1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyện ngắn dân tộc thiểu số việt nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa

103 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình, bài viết nghiên cứu về bản sắc văn hóa trong văn xuôi DTTS nói chung Trong cuốn 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945 - 1985, Phong Lê khẳng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HÒA

TRUYỆN NGẮN DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HÒA

TRUYỆN NGẮN DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế

kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, hoàn toàn không

sao chép của bất cứ ai Các kết quả của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác

Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hòa

XÁC NHẬN CỦA

TRƯỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Đào Thủy Nguyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thủy Nguyên - Trường

Đại học Sư phạm Thái Nguyên về sự hướng dẫn tận tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh

thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Giám Hiệu, quý

thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm - Đại học

Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và thực

hiện luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và

nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 10

1.1.1 Khái niệm về “văn hoá” và “văn học” 10

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học 13

1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá 15

1.2 Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI 17

1.2.1 Khái quát chung về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 17

1.2.2 Phác thảo diện mạo truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI 20

Chương 2: VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 29

2.1 Thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa miền núi 29

2.2 Con người văn hóa trong truyện ngắn dân tộc thiểu số đầu thế kỷ XXI 35

2.3 Những phong tục tập quán tốt đẹp trong đời sống văn hóa - xã hội miền núi 45

2.4 Những mặt trái của đời sống văn hóa miền núi đương đại 53

Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI 60

Trang 6

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 60

3.1.1 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình 60

3.1.2 Khám phá, miêu tả đời sống nội tâm nhân vật 63

3.2 Nghệ thuật ngôn từ 68

3.2.1 Ngôn ngữ dân tộc gắn với cuộc sống, con người miền núi 68

3.2.2 Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, đậm tính khẩu ngữ 74

3.3 Cốt truyện và yếu tố ngoài cốt truyện 78

3.3.1 Các kiểu loại cốt truyện 78

3.3.2 Yếu tố ngoài cốt truyện 83

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam là những sáng tác của các nhà văn DTTS viết về thiên nhiên và đời sống của đồng bào các DTTS trên mọi miền của tổ quốc Dòng văn học này đã và đang có một vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại Với lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ qua, văn xuôi DTTS

có một sức hấp dẫn riêng, vừa rất độc đáo trong cách nhìn con người và cuộc sống vừa có nhiều nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện Tuy nhiên, nếu so với các công trình nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung thì mảng nghiên cứu về văn xuôi các DTTS luôn ở tình trạng thua thiệt cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về mảng sáng tác rất đặc sắc này 1.2 Nền văn xuôi các DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là truyện ngắn, đã có được một đội ngũ người viết tương đối đông và đạt được một số thành tựu nhất định, góp phần vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam hiện đại Các cây bút viết truyện ngắn DTTS ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn nước

nhà Họ đã thực hiện sứ mệnh “Nuôi giữ ngọn lửa văn chương của dân tộc mình”

Qua những sáng tác của chính những người con DTTS, bức tranh toàn cảnh miền núi được hiện ra một cách chân thực, sống động với nhiều gam màu đặc sắc Việc nghiên cứu truyện ngắn DTTS sẽ cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn về những giá trị to lớn của văn học ở những miền đất giàu truyền thống văn hóa

1.3 Văn hóa gắn liền với cuộc sống và sự phát triển của xã hội Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của từng dân tộc Nghiên cứu văn hóa trong văn học là một hướng nghiên cứu giàu tiềm năng, nhất là trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay Nghiên cứu văn hóa dân tộc - một mặt, cho thấy đặc trưng văn hóa của một cộng đồng người; mặt khác, cho thấy nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Văn hóa trong truyện ngắn DTTS là một vấn đề đặc sắc,

lý thú cần được quan tâm

1.5 Là giáo viên giảng dạy của tổ Ngữ văn, trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, một trường phổ thông có nhiệm vụ đào tạo con em các DTTS khu vực miền núi phía Bắc, chúng tôi muốn nghiên cứu truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn

Trang 8

hóa để hiểu thêm chính học sinh của mình, từ đó giáo dục các thế hệ học sinh người DTTS biết trân trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào, dân tộc mình trước sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ những lý do trên đây cùng với niềm yêu thích say mê các truyện ngắn DTTS

Việt Nam đương đại, chúng tôi chọn đề tài “Truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam

đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa” làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trong khoảng gần hai mươi năm trở lại đây, văn xuôi DTTS đã nhận được sự quan tâm của nhiều cây bút nghiên cứu, lý luận phê bình và một số nhà văn, nhà thơ người DTTS có ý thức sâu sắc về tiếng nói văn học của cộng đồng mình Đã có những công trình lớn, nhỏ quan tâm nghiên cứu văn xuôi DTTS từ nhiều góc độ khác nhau Để phục vụ cho những vấn đề mà đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu các công trình nghiên cứu từ sau năm 1975 về văn hóa trong văn xuôi DTTS, mà ở đó bao gồm cả những ý kiến đánh giá, nhận xét về truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI

2.1 Các công trình, bài viết nghiên cứu về bản sắc văn hóa trong văn xuôi DTTS nói chung

Trong cuốn 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 -

1985), Phong Lê khẳng định “Thành tựu của văn xuôi miền núi đã được xác định ở cố gắng của người viết nhằm đi sâu nắm bắt cho được những nét riêng trong cảnh sắc sinh hoạt, trong nét dáng tâm lý và ngôn ngữ con người - những nét hẳn chỉ là người viết dân tộc mới có khả năng làm ánh lên được” [42, tr.264]

Ma Trường Nguyên - nhà thơ, nhà văn dân tộc Tày - trong cuốn tiểu luận phê

bình Hiện đại mà dân tộc [38] cũng thể hiện rõ những trăn trở đau đáu về mối quan

hệ giữa hai yếu tố hiện đại và truyền thống trong bản sắc văn hóa dân tộc Trong công trình nghiên cứu của ông có nhiều kiến giải hay về vấn đề bản sắc văn hóa trong văn học DTTS

Trong công trình nghiên cứu Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền

núi [37], Phạm Duy Nghĩa đã quan tâm đến vấn đề truyền thống và hiện đại, bản sắc

văn hóa dân tộc trong văn xuôi dân tộc và miền núi Tuy nhiên, công trình này chưa chú ý đến nét riêng của bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà văn DTTS

Trang 9

Tác giả Đào Thủy Nguyên trong cuốn sách Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn

xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số [39] đã khẳng định những cảm hứng tư tưởng

mang đậm bản sắc dân tộc của đồng bào các DTTS Đó là: Cảm hứng trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của đồng bào các dân tộc thiểu số; Cảm hứng tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; Cảm hứng trữ tình về thiên nhiên, đất nước

Năm 2014, nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên in cuốn Văn học dân tộc thiểu

số Việt Nam truyền thống và hiện đại [67] do hai tác giả Trần Thị Việt Trung và

Nguyễn Đức Hạnh đồng chủ biên Cuốn sách là tập hợp của nhiều công trình nghiên cứu về văn xuôi và thơ ca DTTS Trong đó, phần một bao gồm tám bài viết đề cập đến những khía cạnh nội dung và nghệ thuật của văn xuôi DTTS qua tên tuổi của một số tác giả với những tác phẩm tiêu biểu Tuy nhiên ở công trình này, vấn đề văn hóa dân tộc trong văn xuôi DTTS chưa phải là trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu

Hoàng Việt Quân trong cuốn tiểu luận Bàn để làm đã đưa ra những nhận xét khái

lược về văn xuôi Yên Bái Đồng thời, tác giả cũng đề xuất những phương hướng đổi mới nhằm phát triển hơn nữa đội ngũ những người sáng tác văn xuôi của cả khu vực miền núi

phía Bắc Ông cho rằng “chỉ có tắm mình trong suối nguồn văn hóa dân gian của dân tộc, từng bước thế hệ trẻ sẽ trưởng thành, sáng tạo ra những tác phẩm văn học nghệ thuật vừa hiện đại vừa giàu bản sắc” [48, tr.26]

Lâm Tiến, nhà nghiên cứu văn học dân tộc Nùng - người có nhiều công trình nghiên cứu về văn học DTTS đã có những nhận định giàu sức thuyết phục về vấn đề

bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà văn DTTS: “Bản sắc dân tộc trong văn học là do chính các nhà văn dân tộc sáng tạo ra Nó thể hiện tâm hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp

đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc trong điều kiện lịch sử nhất định” [59, tr.292]

Nhà nghiên cứu Lộc Bích Kiệm trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số một

bộ phận đặc thù của văn học Việt Nam cũng đã chỉ ra vai trò quan trọng của văn hóa

các dân tộc trong các sáng tác của các nhà văn DTTS Trong đó, nhà nghiên cứu khẳng định các nhà văn chính là người phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc

mình: “Khi là nhà văn, là tri thức của dân tộc, họ không chỉ mang trong mình hành

Trang 10

trang văn hóa xứ sở mà còn là người mang hành trang văn hóa xứ sở ấy tỏa sáng muôn nơi” [20, tr.38] Tác giả cũng khẳng định bản sắc văn hóa được thể hiện từ

không gian, cuộc sống, con người, nếp nghĩ, nếp cảm, cách nói, cách diễn đạt của người miền núi

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, những hội thảo về văn học DTTS cũng đã đặt ra vấn đề nghiên cứu, trao đổi về việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trong văn học - đặc biệt là trong văn xuôi DTTS

Ngày 18/11/2011, tại thành phố Lạng Sơn, Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS

Việt Nam đã tổ chức hội thảo Văn học dân tộc thiểu số với sự nghiệp xây dựng,

phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển

văn học DTTS nói chung, văn xuôi DTTS nói riêng, ông Nông Quốc Bình - Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam đã khẳng định: Các nhà văn DTTS đã mang lại cho văn học nước nhà sự phong phú trong nội dung và hình thức nghệ thuật Mỗi trang viết của nhà văn là tiếng nói tự hào, là sự kết tinh văn hóa mỗi tộc người trên đất nước Việt Nam Tuy vậy, để mỗi tác phẩm DTTS thật sự mang hơi thở của cuộc sống, đáp ứng được sự mong mỏi của độc giả, nhiều vấn đề đang đặt ra như những câu hỏi bức thiết và không dễ tìm được câu trả lời Vấn đề mà chính các nhà văn DTTS cũng trăn trở nhiều nhất là: Có lẽ vẫn còn thiếu chất men gì đó trong hành trình kiến tạo tác phẩm? Chất men này phải chăng chính là bản sắc văn hóa dân tộc làm nên hồn cốt và sức hấp dẫn của tác phẩm văn học

Ngày 15/5/2014, trong Hội thảo khoa học toàn quốc Phát triển văn học Việt Nam

trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế được tổ chức tại Viện Hàn lâm khoa học

