Đông y cho rằng đậu phộng có tác dụng bổ tỳ vị, ích khí, dưỡng khí huyết, cầm máu, nhuận phế, tiêu đàm, nhuận trường, tăng tiết sữa. Do đó thích hợp với những người ăn uống kém, suy dinh dưỡng, đau dạ dày, ho có đàm, bị các chứng xuất huyết, sản phụ thiếu sữa. Đậu phộng còn là một nguồn cung cấp giàu protein.
Trang 12.1 Giới thiệu về đậu phộng da cá 6
2.2 Mục đích của việc áo đậu phộng 6
2.3 Phân loại đậu phộng da cá 6
Trang 2Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 2
4.2.8 Phối trộn 29
4.2.9 Bao gói 29
4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến độ đồng nhất của sản phẩm 31
4.4 Quy trình thủ công sản xuất đậu phộng da cá 33
5 Lời kết 34
Tài liệu tham khảo 35
Trang 3Đông y cho rằng đậu phộng có tác dụng bổ tỳ vị, ích khí, dưỡng khí huyết,
cầm máu, nhuận phế, tiêu đàm, nhuận trường, tăng tiết sữa Do đó thích hợp với
những người ăn uống kém, suy dinh dưỡng, đau dạ dày, ho có đàm, bị các chứng
xuất huyết, sản phụ thiếu sữa Đậu phộng còn là một nguồn cung cấp giàu protein
Chẳng biết từ bao giờ mà đậu phộng đã gắn liền với đời sống của người Việt, từ
món ăn trong bữa cơm hàng ngày cho đến những món ăn tráng miệng Để đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của thị trường theo xu hướng hiện đại, những sản phẩm từ
đậu phộng ngày càng được đa dạng hóa về hình thức chế biến lẫn nâng cao về chất
lượng sản phẩm Nếu trước đây đậu phộng chỉ là luộc, rang khô hay rang muối, thì
bây giờ là đậu phộng da cá, da bột, da chocolate Đậu phộng đến với người tiêu
dùng từ phạm vi gia đình, từ những đại lý nhỏ lẻ, cho đến quy mô công nghiệp bao
gói trong những gói snack trông rất đẹp mắt
Do khác nhau về nguyên liệu và công nghệ
chế biến Nên ngày nay đậu phộng da cá không
chỉ đơn giản có một lớp bột mỳ bao bọc bên
ngoài, mà các sản phẩm đậu phộng da cá ngày
càng đa dạng và phong phú về chủng loại Dưới
đây là một số sản phẩm da cá thường được sử
dụng hiện nay ở thị trường Việt Nam và ở một số
nước thuộc khu vục Châu Á
Trang 4Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 4
Bên cạnh các sản phẩm được áo bên ngoài một lớp bột có bổ sung thêm
nhiều loại hương vị khác nhau giống như các sản phẩm da cá truyền thống Ngày
nay, còn xuất hiện các sản phẩm đậu phộng da cá được phun một lớp sữa, cà phê
hoặc lớp đường, lớp này mỏng hơn và không nhẵn như lớp bột mà lại có bề mặt
nhám, tạo cho các sản phẩm từ đậu phộng thêm đa dạng độc đáo cả về cấu trúc, đặc
điểm và hương vị Có hai loại hương vị được ưa chuộng nhiều nhất là cà phê và
sữa
Trang 5Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 5
Với một dòng sản phẩm đa dạng như thế, muốn hiểu rõ tất cả đòi hỏi một sự
nghiên cứu chuyên sâu và một khoảng thời gian khá dài Trong phạm vi môn học
cũng như khoảng thời gian hạn chế, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu với các bạn một
sản phẩm thông dụng rất quen thuộc với chúng ta là đậu phộng da cá truyền thống
(lớp áo bên ngoài với thành phần chính là bột mì) Với bài tiểu luận này, các bạn sẽ
