1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm văn xuôi bình nguyên trang

91 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện ngắn, tản văn của Bình Nguyên Trang không viết về những điều lớn lao, trừu tượng, mà mỗi câu chuyện là một mảnh ghép cuộc sống bình dị, những cảm xúc rất đỗi đời... cứu đó là nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

- -

HÀ THỊ THU THỦY

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI BÌNH NGUYÊN TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

-

-HÀ THỊ THU THỦY

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI BÌNH NGUYÊN TRANG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Ngân

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Hà Thị Thu Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thanh Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Hà Thị Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc của luận văn 9

6 Đóng góp của luận văn 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Các vấn đề thể loại 11

1.1.1 Truyện ngắn và các đặc điểm của truyện ngắn 11

1.1.2 Tản văn và các đặc điểm của tản văn 14

1.2 Văn xuôi Bình Nguyên Trang trong diện mạo chung của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 18

1.2.1 Khái quát văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 19

1.2.2 Hành trình sáng tác của Bình Nguyên Trang 21

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 CẢM HỨNG VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI CỦA BÌNH NGUYÊN TRANG 30

2.1 Cảm hứng về cuộc sống 30

2.1.1 Những suy nghĩ về cách sống 30

2.1.2 Những cảm xúc đẹp về cảnh vật thiên nhiên 36

2.2 Cảm hứng về con người 39

Trang 6

2.2.1 Ca ngợi, bênh vực người phụ nữ 39

2.2.2 Trăn trở về những đứa trẻ bất hạnh 47

Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIÊM NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI BÌNH NGUYÊN TRANG 54

3.1 Nhân vật và cốt truyện 54

3.1.1 Thế giới nhân vật đa dạng, đa diện, đa tính cách 54

3.1.2 Cốt truyện đơn tuyến 60

3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật 62

3.2.1 Không gian nghệ thuật đa dạng 62

3.2.2 Thời gian nghệ thuật đa chiều 68

3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 71

3.3.1 Ngôn ngữ đằm thắm, giàu chất thơ 72

3.3.2 Giọng điệu đa dạng mà thống nhất 75

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đặc điểm thể loại là vấn đề luôn được giới nghiên cứu quan tâm

Nghiên cứu đặc điểm thể loại văn học là chỉ ra được những đặc trưng về nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại đó thông qua những tác phẩm tiêu biểu

Từ khía cạnh cảm hứng nghệ thuật, có thể thấy được vấn đề của cuộc sống mà tác giả quan tâm, thấy được những tâm tư, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm trong từng tác phẩm, qua đó thấy được những đặc điểm nghệ thuật mang dấu

ấn đặc trưng của tác giả

1.2 Trong nền văn học đương đại của nước ta, có rất nhiều cây bút nữ trẻ

đã khẳng định được tài năng cũng như phong cách của mình Thế hệ nhà văn

nữ cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX có thể kể đến những cái tên như:

Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Trần Thùy Mai, Lý Lan, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thế hệ nữ tác giả mới từ những năm 2000 phải nhắc đến: Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Phan Hồn Nhiên, Phạm Điệp Giang, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tư, Dương Thụy, Trang Hạ Mỗi cây bút mang một màu sắc riêng, góp phần tạo dựng bức tranh chung của nền văn học đương đại Việt Nam Việc khai thác đặc điểm thể loại của một tác giả trẻ là việc làm cần thiết để khẳng định phong cách nhà văn trong bức tranh đa dạng của nền văn học nước ta

1.3 Bình Nguyên Trang là nhà văn trẻ, được đánh giá là một trong những

cây bút nữ xuất sắc của nền Văn học đương đại Việt Nam Chị viết khá nhiều thể loại, tên tuổi từ lâu đã gắn với thơ, nhưng gần đây chị mạnh dạn thử sức và

đã khẳng định mình rất ấn tượng ở thể loại văn xuôi Truyện ngắn, tản văn của Bình Nguyên Trang không viết về những điều lớn lao, trừu tượng, mà mỗi câu chuyện là một mảnh ghép cuộc sống bình dị, những cảm xúc rất đỗi đời

Trang 8

thường Nói cách khác, cuộc sống được thu nhỏ vào trang viết bằng giọng

văn đầy chất thơ Chính tác giả từng chia sẻ “Mỗi cuốn sách là một góc nhỏ

của cuộc đời người viết Nó chứa đựng những buồn vui, trải nghiệm cá nhân người viết cuốn sách đó ” Văn xuôi của Bình Nguyên Trang vì thế rất giản

dị mà sâu sắc, để lại ấn tượng khó phai trong lòng độc giả

Theo các nhà phê bình, văn xuôi Bình Nguyên Trang vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang nét ý nhị rất riêng vốn làm nên đặc trưng văn chương của chị Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nào khai thác đặc điểm văn xuôi của Bình Nguyên Trang- một phương diện không thể thiếu để

khẳng định tên tuổi nhà văn Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng đề tài “Đặc điểm văn xuôi Bình Nguyên Trang” nằm trong số những đề tài cấp thiết hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về đặc điểm thể loại

Bước đầu tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi xin được trình bày một số những công trình nghiên cứu dưới đây:

Trong cuốn Lý luận văn học, GS TS Trần Đình Sử đã chỉ ra: “ Cái chính

của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản,liên tưởng Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.”.[36;tr317] Có thể thấy,

GS TS Trần Đình Sử đã chỉ ra những đặc trưng về nội dung, kết cấu, dung lượng, giọng điệu,… của truyện ngắn Ngày nay, truyện ngắn là một thể loại

Trang 9

rất phổ biến, tuy một truyện ngắn có dung lượng không nhiều nhưng nó lại đáp ứng được nhu cầu của độc giả cả về mặt nội dung và nghệ thuật

Một cái tên rất ấn tượng trong số những người làm nghiên cứu phê bình của nền văn học nước ta, có sự quan tâm đặc biệt đến thể loại truyện ngắn, đó chính là Bùi Việt Thắng Anh đã cho ra đời rất nhiều những công trình viết về

truyện ngắn như: Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, 1999), Truyện ngắn-

những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

2000), Truyện ngắn hiện thực 1930-1945 (Nxb Văn học, 2003) Trong những

công trình nghiên cứu đó, Bùi Việt Thắng đã có cái nhìn khái quát về truyện ngắn từ định nghĩa, nguồn gốc, để từ đó xác định các yếu tố đặc trưng, các kiểu truyện ngắn như truyện ngắn cổ điển, truyện ngắn tâm tình, truyện ngắn kỳ ảo, truyện ngắn rất ngắn, truyện ngắn liên hoàn và biến thể Có thể nói, những công trình nghiên cứu giá trị về thể loại truyện ngắn của Bùi Việt Thắng, đã đem đến cho người đọc những hiểu biết cụ thể về thể loại này

Ngoài những công trình tiêu biểu nêu trên, còn có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thể loại truyện ngắn và tản văn Người viết xin được nêu ra một số công trình sau:

Trong luận văn khoa học “Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy”, tác giả Nguyễn Xuân Thủy đã viết “Từ sau 1986 văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói

riêng chiếm một ưu thế lớn Thời kỳ này, từ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, sự mở rộng về phạm trù thẩm mỹ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà có có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp Mỗi nhà văn đều lý giải cuộc sống từ góc nhìn riêng, với những cách xử lý ngôn ngữ riêng Tất cả những đặc điểm trên khiến truyện ngắn Việt Nam đương đại gặt được nhiều thành công trên nhiều phương diện”

Như vậy, cùng sự đổi mới tư duy, mở rộng chủ đề, nội dung hướng đến mọi

Trang 10

mặt trong đời sống, truyện ngắn có được vị trí nhất định trong nền văn học hiện đại Việt Nam[54,tr 10]

Ở luận văn “Đặc sắc tản văn Y Phương” của tác giả Sùng Thị Hương

đã chỉ ra các đặc trưng của tản văn như sau: “Thứ nhất, tản văn là những tác

phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm xúc có hoặc không có cốt truyện Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn, phổ biến là những bài văn ngắn gọn, hàm xúc nhằm vẽ lại một vài nét chân dung của ai đó hoặc kể lại một vài kỷ niệm từng ám ảnh trong ký ức Tản văn có thể có hoặc không có cốt truyện Thứ hai, tản văn bộc lộ rõ nét cái tôi của tác giả Thứ ba, tản văn viết về người thật, việc thật và sử dụng hư cấu có hạn chế trong phạm vi và mức độ nhất định ” [19,tr 9-11] Ở luận văn này, tác giả đã chỉ ra được những

đặc trưng cơ bản của tản văn Có thể thấy tản văn có những đặc điểm khá gần với truyện ngắn, thể loại này cũng được nhiều tác giả lựa chọn để gửi gắm cảm xúc của mình

Tác giả Cao Thị Thùy Nhung trong Đặc điểm tạp văn và tản văn Nguyễn

Vĩnh Nguyên, đã khái quát về đặc điểm nội dung và hình thức của tản văn: “Về hình thức, tản văn có dung lượng ngắn gọn, hàm súc Cho đến hôm nay, ngắn gọn vẫn là ưu thế của tạp văn, tạp văn lên ngôi do nhu cầu cần đọc nhanh, đọc nhiều thông tin của người đọc hiện nay Hình thức tạp văn, tản văn tự do, phóng khoáng, không câu nệ các quy tắc về câu chữ, kết cấu Về nội dung: tạp văn, tản văn có phạm vi thể hiện khá phong phú, đa dạng, từ những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự nóng hổi đến những cảm xúc đời thường rất giản

dị, gần gũi Những vấn đề phản ánh trong tạp văn, tản văn thường được biểu hiện dưới dạng một suy nghĩ, khoảnh khắc riêng tư, một thoáng liên tưởng bất ngờ, độc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả ” [31,tr14]

Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ về đặc điểm thể loại văn xuôi mà cụ thể là truyện ngắn và tản văn Những công trình nghiên

Trang 11

cứu đó là những tài liệu quý báu để tác giả luận văn tham khảo trong quá trình tìm hiểu về các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang

2.2 Về tác phẩm của Bình Nguyên Trang

Cho đến nay, chưa thấy có nhiều bài viết cũng như các công trình nghiên cứu khoa học về các tác phẩm của Bình Nguyên Trang Nếu có chăng thì cũng chỉ là các bài nhận xét về tác phẩm, những lời giới thiệu sách hoặc là các bài phỏng vấn trên các trang báo

Trong bài báo Nhà thơ Bình Nguyên Trang: Không thể trả lời thỏa đáng

cho câu hỏi về tình yêu của tác giả Khánh Thủy, Bình Nguyên Trang đã từng

tâm sự về vai trò của văn chương đối với chị: “Tôi cần những cuộc trò chuyện

mà ở đó, toàn bộ đời sống tinh thần của tôi được tỏ bày, được thỏa mãn, được

sẻ chia Viết có vai trò với tôi như vậy Giây phút ngồi trước trang giấy và viết

về nỗi buồn, niềm vui, trải nghiệm của mình trên đó, tôi hạnh phúc ” [52] Có

thể thấy, văn chương có vai trò rất quan trọng đối với Bình Nguyên Trang, từng câu chuyện, từng trang viết chính là những tâm tư, tình cảm mà chị muốn được

sẻ chia và giãi bày Được viết ra những dòng cảm xúc của mình dường như là một niểm hạnh phúc với Bình Nguyên Trang

Tác giả Mai Đô trong bài viết Bình Nguyên Trang nữ sĩ tài hoa đã nhận xét: “Những bài báo, những tản văn của Bình Nguyên Trang thấm đẫm chất

thơ, trĩu nặng tình cảm Với nhân vật, chị viết như tận lòng, da diết những nỗi niềm chia sẻ Chị viết về người khác như viết cho chính mình Trực giác cảm nhận với mạch văn quyến rũ làm nên một giọng điệu Bình Nguyên Trang Cùng với tập thơ mới, Bình Nguyên Trang còn cho in tập tản văn “Hoa gạo cuối trời” Vẫn là những nỗi niềm khắc khoải với thời gian và quê hương Nhất

là Mẹ, nguồn cảm xúc không bao giờ cạn kiệt trong tâm hồn nhà thơ ” [8]

Trang 12

Đọc những trang viết của Bình Nguyên Trang ta thấy trong đó là sự trăn trở, là những nỗi niềm băn khoăn, khắc khoải về thời gian, về hạnh phúc của đời người Những nhân vật trong tác phẩm của chị phần lớn là những người phụ nữ bất hạnh luôn khát khao có được hạnh phúc, có được một bến đỗ bình yên trong cuộc đời Bằng giọng điệu trữ tình, sâu lắng từng trang thơ, trang văn của chị

cứ nhẹ nhàng, êm ái đến với người đọc

Tác giả Thanh Hằng, trong bài viết Nhà thơ Bình Nguyên Trang: viết văn

đừng sống qua loa hời hợt thì nhấn mạnh một hình ảnh mang tính biểu tượng

trong văn xuôi Bình Nguyên Trang :“Tôi có một tuổi thơ đồng đất, gắn với

làng, với những gì giản dị, gần gũi nhất Tôi cũng là đứa trẻ rời cha mẹ đi xa

từ khi còn rất nhỏ Và ký ức trong tôi, thường có màu đỏ của bông hoa gạo Tôi yêu loài hoa này bằng một tình yêu rất khó gọi thành lời Tôi nhớ những ngày tháng ba mưa phùn rét mướt, cái mùa đói khốn khó ở nông thôn, cũng là mùa hoa gạo bung đỏ một góc trời, như khát vọng của những phận người nơi quê nghèo, luôn muốn vươn lên, bay lên khỏi hiện thực mình đang sống Trong hình ảnh bông hoa gạo có hình ảnh của bà tôi, của mẹ tôi, của chị tôi Một hình ảnh rất thân phận, vừa cam chịu vừa không bằng lòng với số phận ” [12] Thời

thơ ấu có lẽ là khoảng thời gian đẹp đẽ nhất, trong trẻo nhất của đời người Và với Bình Nguyên Trang, thời thơ ấu của chị gắn với hình ảnh bông hoa gạo Hình ảnh đó trở đi, trở lại nhiều lần trong các sáng tác của chị, bởi nó gắn với mùa sinh, gắn với một tuổi thơ khốn khó nhưng đầy ắp những kỉ niệm tươi đẹp

Đó là một vùng kí ức đậm sâu, một khoảng trời thương nhớ khôn nguôi Hình ảnh bông hoa gạo đã trở thành một biểu tượng đẹp và rất đặc trưng của Bình Nguyên Trang

Trang 13

Trong một bài báo khác: Nhà thơ Bình Nguyên Trang: Lặng lẽ 'Tìm trong

cõi người' của phóng viên Việt Quỳnh - Báo Thể thao Văn hóa đã nhận xét:

“Từ thơ đến ký ra ngoài đời, với Bình Nguyên Trang, văn sao người vậy Bình Nguyên Trang (tên thật là Vũ Quỳnh Trang) lưu lạc đến cõi nhân gian này một cách giản đơn là làm nghề viết, và nếm náp hương vị đời mà chẳng màng tiền bạc, công danh Mọi sự đến với chị bình thản như mọi ổn thỏa từ công việc đến gia đình Không cần thắp sáng cho đám đông, chị tỏa rạng từ trái tim, tràn

ra nụ cười, lan lên trang viết Và thế là hạnh phúc vừa đủ.” [33] Bình Nguyên

Trang là một người phụ nữ tràn đầy năng lượng, một nhà báo nhiệt tình, sôi nổi

và rất yêu nghề Chị đến với nghề không phải vì công danh, tiền bạc mà đơn giản muốn được giãi bày những cảm xúc của mình trên những trang viết Với Bình Nguyên Trang, còn được viết là còn hạnh phúc, và còn sống chị vẫn sẽ gắn bó với nghề

Trong bài viết:Triết lý hạnh phúc trong "Mùa đom đóm mở hội" , tác giả Lương Sỹ Cầm đã nhận xét: “Gấp lại tập truyện, nghĩ về các nhân vật nữ được

tác giả miêu tả, tôi hình dung cả một cánh rừng bị cơn bão quật đổ tan tác, cây ngã đè lên nhau ngổn ngang Bình Nguyên Trang đã lần mò xem xét từng cây, nhặt nhạnh từng cành để tái hiện cơn bão số phận ập vào cuộc đời của những nhân vật phụ nữ Suốt tập truyện ngắn, chẳng tìm thấy một niềm vui.” [4]

Những nhân vật nữ trong tác phẩm của Bình Nguyên Trang đa phần là những người phụ nữ bất hạnh Họ cam chịu, hi sinh nhưng lại luôn phải chịu những thiệt thòi, đau khổ trong cuộc sống Bình Nguyên Trang luôn bày tỏ sự đồng cảm, xót xa và trân trọng cho những thân phận bất hạnh này

Mở đầu tập truyện ngắn Mùa đom đóm mở hội, nhà văn Trần Đức Tiến đã

có những lời nhận xét cũng là lời giới thiệu sách: “Bình Nguyên Trang thành

Trang 14

công khi kể những câu chuyện rất “đời” với những chi tiết vừa đủ gây ấn tượng bằng giọng kể dung di đầy nữ tính Nhưng có lẽ chị còn hay hơn khi không chăm chú vào bố cục, vào tình tiết có khả năng gây kịch tính của một câu chuyện có đầu có cuối ” [53,tr4] Nguồn cảm hứng sáng tác của Bình Nguyên

Trang là từ những câu chuyện bình dị trong đời sống, là từ chính những con người sống xung quanh chị Những câu chuyện của chị đơn giản là kể lại những

gì chị đã chứng kiến, đã trải qua Với lối viết dung dị, không cầu kì, hoa mỹ, không quá quan trọng đến cốt truyện, bố cục,…những trang viết của Bình Nguyên Trang cứ nhẹ nhàng đến với người đọc, để lại những ấn tượng sâu sắc Trong phạm vi tìm hiểu của chúng tôi, có thể thấy, những bài viết về Bình Nguyên Trang vẫn còn khá hạn chế Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về các tác phẩm của chị nói chung và văn xuôi của chị nói riêng Do đó, khi thực hiện công trình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu về nội dung cũng như phong cách nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ở đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là đặc điểm văn xuôi của

Bình Nguyên Trang trên hai phương diện đặc điểm về nội dung và nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài xem xét các đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong bao gồm 2 tập

truyện ngắn: Chuyến tàu thời gian (NXB Văn học năm 2000); Mùa đom đóm

mở hội (NXB Văn học năm 2012) và tập tản văn Hoa gạo cuối trời (NXB Phụ

nữ năm 2016)

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 15

Thứ nhất, tìm hiểu về đặc trưng thể loại, cụ thể là đặc điểm của hai thể loại truyện ngắn và tản văn Tìm hiểu về tác giả Bình Nguyên Trang nói chung

và hành trình sáng tác cũng như quan niệm văn chương của chị

Thứ hai, tìm hiểu về phương diện nội dung các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang

Thứ ba, tìm hiểu về phương diện nghệ thuật các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai đề tài theo 3 chương chính:

Trang 16

1 Về lý luận: Luận văn mong muốn đóng góp vào lý luận về thể loại văn học, phong cách của tác giả, góp phần làm giàu lý luận văn học

2 Về thực tiễn: Kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập văn học đương đại của giảng viên và sinh viên tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Các vấn đề thể loại

1.1.1 Truyện ngắn và các đặc điểm của truyện ngắn

1.1.1.1 Khái niệm truyện ngắn

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn Trong cuốn 150 thuật

ngữ văn học, truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạch không nghĩ” [2;tr16] Từ điển thuật ngữ văn học lại cũng giải thích “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [36;tr14] Các định nghĩa trên bổ sung cho

nhau để làm nổi bật rõ những đặc trưng cơ bản nhất của truyện ngắn Theo đó, trong luận văn này, người viết đi theo khái niệm của Từ điển văn học để triển khai các chương 2 và 3

1.1.1.2 Đặc trưng của truyện ngắn

Trước hết, truyện ngắn có dung lượng nhỏ nhưng lại có sức chứa, sức mở

lớn “Sở dĩ truyện ngắn ngắn, sở dĩ người ta có thể viết ngắn là vì người ta đã

biết quá nhiều Nhiều đến mức có thể tước bỏ tất cả những gì phù phiếm, không cốt lõi, không quan trọng Phải có rất nhiều nguyên liệu thì mới có thể chưng cất Truyện ngắn vì nó là tác phẩm nghệ thuật chưng cất, chứ không phải là nguyên liệu thô” [10;tr16] Tuy nhiên, “dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc đời, một kiếp

Trang 18

người, một thời đại…Các truyện ngắn bây giờ rất nặng, dung lượng của nó là dung lượng của cả một cuốn tiểu thuyết, bởi vì cái đặc sắc của thể loại buộc

nó phải dồn nén lại, cho đến sắc lịm, nhọn hoắt Như vậy dung lượng hay chất lượng nghệ thuật của truyện ngắn bình đẳng với tiểu thuyết” [10;tr16] Truyện

ngắn thường có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, được kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết Truyện ngắn là tiếng nói nhanh nhạy nhất, phản ánh thời sự các vấn đề nóng hổi của thời đại, con người một cách chính xác Vì là một thể loại năng động nên truyện ngắn hiện nay mang trong mình nhiều dấu hiệu không ổn định, cách xây dựng truyện ngắn hiện nay uyển chuyển đa dạng hơn, xu hướng tự nới mở, không ngừng cách tân trong cách thức diễn đạt, khiến truyện ngắn linh hoạt hơn Đây cũng chỉ là những khả năng, đặc điểm mang tính bản thể của thể loại truyện ngắn Truyện ngắn đã tạo cho bản thân thể loại những giá trị riêng biệt Mỗi truyện ngắn gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình

người, nói như D Boulanger là: “Đánh thức và cuốn hút cả năm giác quan

của người đọc” Tạo được ấn tượng nổi bật nhất và những chiều sâu chưa nói

hết, đó chính là điều khiến truyện ngắn luôn hấp dẫn bạn đọc

Truyện ngắn phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả và được kể lại bởi người kể chuyện (trần thuật) nào đó Cốt truyện với một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cố xảy ra liên tiếp tạo nên sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa tính cách nhân vật, số phận từng cá nhân Nhà văn Ma Văn Kháng đã ý thức rõ

về điều này: “Vấn đề là anh tổ chức sao cho truyện ngắn của anh thành một lát

cắt gọn ghẽ Như người ta vẫn nói, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào” [10;tr17] Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã so sánh nó với tiểu

thuyết: “Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là cái mặt cắt

Trang 19

của dòng đời Vì thế mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi ở người viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt Quả thực có một thứ kỹ thuật tinh xảo – kĩ thuật viết truyện ngắn Nó cũng giống như kĩ thuật của người làm pháo, dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, thật

tự nhiên” [10;tr17] Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng mà

thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Nhân vật được miêu tả chi tiết và sinh động trong mối quan hệ với hoàn cảnh, với môi trường xung quanh Truyện không bị gò bó về không gian, thời gian, có thể đi

sâu vào tâm trạng con người, những cảnh đời cụ thể “Trong một tác phẩm nếu

là truyện ngắn, do lệ thuộc vào số trang eo hẹp, cốt truyện tập trung, sự kiện dồn dập, đường dây chặt chẽ, cho nên số lượng phân phối nhân vật cũng không phải nhiều” [10;tr17] Paul Bourget - nhà văn và nhà phê bình Pháp thế kỷ 20

nhận định về thể loại trên: "Phong cách của truyện ngắn và của tiểu thuyết rất

khác nhau Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại Các tình tiết mà cả dãy đã làm nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng lại với nhau Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn thông qua sự tập trung Truyện ngắn là độc tấu Tiểu thuyết là giao hưởng" [10;tr17]

Truyện ngắn ít nhân vật, nhà văn không thể miêu tả quá trình phát triển tính cách của nhân vật từ trưởng thành, biến đổi, đấu tranh hay dằn vặt như trong tiểu thuyết, mà chỉ đi sâu vào một vài khía cạnh, một thời điểm trong cuộc đời nhân vật Dù không được khắc họa rõ về ngoại hình, lý lịch nhưng người ta vẫn hình dung được gương mặt tinh thần tương đối trọn vẹn của nhân vật và gây được một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và con người Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là

Trang 20

một mảnh nhỏ của thế giới Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xã hội,

ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người

Truyện ngắn sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Ngoài ngôn ngữ người kể chuyện còn có ngôn ngữ nhân vật Bên cạnh lời đối đáp còn có lời độc thoại nội tâm Lời kể khi thì ở bên ngoài khi thì nhập tâm vào nhân vật Ngôn ngữ kể chuyện gần với ngôn ngữ đời sống

Tóm lại, truyện ngắn đem đến cho chúng ta bức tranh tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống Tuy dung lượng nhỏ nhưng thông qua những biến cố của đời sống nhân vật, nhà văn đã thể hiện những khía cạnh đáng quan tâm của đời sống xã hội Vì thế, truyện ngắn có sức hấp dẫn riêng và ngày càng có vị trí quan trọng trong văn học hiện đại

1.1.2 Tản văn và các đặc điểm của tản văn

1.1.2.1 Khái niệm tản văn

Tản văn là thể loại văn học “chú trọng việc ghi lại những gì đã trải qua,

đã cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặc ghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tình hoài niệm Đây là thể loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tình, rộng rãi về đề tài, tinh túy về nội dung, khuôn khổ tương đối nhỏ” [36;tr391] Tác giả còn có thể dựa vào nội dung

cần viết mà tự do điều chỉnh, biến hóa tùy ý Tất cả những điều chừng như tủn mủn đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời, ví dụ: một sự việc xảy

ra trong gia đình, một âm thanh vang lên cuối phố,…Những điều đó hòa với

Trang 21

sức cảm, sức nghĩ, độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết để tạo ra tản văn Tản văn còn là thể loại coi trọng tính phải chân thực Tản văn cũng có ngôn ngữ mới mẻ, thủ pháp biểu hiện linh hoạt, văn phong sáng sủa, cách viết không câu nệ, có thể trần thuật lại diễn biến sự việc, cũng

có thể miêu tả hình tượng nhân vật, có thể mượn vật gửi gắm tình cảm, phát biểu quan điểm

1.1.2.2 Đặc trưng của tản văn

Tính tự do là một đặc trưng của tản văn Nhiều khi người đọc có cảm giác đọc tản văn như đọc các chi tiết tản mạn Tuy nhiên, đó là cái tản mạn

có logic, không phải là lộn xộn, thiếu trật tự, không có tính văn chương Trong cái tản mạn vẫn có nguồn cảm xúc, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt Những điều mà tản văn viết dường như vô cùng tản mạn, nhưng thực ra lại rất thống nhất về chủ đề, tình cảm, tư tưởng (mặc dù tản mạn về tài liệu, hình thức, thủ pháp…)

Tản văn thể hiện sự tự do, phóng túng ngay từ trong việc chọn đề tài Đó

là các đề tài khá nhỏ, mang tính đời thường mà ít người để ý Rồi tới bố cục kết cấu, tản văn cũng không cần một quy tắc chuẩn mực như văn nghị luận thông thường hay cách viết sáng tạo, gây tò mò như truyện Tản văn cứ nhẹ nhàng, thong dong đi hết ý tưởng của tác giả mà không cần bố cục nào rõ ràng Nó có lúc gần lúc xa, lúc trước lúc sau Tác giả đã căn cứ vào ý đồ sáng tác của mình

và nhu cầu biểu hiện để tổ chức trật tự ý tứ cho bài Ở đó, ta thấy hiện thực và lịch sử, tự nhiên và xã hội có sự giao thoa, triết lí và cuộc sống hằng ngày có

sự giao thoa, thậm chí trên trời dưới đất, trần gian tiên giới đều có thể liên kết vào một điểm Hay việc vận dụng thủ pháp biểu hiện đều ít có tính quy phạm, cách thức, hạn chế, tất cả đều lấy cảm nhận và lấy tác giả làm trung tâm Tự do trong nội dung đi kèm tự do trong hình thức Thể loại tản văn linh hoạt có giao

Trang 22

thoa với các thể loại khác, như thơ, truyện, nghị luận,…Tùy đề tài, phong cách viết, tản văn sẽ nó tự học theo các thể loại khác, đưa hơi hướng của các thể loại

đó vào tác phẩm Chúng ta có thể dễ dàng gặp những đoạn tản văn lại trữ tình như thơ, có cao trào như kịch hay sinh động như tiểu thuyết