Việt Nam, vấn đề truyền thống và hiện đại trong văn học DTTS lại một lần nữa được đặt

ra với những trăn trở của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trong cả nước

Những năm gần đây, một số luận văn, luận án đã bước đầu tìm hiểu vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc, tính dân tộc trong văn xuôi DTTS qua một vài tác phẩm cụ thể

hoặc qua sáng tác của từng nhà văn cụ thể, tiêu biểu như: Văn hóa và con người Tây

Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945 - 2000 (Đặng Văn Vũ - Luận án tiến sĩ), Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng (Hoàng Văn Huyên - Luận văn thạc sĩ), Bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn (La Thúy Vân - Luận văn thạc sĩ), Bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh (Nguyễn Thị Bích Dậu -

Luận văn thạc sĩ)…

Trang 11

2.2 Các công trình, bài viết nghiên cứu về truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI

Cuốn Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI của Hội Văn học nghệ

thuật các DTTS Việt Nam, đã phản ánh khá toàn diện bức tranh văn học dân tộc và miền núi Cuốn sách đã tập hợp 63 truyện ngắn về đề tài dân tộc và miền núi, trong đó có 26 truyện ngắn của các nhà văn DTTS Lời giới thiệu của cuốn sách, ban biên

tập khẳng định: Truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI mới là “nụ” chưa thực sự là

“hoa” nhưng nó vẫn mang vẻ đẹp riêng của nó: “Với hơn một thập kỉ của thế kỷ XXI, chúng ta có quyền mừng với những cái nụ đã hiện hữu, có chất lượng Họ là những cây bút có giọng điệu, bản sắc riêng, dẫu không phải họ sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ Nói là có chất lượng và bản sắc vì nhiều tác phẩm của tác giả ấy đã đạt các giải thưởng chính thức về văn chương như Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị Như Lan…” [47, tr.6]

Tác giả Đào Thủy Nguyên trong cuốn Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn

xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số [39] đã khẳng định: chưa bao giờ truyện ngắn

được in ra nhiều như những năm gần đây Các truyện ngắn thời kỳ này đã đi sâu phản ánh cả những nét đẹp của đời sống văn hóa, cả những mặt tiêu cực từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, cuốn sách cũng chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu mảng truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI mà mới là cái nhìn chung về văn xuôi DTTS Việt Nam đương đại nói chung

Trong cuốn Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số của nhà nghiên cứu Trần Thị Việt Trung, ở bài viết Những người sẽ làm nên diện mạo văn học

DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI, tác giả đã đi sâu tìm hiểu về đội ngũ sáng tác ở ba

thế hệ Bài viết đã khẳng định: Những cây bút trẻ thuộc thế hệ 8X, 9X sẽ làm nên diện mạo văn học DTTS đầu thế kỷ XXI như: Nông Quang Khiêm, Nông Quốc Lập, Niê Thanh Mai… Các cây bút viết truyện ngắn này có những mặt mạnh và cả những hạn chế nhưng sẽ đem đến cho truyện ngắn nói riêng và văn xuôi thời kỳ này nói

chung những tác phẩm “mang đậm bản sắc văn hóa tộc người nhưng với lối viết hiện đại, khiến cho người đọc thú vị, hấp dẫn bởi hương vị độc đáo cùng mầu sắc riêng biệt của nó” [68, tr.383]

Nhà phê bình Lâm Tiến trong cuốn Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số [60] đã

nghiên cứu về thơ văn DTTS sáu năm đầu thế kỷ XXI Ở thể loại truyện ngắn, tác giả

Trang 12

đưa ra nhận định: Truyện ngắn viết đầu thế kỷ của Hà Thị Cẩm Anh có lối viết giản

dị nhưng sâu sắc, hấp dẫn Tuy nhiên, Lâm Tiến mới chỉ đưa ra đánh giá về một tác giả mà chưa đưa ra được những nhận định một cách hệ thống về toàn bộ các truyện ngắn của các nhà văn DTTS thời kỳ này

Nhìn chung, những bài viết trên chủ yếu đi sâu tìm hiểu, lí giải và phân tích một vài khía cạnh của truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI mà chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, hệ thống về truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ

XXI từ góc nhìn văn hóa Thực tế đó đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài: Truyện

ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa Kế thừa

những kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi sẽ mở rộng, khơi sâu và làm

rõ những giá trị, dấu ấn văn hóa có trong nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài Truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI

từ góc nhìn văn hóa nhằm làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa,

dấu ấn và giá trị văn hóa trong truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI Đồng thời khẳng định những đóng góp của truyện ngắn dân tộc thiểu số đầu thế kỷ XXI trên cả hai phương diện văn học và văn hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn tạo một cơ sở lí luận cần thiết để soi tỏ mối quan hệ giữa văn học và văn hóa Từ đó có cơ sở để tìm hiểu truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI trong mối quan hệ liên ngành văn hóa - văn học

- Luận văn nhằm chỉ ra những nét đặc sắc về văn hóa DTTS được thể hiện trong các truyện ngắn ở cả 2 phương diện: nội dung và nghệ thuật, giúp cảm thụ truyện ngắn của DTTS một cách sâu sắc hơn Từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật và đóng góp của các nhà văn DTTS đối với nền văn học Việt Nam hiện đại cũng như đối với việc giữ gìn bản sắc và bồi đắp văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới và hội nhập

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI dưới góc nhìn văn hóa ở hai phương diện là nội dung và nghệ thuật

- Phạm vi tài liệu nghiên cứu:

+ Văn học DTTS và miền núi được hiểu là bộ phận văn học viết về các dân tộc thiểu số và miền núi Đó là sản phẩm tinh thần của những tác giả là người DTTS và những tác giả là người Kinh viết về DTTS và miền núi Không thể phủ nhận một điều, đóng góp của những nhà văn người Kinh đối với văn học DTTS là rất lớn và có

ý nghĩa, không những về chất lượng mà cả về số lượng Mặc dù vậy, họ chưa thể có được sự hòa nhập hoàn toàn giữa chủ thể sáng tạo và đối tượng miêu tả như các nhà văn DTTS viết về con người, cuộc sống của dân tộc mình Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa một tác phẩm người Kinh viết về miền núi và tác giả người DTTS viết về vùng đất của dân tộc mình Không được tắm mình trong dòng chảy của truyền thống văn hóa dân tộc, không có những kỉ niệm “máu thịt” thấm đượm tâm hồn dân tộc thì không thể có tác phẩm mang được bản sắc dân tộc đó Vì thế, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập trung nghiên cứu 26 truyện ngắn của các nhà văn DTTS

Việt Nam in trong cuốn Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI do Hội văn

học nghệ thuật các DTTS Việt Nam biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, 2011 Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu các tập truyện của một số nhà văn tiêu biểu như Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị Như Lan, Nông Quốc lập, H’Linh Niê…

+ Bên cạnh đó, ở một mức độ nhất định, chúng tôi có sự so sánh với các sáng tác của các nhà văn DTTS ở chặng trước để thấy được sự biến chuyển trong cách cảm nhận và thể hiện đời sống của nhà văn từ góc nhìn văn hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, hệ thống: Chúng tôi vận dụng phương pháp này để thẩm định, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ, khoa học và chính xác các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật các truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI dưới góc nhìn văn hóa

Trang 14

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sưu tầm, tìm hiểu thêm tư liệu về các truyện ngắn DTTS Việt Nam thế kỉ XX để đối chiếu nhằm tìm ra những nét đặc sắc, bước phát triển của truyện ngắn DTTS đầu thế

kỉ XXI Đồng thời, chúng tôi cũng có sự so sánh, đối chiếu các truyện ngắn DTTS theo các vùng miền để tìm ra nét riêng, cá tính sáng tạo của các tác phẩm từ góc nhìn văn hóa

- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Phương pháp này chúng tôi sử dụng để phân tích các truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI theo đúng đặc trưng của thể loại truyện ngắn ở phương diện nội dung và nghệ thuật

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận văn tập trung nghiên cứu truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn văn hóa, vì vậy chúng tôi vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa tác phẩm văn học với các ngành khác như lịch sử, địa lý, văn hóa để đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về các truyện ngắn DTTS đầu thế kỉ XXI

- Phương pháp tiếp cận từ góc độ lịch sử văn học: Chúng tôi vận dụng phương pháp này để bước đầu khái quát quá trình vận động và phát triển của các truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI trong dòng chảy chung của văn học DTTS nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa Luận văn góp thêm cái nhìn mới khẳng định phương diện văn hóa trong truyện ngắn DTTS đầu thế

kỷ XXI, khẳng định những thành tựu đặc sắc và đóng góp cơ bản của các nhà văn DTTS đối với nền văn học Việt Nam hiện đại Đồng thời cũng đặt ra những vấn đề còn tồn tại

và yêu cầu phát triển của truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI

- Luận văn có ý nghĩa thực tiễn, nhất là đặt trong bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đang mở ra nhiều triển vọng mới

mẻ cho cách tiếp cận văn chương Nghiên cứu truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa, một lần nữa, chúng tôi cũng góp phần khẳng định khuynh hướng nghiên cứu này Luận văn cũng có những đóng góp nhất định vào vấn đề giữ gìn

và phát huy giá trị văn hóa dân tộc

Trang 15

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài

Chương 2: Văn hóa miền núi trong truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế

kỷ XXI

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện văn hóa miền núi trong truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Khái niệm về “văn hoá” và “văn học”

* Khái niệm “văn hoá”

Văn hoá là một khái niệm rất phức tạp Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa tùy theo góc độ của người nghiên cứu muốn nhấn mạnh phương diện nào Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về văn hoá Theo UNESCO, trên thế giới hiện

nay có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hoá Theo từng góc độ tiếp cận, có định nghĩa xuất phát từ bình diện lịch sử, chính trị, xã hội, có định nghĩa xuất phát từ những đặc trưng, chức năng, cấu trúc… Tuỳ theo mỗi lĩnh vực, mỗi chuyên ngành nghiên cứu mà các nhà khoa học lại có một cách định nghĩa khác nhau Điều này đã tạo nên sự phong phú cho khái niệm Văn hoá

Bản thân từ văn hóa được dùng ở một số nước phương Đông hiện nay là một từ

của người Nhật dịch từ “culture” trong ngôn ngữ phương Tây Theo các nhà ngôn ngữ học phương Tây, Văn hoá (culture) - với tư cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng vào cuối thế kỷ XVII Người đầu tiên đưa thuật ngữ “culture” vào khoa học là nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S.Pufendorf (1632-1694) Ông đã sử dụng thuật ngữ này để khẳng định việc giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người là vô cùng quan trọng, giúp cho con người hoàn thiện, tiếp thu những cái đẹp, loại trừ

những cái xấu, làm cho tâm hồn con người phát triển Sang thế kỷ XIX, văn hóa đã

thực sự trở thành đối tượng của việc nghiên cứu khoa học Nó trở thành đối tượng chủ yếu hoặc đối tượng quan trọng của các ngành khoa học như: dân tộc học, nhân

học văn hóa, văn hóa học, xã hội học văn hóa… Định nghĩa khoa học về văn hóa ra

đời sớm nhất ở châu Âu là định nghĩa của nhà nhân học văn hóa người Anh E B

Tylor đưa ra từ năm 1871 trong công trình nghiên cứu Văn hoá nguyên thuỷ xuất bản năm 1881 tại Luân Đôn Trong cuốn sách này, E.Tylor định nghĩa: “Từ văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con

