn

7062/BTC-TCT và mặt hàng Cám thuộc nhóm đối tượng không chịu thuế GTGT

 Cơ sở pháp lý:

 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013

 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013

Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 quy định: “Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và

ở khâu nhập khẩu

Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm

sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt,

ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.”

Căn cứ hướng dẫn trên mặt hàng cám gạo, cám mỳ là các sảm phẩm mới được làm sạch, xay bỏ vỏ thuộc nhóm không chịu thuế GTGT

Phương án 3: Giả thuyết Bộ Tài Chính chưa ban hành công văn

7062/BTC-TCT và mặt hàng Cám thuộc nhóm đối tượng không kê khai, tính nộp thuế GTGT.

 Cơ sở pháp lý:

 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013

Trang 10

 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013

Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã

ở khâu kinh doanh thương mại không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT Trên hoá đơn GTGT, ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ

Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các

sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng khác như

hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% hướng dẫn tại khoản 5 Điều 10 Thông tư này

Hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT khi bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì

kê khai, tính nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu”

Căn cứ vào quy định trên nếu Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán mắt hàng cám mỳ, cám gạo ở khâu kinh doanh thương mại không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT

Phương án 4: Giả thuyết Bộ Tài Chính chưa ban hành công văn

7062/BTC-TCT và mặt hàng Cám thuộc nhóm đối chịu thuế GTGT thuế suất 10%.

 Cơ sở pháp lý:

 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013

 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013

 Công văn số 2164/TCT-CS ngày 11/6/2014

Ngày đăng: 15/09/2020, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w