Tính đa dạng cũng là một trong những đặc trưng của tản văn Đầu tiên, nó thể hiện qua đề tài Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, vượt qua tất cả các thể

loại văn học khác, do đó người ta gọi tản văn là “viện bảo tàng của cuộc sống”

[6] Lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, sự kiện, cảnh vật, tình cảm,…có thể được đưa vào tản văn và trở thành đề tài đầy hấp dẫn của tản văn Tiếp theo, nó thể hiện qua tư tưởng của nhà văn Một bài tản văn lại có thể bao hàm triết lí sâu sắc như văn nghị luận, cũng có thể dạt dào cảm xúc như thơ Hay nó vừa nói lên cái tôi cá nhân của tác giả vừa lấy tinh thần thời đại, xu hướng thẩm mĩ mới để đưa ra tư tưởng Ngay trong thể loại nhỏ, tản văn cũng rất phong phú đa dạng Ta có thể chia thành nhiều tiểu loại nhỏ Hiện giờ, căn

cứ vào đối tượng và hình thức thể hiện để chia tản văn thành các tiểu loại: tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận

Thứ nhất là tản văn tự sự Tiểu loại này lấy sự kiện, nhân vật, cảnh vật làm nội dung biểu đạt chủ yếu, lấy sự trần thuật miêu tả làm phương thức biểu đạt

Vì thế, nó khá gần với kí, tùy bút Song việc kể việc, ghi người, tả cảnh vẫn có nét riêng Kể chuyện trong tản văn là trần thuật một số phiến đoạn của sự kiện; ghi người chỉ là ghi mặt quan trọng của nhân vật, tả cảnh chỉ là tả một số phương diện nào đó của cảnh vật; hơn nữa, những sự việc, con người, cảnh vật này đại

đa số chỉ là những sự việc, con người, cảnh vật mà tác giả đã tiếp xúc qua, tác giả thường lấy chính tâm tư của bản thân làm sợi dây liên kết những sự kiện, những mặt nào đó của nhân vật, phương diện nào đó của cảnh vật; thủ pháp

Trang 23

miêu tả thường là vận dụng phác họa Rõ ràng, ngôn ngữ không nhiều là biểu hiện của đặc trưng gợi trong tản văn Tác giả chỉ vẽ ra tình trạng của sự kiện, thần thái của nhân vật, đặc sắc của cảnh vật Tản văn tự sự lại chia thành: tản văn kí sự, tản văn ghi người, tản văn tả cảnh

Thứ hai là tản văn trữ tình Tiểu loại này lấy sự bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả làm chủ đạo với tiêu chí: một bài tản văn trữ tình hay phải lấy tâm

tư của tác giả làm sợi dây sắp đặt kết cấu Vì thế, tính chủ quan của nó đặc biệt mãnh liệt Ở đây, tản văn trữ tình và thơ trữ tình có điểm giống nhau, nhưng tản văn trữ tình khác với thơ trữ tình ở chỗ không trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mà phần nhiều là sự việc sinh tình cảm, mượn cảnh nói tình Trữ tình đã chỉ ra nội dung chủ yếu của nó là tình cảm, đồng thời cũng chỉ ra thủ pháp biểu hiện chủ

yếu của nó là trữ tình “Tình” trong tản văn trữ tình chiếm vị trí quan trọng

lấy vật để nói chí, “tình” của nó phải có cái dựa vào, tình thấm vào trong cảnh

và vật rồi bộc lộ ra, tình cảm chủ quan và cảnh vật khách quan nhập vào làm một” [6] Tình cảm trong tản văn trữ tình không tập trung như thơ trữ tình, nó

thường là sự trải rộng của tư tưởng tình cảm trong một tổ chức, sắp xếp hết sức công phu của tài liệu Ngôn ngữ tản văn khác ngôn ngữ thơ trữ tình là điều rõ ràng

Thứ ba là tản văn nghị luận Tản văn nghị luận lấy việc nói rõ đạo lí làm nội dung chủ yếu, lấy nghị luận làm thủ pháp biểu hiện cơ bản; bám chắc vào

sự kiện, nhân vật có ý nghĩa điển hình phong phú trong đời sống Điểm hấp dẫn của tản văn này là những tư tưởng của nhà văn và những tư tưởng, kiến giải ấy phải đi cùng cơ sở lập luận sắc bén, thuyết phục Trong ba tiểu loại tản văn, tản văn nghị luận có cách viết rõ ràng, có khuynh hướng tư tưởng rõ ràng và sắc

Trang 24

thái tình cảm mãnh liệt nhất Mục tiêu của nó là giúp người đọc hiểu và tin tư tưởng ấy Tản văn nghị luận gồm tạp văn, văn tiểu phẩm, tùy bút

Đặc trưng tiếp theo của tản văn là sự bộc lộ tâm tư, tình cảm Nhà văn chỉ

có thể sáng tác khi có cảm xúc, giúp bộc lộ những gì nhà văn tự mình trải qua,

tự mình cảm thấy Nếu so sánh với các thể loại tự sự khác, ta sẽ thấy ngay điểm khác biệt Các thể loại khác viết về những sự việc của người khác, cái ngoài bản thân thì tản văn lại là viết về những sự việc chính mình, là sự việc trong tim của tác giả Vì vậy, đọc truyện có thể hiểu ngay nhưng tản văn lại không

cảm nhận dễ dàng, nếu ta không cùng chung “tần số cảm xúc” với tác giả “Tản

văn chính là sự biểu lộ ra một cách linh hoạt, nên tính chân thực là sinh mệnh, xác thực là linh hồn, chân thành là căn bản của tản văn” [6] Tản văn muốn

dựa vào tình cảm chân thành, trải nghiệm của tác giả trong cuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương đương để sáng tác

Về mặt ngôn ngữ, ta thấy tản văn có ngôn ngữ tự nhiên, tươi mới, gọn gàng, bóng bẩy và khá tự do Nó không yêu cầu niêm luật chặt chẽ như thơ mà trải dài, ứng biến theo cảm xúc Nội dung tự do, giàu cảm xúc của tản văn đương nhiên sẽ ăn hợp với ngôn ngữ vừa đẹp vừa phóng khoáng Đề tài của tản văn là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suy ngẫm nên ngôn ngữ cũng phải phản ánh rõ phong cách của từng nhà văn Có nhà văn đưa đến lối viết sinh động như cuộc sống, truyền đạt âm thanh phải giống hệt;

có người lại thích đưa vào tình cảm thiết tha, tế nhị; có người thích lối nghị luận phải vừa trang trọng, có người ưa cách viết hài hước, thú vị Tuy nhiên, dù phong cách gì thì đó đều là những lối viết không cần kiểu cách mất tự nhiên, không cần che đậy, mà là những cảm hứng sáng tạo phá vỡ những lối mòn

1.2 Văn xuôi Bình Nguyên Trang trong diện mạo chung của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại

Trang 25

1.2.1 Khái quát văn xuôi nữ Việt Nam đương đại

Nhắc đến văn xuôi đương đại có nghĩa là nói đến giai đoạn văn học từ năm

1986 đến nay Có thể nói đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự phát triển của nền văn học nước ta trên cả hai phương diện nội dung và hình thức Văn xuôi thời kì đổi mới, đã phản ánh chân thực những vấn đề mà nhà văn trăn trở, đi sâu phản ánh cuộc sống của con người, những cảm hứng thế sự, đời tư được các nhà văn khai thác và thể hiện triệt để trong các tác phẩm của mình Thời kì này, có thể kể đến một số cái tên tiêu biểu như: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Tiếp đến là một số nhà văn: Nguyễn Bình Phương, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh,… Càng về sau này, các cây bút văn xuôi càng tỏ ra nhạy bén trong việc phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ Đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn văn học mới cũng như yêu cầu của độc giả Trong những giai đoạn trước của văn học Việt Nam, các cây bút nữ không chiếm ưu thế Phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, một số nhà văn nữ mới khẳng định được vị thế của mình trên diễn đàn văn học nước ta Sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1986, nền văn học Việt Nam đương đại nổi lên một mảng văn học nữ với một sức sống mới mẻ, một cách nhìn rất sâu sắc về hiện thực của cuộc sống,… Tất cả tạo nên một diện mạo mới cho nền văn học nước ta Tiếng nói của các nhà văn nữ trong văn học khiến độc giả phải nghĩ khác về một bộ phận văn học nữ Không còn đi bên lề, văn xuôi nữ dần chiếm số lượng lớn, sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới, cùng làm nên một diện mạo nói chung của văn xuôi đương đại nước ta Đến đầu thập niên 90 của thế

kỉ XX, văn đàn Việt Nam xôn xao bởi sự xuất hiện của nhiều nhà văn nữ mới Phạm Thị Hoài gây ấn tượng với độc giả bằng một loạt những tác phẩm Năm

1988, cuốn tiểu thuyết Thiên sứ ra đời, sau đó đã được dịch sang nhiều thứ tiếng

khác nhau như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức,… Năm 1993, cuốn tiểu