Trang 17

người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”(Dẫn theo [61, tr.13]) Định

nghĩa này được nhiều nhà khoa học chấp nhận và sau đó, khi có những nhà khoa học đưa

ra những định nghĩa khác nhau thì nó vẫn được nhắc đến như một định nghĩa dùng để tham khảo Trong “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa”, Tổ chức UNESCO cũng đã đưa

ra một định nghĩa khá đầy đủ về văn hoá mà theo chúng tôi đáng chú ý hơn cả: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân”

[69, tr.5-6] Như vậy, UNESCO đã nhìn nhận Văn hoá theo nghĩa rộng nhất của từ này

Ở Việt Nam, văn hóa là cụm từ được nhắc đến nhiều nhất, nhưng thực sự vẫn chưa có một khái niệm thống nhất theo cách hiểu cụ thể, mà vẫn đang tồn tại nhiều lớp khái niệm với các tầng nghĩa khác nhau Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc đã

đưa ra một định nghĩa về văn hóa mang tính khái quát nhất: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [34, tr.20] Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm lại đưa ra một định nghĩa khác về văn hóa dựa trên phương diên cấu trúc hệ thống và loại hình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi

trường tự nhiên và xã hội” [61, tr.10]

Như vậy, căn cứ vào những định nghĩa về văn hóa trên, ta có thể hiểu khái quát: Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình

Trang 18

sống Văn hóa được sáng tạo, lưu giữ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn

hóa đồng thời mang những bản sắc riêng, đặc thù riêng để phân biệt giữa các dân tộc, quốc gia

* Khái niệm “văn học”

Văn học hiểu theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói -

viết và các tác phẩm ngôn ngữ Theo cách hiểu này thì các tác phẩm chính trị, triết

học, tôn giáo… cũng có thể được gọi chung là Văn học Theo nghĩa hẹp mà ngày nay chúng ta thường dùng thì khái niệm Văn học bao gồm các tác phẩm ngôn từ phản ánh những vấn đề đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật Như vậy khi hiểu Văn học

theo nghĩa hẹp, chúng ta đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo

Khái niệm Văn học có khi được dùng tương tự như khái niệm văn chương Tuy nhiên,

khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương Văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, tính sáng tạo của văn học về phương diện nghệ thuật ngôn từ

Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng những chất liệu khác nhau Nếu âm nhạc lấy chất liệu là âm thanh; hội họa là đường nét màu sắc… thì chất liệu đặc trưng của văn học là ngôn ngữ Nhưng ta có thể khẳng định rằng ngôn ngữ được sử dụng trong văn học không phải là ngôn ngữ bình dân ta vẫn sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt mà đó là

thứ ngôn ngữ đã được các nhà văn “tinh xảo, nhào luyện” từ ngôn ngữ đời thường để trở thành thứ “ngôn ngữ biết nói”, giúp các nhà văn chuyển tải đến người đọc những thông

điệp cuộc sống đầy ý nghĩa Mỗi nhà văn đều là những nhà sáng tạo ngôn ngữ khi biết chắt lọc những ngôn từ trong cuộc sống thường ngày để tạo thành các ngôn từ nghệ thuật Sự “dụng công” đó tạo nên dấu ấn riêng của các nhà văn Các tác giả trong cuốn

Từ điển văn học định nghĩa: “Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ

Khái niệm văn học bao gồm cả văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền bằng miệng từ đời này sang đời khác và văn học viết được sáng tác và lưu truyền dưới hình thức văn bản viết (…) Văn học là sự phản ánh của đời sống xã hội thể hiện

sự nhận thức và sáng tạo của con người(…) Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của

nó trên phương diện thẩm mĩ” [41, tr.401-402]

Trang 19

Về bản chất văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ giàu tính nhạc, gợi cảm và mang tính tạo hình cao Văn học có khả năng phản ánh tất cả các phương diện của đời sống, từ đời sống bình thường tới những thời kỳ giông tố, bão táp có tính bản lề của lịch sử Văn học phản ánh đời sống xã hội, con người và góp phần cải tạo và hoàn thiện hơn đời sống trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh

Tóm lại, văn học là một loại hình nghệ thuật đặc thù, góp phần tạo nên những giá trị văn hóa riêng của mỗi dân tộc, quốc gia Qua đó, văn học góp phần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ đi lên của nhân loại trong tiến trình phát triển

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học

Theo Trần Đình Sử thì “văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hóa”, điều đó cho thấy giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ khăng khít, gắn bó

mật thiết với nhau Văn học cũng như triết học, tôn giáo, đạo đức… là một bộ phận của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Mỗi quốc gia, dân tộc có nền văn hóa khác nhau sẽ tạo nên dấu ấn văn học khác nhau Nếu như văn hóa trong quá trình hình thành và phát triển đã trải qua một chặng đường tìm kiếm, đấu tranh, sáng tạo nên những giá trị văn hóa thì văn học chính là công cụ để lưu giữ những giá trị của văn hóa không bị mai một hoặc mất đi theo thời gian, theo sự biến đổi của xã hội Điều này càng khẳng định văn học là tấm gương phản ánh văn hóa, biểu hiện văn hóa bằng nghệ thuật ngôn từ Nói như nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Huỳnh

Như Phương: “Văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật”

Ngày nay, văn hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ và thâm nhập sâu vào nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có văn học Điều này đã khẳng định văn hóa và văn học có sự gắn kết sâu sắc và không thể chia tách Văn học là sự tự ý thức về văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, nó thể hiện cả tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc, quốc gia Cùng với hệ giá trị văn hóa mang bản sắc riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và bản sắc mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ theo M Bakhtin khẳng

định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá của một thời đại trong đó nó tồn tại” (Dẫn

Trang 20

theo [64, tr.362]) Mặt khác, nhà văn - chủ thể sáng tác là thành viên của một cộng đồng, thuộc về một cộng đồng nhất định, cộng đồng đó có những giá trị văn hóa đặc thù Chính vì thế mà các nhà văn sẽ tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng mình, những cách tư duy, tâm lý riêng của thời đại mình và thể hiện nó trong tác phẩm nghệ thuật Nhà văn dù có những dấu ấn sáng tạo riêng về vấn đề gì thì vẫn mang những yếu tố tâm

lý văn hóa độc đáo của dân tộc mình

Khi tiếp cận một tác phẩm văn học, ta sẽ nhận thấy những dấu ấn văn hóa qua sự tiếp nhận và phản ánh của nhà văn Đó có thể là văn hóa nông nghiệp lúa nước của

người Việt qua các câu tục ngữ Việt Nam: “Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cốc được ăn”, “Mạ chiêm đào sâu chôn chặt, mạ mùa vừa đặt vừa đi”…; đó là những nét văn

hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương như trò chơi đánh đu, phong tục ăn

trầu…Bốn cột khen ai khéo khéo trồng/Người thì lên đánh kẻ ngồi trông/Trai đu gối hạc khom khom cật/ Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng…; đó là những nét đẹp văn

hóa truyền thống đã vang bóng một thời như thú thưởng trà, thư pháp,… trong tập

truyện “Vang bóng một thời” của ngòi bút tài hoa uyên bác Nguyễn Tuân; đó có thể

là sự biến thiên thay đổi của xã hội Việt Nam trong những năm sau 1975 trong

“Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp; đó là những dấu ấn văn hóa đậm đà bản

sắc văn hóa các DTTS miền núi trong các sáng tác của Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh… Những yếu tố văn hóa của thời đại, vùng miền đã chi phối, ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà văn từ việc lựa chọn đề tài, chủ đề, xây dựng nhân vật đến các hình thức nghệ thuật Để tiếp nhận được nét riêng về văn hóa trong tác phẩm, người đọc cũng phải có những nhận thức nhất định về yếu tố văn hóa của các dân tộc

Và qua những nét văn hóa đó người đọc sẽ tăng cường vốn hiểu biết của mình về văn hóa các cộng đồng

Nếu như văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì ngược lại, văn học cũng có những tác động nhất định tới văn hóa Trước hết, văn học là nơi bảo lưu những giá trị văn hoá nhân loại Có những giá trị văn hoá từ lâu, nay đã không còn nữa mà người ta chỉ có thể biết đến nó trong các tác phẩm văn học Văn học còn góp phần định hướng những giá trị văn hóa cho nhân loại, hướng mọi người đến những giá trị văn hóa tốt đẹp, mang dấu ấn bản sắc riêng, là niềm tự hào của các dân

Trang 21

tộc Các tác phẩm văn học tác động vào tình cảm, suy nghĩ của bạn đọc, qua đó điều chỉnh lối sống, hành vi ứng xử của con người trong văn hóa cộng đồng như: tình yêu thương đồng loại, niềm tự hào dân tộc… Bên cạnh đó, các tác phẩm ngôn từ - văn học đã lên án, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện phản văn hóa, tác động xấu đến đạo đức con người như sự xuống cấp về đạo đức của con người Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trong sáng tác của Tú Xương… Văn học còn định hướng những giá trị văn hóa mới

Như vậy, văn hóa và văn học gắn bó hữu cơ mật thiết, chi phối, tác động lẫn nhau Một tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa của thời đại, cộng đồng Người sáng tạo ra tác phẩm văn học là một nhà hoạt động văn hóa biết trao gửi những giá trị văn hóa tốt đẹp đến người hưởng thụ văn hóa chính là người đọc, người tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.3 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá

Văn hóa và văn học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa là một hướng đi cần thiết, quan trọng Khi tiếp cận một tác phẩm văn học các nhà nghiên cứu, bạn đọc có nhiều hướng tiếp cận khác nhau từ phương diện thể loại, từ cái nhìn liên văn bản, từ góc độ thi pháp học hay hướng tiếp cận phê bình sinh thái… Trong đó, việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa đã thể hiện được hiệu quả của nó Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa giúp chúng ta có khả năng khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm, có cái nhìn vừa bao quát, vừa sâu sắc, toàn diện đời sống văn hóa của cả cộng đồng dân tộc Những năm đầu thế kỷ XXI ở nước ta, hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa

đã được nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Từ việc đưa ra những quan điểm về mặt nhận thức, lí luận dựa theo lý thuyết phương Tây áp dụng vào thực tiễn Việt Nam đến việc thực nghiệm trên một số tác phẩm của các tác gia tiêu biểu, giới nghiên cứu đã tạo nên một bức tranh nghiên cứu văn hóa - văn học dưới sự soi rọi của ánh sáng văn hóa Ngày nay khi sự giao lưu tiếp xúc văn hóa ngày càng mạnh mẽ thì

việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa đã “mở rộng phạm vi đề tài nghiên cứu văn học, cho phép người ta nhìn văn học dưới nhiều góc độ mới đầy hứa hẹn” (Trần

Đình Sử)

Trang 22

Hướng nghiên cứu này chính là cách đặt tác phẩm văn học vào không gian văn hóa đã chi phối, tác động đến tác phẩm văn học ấy Mỗi một dân tộc, quốc gia đều có những phông nền văn hóa đặc trưng mang bản sắc riêng thể hiện được sự hình thành, phát triển tín ngưỡng, tâm lý của dân tộc đó Chính nền văn hóa dân tộc là mảnh đất ươm mầm, nuôi dưỡng tâm hồn của các nhà văn để rồi nó chi phối, ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới nghệ thuật, cũng như ngôn từ trong các sáng tác văn học mà các nhà văn tạo ra Điều này tạo nên sức sống lâu bền của tác phẩm, trở thành món ăn tinh thần vô giá, là màu sắc văn hóa riêng biệt không thể trộn lẫn giữa các dân tộc, nhà văn Khi nghiên cứu một tác phẩm văn học cần phải thông qua văn hóa, tái hiện lại không gian văn hóa trong đó tác phẩm ra đời, chú ý tới sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, thẩm mĩ, quan niệm về con người, các phương diện trong đời sống xã hội của thời đại Hướng tiếp cận văn học từ văn hóa sẽ đưa đến cách tiếp cận văn bản một cách toàn diện, giúp chúng ta nắm được ý nghĩa đích thực của tác phẩm văn học

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là hướng tiếp cận ngày càng được chú trọng và mở rộng phát triển theo nhiều hướng tìm hiểu khác nhau Có hướng nghiên cứu nhằm nhận diện và miêu tả các biểu hiện văn hóa có trong các tác phẩm văn học; cũng có hướng nghiên cứu thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hoá lịch sử của chúng; lại có hướng nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ của các văn bản nghệ thuật, đi tìm hiểu nghĩa và cơ chế kiến tạo nghĩa của nội dung / hình thức của các tác phẩm văn học từ bối cảnh văn hóa - xã hội…

Năm 1994, trong cuốn sách Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, tác giả Phan

Ngọc cũng đã đưa ra những quan điểm về văn hóa, “cách tiếp cận văn hóa trong văn học, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau cho các học giả sau này” Nhà nghiên

cứu Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa đã có

một bước tiến mới khi đưa ra quan điểm nghiên cứu văn học trung đại từ những phạm trù

cơ bản của văn hóa trung đại để tránh hiện đại hóa văn học dân tộc Ông cũng đã đề cập đến một số bài viết thành công theo hướng tiếp cận này của Hoài Thanh và Trần Đình

Hượu “Hoài Thanh đã chọn cách so sánh thơ mới với thơ cũ trên nền của sự thay đổi văn hoá do cuộc tiếp xúc văn hoá Đông - Tây… Trần Đình Hượu lại chọn cách đọc văn

Trang 23

học trung đại trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của tư tưởng triết học - đạo đức - thẩm mĩ của Nho giáo” [62, tr.11] Càng về sau càng có nhiều những công trình nghiên cứu về

văn học trong mối quan hệ với văn hoá theo nhiều cách tiếp cận khác nhau

Tóm lại, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hóa Nhà văn là một nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa và người đọc chính là người hưởng thụ những giá trị văn hóa Hướng tiếp cận văn học từ văn hóa là hướng tiếp cận đưa đến cái nhìn tổng thể, toàn diện cho các tác phẩm văn học

1.2 Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI

1.2.1 Khái quát chung về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Văn xuôi các DTTS Việt Nam hiện đại mới bắt đầu hình thành và phát triển cách đây không phải là thời gian quá dài, mới chừng trên 70 năm kể từ sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Khi mà văn xuôi Quốc ngữ đã phát triển mau chóng thì văn xuôi DTTS Việt Nam mới bắt đầu có những bước đi “chập chững” đầu tiên Phải đến những năm cuối thế kỷ XX văn xuôi DTTS Việt Nam mới có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu nổi bật

Thơ ca của văn học các DTTS là thể loại ra đời sớm hơn và đạt được một số

thành tựu đáng ghi nhận với những cây bút tiêu biểu như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… Nhưng hiện thực cuộc sống vùng cao ngày càng phong phú, phức tạp, mà thơ

ca với độ hàm súc cao không đủ khả năng phản ánh hết mọi khía cạnh phức tạp đó nên văn xuôi - loại hình nghệ thuật mang tính tự sự cao - đã ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân Văn xuôi các DTTS được đánh dấu bằng sự

xuất hiện của thể loại truyện ngắn Tác phẩm Cuộc đời của Đoàn (1980) của Bàn Tài

Đoàn ra đời báo hiệu về nhu cầu sử dụng văn xuôi để mở rộng khả năng phản ánh Cột mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành và phát triển thực sự của thể loại truyện

ngắn DTTS chính là tác phẩm Ché Mèn được đi họp của Nông Minh Châu viết năm

1958 Trong giai đoạn năm 1950 - 1960 xuất hiện hàng loạt các tập truyện ngắn

Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Cuộn chỉ màu hột đỗ, Học chữ của Lâm Ngọc Thụ, Chuyện Anh Thượng của Nông Minh Châu, Nước suối tiên đào của Vi

Hồng…Truyện ngắn phát triển mạnh vào cuối những năm 60 và giai đoạn 1970 -

Trang 24

1980 Các truyện ngắn dù còn non nớt, có nhiều dấu vết vụng về song đã thể hiện được những nét riêng của các tác giả Nhờ có sự quan tâm của Đảng mà tuyển tập của

nhiều tác giả hoặc của riêng từng tác giả đã ra đời: Tiếng hát rừng xa (1969) của Hoàng Hạc - Triều Ân, Mây tan (1973, nhiều tác giả), Đoạn đường ngoặt (1973) của Nông Viết Toại, Tiếng chim gô (1979) của Nông Minh Châu, Niềm vui (1979) của Vi Thị Kim Bình, Tiếng khèn A Pá (1980) của Triều Ân, Những bông hoa ban tím

(1982) của Sa Phong Ba… Sang những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh mẽ Các tác giả người DTTS đông đảo hơn và thành tựu

sáng tác cũng rực rỡ hơn: Cao Duy Sơn (các tập truyện Những đám mây hình người -

2002, Ngôi nhà xưa bên suối - 2007); Bùi Thị Như Lan (các tập truyện Hoa mía -

2006, Lời sli vắt ngang núi - 2007, Tiếng kèn Pí Lè - 2014); H’linh Niê (Êđê) với các

tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997), Gió đỏ (2004), Pơ Thi mênh mang mùa

gió (2009); Hà Thị Cẩm Anh (Mường) với Bài xường ru từ núi (2004), Mưa bụi (2008), Một nửa của người đàn bà (2013);Nông Quốc Lập (các tập truyện Cánh cổng thiên đường - 2007, Chiếc vòng tay kì lạ - 2015)

Tiểu thuyết là thể loại ra đời muộn hơn truyện ngắn Sáu năm sau khi truyện ngắn đầu tiên xuất hiện thì thể loại tiểu thuyết mới bắt đầu sự hình thành của mình

Nhà nghiên cứu Lâm Tiến nhận định: Tiểu thuyết Muối lên rừng của Nông Minh

Châu ra đời năm 1964 là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn xuôi DTTS Nếu như truyện ngắn phát triển liên tục với “những vụ mùa bội thu” thì tiểu thuyết lại “đi” chậm hơn Phải chăng do tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, cần phải có vốn sống phong phú, khả năng tổng hợp cao nên các nhà văn dân tộc thiểu số gặp phải những khó khăn nhất định trong quá trình sáng tác Bước phát triển của tiểu thuyết trong những năm 80- 90 của thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi của Vi Hồng với 14 cuốn tiểu

thuyết: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đã rơi (1985), Vào

hang (1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Lòng dạ đàn bà (1992), Dòng sông nước mắt (1993), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói (1993)… Ngoài ra, còn phải kể đến sự góp mặt của Ma Trường Nguyên với Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992), Hoàng Thị Cành với Làm dâu (1992), Cướp chồng (1992) Sang đến thế kỷ XXI, tiểu thuyết phải kể đến tên tuổi của Cao

Trang 25

Duy Sơn như Người lang thang (2005), Đàn trời (2006) Cao Duy Sơn đã khắc phục

được một số hạn chế trong nghệ thuật viết tiểu thuyết trước đó khi nhà văn chú ý miêu tả nhân vật với một sự tự ý thức và sáng tạo được những nhân vật có cá tính riêng biệt

Thời kỳ này các nhà văn DTTS đã có sự trưởng thành vượt bậc, nâng cao chất lượng nghệ thuật các tác phẩm Các tác phẩm ra đời thực sự là những món ăn tinh thần đối với bạn đọc khi đi sâu vào khám phá bức tranh thổ cẩm khảm kết nhiều sắc màu của đồng bào DTTS Việt Nam trong thời kỳ hiện đại Nội dung chủ yếu của các tác phẩm văn xuôi DTTS Việt Nam hiện đại là phản ánh sinh động và chân thực cuộc sống của đồng bào các DTTS vùng cao trong những giai đoạn lịch sử của đất nước Trước năm 1975, văn xuôi DTTS chủ yếu tập trung phản ánh cuộc đấu tranh cứu quốc vĩ đại của dân tộc, có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước, con người mới Đến nay biên độ sáng tác đã mở rộng hơn Văn xuôi dân tộc thiểu số đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đất nước, ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp, đồng thời cũng phê phán cái xấu, cái lạc hậu, đi sâu miêu tả con người miền núi với những số phận mới, khát vọng mới, phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa con người với con người và những xung đột giữa con người với thiên nhiên

Về nghệ thuật bên cạnh những tìm tòi thể nghiệm của một số cây bút như Inrasara, Cao Duy Sơn, Bùi Thị Như Lan… thì hầu hết các sáng tác văn xuôi DTTS vẫn mang đậm dấu ấn của văn học dân gian truyền thống Ngôn ngữ thường mang đậm dấu ấn của tư duy trực giác, cảm tính Nhân vật trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số lúc đầu khá đơn giản, sơ lược, công thức nhưng dần dần đã được chú ý khai thác ở đời sống nội tâm, xuất hiện những nhân vật đa diện Cốt truyện được sắp xếp theo trật tự tuyến tính và kết thúc thường có hậu Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà văn đã sáng tạo cốt truyện đảo ngược và kết thúc mở Có thể khẳng định văn xuôi DTTS đã phản ánh phần nào những vẻ đẹp độc đáo, đa dạng trong hiện thực cuộc sống của mỗi

cộng đồng DTTS Việt Nam

Cho tới nay, nhiều dân tộc thiểu số vẫn chưa có mặt trong cuốn biên niên sử của văn học Việt Nam hiện đại Văn xuôi DTTS đã có sự biến chuyển nhưng chưa thực sự mạnh mẽ so với văn học hiện đại cả về tầm vóc lẫn số lượng, vẫn còn thiếu những