được giới thiệu cụ thể từng công đoạn trong quy trình sản xuất đậu phộng da cá, cả
về quy mô gia đình cũng như quy mô công nghiệp Ngoài ra, với quy mô sản xuất
gia đình, chúng ta còn có thêm một cách thức chế biến tại nhà giành cho những bạn
có sở thích về nấu ăn Do hạn chế về nguồn tài liệu tìm được nên không thể tránh
những thiếu sót nhất định, mong các bạn thông cảm cũng như đóng góp ý kiến để
hoàn thiện những kiến thức bổ ích cung cấp cho chúng ta
Trang 6Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 6
2 ĐẬU PHỘNG DA CÁ
2.1 Giới thiệu về đậu phộng da cá
Hiện nay, nhiều loại sản phẩm thực phẩm được “áo” (hay còn gọi là “phủ”)
bên ngoài 1 lớp sản phẩm khác Chẳng hạn như cá, thịt, rau cải thì được áo một lớp
bột hay bánh mì vụn; bánh kẹo thì phủ chocolate; bánh snack phủ lớp ngoài bằng
muối, đường, màu và mùi thực phẩm,… Đậu phộng cũng không phải là ngoại lệ Và
những sản phẩm đậu phộng được áo bên ngoài bằng những sản phẩm khác như vậy
thì được gọi là “đậu phộng da cá”
Đậu phộng da cá là đặc sản của vùng Xiamen (Hạ Môn – Trung Quốc) và
cũng là một sản phẩm nổi tiếng từ đậu phộng của Trung Quốc Người ta sử dụng từ
“da cá” là vì lớp vỏ của đậu phộng được phủ với bột và lớp keo giống như da cá
Đậu phộng da cá có cấu tạo vỏ mỏng, giòn, vị hơi mặn, thơm Đậu phộng da cá là
một thực phẩm phổ biến và là một món ăn nhanh, thuận tiện dùng với trà hoặc
rượu
2.2 Mục đích của việc áo đậu phộng
- Cải thiện vẻ bề ngoài và chất lượng sản phẩm
- Thay đổi cấu trúc
- Tăng thêm mùi vị
- Thuận tiện sử dụng
- Đa dạng hóa sản phẩm
2.3 Phân loại đậu phộng da cá
Trang 7Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 7
Có 3 phương pháp chính để áo thực phẩm Lựa chọn phương pháp nào tùy
thuộc vào loại nguyên liệu áo được sử dụng và yêu cầu của sản phẩm
- Phủ với chocolate, hỗn hợp chất phủ, bột nhão
- Áo đường hoặc hỗn hợp đường
- Rắc gia vị, vụn bánh mì, đường, muối, màu, mùi thực phẩm
Tuy nhiên, sản phẩm đậu phộng da cá chỉ sử dụng 2 phương pháp đầu Ta có
thể dựa vào 2 phương pháp đó để phân loại đậu phộng da cá Ngoài ra, những sản
phẩm đậu phộng da cá chỉ khác nhau ở giai đoạn phối trộn hương liệu, vì vậy có thể
dựa vào tiêu chí này để phân loại đậu phộng da cá Chẳng hạn như: đậu phộng dừa,
đậu phộng cà phê, đậu phộng rau cải, đậu phộng socola, đậu phộng phô mai,…
3 NGUYÊN LIỆU
3.1 Đậu phộng
Cây lạc (Arachis hypogea): Đậu phộng
Phân loại khoa học
• Giới (regnum): Plantae
• Ngành (divisio): Magnoliophyta
• Lớp (class): Magnoliopsida
• Bộ (ordo): Fabales
• Họ (familia): Fabaceae
• Phân họ (subfamilia): Faboideae
• Tông (tribus): Aeschynomeneae
• Chi (genus): Arachis
• Loài (species): A Hypogaea
Lạc, còn được gọi là đậu phộng hay đậu phụng (danh pháp khoa học:
Arachis hypogaea), là một loài cây lương thực thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Nam
Mỹ Từ "lạc" có lẽ bắt nguồn từ chữ Hán "hoa lạc sinh" mà có người cho rằng
người Hán đã phiên âm từ "Arachis"
Gọi là hoa lạc sinh vì hoa của nó mọc ở nách lá, sau khi thụ phấn thì cuống
hoa dài ra hướng vào trong đất để quả lớn lên Cây này có nguồn gốc ở Brazil, được