Trang 26

thuyết Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải thưởng "Tiểu thuyết nước ngoài

hay nhất" của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis tại Đức Năm 2000, cuốn tiểu

thuyết Thiên sứ với bản dịch bằng Tiếng Anh đã giành giải Dinny O'Hearn cho

thể loại văn học Sau đó là một loạt truyện ngắn: Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995), Marie Sến (1996),… cũng để lại nhiều dấu ấn sâu sắc cho độc giả Nhà

văn Y Ban khẳng định tên tuổi của mình với tập truyện ngắn Người đàn bà có

ma lực(1993), Đàn bà xấu thì không có quà(2004), I am Đàn bà(2006)…

Nguyễn Thị Thu Huệ là một cái tên quen thuộc với độc giả Việt Nam có số

lượng tác phẩm khá lớn với mỗi năm mỗi tập truyện ngắn: Cát đợi(1992) , Hậu

thiên đường(1994), Phù thủy(1997), Nào ta cùng lãng quên (2003) và gần đây

là Thành phố đi vắng (2012),… Chị là một trong số những nữ nhà văn được

độc giả yêu thích và gặt hái được rất nhiều giải thưởng quan trọng, hiện nay chị

là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

Ngoài những cái tên kể trên, còn phải nhắc đến những cái tên như Lý Lan,

Dạ Ngân, Bích Ngân,Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh, cùng tạo dấu ấn khi còn khá trẻ với nhiều tác phẩm giá trị ở thập niên 90 của thế kỉ XX Một số nhà văn nữ đã đưa tên tuổi của mình ra văn đàn thế giới Tiêu biểu là nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư với tác phẩm gây

nhiều tranh cãi Cánh đồng bất tận(2005) đã được trao Giải thưởng Văn học

ASEAN (2008), là nhà văn nữ duy nhất trong số 17 nhà văn được giải thưởng

từ 1996-2013)

Những đề tài được các nhà văn nữ hướng đến là những câu chuyện thường ngày, chuyện tình yêu, hôn nhân, chuyện tủn mủn, và cả những vấn đề “quốc gia đại sự”, Cuộc sống hiện đại với sự đề cao tự do, dân chủ đã khiến người phụ nữ sống cho mình và vì mình nhiều hơn Họ biết trân trọng bản thân hơn,

về những khát khao tình yêu, khát khao hạnh phúc chính đáng của con người

Những điều ấy được các nhà văn nữ trải lòng qua những tác phẩm I am đàn bà,

Trang 27

Người đàn bà có ma lực,… của Y Ban, Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu

Huệ), Tập yêu chồng (Phạm Thái Lê); Người đàn bà tên Hạ (Thùy Dương),

Mỗi nhân vật, mỗi câu chuyện chính là những khía cạnh, những nhìn nhận, đánh giá khác nhau của các nhà văn nữ

Qua những tác phẩm của mình, các nhà văn nữ đã thể hiện suy nghĩ, quan điểm của mình trước những khía cạnh của đời sống Nhà văn Y Ban đã từng

nói: “Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng

nghe, một sự thấu hiểu Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao

tự giải phóng bản thân mình” Như vậy, văn chương nữ trước hết là tiếng lòng,

là khát khao của những người phụ nữ, giúp họ trải nghiệm cuộc sống và thể hiện cảm xúc của bản thân

Nhìn chung, với một lực lượng ngày càng đông đảo, bằng sự nỗ lực và tài năng của mình, các nhà văn nữ đã khẳng định được vị thế của họ trong dòng chảy chung của nền văn học đương đại nước ta Họ trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam

1.2.2 Hành trình sáng tác của Bình Nguyên Trang

1.2.2.1 Vài nét về tác giả

Bình Nguyên Trang tên thật là Vũ Thị Quỳnh Trang, sinh ngày 17/5/1977, quê ở xã Hải Hà, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Chị là hội viên hội Nhà văn

Hà Nội, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam Hiện chị là Phó Trưởng Ban Chuyên

đề Cảnh sát toàn cầu, Báo Công an nhân dân

Vùng quê heo hút, tĩnh lặng Hải Hậu gắn liền với tuổi thơ chị đã in dấu không ít lần trên trang viết với hình ảnh hoa gạo, những tiếng chuông ngân trong không gian cuối chiểu mùa đông ảm đạm, với đồng đất, với làng, với những gì giản dị, gần gũi nhất Vào đại học, Bình Nguyên Trang học ngành

Trang 28

Báo chí Ra trường chị về làm việc tại báo Tiền Phong, rồi được cơ quan cử đi làm phóng viên thường trú tại Nam Định Tuy nhiên, vì phải xa rời lĩnh vực văn nghệ mình sở trường, yêu thích, Bình Nguyên Trang xin nghỉ và trở lại Hà Nội, làm việc cho báo Sinh Viên Việt Nam và Hoa Học Trò - nơi chị từng đăng những bài thơ, những truyện ngắn đầu tiên Năm 2004, chị chuyển sang làm phóng viên của Báo công an nhân dân – An ninh thế giới Trong số hàng ngàn phóng viên chuyên về văn hóa, văn nghệ, Bình Nguyên Trang đã nổi lên như một cây bút được chờ đợi với lối viết mới mẻ, đầy cảm xúc

Với tâm hồn nhạy cảm và năng khiếu thơ văn, Bình Nguyên Trang đến với nghề viết từ rất sớm Năm 18 tuổi chị đã xuất bản tập thơ đầu tiên và nhận được nhiều giải thưởng của các tờ báo nổi tiêng dành cho học trò thời bấy giờ: Hoa Học Trò, Mực Tím… Đến năm 20 tuổi, chị dành giải quán quân trong cuộc thi sáng tác văn học Tác phẩm tuổi xanh do báo Tiền Phong tổ chức Dù cuộc sống nhiều bộn bề nhưng tình yêu văn chương của chị vẫn được chăm chút với một ý thức và bản lĩnh rõ ràng Bình Nguyên Trang đã vượt qua những thách thức đó để trở thành một bút danh được khá nhiều người biết và tìm đọc Điều này thể hiện trên mỗi trang viết của Bình Nguyên Trang, ở chỗ, những tác phẩm vẫn đầy sức lôi cuốn trong hành văn, sự nồng ấm trong tình cảm, sự tinh tế trong nhận xét

Kể từ khi cầm bút đã hơn 20 năm tới nay, chị đã in 7 đầu sách Chị trở thành một gương mặt để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn học trẻ Ngoài các giải thưởng do Báo Hoa Học Trò, Áo Trắng, Mực Tím trao tặng, Bình Nguyên Trang còn giành các giải thưởng quan trọng:

- Giải Nhất Tác phẩm tuổi xanh Báo Tiền phong 1997

- Giải B Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam 2012 cho tập thơ Những bông hoa đang Thiền

Trang 29

Thể loại thành công nhất của Bình Nguyên Trang vẫn là thơ Ban đầu, thơ của Bình Nguyên Trang là tiếng lòng của một thiếu nữ mới lớn với những cảm

xúc, suy tư về tình yêu của lứa tuổi học trò, về tình yêu gia đình, yêu quê hương

Sau đó, càng trưởng thành, thơ chị hướng nhiều hơn về các triết lí cuộc sống Bình Nguyên Trang thuộc lớp nhà thơ trẻ giàu sáng tạo, đổi mới nhưng không

xa lìa cội rễ văn hóa dân tộc, bộc lộ cái tôi cá nhân nhưng không sa vào cực đoan, vượt qua ràng buộc của thơ truyền thống, tìm tự do trong sự hài hòa Đồng thời, Bình Nguyên Trang đã sớm biết nuôi nấng sự tĩnh tại trong hồn, nghĩa là đã biết gạt bỏ dần sự phù phiếm Khi biết giữ cho tâm hồn giản dị, người làm thơ chắc chắn sẽ độc thoại được nhiều hơn với chính mình

Về quan điểm sáng tác, chị cũng đã bộc lộ nhiều suy nghĩ riêng qua các trang viết và bài phỏng vấn Cụ thể:

Trong suy nghĩ về nghề văn, chị cho rằng nhà văn phải thật sự tâm huyết, bản lĩnh với nghề Khi giới trẻ có quá nhiều thú vui giải trí, thói quen đọc sách báo không nhiều thì văn chương cũng không được đón nhận nhiệt

tình như trước Trong một bài phỏng vấn, chị đã kể: “Bây giờ thì khác rồi,

các báo dành cho sinh viên học trò, tuổi trẻ nói chung không mặn mà lắm với việc đăng tải tác phẩm của các bạn trẻ Những thói quen giải trí mới đẩy văn chương trở thành một trong rất nhiều lựa chọn của công chúng Cho dù mạng xã hội có thể là nơi giúp ích thiết thực việc bạn trẻ viết văn

tự đăng tải tác phẩm của mình, nhưng thiếu sự động viên, khuyến khích của người đi trước, của báo chí truyền thông, thì rất khó để phát hiện các tài năng mới Cho nên, một bạn trẻ hôm nay mà chọn nghề viết văn, bạn phải

tự vượt qua mình rất nhiều Phải bản lĩnh hơn, hy sinh hơn ” [38] Chị từng

khẳng định: “Trò chơi chữ nghĩa nghiệt ngã ở chỗ nó chả đoái hoài đến

những con số đếm bao giờ Sự ruồng rẫy của nó với bạn vẫn có thể diễn ra

Trang 30

ngay khi bạn đã miệt mài lao động, đã viết rất nhiều Cố nhiên tôi không biện hộ cho những người viết ít hay không viết, vì như thế thì chả có gì để bàn Sự lãng quên như bạn hỏi, tôi không sợ, vì tôi đã luôn sẵn sàng cho việc đó Bạn đọc có quyền quên đi những bài thơ dở và những nhà thơ dở Bởi lẽ văn chương có cái mặt ồn ào, ảo tưởng của nó Mà người viết trẻ thì lắm khi nóng vội, lại thêm chưa đủ trải nghiệm, vốn sống để tạo nên những trang viết có chiều sâu.” [38] Chị cũng khẳng định nghề văn là một nghề

khó Trong xã hội hiện đại thì càng nhiều thử thách Nhưng đã trót mê nó thì không bỏ được Nó đem lại cho ta niềm sung sướng sau khi đã vắt kiệt

cả trái tim và khối óc cho “đứa con tinh thần” ra đời

Suy nghĩ về trách nhiệm của người cầm bút, chị nhận thấy muốn sống với nghề văn cần sự trải nghiệm Nhà văn phải sống tận cùng với chính mình, trải nghiệm tận cùng những buồn, vui của đời sống may ra mới làm ra được cái Thật trong tác phẩm Những “chuyến đi” thực tế ý nghĩa nhất là việc của mỗi

cá nhân người viết Đó không chỉ là những chuyến đi cơ học mà còn là những chuyến đi trong tinh thần Nó cũng không phải là những chuyến đi định lượng thời gian như một tuần, một tháng hay một năm mà sẽ phải là định lượng sống của người viết với cuộc đời này Nhưng tài năng không đủ làm nên một tác phẩm hay, nếu người viết không trải nghiệm, không có vốn sống Những nhà văn thế hệ trước chị thường hay khuyên, sống đã rồi hãy viết Sống ở đây là sống thực sự, sống thật, sống đến đáy cảm xúc của mình, không hời hợt, qua loa, né tránh Điều đó thể hiện rõ nét qua các tác phẩm của chị