Trang 26

tác phẩm viết về những vấn đề “thời sự” ở các vùng miền núi như an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể với những nỗ lực không ngừng văn xuôi DTTS Việt Nam đã dần khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong dòng chảy của nền văn học nước nhà, góp phần vào thành tựu chung của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập

1.2.2 Phác thảo diện mạo truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Mười tám năm đầu thế kỷ XXI, văn xuôi DTTS đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có những cây bút đã nỗ lực vươn lên đạt được những thành tựu rất đáng tự hào Trong văn xuôi DTTS thời kỳ này, có thể kể đến sự phát triển mạnh mẽ của thể loại truyện ngắn với nhiều cây bút mới, số lượng và chất lượng nghệ thuật được nâng lên rõ nét So với các thể loại văn xuôi khác như tiểu thuyết, ký, tản văn thì truyện ngắn là thể loại phát triển mạnh mẽ hơn cả

Sang thế kỷ XXI, các cây bút thế hệ thứ nhất hầu như không còn, mà lực lượng sáng tác chính đang là những cây bút thuộc thế hệ thứ hai như: Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị Như Lan, Hữu Tiến… và các cây bút thuộc thế hệ thứ ba như: Nông Quốc Lập, Nông Quang Khiêm, Lý A Kiều, Chu Thị Thanh Hương, Niê Thanh Mai… Các tác phẩm ra đời đầu thế kỷ XXI đã tập trung phản ánh sự biến đổi sâu sắc của cuộc sống, con người miền núi trong thời kỳ mới

Xã hội miền núi đương đại trong cuộc chuyển mình đi lên cùng đất nước với cả những cơ hội và thách thức, cả mặt phải và mặt trái của nó đã trở thành đề tài được các cây bút truyện ngắn DTTS chú ý đến Lúc này, các nhà văn đã có cái nhìn đa chiều hơn vào thực trạng xã hội, phản ánh những nét đẹp của đời sống miền núi trong xây dựng và phát triển, cả những mặt tiêu cực còn đang tồn tại, đồng thời đưa ra cảnh

báo về những hệ lụy của nền kinh tế thị trường Hai tập truyện ngắn Gió đỏ (2004) và

Pơ Thi mênh mang mùa gió (2009) của H’linh Niê giúp chúng ta có cái nhìn toàn

diện về buôn làng Tây Nguyên thời đương đại với tất cả những khó khăn, thuận lợi, cũng như cuộc đấu tranh chống lại các hủ tục, chống lại những tiêu cực và tệ nạn xã hội để thoát khỏi cuộc sống đói nghèo, vươn lên làm giàu và giữ gìn bản sắc dân tộc

Niê Thanh Mai nhà văn người Tây Nguyên với ba tập truyện ngắn Suối của rừng (2005), Về bên kia núi (2007), Ngày mai sáng rỡ (2010) cũng cho người đọc thấy

Trang 27

nỗi đau khôn nguôi của những con người nặng lòng với văn hóa truyền thống dân tộc,

lo âu trước sự biến đổi của xã hội miền núi đương đại Cao Duy Sơn trong tập truyện

Người chợ (2010), Hữu Tiến trong Chuyện mới ở bản,… cũng phát hiện và cảnh báo

về sự đổi khác của gương mặt con người miền núi trong thời buổi kinh tế thị trường

Gần đây, gây ấn tượng là tập truyện Tiếng hú trên đỉnh Pù Cải của Nông Quang

Khiêm với 11 truyện ngắn kể về những phận người bị ám ảnh bởi cái nghèo và xen vào đó là những cuộc tình ngang trái éo le Nhưng còn một điều đáng sợ khác, chính là sự vỡ nát của những giá trị truyền thống tốt đẹp trong thời buổi kinh tế thị trường khi đồng tiền có sức mạnh và quyền lực vô biên Cuộc sống sẽ thay đổi, con người sẽ thay đổi, nhưng điều quan trọng là thay đổi như thế nào? Cuộc sống trong truyện, nhân vật trong truyện đã thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, nói cách khác là bị cuốn đi, bị đồng tiền chi phối, giày xéo Những giá trị truyền thống tốt đẹp của đồng bào miền núi đã và đang biến đổi, rạn nứt trước cuộc sống xô bồ với đủ loại người tốt xấu, thật giả, lừa lọc, gian lận trong xã hội Sự lo âu, trăn trở của các nhà văn DTTS khi phản ánh các vấn đề đó cũng chính là hồi chuông cảnh báo: Hãy cứu lấy những giá trị truyền thống tốt đẹp, những giá trị văn hóa tốt đẹp của con người miền núi

Viết để khẳng định và ngợi ca những phong tục tập quán đẹp của những vùng miền khác nhau luôn là niềm tự hào của những người con DTTS Có thể thấy, hầu hết các tác giả viết truyện ngắn đều có ý thức miêu tả đời sống tinh thần với những phong tục tập

quán đẹp đẽ của quê hương mình Súc Hỷ của Cao Duy Sơn giới thiệu tục lệ “khai vài xuân”, “lễ gọi hồn” chiều 30 thật linh thiêng của dân tộc Tày Truyện ngắn Mùa này hoa

bằng lăng không nở của H’Linh Niê tái hiện một phong tục sinh hoạt của người dân tộc

Tây Nguyên với ngày hội bắt cá Hình ảnh chợ tình được tái hiện trong nhiều sáng tác của Cao Duy Sơn, Bùi Thị Như Lan như một nếp sinh hoạt đậm tính nhân văn của người miền núi…

Các truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI, đã có điều kiện quan tâm tới vấn đề số phận cá nhân Nhiều truyện đã đi sâu tìm hiểu cuộc đời và thân phận con người trong cuộc sống mới Đó là nỗi đau của những người phụ nữ khi có người thân ra trận không trở về hoặc trở về nhưng bị nhiễm chất độc da cam không có hạnh phúc như

trong các truyện: Núi đợi, Bố ở nơi đâu, Gió hoang, Trăng mọc trong thung lũng

Trang 28

của Bùi Thị Như Lan Hình ảnh cô gái tên Khơ với khuôn mặt “đẹp như bông đào trong nắng Nụ cười bẽn lẽn, mắt chớp như cánh vẫy của loài hoa” nhưng không có

được hạnh phúc của mình, thân thể bị tàn tật trong Hoa bay cuối trời của Cao Duy

Sơn, hay người phụ nữ phải chịu nhiều oan khuất, đau khổ trong quá trình đi tìm một

nửa hạnh phúc của mình trong Sông trôi lặng lẽ, Đứa con trai của Hà Thị Cẩm

Anh…là những dấu trầm lặng lẽ! Sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ miền núi chính là điểm đổi mới của các truyện ngắn đầu thế kỷ XXI so với các truyện ngắn trước đó

Thời kỳ này mối quan hệ giữa con người với môi trường sống cũng được các

các nhà văn đề cập đến trong nhiều truyện ngắn Nông Văn Lập với tập truyện Cánh

cổng thiên đường đã cảnh báo về hành động tàn ác, gây sự với thiên nhiên của con

người Kha Thị Thường trong Lũ Núi đặt ra vấn đề nhân quả, báo ứng từ sự phá vỡ sự

cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, phát hiện cái bí ẩn thuộc về đời sống tâm linh ở miền núi Tôn trọng cõi tự nhiên linh thiêng, bảo tồn động vật hoang dã, đó là thông điệp mà các nhà văn đề xuất Các cây bút dân tộc Mường ở Thanh Hóa như Hà Thị Cẩm Anh và Bùi Nhị Lê cũng có các tác phẩm tạo được dấu ấn

riêng Qua tập truyện Nước mắt của đá, Hà Thị Cẩm Anh thể hiện sự cảm thông với

những con người là nạn nhân của hủ tục, định kiến ở bản mường, đồng thời nữ nhà văn

đã cất lời kêu gọi bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên một cách đầy tâm huyết

Có thể thấy, trong thời gian gần 20 năm đầu thế kỷ XXI truyện ngắn DTTS đã có sự mở rộng đề tài, nhiều tác phẩm đã kịp thời tái hiện bộ mặt mới mẻ của miền núi trong nền kinh tế thị trường với những khởi sắc và cả những bất ổn đang vỡ ra của nó Cảm hứng phanh phui sự thật, nhìn nhận vấn đề từ hai mặt, tránh khuôn mẫu, một chiều, đó là nét riêng của truyện ngắn miền núi đương đại như một sự bù đắp cho phần thiếu hụt của văn học sử thi giai đoạn trước

Ở phương diện hình thức, qua khảo sát có thể thấy, truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI có những tác phẩm được đánh giá cao, nhiều tác phẩm đã khắc phục được những hạn chế mang tính phổ biến của truyện ngắn giai đoạn trước như đơn giản trong tổ chức cốt truyện, tính công thức trong xây dựng nhân vật và sự lạm dụng tính hình tượng khiến ngôn ngữ mòn sáo, chất thơ lấn át chất văn xuôi… Cùng với việc kế thừa những

Trang 29

ưu điểm của cốt truyện truyền thống, các nhà văn đã chú trọng xây dựng những cốt truyện hiện đại chuyển từ kết thúc có hậu mang màu sắc cổ tích sang kiểu kết thúc mở, gợi tư duy đa chiều cho người đọc Các cốt truyện theo hướng đảo lộn thời gian, kết thúc mở, truyện lồng trong truyện, cốt truyện huyền ảo cũng được các nhà văn DTTS hiện đại

chú trọng như: Cao Duy Sơn với truyện ngắn Song sinh, Hấp hối …; Bùi Thị Như Lan với Trăng mọc trong thung lũng, Gió hoang …; H’linh Niê với Chiếc bầu của H’Lâm,

Thung lũng Yang Hruê, Con đường đã chọn … Bên cạnh việc xây dựng những cốt

truyện hiện đại, các nhà văn DTTS còn có sự bứt phá để sáng tạo khi xây dựng nhân vật Trong các truyện ngắn đầu thế kỷ XXI, nhiều nhân vật vẫn được xây dựng theo sự phân cực hai tuyến thiện - ác, tuy nhiên các nhà văn còn có sự đổi mới khi xây dựng những

nhân vật lưỡng diện như Khá Chồi trong Khá Chồi của Hà Thị Cẩm Anh Các truyện

ngắn thời kỳ này không chỉ xây dựng nhận vật thông qua ngoại hình mà còn hướng ngòi bút miêu tả những diễn biến tinh vi, phong phú, chân thực trong đời sống nội tâm con

người, “gần đây các tác giả DTTS thường hay triết lý về con người, về tính nhân văn của con người dân tộc và miền núi” [59, tr.11] Ngôn ngữ trong truyện ngắn DTTS Việt Nam