nhập trồng nhiều nơi để làm thực phẩm, chế biến dầu ăn, thức ăn gia súc, làm
thuốc… Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chiếm tới 30% diện tích trồng lạc của
Trang 8Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 8
cả nước và được trồng chủ yếu trên đất đỏ Bazan, đất phù sa không được bồi hàng
• Vitamin B2 0.12mg
• Vitamin PP 16mg
• Vitamin E 1mg
• Chất leucoanthocyanic (có tác dụng cầm máu)
Đậu phộng rất giàu dưỡng chất, cung cấp trên 30 loại dưỡng chất thiết yếu,
giàu nguồn niacin, folate, fiber, Magie, vitamin E, Mangan và Photpho, cung cấp
khoảng 25% lượng protein (cao hơn bất kì loại đậu nào) Đậu phộng chứa nhiều
acid béo không no, 1 lượng nhỏ đậu có thể chứa đến 11.5 g chất béo không no và
chỉ khoảng 2g chất béo no Vi vậy đậu phộng được tổ chức the Food and Drug
Administration (năm 2003) đánh giá tốt cho việc duy trì lượng cholesterol trong cơ
thể Ngoài ra còn có thể chống được nhiều bệnh về tim mạch khác nếu dùng 1
lượng nhỏ mỗi ngày (1.5 ounces)…
Trang 9Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 9
Theo wikipedia Peanut, giá trị dinh dưỡng trên 100g nguyên liệu thô (3.5 oz)
Ngoài ra, còn có Magnesium 184mg (50%), Phosphorus 336mg (48%),
Potassium 332mg (7%), Zinc 3.3mg (33%)
Lạc có vỏ thuộc dạng vỏ mềm hay còn được gọi là lớp vỏ lụa mỏng Lớp vỏ lụa
mỏng này bao bọc lấy nội nhũ Trong công nghệ khai thác dầu, vỏ là thành phần vô ích
lại có tính hút dầu, tập trung nhiều chất màu (điển hình nhất là nhóm chất polyphenol
có màu nâu gây vị chát trong vỏ lụa hạt lạc) nên người ta phải tách bỏ nó Nhưng trong
sản xuất đậu phộng da cá thì chính vỏ lụa này đóng vai trò tích cực trong việc tạo thành
chổ bám cho “lớp da cá” bao phủ bên ngoài
Trang 10Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 10
Axit béo không no có trong đậu phộng là axit Arachidic (C20H40O2, trọng lượng
phân tử là 312) chiếm khoảng (1.1%–1.7%), axit Linoxeric (số nguyên tử C là 24,
trong lượng phân tử là 368)
ÆSự xuất hiện của các gốc axit béo không no có trong đậu có thể xảy ra các
hiện tượng oxy hoá dầu hay ôi dầu trong quá trình chế biến và bảo quản vì axit béo
không no có công thức hoá học như sau: Cn H2nO2.Tính chất vật lý và hóa học của các
axit béo là do số nguyên tử cacbon và số nối đôi trong phân tử của chúng quyết định
Các axit béo no nói chung bền vững với các tác nhân vật lý và hoá học Tính chất quan
trọng nhất của các axit béo không no là tính oxi hóa tại các vị trí nối đôi bởi các tác
nhân khác nhau, chẳng hạn:
- Nếu tác nhân là hidro (ở áp suất cao và xúc tác thích hợp) sẽ làm bão hoà (no
hoá) các nối đôi theo các mức độ khác nhau Đây là phản ứng cơ bản để sản xuất dầu
hidro hóa (mỡ nhân tạo) nhằm biến dầu lỏng giá trị thấp (chứa axit béo không no)
thành mỡ đặc giá trị cao hơn (thành axit béo no)
- Nếu tác nhân là oxy nguyên tử, ozôn, nước, kim loại hoạt động với sự xúc tác
của ánh sáng, nhiệt độ, của enzyme oxy hóa - khử lypooxydaza sinh ra các peroxit,
chẳng hạn:
Peroxit là sản phẩm trung gian của sự oxy hóa các axit béo không no khi bị phân hủy,
