Là một giáo viên được thường xuyên tham gia bồi dưỡng đội tuyển HSgiỏi, qua trao đổi với đồng nghiệp, khảo sát từ thực tế và đã thấy được nhiều vấn đề mà trong đội tuyển nhiều học sinh c
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU………Trang 2
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ………2
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ……… 2
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 2
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ……… 2
B NỘI DUNG……… 5
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN………5
III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN……… 6
IV HIỆU QUẢ ……… 15
C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………16
I KẾT LUẬN……… 16
2 KIẾN NGHỊ……… 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 19
Trang 2A MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy và học Hóa học ở các trường THCS hiện nay đã và đang được đổimới tích cực nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu giáo dục cấpTHCS Ngoài nhiệm vụ nâng cao chất lượng hiểu biết kiến thức và vận dụng kỹnăng, các nhà trường còn phải chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏicác cấp; coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh 3 Đây là một nhiệm vụ không phải trường nào cũng có thể làm tốt vì nhiều lý do
Có thể nêu ra một số lý do như: do môn học mới đối với bậc trung học cơ sởnkiến thức kỹ năng của học sinh còn nhiều chỗ khuyết; một bộ phận giáo viênchưa có đủ các tư liệu cũng như kinh nghiệm để đảm nhiệm công việc dạy họcsinh giỏi
Trong những năm gần đây, vấn đề bồi dưỡng học sinh dự thi học sinh giỏicấp tỉnh được phòng giáo dục đặc biệt quan tâm, được các nhà trường và các bậccha mẹ học sinh nhiệt tình ủng hộ Giáo viên được phân công dạy bồi dưỡng đã
có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ được giao Nhờvậy số lượng và chất lượng đội tuyển học sinh giỏi của huyện đạt cấp tỉnh khácao Tuy nhiên trong thực tế dạy bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều khó khăncho cả thầy và trò, nhất là một số năm gần đây
Là một giáo viên được thường xuyên tham gia bồi dưỡng đội tuyển HSgiỏi, qua trao đổi với đồng nghiệp, khảo sát từ thực tế và đã thấy được nhiều vấn
đề mà trong đội tuyển nhiều học sinh còn lúng túng, tôi nhận thấy học sinh họcxong lớp 8 mới chỉ biết làm bài tập với các phương pháp giải toán thông thườngcác bài tập đơn giản, kinh nghiệm giải toán hoá học của các em khi vào độituyển còn nhiều hạn chế Đặc biệt là những bài toán không cho biết lượng chất
cụ thể mà cho dưới dạng tổng quát như: khối lượng a (gam), Thể tích V (lít), sốmol x(mol), áp suất p(atm) Đây là loại bài tập có liên quan đến nhiều kiếnthức, luôn đòi hỏi HS có sự khái quát, tổng hợp kiến thức, từ đó giúp học sinhphát triển tư duy lôgic, trí thông minh, óc tổng hợp, và phải nắm vững kiến thức
đã học Là dạng bài tập không có nhiều trong sách giáo khoa, mà sách thamkhảo cũng rất ít trên thị trường hoặc có thường nằm rải rác, không có hệ thống
rõ ràng Nhưng trong các đề thi học sinh giỏi thì đó lại là những bài toán mấuchốt để học sinh có thể đạt giải cao.Bởi vậy học sinh rất lúng túng, khó khăn khigặp phải loại toán này Thậm chí một số em còn tỏ ra lo sợ khi đi thi gặp phảidạng toán đó Qua thực tiễn tìm hiểu, tham khảo các tư liệu trong giảng dạy hoá
học, tôi đã xây dựng và áp dụng chuyên đề: “ Bài toán tự chọn lượng chất”
nhằm giúp các em học sinh có kinh nghiệm trong giải toán hoá học, tạo cho các
em có cách giải mới, nhanh gọn, dễ hiểu Từ đó các em có hứng thú, say mê họctập môn hoá học