đương đại vẫn mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị gắn liền với tư duy trực giác và cảm tính, ngôn ngữ gắn với cuộc sống và con người miền núi như trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, Bùi Thị Như Lan, Niê Thanh Mai, Bùi Minh Chức…

Các truyện ngắn DTTS đầu thế kỉ XXI đã có những bước tiến đáng kể cả về nội dung phản ánh và phương diện nghệ thuật Trong giai đoạn văn học này, các nhà văn DTTS phía Bắc và phía Nam đều nặng lòng với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, họ ca ngợi những nét đẹp văn hóa với một niềm tự hào, trận trọng Bên cạnh đó, người đọc còn thấy được sự trăn trở, đau đáu của các nhà văn khi những giá trị văn hóa của dân tộc đang bị mai một, mất dần Cùng với đó là sự biến đổi những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc trước vòng xoáy của nền kinh tế thị trường Xét về phương diện nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn của các nhà văn DTTS phía Bắc mang nhiều yếu tố truyền thống, dấu ấn của văn học dân gian hơn so với các truyện ngắn DTTS phía Nam Có thể do khu vực phía Nam các nhà văn có điều kiện tiếp xúc sớm hơn với nền văn học phương Tây

Trang 30

nên truyện ngắn DTTS khu vực phía Nam phát triển manh mẽ, mang nhiều yếu tố hậu hiện đại

Truyện ngắn DTTS trong khoảng gần 20 năm đầu thế kỷ XXI hầu như không

còn có sự góp mặt của thế hệ nhà văn đặt nền móng như Vi Hồng, Triều Ân, Nông

Minh Châu, Hoàng Hạc, Cầm Biêu … Họ đã hoàn thành sứ mệnh một cách xuất sắc, hiện các nhà văn đã qua đời hoặc tuổi đã cao nên không còn cầm bút nữa Thế hệ cầm bút thứ hai gồm lớp nhà văn trưởng thành và có nhiều đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ, rực rỡ và toàn diện của văn học các DTTS trong những năm từ sau 1975 đến năm 2000 như Cao Duy Sơn, Hữu Tiến, Hà lâm Kỳ, Hoàng Thị Cấp, Hoàng

Tương Lai, Hà Thị Cẩm Anh, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan, Bùi Minh Chức…

Sang những năm đầu thế kỷ XXI, họ vẫn là những cây bút sung sức, còn nặng lòng với những giá trị truyền thống của dân tộc nhưng vẫn luôn có ý thức tự hoàn thiện trình độ và năng lực, luôn đổi mới trong tư duy nghệ thuật… để làm mới mẻ hơn, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn những đứa con tinh thần của mình Thế hệ thứ ba là lớp nhà văn trẻ trên dưới 35 tuổi, thuộc lứa tác giả trẻ 7X, 8X đã và đang tiếp nối con đường văn chương của thế hệ cha anh trong sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập Họ chính là những người sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc làm nên diện mạo mới của văn xuôi DTTS Việt Nam thế kỷ XXI

Trước hết, có thể nói rằng: Họ là một lực lượng, một đội ngũ khá đông đảo các cây bút trẻ thuộc các DTTS Việt Nam Ở khu vực miền núi phía Bắc có các cây bút dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái,…; khu vực miền Trung có các cây bút dân tộc Mường, Thái…; khu vực Tây Nguyên có các cây bút dân tộc: Ê Đê, Gia Rai, K’ho…;

và khu vực Nam bộ có các cây bút dân tộc: Kh’me, Chăm, Hoa… Họ đều là những người trẻ tuổi, đam mê văn chương, đa số được đào tạo khá cơ bản, có trình độ văn hóa, trong đó có những người đã được học Đại học viết văn như: Nông Thị Tô Hường, Lục Mạnh Cường, Nông Quốc Lập, Nông Quang Khiêm, Chu Thị Thanh Hương, Ma Thị Hồng Tươi, Kha Thị Thường, Niê Thanh Mai, … Thế hệ nhà văn thứ ba sẽ góp phần quan trọng vào việc làm nên một diện mạo mới cho văn học DTTS Việt Nam thế

kỷ XXI, đáp ứng với nhu cầu của thế hệ bạn đọc mới, đáp ứng sự vận động, phát triển theo xu hướng hiện đại và hội nhập quốc tế của văn học Việt Nam nói chung trong giai đoạn lịch sử mới của đất nước

Trang 31

Những cây bút trẻ có đam mê, khát vọng đổi mới văn chương Họ đề cập đến các vấn đề xã hội, vấn đề cá nhân một cách đa diện, đa chiều hơn Các nhà văn luôn xác định bên cạnh việc kế thừa những tinh hoa của nền văn học truyền thống mà thế hệ trước đã đạt được cũng cần phải học hỏi, nâng cao trình độ, tiếp cận những phương pháp sáng tác mới để tạo dấu ấn riêng của thế hệ mình Bởi vậy, các tác phẩm của các nhà văn trẻ vẫn mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc nhưng lối viết, cách cảm, cách nghĩ hiện đại hơn khiến cho người đọc cảm thấy hấp dẫn, thú vị hơn Tuy nhiên, lớp nhà văn trẻ này cũng có một số hạn chế về vốn sống, về vốn văn hóa dân tộc truyền thống làm ảnh hưởng đến chất lượng các tác phẩm Đây là một nguy cơ khiến cho các tác phẩm của họ sẽ mất đi những nét riêng, độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa các tộc người ở Việt Nam Vậy vấn đề đặt ra đối với các nhà văn DTTS nói riêng và các nhà văn Việt

Nam nói chung là “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

hiện vẫn đang là vấn đề trọng tâm, cơ bản, không thể xa rời

Trong số các cây bút viết truyện ngắn DTTS 18 năm đầu thế kỷ XXI, Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Bùi Thị Như Lan, Niê Thanh Mai là những gương mặt tiêu biểu Những sáng tác của họ vừa thể hiện tình yêu sâu đậm với những giá trị văn hóa truyền thống vừa cho thấy hành trình vận động và phát triển của văn xuôi DTTS nói chung và truyện ngắn DTTS nói riêng trên con đường hội nhập

Cao Duy Sơn là nhà văn thuộc thế hệ thứ hai trong đội ngũ các nhà văn DTTS Việt

Nam hiện đại Với một loạt các sáng tác được trình làng trong thời gian qua, ông được đánh giá là cây bút tiêu biểu, có cá tính trong sáng tạo nghệ thuật Các tác phẩm của Cao Duy Sơn nổi bật cả ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài chúng tôi xin phép giới thiệu những tập truyện ngắn xuất sắc của nhà văn được xuất bản những năm đầu thế kỷ XXI Năm 2002 nhà văn được nhận giải B Hội văn học

nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập truyện ngắn Những đám mây hình

người Đáng chú ý là tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối (2007) được nhà văn sáng tạo

miệt mài trong bốn năm từ 2002 đến 2006 đã được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng Đông Nam Á năm 2009 Các truyện ngắn của Cao Duy Sơn thường đặt ra những vấn đề mang tính xã hội và nhân sinh sâu sắc, ông có ý thức hòa trộn hai yếu tố truyền thống và hiện đại với nỗi niềm đau đáu một tình yêu quê hương xứ sở, trân trọng những giá trị văn hóa cội nguồn

Trang 32

Hà Thị Cẩm Anh - nữ nhà văn xuất sắc của mảnh đất xứ Mường Thanh Hóa với

rất nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật đã được bạn đọc yêu mến đón nhận Có thể kể

đến các tập truyện như: Bài xường ru từ núi (năm 2004), Nước mắt của đá (2005), Một

nửa của người đàn bà (2013) Hà Thị Cẩm Anh đã nhận được nhiều giải thưởng về văn

học nghệ thuật như: Huy chương vì sự nghiệp văn học - nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Giải B cuộc thi truyện và ký của Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2002; Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam năm 2003 -

2004 Năm 2013, Hà Thị Cẩm Anh được trao giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn của Hội Nhà văn các dân tộc thiểu số với tập truyện Một nửa của người đàn bà Nội dung bao

trùm trong các sáng tác của nhà văn là cuộc sống của con người xứ Mường - miền quê Thanh Hoá của bà với biết bao biến động Những trang viết của Hà Thị Cẩm Anh đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Mường Điều đó thể hiện rõ ở cảm hứng về thiên nhiên, con người và những phong tục tập quán của dân tộc Mường Về phương diện nghệ thuật, nhà văn đã thổi hồn dân tộc vào trang viết của mình nhờ việc sử dụng ngôn ngữ Mường, câu văn mang âm hưởng sử thi dân gian và một thế giới nghệ thuật giàu tính dân tộc

Nhà văn nữ dân tộc Tày, Bùi Thị Như Lan là nhà văn quân đội - quân khu Việt

Bắc vì thế chị hay viết về đề tài cuộc sống con người miền núi phía Bắc, nhất là những số phận, cảnh ngộ của những người phụ nữ có chồng tham gia quân đội, những người lính DTTS trong đời sống quân ngũ và cuộc sống đời thường Chặng đường gần 20 năm cầm bút, nhà văn đã gặt hái được rất nhiều thành công ở thể loại truyện

ngắn như: Giải Ba (Không có giải Nhất), truyện ngắn Núi đợi (Cuộc thi viết truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội - 2002); Giải Nhì, truyện ngắn Gió hoang (cuộc thi

sáng tác truyện ngắn và bút kí, Tạp chí văn hóa các dân tộc - 2004); Giải C, tập

truyện Hoa mía (Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam - 2006); Giải

A, tập truyện ngắn Tiếng chim kỷ giàng (Tổng kết 5 năm truyện ngắn Thái Nguyên - 2007); Giải Ba, truyện ngắn Mùa hoa Bjoóc phạ (cuộc thi viết truyện ngắn, bút ký do

Hội Nhà văn phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức - 2013) Trong tập truyện

Tiếng kèn pílè có một số truyện được phát trên đài truyền hình Vệt Nam như: Lời sli trôi trong trăng, Bạn toồng… Ngoài ra còn một số tác phẩm được in trên tạp chí văn

nghệ Quân đội như: Gió thổi qua rừng, Tiếng kèn pílè… và in trên Báo văn nghệ Công an như: Hắn, Lá bùa đỏ…