các peroxit tạo thành oxit và oxy tự do, từ đó sinh ra ozon và hidroperoxit (H
2O
2)
Trang 11Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 11
Sự tạo ra ozon có thể xảy ra dưới ánh sáng cực tím Do vậy ở điều kiện thường sự ôi
hóa là do có sự tạo nên ozon trong không khí, ozon sẽ lại oxy hóa các phân tử axit
không no để tạo thành ozonit
Ozonit là hợp chất không bền, dễ bị thuỷ phân để tạo nên các andehyt
Các andehyt lại bị oxy hoá tiếp tục thành các axit mono và dicacboxylic tương ứng
khác Kết quả sẽ tạo cho sản phẩm có mùi vị khó chịu, chua, hắc, đắng và có thể bị hư
hỏng hoàn toàn
Ngoài ra để sản xuất đậu phộng da cá người ta còn chú ý đến hàm ẩm ban đầu
hay nói đúng hơn là sự hư hỏng ban đầu do nấm mốc aflatoxin sinh ra Việc ẩm thấp từ
(7 – 10%) sẽ hạn chế được sự hư hỏng này
3.2 Bột mì
3.2.1 Lúa mì
Bột mì là sản phẩm được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là lúa mì Trên thế giới lúa
mì được trồng chủ yếu ở các vùng có khí hậu lạnh như: Nga, Mỹ, Úc, Canada… Do lúa mì được trồng ở nhiều vùng đất có điều kiện sinh trưởng khác nhau, nên tạo ra nhiều loại bột mì
có tính chất khác nhau
Ở Việt Nam, loại lúa mì được sử dụng chủ yếu để sản xuất bột mì là Triticum
aestivum L Loại lúa mì này có thân cao 1.2m, lá đơn thẳng đứng, có râu dài 6-8cm,
hạt dạng trứng màu xanh xám
3.2.2 Cấu tạo cây lúa mì
Trang 12Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 12
Cấu tạo bên trong hạt lúa mì cũng giống các hạt hòa thảo khác gồm: vỏ, lớp
alơrông, nội nhũ, phôi
Vỏ
Có chức năng bảo vệ Thành phần chủ yếu là celllulose, hemicellulose, licnhin Không có giá trị dinh dưỡng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng bột mì, làm cho bột mì có màu vàng tối Bột mì càng trắng chất lượng bột mì càng cao
Vỏ trần của lúa mì thường được cấu tạo bằng hai lớp là vỏ quả và vỏ hạt
- Vỏ quả: chủ yếu làm chức năng bảo vệ chống lại các điều kiện xấu, tác động cơ học, hóa học…Vỏ quả gồm ba lớp
tế bào Cả ba lớp tế bào này đều có hình ống, nhưng lớp ngoài cùng kích thước tế bào
lớn hơn, xếp dọc theo chiều dài của hạt Lớp giữa các tế bào xếp theo chiều ngang của
hạt, kích thước tế bào nhỏ dần Và lớp
trong cùng kích thước tế bào nhỏ nhất,
sắp xếp theo chiều dọc của hạt
- Vỏ hạt: gồm hai lớp tế bào Lớp
ngoài cùng có chứa các sắc tố Lớp
trong gồm các tế bào không màu xếp
khít lên nhau và có tính chất không thấm
nước Vỏ hạt có cấu tạo bền và dai, dẫn
đến việc khó bóc vỏ trong quá trình xay
sát Vì vậy, trong quá trình sản xuất bột
mì ta thường làm ẩm hoặc ủ ẩm trước
khi đưa đi vào sản xuất
Lớp alơrông
Trang 13Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 13
Là lớp tế bào có thành dày Có chứa protein, đường, cellulose, tro và các loại
vitamin B1, B2, PP…
Nội nhũ
Là thành phần chủ yếu để sản xuất bột mì Là nơi dụ trữ chất dinh dường cho
hạt Chứa nhiều tinh bột, protein, ít chất béo, muối khoáng và vitamin
Bột mì sản xuất từ nội nhũ thì có màu trắng hơi vàng Bột mì sản xuất từ nội
nhũ và alơrông thì có màu vàng nhạt Mặc dù loại bột mì này có chứa nhiều dinh