Với những lý do trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu, tham khảo tư liệu và áp
dụng đề tài “ Rèn luyện một số kỹ năng giải bài toán tự do chọn lượng chất
Trang 3để nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi ở trường THCS Thị
kĩ năng làm bài một cách tốt nhất không còn cảm thấy sợ hãi khi gặp dạng toán này và tự tin trong các kì thi , giành giải cao trong các cuộc thi đáp ứng nhiệm
vụ được giao và nhu cầu xã hội hiện đại
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu các kinh nghiệm về bồi dưỡng kỹ năng hóa học cho
học sinh giỏi lớp 8 cấp huyện và học sinh giỏi lớp 9 dự thi tỉnh
2 Nêu ra phương pháp giải các bài toán tự do chọn lượng chất theo
dạng nhằm giúp học sinh giỏi dễ nhận dạng và giải nhanh các bài tập hoá học liên quan đến các đại lượng tổng quát
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài này nghiên cứu các phương pháp bồi dưỡng kỹ năng giải các bàitoán độ tan và tinh thể hi đrat hóa từ dạng cơ bản đến nâng cao
Nhiệm vụ nghiên cứu: đề tài này nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản sau đây: Những vấn đề lý luận về phương pháp giải các bài toán tự do chọn lượng;
cách phân dạng và nguyên tắc áp dụng cho mỗi dạng
Thực trạng về trình độ và điều kiện học tập của học sinh
Từ việc nghiên cứu vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại huyện Hà Trung
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp chủ yếu
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số
phương pháp sau:
1.1 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Từ thực tiễn ôn đội tuyển HSG nhiều nhăm, tôi đã ghi chép lại những ưuđiểm, nhược điểm của cách thức bồi dưỡng cho học sinh về phương pháp giảicác bài toán tự do chọn lượng chất để đúc rút thành cẩm nang cho riêng mìnhtrong quá trình ôn tập
1.2 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Để đưa kinh nghiệm của bản thân về phương pháp giải các bài toán tự
dochọn lượng chất áp dụng cho đối tượng học sinh giỏi để đánh giá, rút kinh nghiệm trong thời gian tiếp theo
1.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Nghiên cứu nhiều tài liệu tham khảo có liên quan đến phương pháp giảicác bài toán tự do chọn lượng chất các bằng lý luận và phân tích giúp tôi tìm hiểusâu sắc về vấn đề này Qua đó tổng hợp để tạo ra phương pháp giải quyết các dạng bài toán này một cách khoa học, hiệu quả nhất cho học sinh
1.4 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Sau khi phân tích và tổng hợp lý thuyết tôi đã dùng phương pháp phân loại,
hệ thống nhằm khái quát lên thành các loại, dạng bài tập theo mỗi chuyên đề vềphương pháp giải các bài toán tự do chọn lượng chất để hướng dẫn học sinh học
Trang 42 Các phương pháp hỗ trợ
2.1 Phương pháp điều tra
Bản thân đã tiến hành khảo sát việc thực hiện giải các bài toán tự do chọn
lượng chất trên các thế hệ học sinh để tìm hiểu thông tin.chủ yếu tập trung các nội dung xoay quanh việc dạy và học phương pháp giải các bài toán tự do chọn lượng chất; điều tra tình cảm thái độ của HS đối với việc tiếp xúc với các bài tập tự do chọn lượng chất
2.2 Phương pháp chuyên gia
Để kiểm tra lại hướng giải quyết vấn đề về phương pháp giải các bài toán tự
do chọn lượng chất, tôi đã trao đổi với tổ chuyên môn nhà trường và đồng nghiệp bộ môn ở các trường trên địa bàn huyện để nghe ý kiến góp ý và tìm ra
một giải pháp tối ưu