Trang 33

Niê Thanh Mai - nhà văn người Ê đê sinh năm 1980 là cây bút tiêu biểu của

mảnh đất Tây Nguyên với nhiều tác phẩm xuất sắc Các tác phẩm của chị mang đậm giá trị văn hóa Tây Nguyên, những phong tục tập quán, cuộc sống của con người Tây Nguyên trong cuộc sống mới Là nhà văn trẻ thuộc thế hệ thứ 3, được đào tạo ở trình độ cao nên Niê Thanh Mai luôn ý thức kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Yêu văn và có những tìm tòi sáng tạo trong lối viết, Niê Thanh Mai đã xuất bản 3 tập

truyện ngắn Suối của rừng (2005), Về bên kia núi (2007), Ngày mai sáng rỡ (2010)

Nữ nhà văn trẻ đã nhận được nhiều giải thưởng giá trị như: Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn đầu

tay “Suối của rừng” (2005), sau đó là chùm truyện ngắn “Cửa sổ không có chấn

song” và “Giữa cơn mưa trắng xóa” đoạt giải Nhì cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí

Văn nghệ quân đội

Trên đây chỉ là bốn cây bút tiêu biểu của văn xuôi DTTS đầu thế kỷ XXI Hi vọng rằng thời gian sắp tới sẽ có nhiều cây bút với nhiều tác phẩm của các nhà văn DTTS Việt Nam đến với bạn đọc với chất lượng nghệ thuật được nâng cao, tạo nên tấm thổ cẩm nhiều sắc màu của văn học DTTS thế kỷ XXI

Trang 34

Tìm hiểu quá trình phát triển của văn xuôi DTTS Việt Nam thời kì hiện đại, chúng tôi nhận thấy: Mặc dù tốc độ phát triển của văn xuôi DTTS Việt Nam còn chậm và muộn so với văn xuôi hiện đại Việt Nam, song sau 70 năm hình thành và phát triển văn xuôi DTTS Việt Nam đã có những bước tiến đáng mừng về mọi mặt Các thể loại ngày càng hoàn thiện hơn; chủ đề, đề tài được mở rộng phong phú hơn; chất lượng nghệ thuật được nâng cao và tiến gần hơn với nghệ thuật của văn xuôi hiện đại cả nước Sang thế kỷ XXI, thể loại truyện ngắn được coi là thể loại phát triển vượt bậc trong nền văn xuôi DTTS Việt Nam Các tác phẩm phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội miền núi trong thời buổi kinh tế thị trường đầy phức tạp, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Chất lượng nghệ thuật đã được nâng lên, các nhà văn có sự kết hợp hài hoà giữa tính truyền thống và hiện đại Các nhà văn DTTS không chỉ ngày một trẻ về tuổi đời mà còn tích cực học tập, tích lũy tri thức để cho ra đời những tác phẩm có giá trị đích thực Có thể khẳng định, truyện ngắn DTTS đầu thế kỷ XXI đã khẳng định được vị thế của nền văn xuôi DTTS trên hành trình hội nhập

Trang 35

Chương 2 VĂN HÓA MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN DÂN TỘC THIỂU SỐ

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

2.1 Thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa miền núi

Con người dù sống ở thời đại nào cũng không thể tách rời với thiên nhiên Cho nên con người coi thiên nhiên chính là những người bạn của mình Thiên nhiên ở mỗi đất nước, mỗi vùng miền đều có những nét đặc trưng và vẻ đẹp riêng, qua cách cảm, cách nghĩ của mỗi người nghệ sĩ nó trở nên sinh động hơn bao giờ hết trên các trang viết thấm đậm chất trữ tình Chính vì thế mà thiên nhiên cũng góp phần làm nên văn hóa của các

dân tộc Điều này đã được Nguyên Ngọc khẳng định:“Có hàng trăm cách định nghĩa về văn hoá nhưng định nghĩa nào cũng phải có hai yếu tố cơ bản: con người và tự nhiên Văn hoá chính là kiểu cách con người quan hệ với tự nhiên và từ đó quan hệ với nhau”(Dẫn theo [19])

Trong những sáng tác của các nhà văn DTTS, thiên nhiên hiện lên khá đa dạng, phong phú, nhiều màu vẻ, thấm đẫm cảm quan văn hóa vùng miền Khi miêu tả thiên nhiên ngoài dấu ấn địa văn hóa còn có cách cảm nhận riêng của từng nhà văn Vì vậy, thiên nhiên còn mang dấu ấn văn hóa của người sáng tạo Đó có thể là thiên nhiên miền núi hoang sơ, hùng vĩ nhưng cũng rất lãng mạn thơ mộng; Đó còn là thiên nhiên được nhân hóa như một sinh thể có cuộc sống, tâm hồn, số phận luôn gắn bó, hòa hợp với con người; Thiên nhiên che chở cho con người, là người bạn tâm tình sẻ chia với con người Nhà văn Cao Duy Sơn đã vẽ lên những bức tranh thiên nhiên vùng đất Cô Sầu quê hương ông thật phong phú Ở thung lũng quanh năm chìm dưới cái bóng của đại ngàn, bốn mùa trong năm đều có những nét đẹp riêng làm nên cái mới lạ của đất trời Mùa xuân ở vùng núi thường đến muộn nhưng đậm đà và sắc nét hơn mọi nơi Những

cơn mưa “như bụi rắc xuống từ đỉnh núi len khắp khe ngách, lối mòn, ken sươn sướt quanh những gốc lê trổ bông như tuyết” [51, tr.69] Đọc những câu văn miêu tả về mùa

xuân của Cao Duy Sơn không có cỏ non xanh rợn ngợp, trải dài vô tận theo chân trời như mùa xuân trong thơ Nguyễn Du mà chỉ có những dãy núi sừng sững với rừng cây ngút ngàn trong sương khói Hoa lê đã nở trắng cả núi rừng, màu trắng như tuyết làm mùa xuân thêm tươi đẹp, tinh khiết Mùa xuân trên vùng núi cao không có những tia

Trang 36

nắng ấm áp trải vàng khắp nơi mà cái lạnh vẫn còn mơ màng trong lớp áo với những cơn

mưa phùn “như hoa bay trong gió, khẽ đậu xuống lá mận non tơ” [51, tr.212] làm không gian trở nên yên ắng, “chỉ những bông mận nở muộn như tuyết trắng bên những cành đào rực đỏ dưới chân núi khẽ đưa trong gió” [51, tr.96] Màu trắng tinh khiết của hoa

lê, hoa mận xen lẫn màu đỏ như rực lửa của hoa đào đã phủ lên rừng núi một chiếc áo mới thật xinh xắn Đâu đó, quanh chân đồi, vài con suối đang thi nhau chảy róc rách như vừa ngủ dậy sau một giấc mộng dài Tiếng chim hót gọi bầy bỗng nháo nhác làm náo động cả đất trời, nó xua tan cái yên tĩnh vốn có của núi rừng Thế là mùa xuân tươi đẹp đã về! Vạn vật như bừng tỉnh trong nắng xuân dịu dàng Thu sang, đất trời Cô Sầu đổi sang màu áo mới Đó không còn màu nắng gắt như mùa hạ mà đó là màu vàng tươi

của núi rừng với cúc vàng, nắng nhạt: “Trưa mùa thu yên tĩnh, một làn gió nhẹ lướt qua bãi cúc nở vàng khắp chân đồi, lùa quanh thung lũng một mùi hương dịu dàng hoang dã… Cái hương vị ngày ngạy, đăng đắng đó len vào đồng cỏ đã bắt đầu se khô… Một vồng mây nhuốm nắng vàng, bồng bềnh trên ngọn cây dẻ” Mùa thu ở vùng

cao có cái đẹp lạ lùng bởi thiên nhiên nơi đây không chỉ có màu sắc riêng và còn có mùi vị rất đặc trưng của nương lúa nếp bắt đầu tỏa ngát hương thơm, cả đám lúa cứ đu

đưa “như lụa dập dềnh trong gió” Những bông hoa mộc lan “thoảng một góc thềm đầy nắng, thứ ánh sáng trong vắt như được lọc qua một lớp thủy tinh màu vàng

[50, tr.125] Đêm thu, bầu trời đầy sao nhấp nhánh như mắt ông trời đang thảnh thơi nhìn xuống mặt đất Một làn gió nhẹ thổi tới mang theo hương vị nồng của đất Bầu trời

thì huyền ảo, diệu kì “Trên trời có hằng hà những hạt kim sa nhấp nháy” [50, tr.121] Cuối thu “khí lạnh từ núi phả xuống, không ngăn được màu vàng như lọc của trăng thu” [51, tr.146] Gió thu se lạnh làm lòng người cũng se lạnh để chuẩn bị đón một mùa

đông lạnh giá sẽ về Đông đến, cái lạnh đã tràn vào bản từ rất sớm Dường như mọi vật

trở nên lười biếng hơn Những con suối chẳng vui cười mà chỉ còn “tiếng róc rách của con nước hao gầy đan vào không gian yên ả như những âm thanh tự ngàn đời”

[51, tr.201] Mặt trời đã đứng bóng nhưng chẳng buồn hắt nắng, nó uể oải trút từng giọt nắng yếu ớt từ trên không trung xuống, rơi nhỏ giọt vào những tán lá xanh rì Có thể thấy, thiên nhiên ở vùng núi Cô Sầu các mùa hiện lên thật phong phú, đa dạng Mỗi mùa đều đem đến một vẻ đẹp riêng làm nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình

Trang 37

đầy hấp dẫn của rừng núi nơi này Cùng là người con của mảnh đất Cao Bằng, nếu như Cao Duy Sơn cảm nhận được vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiên với mưa xuân, sắc vàng mùa thu, cái buốt giá của mùa đông núi rừng thì trong cảm nhận của nhà văn Vi Hồng thiên nhiên bốn mùa của vùng đất này lại hiện lên sinh động qua sắc nắng Mùa đông là

“cái nắng rạng rỡ, mát rượi, vắt ngang đèo”, mùa xuân là ánh nắng “ấp vàng như tơ, sưởi ấm cho ngàn cây”, mùa hè là “nắng vàng rờ rỡ trải xuống mênh mông những nương chè”, ánh nắng “ngọt như mật” của mùa thu làm cho cảnh sắc thiên nhiên mảnh

đất Cao Bằng thật rực rỡ, trong trẻo Như vậy cùng là bức tranh thiên nhiên mang dấu ấn văn hóa vùng miền nhưng trong cách cảm nhận của từng nhà văn lại mang những dấu ấn riêng, thể hiện cảm quan văn hóa độc đáo của nhà văn đó Nếu Cao Duy Sơn nặng lòng với núi rừng của mảnh đất Cô Sầu thì Hà Thị Cẩm Anh lại có tấm lòng tha thiết gắn bó với thiên nhiên, với núi rừng của thung lũng Si Dồ Mảnh đất xứ Mường hiện lên trên những trang viết của nhà văn là bức tranh thiên nhiên miền núi với đặc

trưng là núi rừng, sông suối, thác ghềnh Làng Chiềng Va trong Nước mắt đỏ hiện lên

với vẻ đẹp của một “xứ sở lạ lùng và bí ẩn” bởi có những ngọn núi mang bộ mặt gớm ghiếc, hiểm trở và dữ dội như muốn doạ nạt con người: “Ngọn thì cao vót Ngọn thì trọc lốc Có ngọn thì hoen ố, loang lổ như mặt cọp, trông mà ghê hết cả người…,từ trong các hốc đá trông như mắt tử thần luôn luôn có một thứ nước vàng đục ngầu cứ