dưỡng nhưng lại khó bảo quản và gây mất cảm quan cho sản phẩm khi qua chế biến
nhiệt
Phôi
Đây là thành phần chủ yếu để hạt nảy mầm, vì phôi là nơi dự trữ nhiều dinh
dưỡng như protein, gluxit, và hàm lượng chất béo cao, enzyme cũng tập trung chủ yếu
ở phôi
Bảng thành phần hóa học của lúa mì
Thành phần % Hàm lượng chất khô Nước 14 - 15%
Chất béo 2.3 - 2.8%
Đường trước chuyển hóa 0.1 – 0.15%
Đường sau chuyển hóa 2.3 - 3%
Ngoài các chất kể trên trong lúa mì còn có dextrin, sinh tố, muối khoáng,
enzyme và một số chất khác Nếu ta xem mỗi chất trong hạt là 100 thì thành phần các
chất có trong từng bộ phận của lúa mì sẽ chiếm tỉ lệ là:
Trang 14Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 14
Protein Tinh bột Chất béo Đường Cellulose Pentoza Tro
Bột mì được sản xuất từ lúa mì trắng và lúa mì đen Lúa mì trắng sản xuất ra bột
mì trắng, lúa mì đen sản xuất ra bột mì đen
Lúa mì trắng có hai loại: lúa mì cứng và lúa mì mềm
- Lúa mì cứng: có hàm lượng protein cao, tính chất protein cũng ưu việt hơn
- Lúa mì mềm: tính chất protein kém cứng hơn
Tùy vào hàm lượng protein có trong bột mì mà ta có bột mì mạnh và bột mì yếu
Thành phần hóa học của các loại bột mì
Thành phần hóa học trung bình tính bằng % chất khô Loại và
Trang 15Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 15
Đối với sản phẩm đậu phộng da cá ta sử dụng bột mì loại mạnh có hàm lượng
protein là 11% Với hàm lượng protein cao như vậy sẽ đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật
trong quá trình chế biến và đặc tính của sản phẩm
Ngoài hàm lượng về tiêu chuẩn protein, khi lựa chọn hàm bột mì trong sản xuất
đậu phộng da cá cần lựa chọn loại bột mì có màu trắng hơi vàng Vì loại bột mì này
được sản xuất chủ yếu từ nội nhũ Còn loại bột mì có màu vàng nhạt được sản xuất nội
nhũ và một phần vỏ có chứa sắc tố, sẽ gây sậm màu sản phẩm sau khi qua quá trình
chế biến, làm mất giá trị cảm quan của sản phẩm
Hạng I 1.1 Hơi vàng nhạt
Hạng II 1.8 Hơi vàng
Bột lúa mì mềm Thượng hạng 0.55
Hạng I 0.75
Trắng hơi vàng
Trang 16Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 16
3.3 Các nguyên liệu phụ
3.3.1 Bột nếp
Trong thành phần tinh bột của bột nếp chứa đến 99,3% amylopectin (amylose
chỉ chiếm khoảng 0.7%), có một số tài liệu cho rằng trong bột nếp có chứa hàm lượng
protein (khoảng 6.3%), cũng có một số tài liệu cho rằng bột nếp phi protein Vì hàm
lượng protein quá thấp nên tính chất chủ yếu của bột nếp là khả năng hồ hóa tạo dung
dịch keo được quy định bởi thành phần tinh bột, mà chủ yếu là amylopectin
Amilopectin là polyme mạch nhánh, ngoài mạch chính có liên kết α-1,4 glucozit
còn có nhánh liên kết với mạch chính bằng liên kết α-1,6 glucozit
Amilopectin khó tan trong nước ở nhiệt độ thường mà chỉ tan trong nước nóng
Lúc này, hạt tinh bột trương lên, tăng độ trong suốt và độ nhớt, các phân tử mạch thẳng
và nhỏ thì hòa tan và sau đó tự liên hợp với nhau để tạo thành gel
Phân tử tinh bột có nhiều nhóm hydroxyl có khả năng liên kết được với nhau