Trang 5B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Dạy và học hoá học ở các trường hiện nay đã và đang được đổi mới tíchcực nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của trường THCS Ngoàinhiệm vụ nâng cao chất lượng hiểu biết kiến thức và vận dụng kĩ năng, các nhàtrường còn phải chú trọng đến công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cáccấp 3 Đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong việc phát triển giáo dục ở các địaphương, đặc biệt ở các trường THCS của huyện Hà Trung
Trong hệ thống các bài tập hoá học, loại bài toán tự do chọn lượng chất làrất phong phú và đa dạng Có thể chia bài tập tự do chọn lượng chất thành ba loại cơ bản:
- Loại 1: Đại lượng tự chọn là 1 mol
- Loại 2: Đại lượng tự chọn quy về 100
- Loại 3: Đại lượng tự chọn bất kỳ
Tôi nghĩ, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ không thể đạtđược mục đích nếu như không chọn lọc, nhóm các bài tập tự do chọn lượng chấttheo từng dạng, nêu đặc điểm của dạng và xây dựng hướng giải cho mỗi dạng.Đây là khâu có ý nghĩa quyết định trong công tác bồi dưỡng vì nó là cẩm nang giúp HS tìm ra được hướng giải một cách dễ dàng, hạn chế tối đa những sai lầm trong quá trình giải bài tập, đồng thời phát triển được tiềm lực trí tuệ cho học sinh ( thông qua các BT tương tự mẫu và các BT vượt mẫu )
Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin được mạn phép trình bày kinh
nghiệm bồi dưỡng một số dạng bài tập tự do chọn lượng chất Nội dung đề tài được sắp xếp theo 3 dạng cơ bản Từ 3 dạng này tùy theo dữ liệu đề bài ta lại chia thành các dạng cụ thể, mỗi dạng có nêu nguyên tắc áp dụng và các ví
dụ minh hoạ
II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.
1 Thực trạng chung
Khi chuẩn bị thực hiện đề tài, năng lực giải các bài toán tự do chọn
lượng chất của học sinh là rất yếu
Thứ nhất: Bài tập dạng này rơi vào cuối năm học lớp 8 nên phần lớn các
em lơ là
Thứ hai: Dạng bài tập này hầu hết giáo viên không tập trung ôn tập
nhiều cho HS, nên học sinh cảm thấy lạ lẫm
Thứ ba: Đa số học sinh cho rằng loại này quá khó, các em tỏ ra rất mệtmỏi khi phải làm bài tập loại này
Vì thế họ rất thụ động trong các buổi học bồi dưỡng và không có hứng thú học tập Rất ít học sinh có sách tham khảo về loại bài tập này Nếu có cũngchỉ là một quyển sách “học tốt” hoặc một quyển sách “nâng cao “mà nội dung viết về vấn đề này quá ít ỏi Lý do chủ yếu là do điều kiện kinh tế gia đình cònkhó khăn hoặc không biết tìm mua một sách hay
Trang 62 Chuẩn bị thực hiện đề tài:
Để áp dụng đề tài vào trong công tác bồi dưỡng HS giỏi tôi đã thực
hiện một số khâu quan trọng như sau:
a) Điều tra trình độ HS, tình cảm thái độ của HS về nội dung của đề tài;điều kiện học tập của HS Đặt ra yêu cầu về bộ môn, hướng dẫn cách sử dụngsách tham khảo và giới thiệu một số sách hay của các tác giả để những HS cóđiều kiện tìm mua; các HS khó khăn sẽ mượn sách bạn để học tập
b) Xác định mục tiêu, chọn lọc và nhóm các bài toán theo dạng, xây dựngnguyên tắc áp dụng cho mỗi dạng, biên soạn bài tập mẫu và các bài tập vậndụng và nâng cao Ngoài ra phải dự đoán những tình huống có thể xảy ra khi bồidưỡng mỗi chủ đề
c) Chuẩn bị đề cương bồi dưỡng, lên kế hoạch về thời lượng cho
mỗi dạng toán
d) Sưu tầm tài liệu, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp; nghiêncứu các đề thi HS giỏi của tỉnh ta và một số tỉnh, thành phố khác
III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Khi thực hiện đề tài vào giảng dạy, trước hết tôi giới thiệu nội dung lí thuyết cơ bản có liên quan và những công thức tính toán cần vận dụng khi
giải quyết loại bài tập này
III.1.1 Định luật bảo toàn khối lượng và một số hệ quả ĐLBTKL 7
Định luật: Trong một phản ứng hóa học tồng khối lượng các
chất phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm.