ứa chảy từ trên cao xuống vách đá dựng đứng Càng gần con người núi càng muốn phô hết cái vẻ trần trụi, hiểm trở ra để doạ nạt người ta” [4, tr.17]

Con sông dù ở bất kỳ đâu cũng lưu giữ những kỉ niệm cuộc đời của mỗi con người Với Tế Hanh hình ảnh con sông miền Nam thật êm đềm, dịu dàng:

Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Còn các nhà văn dân tộc thiểu số lại có được sự hòa hợp khi miêu tả thiên nhiên miền núi, đó là những nét vẽ sinh động về thác nước, dòng sông Nó vừa dịu dàng, trữ

tình lại vừa mang bản tính dữ dội, mãnh liệt như sông Đà của Nguyễn Tuân: “Con sông tung bờm nước trắng xoá qua các thác ghềnh ở miền Tây nên người xưa đã gọi

nó là sông Ngựa Sông Mã em à ! Về đến thung lũng Si Dồ thì sông Mã trở nên hiền

lành và hiếu thảo hơn” [4, tr.12] Hình ảnh dòng sông trong Nước mắt đỏ của Hà Thị

Trang 38

Cẩm Anh lại gợi ta nhớ đến con thác Chín Thoong trong Tháng năm biết nói của Vi

Hồng Con thác có lúc thì thật thơ mộng, bình yên “Dòng Chín Thoong nước đang kéo màu chàm, con nước còn mạnh nhưng nước đã trong văn vắt, màu nước xanh biếc như tàu lá dong độ con gái”, có lúc lại chứa đựng đầy những hiểm họa khôn lường: “Sông đục ngầu, nước to, thác Chín Thoong gào hú như đoàn thiên binh vạn mã của sông nước đang trẩy quân đánh nhau với long vương… có lúc như tiếng khóc than của nghìn vạn người” [17, tr.18] Qua những trang văn của các nhà văn DTTS, ta nhận thấy

rõ nét thiên nhiên mang đậm dấu ấn vùng miền, đó là một phần bản sắc văn hóa riêng của đồng bào miền núi

Nhà văn H’linh Niê lại dẫn người đọc đến vùng đất Tây Nguyên để khám phá

vẻ đẹp tinh khôi, mênh mông, hoang dã, dữ dội của thiên nhiên nơi đây Khi mùa đông đến, rừng núi đại ngàn bừng lên vẻ đẹp ngỡ ngàng, xuất thần như giờ phút li

biệt giữa những chiếc lá cuối cùng đỏ thắm với cây “Trước khi trút hết tấm áo cũ xuống làm lá mục nuôi đất, toàn bộ cây rừng chắt chiu chút sức lực cuối cùng của mình hóa thân những chiếc lá thành màu đỏ, cố làm đẹp cho đời lần chót… Một cơn gió mùa đông ào ạt cuốn hàng ngàn chiếc lá đỏ bay tít lên cao rồi thả xuống, phủ một tấm thảm đỏ lên rừng Cây bút kỳ diệu của thiên nhiên hoang dã đã dùng cành khô và lá đỏ vẽ nên một khung cảnh tuyệt vời” [ 47, tr.433] Vào những ngày mùa xuân, thiên

nhiên lại rạng rỡ một vẻ đẹp tươi mát, phồn thực, đầy sức sống và quyến rũ lòng người

“Đón nhận những giọt nước mát mẻ đầu tiên của đất trời ban tặng, rừng khộp đồng loạt thay màu áo xanh mới Mươn mướt, mềm mại run rẩy trong gió, những chiếc lá nõn nà

dễ thương như ánh mắt trong veo của đứa bé vừa mở mắt chào đời, ngỡ ngàng với mọi

sự quanh mình Màu xanh của rừng cũng là mùa xuân của cao nguyên, mùa của hoa lá trên các sườn đồi he hé nảy nụ cho ong đi lấy mật, cho nấm mói theo dấu chân rùa khe khẽ trồi lên trên mặt đất khiến trái tim con gái, con trai rạo rực thèm yêu” [47, tr.552]

Thiên nhiên Tây Nguyên còn tạo dấu ấn trong lòng người đọc qua hình ảnh của gió núi Có lẽ, do chính địa hình nhiều núi, với các thung lũng mà gió núi miền núi khác biệt với gió đồng bằng H’linh Niê đã khiến người đọc không thể nào quên cái gió

trên đỉnh Ngok Linh như một sinh thể bạo liệt và cuồng nộ, mạnh mẽ: “gió rít veo véo trong không gian mênh mông đen thẫm Không ở đâu mà gió dữ dội như trên đỉnh

Trang 39

Ngok Linh Ào át, mạnh mẽ, quyết liệt Cứ như muốn bốc thẳng mọi vật lên, quẳng đi đến nơi nào xa lăng lắc, nếu không thật sự cắm sâu, bám chắc gốc rễ vào đât” [24, tr

130] Điểm gặp nhau giữa H’linh Niê và Y Điêng khi miêu tả thiên nhiên của vùng đất Tây Nguyên chính là cảm nhận ở hình ảnh gió núi dữ dội, khốc liệt và đầy mạnh

mẽ Với người miền núi, đặc biệt là vùng đất Tây Nguyên thì nắng và gió không đơn thuần chỉ thuộc về tự nhiên mà nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ

Thiên nhiên miền núi gắn chặt với cuộc sống con người chính vì thế mà người miền núi khi đi xa nỗi nhớ núi rừng vẫn luôn đau đáu khôn nguôi Chẳng thế mà,

nhân vật Ksor H’La trong Pơ Thi mênh mang mùa gió của H’linh Niê - dù sống trên

đất Mỹ, nơi có nền văn hóa hàng đầu thế giới mà không nguôi nỗi nhớ quê Mặc dù vợ của Ksor H’La đã cố gắng tạo không gian xung quanh nhà giống với mảnh đất quê hương Tây Nguyên của anh nhưng anh vẫn hướng về mảnh đất đầy nắng gió của

mình, bởi nơi đó là một phần tâm hồn của anh, nơi đó có “mùi khói đốt rẫy hăng hăng đến cay sè cả mắt mũi của lá cỏ kmrâo chiếc cầu bắc ngang dòng suối giữa buôn lẫn màu vàng của những đồi hoa dã quỳ - mnga phí rừng rực giữa mùa mưa”

họ sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn, những ngọt ngào cay đắng Có thể nói: Với người dân miền núi, con người thực sự là một bộ phận của tự nhiên và họ tìm thấy ở tự nhiên

sự tồn tại đích thực của mình” [39, tr.162]

Trong sáng tác của các nhà văn DTTS nhiều khi thiên nhiên và con người có sự hoà nhập đến mức tuyệt đối Với Bùi Thị Như Lan, thiên nhiên thực sự như một sinh thể sống, là người bạn tâm giao của con người, dẫn lối con người tìm về sự

thanh thản trong tâm hồn Người phụ nữ trong Lời sli vắt ngang núi đã cảm nhận

Trang 40

được hơi thở của thiên nhiên Thiên nhiên lưu giữ những bí mật của cuộc đời chị mà không một ai biết, thiên nhiên cũng chính là người bạn, người thân chia sẻ bao nỗi

niềm thầm kín của chị “Tôi đi vào rừng chè Những cây chè cao to sừng sững vòm là xanh đậm ken dầy này lưu giữ trọn bí mật của cuộc đời tôi chứng kiến tất cả những

gì xảy ra với tôi Tôi cố nghe xem rừng đang nói gì mà xào xạc thế? lúc réo rắt như tiếng sáo gọi bạn, lúc thì thầm như lời tâm sự, lúc ào ạt như gió rít, khi lại nhẩn

nha như lời pá dạy bảo” [27, tr.53] Cũng như vậy, thiên nhiên trong Gốc gội xù xì

(Hà Thị Cẩm Anh) chính là người mẹ nâng đỡ, chở che con người trong mọi hoàn cảnh Có những nỗi đau khiến con người tưởng chừng như chỉ còn biết tìm đến cái chết nhưng chính thiên nhiên đã thủ thỉ với họ về ý nghĩa của sự sống Người con gái trong tác phẩm đã tìm thấy niềm tin vào chính bản thân mình và cuộc đời bên cây gội

già tàn tật, xấu xí “Tôi gọi Mẹ không trả lời Tôi khóc Cây gội già cúi xuống, xoè những chiếc lá, bao bọc lấy tấm thân trần truồng của tôi Những cành cây gội xanh tốt, xum xuê xít lại gần nhau để che ánh nắng chói chang đang rọi thẳng vào mặt, làm cho lớp da sần sùi của tôi bỏng rát” [47, tr.14] Chính cây gội đã cúi xuống nỗi

đau của cô để chia sẻ, cảm thông và động viên để cô gái thấy mình chỉ là người tàn

mà không phế, cây truyền cho cô nghị lực sống để có thể đứng dậy một cách vững vàng Dường như nhà văn Hà Thị Cẩm Anh muốn gửi tới người đọc một thông điệp: Con người hãy biết ứng xử thân thiện, hài hoà với thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ luôn mở rộng tấm lòng bao dung chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn con người

Nhân vật Sang trong truyện ngắn Lời sli vắt ngang núi (Bùi Thị Như Lan) cũng tìm

đến mẹ thiên nhiên để xoa dịu nỗi đau, sự bất hạnh trong lòng cô khi hạnh phúc không được trọn ven Ngay chính trong đêm tân hôn của mình, Sang biết người chồng vì nhầm cô với em gái sinh đôi nên mới cưới cô về làm vợ Sang đã vô cùng đau khổ chạy ra khỏi nhà chồng để thoát khỏi thực tại đau buồn, để tìm nơi an toàn

có thể chở che cho cô nhưng bước chân không dẫn cô về nhà với người thân mà lại đưa cô trở về với người mẹ thiên nhiên, về với rừng chè cổ thụ Rừng chè, nơi Sang sinh ra đã trở thành người mẹ hiền vỗ về, che chở, ôm ấp xoa dịu đi nỗi đau trong cô,

cho cô sự bình yên “Tôi áp mặt vào da cây chè, vòng đôi tay gầy guộc đen sạm ôm lấy nó, ngửa mặt ngắm nhìn, bóng cây cao lớn lung linh trong không gian vời vợi

Ngày đăng: 28/08/2020, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w