làm cho phân tử tinh bột tập hợp lại, giữ nhiều nước hơn khiến cho dung dịch có độ
đặc, độ dính, độ dẻo và độ nhớt cao hơn Amylopectin có cấu tạo mạch nhánh, khi
được gia nhiệt, hồ hóa sẽ có độ dẻo cao hơn rất nhiều so với amylose Đây chính là
điểm khác biệt giữa bột nếp với các loại bột khác Nhiệt độ hồ hóa có thể dao động từ
550C đến 790C
Tinh bột sau khi hồ hóa và để nguội, các phân tử sẽ tương tác nhau và sắp xếp
lại một cách có trật tự để tạo thành gel tinh bột với cấu trúc mạng 3 chiều.Trong gel
tinh bột chỉ có các liên kết hydro tham gia, có thể nối trực tiếp các mạch polyglucozit
hoặc gián tiếp qua phân tử nước
Đối với quy trình đậu phộng da cá, bột nếp ở đây được đưa đến nhiệt độ cao để
hồ hoá chuyển tinh bột về dạng hoà tan, có tác dụng như một yếu tố làm kết dính lớp
vỏ lụa của đậu phộng với lớp da áo tiếp theo Ngoài ra, bột nếp còn có tác dụng giữ độ
ẩm làm cho sản phẩm cuối cùng không bị khô
Trong quá trình tồn trữ, hàm lượng amylopectin trong tinh bột nếp bị giảm theo
thời gian bảo quản, do đó cần chọn loại nếp ngon, nếp mới sẽ chứa nhiều amylopectin
hơn sẽ cho dịch có độ dẻo hơn, màu trong hơn
Trang 17Đậu phộng da cá Lớp: DHTP3
Bộ môn: CNCB & BQ Nông Sản 17
3.3.2 Bột sắn (bột khoai mì)
Tương tự như bột nếp, bột sắn được sử dụng làm lớp chất kết dính thứ hai, kế
tiếp lớp bột nếp mỏng bao quanh vỏ lụa Với tính năng kết dính nên thành phần chủ
yếu của bột sắn cũng là tinh bột với hàm lượng amylopectin cao (83%) Ngoài ra, hạt
tinh bột sắn có kích thước lớn (trung bình từ 1.5 - 30μm) nên cũng dễ dàng hổ hóa hơn
Nhưng với bột sắn do có hàm lượng amylose cao (17%) cũng dẫn đến việc dung dịch
hồ tinh bột dễ bị thoái hóa để trở về trạng thái ban đầu
Hiện tượng thoái hóa là kết quả của sự hình thành liên kết hydro giữa các phân
tử amylose vừa có nhóm hydroxyl vừa có nhóm tiếp nhận hydro, giữa các phân tử
amylose mạnh đã giãn thường định hướng dễ dàng và tự do hơn giữa các phân tử
amylopectin cứng nhắc Do đó sự thoái hóa gần như chỉ liên quan đến amylose
Quá trình thoái hóa bao gồm ba giai đoạn:
- Đầu tiên các mạch được uốn thẳng lại
- Tiếp đến vỏ hydrat bị mất và các mạch được định hướng
- Cuối cùng là sự tạo thành liên kết hydro giữa các nhóm hydroxyl của amylose
Do cấu tạo của amylose có khả năng tạo một số lớn liên kết hydro giữa các phân
tử cạnh nhau do dó dung dịch amylose vô cùng không bền vững Khi nồng độ amylose
lớn hơn 2% thì các liên kết hydro sẽ hình thành một cách rộng rãi giữa nhiều phân tử
cạnh nhau và thể keo tụ được hình thành
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ thoái hóa Tốc độ thoái hóa tăng lên cùng
với sự giảm nhiệt độ, đạt được cực đại khi pH = 7 và sẽ giảm khi tăng hoặc giảm pH
pH cao hơn 10 sự thoái hóa không xảy ra, còn khi pH thấp hơn 2 thì tốc độ vô cùng bé
3.3.3 Đường
Đường sử dụng trong công nghệ chế biến đậu phộng da cá là đường tinh luyện
Nó đóng vai trò chất kết dính lớp bột mì cuối cùng với các lớp bột áo khác Ngoài ra
đường còn có chức năng tạo vị, thực hiện các phản ứng caramel tạo màu cho sản phẩm
3.3.4 Dầu thực vật