Suy nghĩ về sự sáng tạo, chị cũng bày tỏ: “Khi tôi xuất bản một tập thơ,

nghĩa là tôi có nhu cầu được “trình bày” trước bạn đọc một TÔI ít nhiều khác

so với TÔI của ngày hôm qua Hình như điểm yếu nhất của thơ ca là nhà thơ

Trang 31

không thể giấu được con người thật của mình trong đó”[52] Với chị sáng tác

thì tác phẩm sau gửi đến bạn đọc cần có gì đó mới mẻ hơn tác phẩm trước

Như vậy, chị đã bộc lộ nhiều suy nghĩ riêng về văn chương và sự nghiệp sáng tác Dù ở quan điểm nào, ta cũng thấy sự nghiêm túc, nỗ lực hết mình của một người làm nghệ thuật chân chính Dù biết được khó khăn của nghề song chị vẫn giữ vững được bản lĩnh sáng tác và luôn muốn làm mới mình

1.2.2.2 Văn xuôi Bình Nguyên Trang

Được biết đến trước hết là một nhà thơ, Bình Nguyên Trang đã mạnh dạn lấn sân sang ký chân dung, truyện ngắn Truyện ngắn, ký chân dung của Bình Nguyên Trang mang phong cách độc đáo Bình Nguyên Trang dẫu không viết nhiều, không đi vào những đề tài lớn, hầu hết là những chuyện thường ngày, với những người thường gặp, kết cấu còn đơn giản như những nét phác về thân phận con người, nhưng bù lại, chị có một lối văn mạch lạc, trữ tình, giàu chất thơ và nghệ thuật phân tích tâm lý sắc sảo Những tác phẩm của chị thực sự gây xúc động và ám ảnh

Tới giờ, chị đã để lại các tác phẩm tiêu biểu:

 Chuyến tàu thời gian (tập truyện) (2000)

 Sông của nhiều bờ (tập ký) (2012)

 Mùa đom đóm mở hội (tập truyện) (2012)

 Tìm trong cõi người (tập ký) (2013)

 Những người đàn bà trở về (tập truyện) (2014)

 Hoa gạo cuối trời (tập tản văn) (2014)

Có thể gọi tập kí Sông của nhiều bờ là tập kí họa nghệ sĩ Tập kí kể về 50

chân dung nghệ sỹ với những câu chuyện đời thường của họ Có thể kể ra đây một số chân dung tiêu biểu: nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu, giáo sư âm nhạc

Trang 32

Trần Văn Khê, họa sĩ Lưu Công Nhân, nhạc sĩ Trần Tiến, hai cha con ca sĩ Trần Hiếu - Trần Thu Hà, các nhà văn nhà thơ Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Khắc Phục, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Hồng Ngát…Qua danh sách tên tuổi các nghệ sĩ, ta thấy Bình Nguyên Trang đã chọn được chân dung tiêu biểu của lĩnh vực văn học - nghệ thuật Ngòi bút của chị không dừng chân ở một địa hạt nào

mà khai thác chân dung nghệ sĩ trên hầu hết mọi loại hình nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, văn chương,…Ngay cả trong từng lĩnh vực chị cũng tìm ra được những

loại hình nghệ thuật đáng lưu ý, ví dụ: hát xẩm “Qua ngòi bút báo chí tốc họa,

đó chưa phải là chân dung đầy đặn, nhưng cũng đủ cho người đọc tiếp cận với một lớp người tài năng, nhiều người đa tài có đường đời biến động trong những năm đất nước còn chiến tranh Mỗi người một cảnh ngộ, hạnh phúc và bất hạnh

vô lường, nhưng đã góp những gì tinh anh nhất của đời mình để tạo nên một thời đại văn học nghệ thuật với rất nhiều thành tựu.” [40]

Chân dung nghệ sĩ nào qua trang sách của chị cũng hiện lên với nét đặc biệt không thể trộn lẫn trong tính cách và phong cách sáng tác Có người nghệ

sĩ chị nhấn mạnh về sự nghiệp, có người lại chú trọng đến cá tính, lại có người chỉ động đến chút tình riêng Chị đã tiếp cận gần hơn với người nghệ sĩ tài năng,

đa tài Dù mỗi người một cảnh ngộ, hạnh phúc và bất hạnh, nhưng họ đã đóng góp tâm huyết của đời mình để tạo nên một thời đại văn học nghệ thuật nhiều thành tựu Nhờ chị, ta mới biết đến những chông gai trong đời nghệ thuật của bao nhiêu người nghệ sĩ tài ba, biết được những tâm tư riêng mà các nghệ sĩ chưa hề giãi bày Có thể nói: Bình Nguyên Trang đã kéo gần người nghệ sĩ tưởng rất xa xôi lại gần người đọc Từ những gương mặt nghệ sĩ tiêu biểu ấy ta

có thể hiểu thêm về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của nước ta trong những năm gần đây Bình Nguyên Trang đã dệt được một bức tranh tổng thể khá đầy đặn

Trang 33

về hoạt đông văn học nghệ thuật cả nước trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 nhiều biến động

Sở dĩ Bình Nguyên Trang viết nhiều và hay về nghệ sĩ là vì chị là một nhà báo Chị đi nhiều, có dịp gặp gỡ, trò chuyện của những văn nghệ sĩ ở nhiều lớp tuổi, nhiều ngành nghệ thuật Hơn nữa, trái tim nghệ sĩ trong con người Bình Nguyên Trang dễ rung động, hòa nhịp đập với những người cùng giới sáng tác như mình Bình Nguyên Trang đã kể chuyện người khác bằng cả tâm hồn mình

Tiếp theo là tập truyện ngắn Mùa đom đóm mở hội do NXB Văn học phát hành tháng 6 năm 2012 Đây là những trang văn từ chính cuộc sống đời thường

17 truyện ngắn trong Mùa đom đóm mở hội là những câu truyện mang đậm

nghĩ suy của nhà văn Bình Nguyên Trang về cuộc đời, đặc biệt là người phụ nữ với những cảm xúc vui - buồn, được - mất, hạnh phúc - đau khổ và cả sự hối lỗi, bao dung Tính chất đời thường của tập truyện thể hiện rõ trong đề tài Bình Nguyên Trang chỉ tìm đến những lát cắt nhỏ của cuộc sống này, nhưng qua đó chị đã nói được rất nhiều bài học sâu sắc Nhân vật của Bình Nguyên Trang phần lớn là phụ nữ - những người phụ nữ bình thường xung quanh chị Mỗi người mang một số phận, một suy nghĩ nhưng chung quy là đang trên đường tìm đến với hạnh phúc còn xa xôi Tiểu biểu, ta có thể thấy chân dung

những cô gái đang băn khoăn, trăn trở trong tình yêu như cô Mây trong Đời

còn có nhau Rồi cả những cuộc đời bất hạnh song vẫn không cam chịu, như

mợ Thanh bất hạnh trong Mợ Thanh, dì Lê âm thầm cưỡng lại số mệnh trong

Dì Lê…,ba người phụ nữ như ba thế giới khác biệt sống chung dưới một mái

nhà trong Nhà có ba mẹ con Đó còn là hình ảnh những cô gái chịu bi kịch do thực dụng, như hình ảnh Huệ trong Huệ khôn ngoan của tôi Đó còn là những

cô gái xinh đẹp mà khổ như Châu xinh đẹp, tài hoa nhưng bạc phận trong

Hương bồ kết Nhưng dù họ là người thế nào, lương thiện, tử tế hay còn có

Trang 34

những điểm này điểm khác thiếu hụt, dưới cái nhìn nhân hậu của Bình Nguyên Trang, họ đều trở nên đẹp hơn, rất cần được thông cảm và sẻ chia…Dù là chuyện gia đình hay tình yêu, cái kết của từng truyện trong tập truyện này luôn

là kết thúc mở khiến người đọc day dứt, sau bao đau khổ, bất hạnh, con người luôn hướng đến niềm vui và hạnh phúc Đó chính là thông điệp mà Bình Nguyên Trang muốn gửi đến chúng ta qua những truyện ngắn của chị