Phản ứng hóa học: A+B C+D
Ta có: mA + mB = mC + mD
Các hệ quả của định luật bảo toàn khối lượng.
Hệ quả 1: Ngoại trừ các phản ứng hạt nhân, không có phản ứng hoá học
nào làm mất đi hay xuất hiện nguyên tố lạ
- Ta áp dụng hệ quả này để cân bằng các phương trình phản ứng hoá học.+ Vế trái của PT có bao nhiêu nguyên tố thì vế phải của PT cũng phải
có bấy nhiêu nguyên tố
+ Vế trái của PT có bao nhiêu nguyên tử của một nguyên tố thì vế phải cóbấy nhiêu nguyên tử của nguyên tố đó Phương trình phản ứng được cân bằng khi và chỉ khi thoả mãn hai nội dung trên Tức là đảm bảo định luật bảo toàn nguyên tố và bảo toàn khối lượng
Hệ quả 2: Trong các phương trình phản ứng tổng khối lượng các chất tham
gia bằng tổng khối lượng các chất tạo thành
Phương trình phản ứng: A + B → C + D
Thì: mA + mB = mC + mD
Hệ quả 3: Trong phản ứng hoá học dù các chất tham gia phản ứng vừa đủ
hay có chất dư thì tổng khối lượng các chất trước phản ứng (mt) bằng tổng khốilượng các chất sau phản ứng (ms ) ( sản phẩm + chất dư)
Nếu sau phản ứng có các chất tách khỏi môi trường do bay hơi hay kết tủa.Tức là không cùng trạng thái vật lý thì hệ quả trên vẫn không đổi
Trang 7mt = ms
III.1.2- Định luật thành phần không đổi: 7
Tỉ số giữa các khối lượng của các nguyên tố trong thành phần của hợp chấtxác định là hằng số không phụ thuộc vào phương pháp điều chế hợp
chất đó.Nghĩa là: Tỉ lệ khối lượng của mỗi nguyên tố đối với khối lượng hợpchất luôn là hằng số
Tỉ lệ về khối lượng giữa các nguyên tố là hằng số
Trong một phản ứng hoá học, các chất tác dụng với nhau theo một tỉ lệ nhất định về lượng chất: Ví dụ :về số mol, về khối lượng, về thể tích
Khi ta cho chất này một lượng cụ thể thì các chất khác tác dụng theo một lượng cụ thể mà không làm sai lệch kết quả và mất đi tính tổng quát của bài
toán III.3.2.Phân dạng bài tập
DẠNG 1: ĐẠI LƯỢNG TỰ CHỌN LÀ MỘT MOL 7
+ Ta lựa chọn số mol của một chất hoặc của hỗn hợp là 1 mol
+ Lựa chọn khối lượng mol
+ Lựa chọn thể tích mol (với bài toán về chất khí)
Ví dụ 1: Hoà tan x gam kim loại M trong y gam dung dịch HCl 7,3% (lượng
axit vừa đủ) thu được dung dịch A có nồng độ 11,96% Xác định tên kim loại M8
Bài làm
Giả sử số mol của kim loại M (có hoá trị n) đã phản ứng là 1 mol
Theo giả thiết ta có
M 35,5n 100 11,96
M 499n
=> M = 27,5 nNếu n = 1 M = 27,5 ( loại)
Nếu n = 3 M = 72,5 ( loại)
Vậy M là mangan (Mn)
Ví dụ 2 :Hoà tan một lượng oxit của kim loại R (có hóa trị không đổi) vào trong
dd H2SO4 4,9% ( vừa đủ) thì thu được một dung dịch muối có nồng độ 5,87%.Xác định CTPT của oxit kim loại 7
Trang 8Bài làm
Đặt công thức tổng quát của oxit là R2Ox (x là hoá trị của R)
Giả sử hoà tan 1 mol R 2 O x
Vậy kim loại là Mg ; oxit kim loại là : MgO
Ví dụ 3: Hỗn hợp khí gồm oxi và ozon có tỉ khối so với hiđro là 18 Xác định
phần trăm theo thể tích của từng khí trong hỗn hợp đầu 7
Bài làm
Giả sử có 1 mol hỗn hợp khí
Gọi số mol của oxi là x => Số mol của ozon là 1-x
Theo giả thiết ta có
32x 48(1 x) 18236 =>x = 0,75
M
x (1 x)
Vậy %V O2 75% %V O3 100 75 25%
Ví dụ 4: Cho cùng một lượng khí clo lần lượt tác dụng hoàn toàn với kim loại
R (hoá trị I) và kim loại X (hoá trị II) thì khối lượng kim loaị R đã phản ứng gấp 3,375 lần khối lượng của kim loại X Khối lượng muối clorua của R thu được gấp 2,126 lần khối lượng muối clorua của X đã tạo thành Xác định tên hai kim loại 6
Trang 9m R 2 M R 3,375 2M R 3,375M X (1)Theo giả thiết m X M X
Ví dụ 5: Trong quá trình tổng hợp amoniac, áp suất trong bình giảm đi 10% so
với áp suất lúc đầu Biết nhiệt độ của phản ứng giữ không đổi trước và sau phản ứng Hãy xác định phần trăm theo thể tích của hỗn hợp khí thu được sau phản ứng Nếu trong hỗn hợp đầu lượng nitơ và hiđro được lấy đúng theo hệ số
tỉ lượng 6
Bài làm
Giả sử lúc đầu ta lấy 1 mol N 2 và 3 mol H 2
Trong một bình kín có nhiệt độ không đổi thì áp suất tỉ lệ thuận với số mol hỗn
Ví dụ 6: Hoà tan a gam một oxit sắt bằng dung dịch H2SO4 đặc, nóng thấy thoát
ra khí SO2 duy nhất Trong thí nghiệm khác, sau khi khử hoàn toàn a gam oxit sắt đó bằng CO ở nhiệt độ cao rồi hoà tan lượng sắt được tạo thành bằng H2SO4đặc nóng thì thu được lượng khí SO2 nhiều gấp 9 lần lượng khí SO2 ở thí nghiệmtrên Xác định công thức của oxit sắt 6
Bài làm
Gọi công thức của oxit sắt là FexOy
Giả sử có 1 mol oxit sắt tham gia phản ứng
Trang 10Dạng 2: ĐẠI LƯỢNG TỰ CHỌN QUY VỀ 100
Dạng này thường gặp với bài tập cho đại lượng tổng quát là khối
lượng của một hỗn hợp, là phần trăm khối lượng, hoặc nồng độ phần trăm
Ví dụ 1: Hoà tan a gam một oxit kim loại hoá trị II (không đổi) bằng một
lượng vừa đủ dung dịch H2 SO4 4,9% người ta thu được một dung dịch muối cónồng độ 5,88% Xác định tên kim loại hoá trị II 5
Khối lượng oxit ban đầu: a = m MO 0,05 (M 16) (gam)
Khối lượng muối thu được: m MSO4 0,05 (M 96) (gam)
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có
Ví dụ 2: Cho x gam dung dịch H2SO4 nồng độ y% tác dụng hết với một lượng
dư hỗn hợp khối lượng Na, Mg Lượng H 2 (khí duy nhất) thu được bằng 0,05xgam Viết phương trình phản ứng và tính nồng độ phần trăm của dung dịch