Thứ ba là tập Tìm trong cõi người Trong cuốn sách này, Bình Nguyên

Trang vẫn viết dàn đều nhân vật ở nhiều lĩnh vực nhưng ưu ái hơn cho văn chương Ta có thể thấy những tên tuổi: Nhà thơ Bằng Việt, họa sĩ Trần Tiến, danh họa Trần Trung Tín, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, NSND Đoàn Dũng, nhà văn Kim Lân, Y Ban, đạo diễn Phan Đăng Di, ca sĩ Đức Tuấn Các nhân vật trong trang viết của chị đều có sự hài hòa về tài năng cũng như cá tính sáng tạo Không lạc vào trong ảnh hưởng của người thuộc về công chúng, chị thường dành ưu ái cho người làm nên giá trị văn hóa, đóng góp vào việc làm giàu cũng

như rộng mở tối đa thế giới tâm hồn đối với người thưởng thức “Đúng là người

nhặt cuội cũng cần có cặp mắt tinh tường Lê Trí Dũng đã cần mẫn nhiều tháng năm trong vai người nhặt cuội Chiếc túi đeo vải cũ sờn của người họa sĩ lính

ấy, chưa khi nào thiếu vắng những hòn cuội Nó trĩu nặng tâm tư không chỉ của riêng ông, mà của cả một thời ông và đồng đội ông đã sống” [33]

Cuối cùng là tập tản văn Hoa gạo cuối trời Đây là ấn phẩm gần đây nhất

của Bình Nguyên Trang Không tìm đến với đề tài về người nghệ sĩ như ở những tác phẩm trước, ở tập tản văn này chị đã kéo tản văn lại gần cuộc sống hơn khi đưa người đọc trở về những không gian của kí ức, cuộc sống thường nhật đầy thân thuộc, ấm áp Những gì chị viết đã đến độ chín của người phụ nữ trung niên từng trải Chị dám viết lên trang giấy là niềm an ủi, niềm hân hoan đáng kể trong đời sống của mình; chị sáng tác bằng cả lòng thiết tha sống, và tình yêu đó đã lan tỏa trong từng câu từ, nhịp điệu ngôn ngữ của chị Bình

Trang 35

Nguyên Trang đã đi vào những câu chuyện thường nhật bằng giọng điệu thủ

thỉ, nhẹ nhàng: Bánh mì của lòng tin, Là ông chủ của chính mình, con nhé, Yêu

lấy mình, Tài sản của tâm hồn Tập tản văn dịu nhẹ như cánh bướm đậu trên

hoa, khẽ lãng đãng, khẽ khàng tâm sự, triết lí: “Năm tháng khiến chúng ta già

đi, và những phút giây tận hưởng yêu thương cũng mất dần theo năm tháng Chúng ta nhìn xuống đôi tay chai sần của mình và tự hỏi, phải chăng chúng ta

đã quý trọng những phút giây lau nhà, giặt giũ, những đồng xu lẻ tích cóp hơn là những phút giây ngồi cạnh người bạn đời uống một ly trà buổi sáng, hay một chiếc ôm, một lời thì thầm lúc đêm khuya Yêu lấy mình, bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp hơn và bạn đẹp hơn Khi bạn trở nên đẹp hơn, thì bạn sẽ được yêu thương nhiều hơn Và bạn hạnh phúc ” (Yêu lấy mình) [60,tr56] Bình

Nguyên Trang cứ dịu dàng, nhẹ nhàng thế để dấn thân vào trò chơi của chữ nghĩa, đem đến cho người đọc những câu chuyện rất nhẹ nhàng mà sâu sắc

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn bàn về khái niệm và đặc trưng của hai thể loại văn xuôi Bình Nguyên Trang: truyện ngắn và tản văn Mỗi thể loại có đặc trưng riêng song nó đều gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Tuy số

lượng câu chữ có hạn nhưng hai thể loại này lại có “sức chứa”, “sức mở” lớn

“Sức chứa” của truyện ngắn là ở việc tóm bắt được khoảng khắc cuộc sống ý nghĩa thì với tản văn đó là ở cách viết không câu nệ, có thể mượn vật gửi gắm tình cảm, phát biểu quan điểm Bình Nguyên Trang đã tìm đến hai thể loại này như một cách trải lòng mình Lối viết văn mạch lạc, trữ tình, giàu chất thơ và nghệ thuật phân tích tâm lý sắc sảo của chị đã thực sự làm những trang văn có hồn Chính vì thế mà dù dấn sân vào văn xuôi sau thơ ca, song chị vẫn đạt nhiều thành công Sơ lược nội dung của ba tập truyện ngắn và tản văn của Bình

Trang 36

Nguyên Trang, người đọc sẽ nhận thấy ranh giới khá mờ giữa chúng Quan trọng hơn, cả truyện ngắn và tản văn của Bình Nguyên Trang đều thấm đẫm chất thơ Điều này làm nên đặc trưng trong phong cách nhà văn Tìm hiểu văn xuôi của Bình Nguyên Trang ta sẽ được bước vào thế giới gần gũi quanh ta nhưng nó lại mở ra những nghĩ suy mới mẻ Những nội dung này sẽ là cơ sở để

chúng tôi triển khai chương 2 và 3

Chương 2 CẢM HỨNG VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI

CỦA BÌNH NGUYÊN TRANG 2.1 Cảm hứng về cuộc sống

Trang 37

Trước hết là những triết lí về hạnh phúc Hạnh phúc là điều tưởng chừng như đơn giản nhưng không phải ai cũng có và nắm giữ được, nhất là trong cuộc sống hiện đại, khi mà cuộc đời vẫn đặt ra nhiều vật cản để tới hạnh phúc Từ những khát khao rất đỗi đời thường, bình dị như phải có, họ đã chứng tỏ một điều, khát khao về một cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp là vô tận Từ đó, qua những trang viết của mình, tác giả đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận, hạnh phúc và quyền sống của con người trong cuộc sống hôm nay

Vấn đề trước hết mà chị đặt ra là khái niệm hạnh phúc Đây đã từng là điều mà nhiều nhà thơ, nhà văn lớn quan tâm Nói về vấn đề không mới ấy, Bình Nguyên Trang chọn cách riêng: kể chuyện, khai thác diễn biến tâm lý rồi

mới nhẹ nhàng đúc kết Nhân vật Mây trong truyện ngắn Đời còn có nhau yêu

Tình ròng rã bao nhiêu năm, chẳng ai phản bội ai, nhưng cô cảm thấy tình yêu nhàm chán, chai mòn Mây và Tình đều không dám nghĩ đến chuyện xa nhau, họ hoảng hốt nếu mất nhau Nghĩ về Tình, cô buồn chán, khổ đau, tiếc nuối vì đã yêu nhau như thế trong một thời gian dài Tình lại tốt và lịch thiệp Nhưng tình yêu của họ sao giống một ngọn lửa, không chết mà cứ nguội dần Thế mà cứ mỗi lần gặp nhau là bải hoải, cạn kiệt như bị rút dần năng lượng Họ không thấy vui, ấm

áp như ngày mới yêu Cô không cần gì khác nhưng sao vẫn thiếu Điều đó làm

Mây hoang mang Cuối cùng, cô đành bất lực: “ Chúng mình cứ thế này cũng tốt

rồi Em vẫn còn có anh là được.” [55;tr2] Sống thế này là sống không còn tình

yêu nhưng vẫn không đủ can đảm để rời bỏ hay làm mới tình cảm ấy Câu hỏi mà

Mây đặt ra cho hạnh phúc của mình là: “Ngày xưa ríu ran hạnh phúc, giờ ở đâu

rồi?”, “Nếu hai người cưới mình thật thì liệu có hạnh phúc không?” [55;15] Từ

câu hỏi đó, truyện đã đặt ra một triết lí về hạnh phúc trong tình yêu: tình yêu không chỉ cần sự an toàn, nó cần sự mới lạ, mê đắm Thời gian có thể làm chết đi ngọn lửa mê đắm của cả hai Không còn cách nào khác là nhen lại ngọn lửa ấy Nếu

Trang 38

không, đôi lứa sẽ mãi mãi là hai mảnh đời song song, không thể hợp thành mái

ấm được

Còn Phương trong Mong đợi chủ nhật lại đặt câu hỏi với người yêu: "Anh

có cho rằng em sẽ hạnh phúc khi bên anh không?" [55;tr30] Hôn nhân chẳng

còn là cứu cánh của cuộc tình giữa giữa Phương và Đức Hạnh phúc đang trong tay nhưng ý nghĩ chối bỏ đã nẩy sinh trong lòng Sự nghi ngại thể hiện trong

lời tự vấn của Phương: "Hay là người ta chỉ cảm thấy hạnh phúc trên chính con

đường tìm đến với hạnh phúc, chứ không phải khi đã tìm thấy hạnh phúc?"

[55;tr30] Những câu chất vấn của Phương cũng cho thấy nét tâm lí bình thường của con người trong tình yêu: yêu lâu sinh ra nhàm chán Tình cảm cũng như mọi thứ vật chất, đầy đủ rồi con người ta đâm coi thường Tuy đây là phút lòng xao động của một cô gái nhưng nó nói hộ tâm trạng của biết bao người trong tình yêu Nhiều khi họ không hiểu nổi bản thân tại sao lại chán nản dù tình yêu đang tồn tại Bình Nguyên Trang không trả lời Chị chỉ để dành những trang viết kể lại cuộc gặp gỡ chán nản của các đôi lứa để độc giả tự rút ra câu trả lời: tình yêu cũng như cây cối, cần sự chăm sóc; tình yêu cũng như việc ăn uống, nghe nhạc; cần phải mới lạ, tránh nhàm chán Đến với tình yêu là tới với nghệ thuật sống Để tới lúc nó đi vào nhàm chán thì con đường tới với hôn nhân hoàn toàn bế tắc

Từ cái nhìn đầy lo lắng về hạnh phúc trong tình yêu, Bình Nguyên Trang lại thể hiện sự lo lắng về hạnh phúc trong hôn nhân với những câu hỏi tự vấn

Trong Đời còn có nhau, nhìn thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị mình, Mây đặt ra một loạt câu hỏi: “Chỉ nói có thế thôi là chị Vinh có việc phải ra ngoài

Chị mặc bộ váy xanh Chả hiểu anh rể thế nào lại cứ để chị đi tối ngày như thế Tại sao lại chấp nhận một cuộc sống chung với những chiếc đinh lung lay như thế? Họ cho nhau tự do, cả con cái cũng chưa, để đỡ ràng buộc Nhưng họ là vợ

Trang 39

chồng, đi về êm ấm.” [57;tr2] Cô gái đa cảm Mây không hiểu được cuộc sống

hôn nhân ấy nên chỉ càng thêm đau đầu: Liệu cuộc sống hôn nhân ấy đi tới đâu? Anh chị Mây liệu có là những cái đinh lung lay không? Chưa trả lời được thì Mây

đã lại nhìn thấy cảnh anh rể đi với gái: “Mây nhoài người nhìn theo chiếc xe phân

khối lớn phía trước đang lạng lách, hoan hỉ Đúng là xe anh rể Ngồi sau xe không phải chị Vinh Một cô bé Váy ngắn cứ như sắp sửa tung lên trời Mây chợt nhớ lời chị Vinh nói lúc chiều: “Ở đời thiếu cái gì ta tìm cách bù đắp cái đó.” [57;tr2]

Cảnh tượng trái ngang khiến Mây choáng sốc Phải chăng từ đó, Bình Nguyên Trang không chỉ nói lên thực trạng hôn nhân lỏng lẻo hiện tại mà chị đang nói lên một triết lí trong hôn nhân: không xuất phát từ những tình yêu đích thực, hôn nhân chỉ là sự trói buộc khiên cưỡng của hai con người, trong đó, nó ẩn chứa bao nhiêu mầm mống của ích kỷ, ngoại tình, lừa dối…

Với những người trẻ tuổi, tình yêu đòi hỏi sự rung cảm của đôi bên, là sự chủ động hi sinh, dâng hiến của mỗi người Nhưng với những người từng trải,

hạnh phúc trước hết là yêu chính mình Trong tập tản văn Hoa gạo cuối trời, ta

thấy Bình Nguyên Trang đã nhắc đi nhắc lại điều này Cách nói nhẹ nhàng như rút ra từ chính bản thân chị nhưng thấm đượm những trải nghiệm già dặn Đó

là triết lí sống, sống cho bản thân và sống để là một người tử tế: “Năm tháng

khiến chúng ta già đi, và những phút giây tận hưởng yêu thương cũng mất dần theo năm tháng Chúng ta nhìn xuống đôi tay chai sần của mình và tự hỏi, phải chăng chúng ta đã quý trọng những phút giây lau nhà, giặt giũ, những đồng xu

lẻ tích cóp hơn là những phút giây ngồi cạnh người bạn đời uống một ly trà buổi sáng, hay một chiếc ôm, một lời thì thầm lúc đêm khuya Yêu lấy mình, bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp hơn và bạn đẹp hơn Khi bạn trở nên đẹp hơn, thì bạn

sẽ được yêu thương nhiều hơn Và bạn hạnh phúc ”[60;tr53] Hạnh phúc sẽ

đến khi ta tự yêu chính mình trước nhất Nếu mình đẹp, mình hạnh phúc, thì

Trang 40

những người thân của mình cũng hạnh phúc theo Khi mình hạnh phúc, mình

có thể quan tâm đến mọi người và rộng lòng đón nhận niềm yêu thương từ họ Đây là triết lý đầy tính nhân văn

Bên cạnh vấn đề hạnh phúc, chị trăn trở với vấn đề cách sống Trong nhiều truyện ngắn, Bình Nguyên Trang đã mô tả lại lối sống thực dụng của con người

như một đòn bẩy để khắc sâu hơn quan điểm sống nhân văn “ở hiền gặp lành” Nhà Phật quan niệm “gieo nhân nào gặt quả ấy”, những con người lọc lừa thường không có kết cục có hậu Trong Huệ khôn ngoan của tôi, nhân vật chính

là Huệ - cô gái xinh đẹp, có ăn có học nhưng không tự lập mà sống bám vào đàn ông để có nhà ở, có tiền tiêu xài Cuối cùng cô phải chịu cái chết đau đớn, quằn quại, tội nghiệp, vì đau đẻ giữa đường mà không có ai đưa tới viện Truyện

đã phần nào cảnh báo về quan niệm cuộc sống sai lệch như của Huệ Từ đó,

Bình Nguyên Trang cũng rút ra kết luận: "Đôi khi người ta chết ngay khi đang

sống" [55;tr48] Cũng phê phán lối sống tầm gửi, truyện Vết thương ngày cũ là

các cung bậc tâm trạng của cô gái: từ chỗ cuồng nhiệt, đắm đuối yêu vẻ ngoài phong trần với những giọt đàn phiêu lãng tới khi phát hiện ra thực chất người yêu chẳng biết làm gì ngoài việc ngửa tay xin tiền mình để đầu tư cho quần áo, đầu tóc, làm đẹp cái mác nghệ sĩ Thì ra, vẻ ngoài chỉ đem đến thứ tình cảm

nhất thời, bởi "dường như trong đáy sâu của bất kỳ người phụ nữ nào cũng đều

suy nghĩ, đều cần một người đàn ông không bao giờ đụng đến tiền bạc của mình" [55;tr104] Mọi mối quan hệ đều cần rõ ràng về tiền bạc, không lợi dụng

nhau, huống chi là tình yêu Cho nên, lối sống thực dụng không bao giờ đi cùng tình yêu chân chính, lâu bền Nó chỉ phù hợp với những con người phù phiếm, ích kỉ, vụ lợi Truyện nói vấn đề rất thực tế như tiếng chuông cảnh tỉnh những con người đang ngày đêm sống cuồng quay trong một xã hội

Ngày đăng: 28/08/2020, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học QGHN
Năm: 2003
3. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong thơ văn hiện đại, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong thơ văn hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
4. Lương Sỹ Cầm(2013), Triết lý hạnh phúc trong mùa đom đóm mở hội, http://sachhay.org/diem-sach/ChiTiet/1471/triet-ly-hanh-phuc-trong-mua-dom-dom-mo-hoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý hạnh phúc trong mùa đom đóm mở hội
Tác giả: Lương Sỹ Cầm
Năm: 2013
5. Kim Dung (1994), Đọc hồi ức Bến trần gian, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hồi ức Bến trần gian, Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Kim Dung
Năm: 1994
6. Nguyễn Đức Dũng (2015), Đặc trưng của tản văn, thư viện Violet.vn 7. Đặng Anh Đào (1993), Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay, Tạpchí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng của tản văn", thư viện Violet.vn 7. Đặng Anh Đào (1993), "Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng (2015), Đặc trưng của tản văn, thư viện Violet.vn 7. Đặng Anh Đào
Năm: 1993
8. Mai Đô(2016), Bình Nguyên Trang nữ sĩ tài hoa, Báo Hà Nội mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Nguyên Trang nữ sĩ tài hoa
Tác giả: Mai Đô
Năm: 2016
9. Trần Thanh Địch (1998), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1998
10. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Võ Thị Hảo (1996), Truyện ngắn – sự trớ trêu trong khung hẹp, Tạp chí Diễn đàn Văn hóa văn nghệ VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn – sự trớ trêu trong khung hẹp
Tác giả: Võ Thị Hảo
Năm: 1996
12. Thanh Hằng (2014). Nhà thơ Bình Nguyên Trang: viết văn đừng sống qua loa hời hợt, http://cand.com.vn/van-hoa/Nha-tho-Binh-Nguyen-Trang-Viet-van-dung-song-qua-loa-hoi-hot-333832.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Bình Nguyên Trang: viết văn đừng sống qua loa hời hợt
Tác giả: Thanh Hằng
Năm: 2014
13. Hoàng Việt Hằng (2012), Giọt giọt huê tinh, http://antgct.cand.com.vn/Nhan-vat/Nha-tho-Binh-Nguyen-Trang-Giot-giot-hue-tinh-314295/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọt giọt huê tinh
Tác giả: Hoàng Việt Hằng
Năm: 2012
14. Triệu Thị Hiệp (2014), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Triệu Thị Hiệp
Năm: 2014
15. Phạm Hoa (1993), Đọc sách “Cát đợi” của Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc sách “Cát đợi” của Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Phạm Hoa
Năm: 1993
16. Trần Thúc Hoa (1990), Giải thích về văn tiểu phẩm có ngôn ngữ tinh luyện, xem Bàn về nghệ thuật văn tiểu phẩm, Nxb Phát thanh truyền hình Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích về văn tiểu phẩm có ngôn ngữ tinh luyện, xem Bàn về nghệ thuật văn tiểu phẩm
Tác giả: Trần Thúc Hoa
Nhà XB: Nxb Phát thanh truyền hình Trung Quốc
Năm: 1990
17. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Lê Thị Hường (1994), Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay, Tạp chí VH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay
Tác giả: Lê Thị Hường
Năm: 1994
19. Sùng Thị Hương, Đặc sắc tản văn Y Phương, luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc tản văn Y Phương
20. Lê Minh Khuê (1993), Mùa gặt truyện ngắn, Diễn đàn VNVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa gặt truyện ngắn
Tác giả: Lê Minh Khuê
Năm: 1993
21. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w