BLHS năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định của pháp luật hình sự trước đây về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó cụ thể hóa các hình phạt và á
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương” là công trình
nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Tiến Việt Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có kế thừa các quan điểm, ý kiến khoa học của những nhà nghiên cứu đã từng thực hiện
về vấn đề tư pháp người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) và những thông tin này khi được sử dụng đến đều được thể hiện một cách trung thực, có trích dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Học viên
Trần Minh Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 6 1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 17 1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 35
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI
18 TUỔI PHẠM TỘI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 40
2.1 Khái quát tình hình áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương 40 2.2 Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương 44 2.3 Kết quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân 58
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 67
3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 67 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân tỉnh Bình Dương 69
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội ngày càng tăng không chỉ về mặt số lượng mà tính chất các vụ án cũng ngày càng nghiêm trọng hơn Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là một việc khá phức tạp bởi người dưới 18 tuổi khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, hành vi của họ thường mang tính bộc phát do bị lôi kéo hoặc bị kích động, họ chưa đủ khả năng làm chủ hành động của mình Hơn nữa, họ còn một tương lai dài phía trước Do đó, không thể áp dụng các biện pháp xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội giống với những người đã thành niên
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đã
có những quy định xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Những quy định này thể hiện chính sách pháp luật hình sự của Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội với mục đích chính là “cải tạo và giáo dục” Tuy nhiên, tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội không có dấu hiệu giảm đi mà ngày càng tăng về số lượng cũng như mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội
Phạm luật hình sự với chế tài hình phạt là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, giáo dục ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật cho các chủ thể trong xã hội
Bên cạnh đó, chính sách hình sự thể hiện rõ bản chất nhân đạo và dân chủ của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Các quy định của hình phạt mang tính chất răn đe cũng mang tính giáo dục, cải tạo, khoan hồng Chế định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã thể hiện rõ điều này khi các quy định được xây dựng trên cơ sở những đặc thù tâm sinh lý và sự phát triển về nhận thức của chủ thể là người dưới 18 tuổi phạm tội
BLHS năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định của pháp luật hình
sự trước đây về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó
cụ thể hóa các hình phạt và áp dụng triệt để nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình
Trang 72
sự phù hợp với đặc thù của chủ thể phạm tội này Đặc biệt, khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội là khái niệm mới thay thế cho khái niệm người chưa thành niên phạm tội trước đây Do đó, rất cần được nghiên cứu về khái niệm cũng như các quy định của BLHS năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để
có cách hiểu, áp dụng thống nhất và đồng bộ quy định nhằm đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật
Về mặt thực tiễn, BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 nên việc tổng kết, đánh giá từ thực tiễn để có những giải pháp phù hợp, góp phần hiệu quả hơn trong việc thực hiện, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 nói chung và cụ thể là Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương là cần thiết Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về nội
dung này Do đó, học viên chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề người chưa thành niên (nay là người dưới 18 tuổi) phạm tội, qua quá trình nghiên cứu, học viên thấy rằng đã có các công trình nghiên cứ như
sau: Đào Thị Nga, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, 1997; Trần Văn Dũng,
Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, 2003; Nguyễn Minh
Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc
sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; Trịnh Thị Yến, Quyết định
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; Đỗ Ngọc Thùy, Hình phạt tù đối với
người chưa thành niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn thạc sĩ
luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Nguyễn Thị Thu Huyền, Hình
phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012;
Trang 83
Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội – Thực trạng và giải pháp, Nxb Công an nhân dân Hà Nội năm 2007; Trường Đại
học luật Hà Nội , Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân năm
2000 (GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên); Lương Ngọc Trâm (2014), “Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân; PGS.TS Trầm Văn Luyện, Những điểm mới
về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 12/2000; Ths Đặng Thanh Sơn, Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa
thành niên, số chuyên đề của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tháng 12/2008; Ths
Đinh Văn Quế, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/2007; Ths Đoàn Tấn Minh, Bàn về phạm vi sử dụng thuật
ngữ “ Người chưa thành niên phạm tội”,Tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2008; TS
Trịnh Tiến Việt, Những khía cạnh pháp lý hình sự về các hình phạt và biện pháp tư
pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân số
7, 8/2010; TS Trần Văn Dũng, Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa
thành niên phạm tội, Tạp chí luật học, số 5/2000; PGS.TS Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí luật học, số
4/2002; TS Trương Minh Mạnh, Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm
hình sự của người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002; Ths Trương Hồng
Sơn, Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của
người chưa thành niên phạm tội; Tạp chí điện tử ngày 20 tháng 8 năm 2009
(http://hvcsnd.edu.vn/)
Các công trình nghiên cứu trên phần lớn đã xây dựng được cơ sở lý luận và cơ
sở pháp lý đối với trách nhiệm hình sự, quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên về cơ bản chưa nghiên cứu, cập nhật được các quy định mới trong BLHS năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Thêm vào đó, không có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Vì vậy, công trình nghiên cứu: “Áp
Trang 94
dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương” của luận văn này đảm bảo tính mới của luận văn Thạc sĩ và
không bị trùng với bất kỳ công trình nào đã nghiên cứu trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận đối với việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; đánh giá thực tiễn áp dụng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Nhiệm vụ của Luận văn là phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và
ý nghĩa của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi; đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nêu những kết quả, hạn chế, chỉ ra các nguyên nhân của hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của BLHS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng nghiên cứu trên, luận văn có phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phạm vi nội dung: những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hình phạt và cải tạo con người, về pháp luật nói
Trang 105
chung, chính sách hình sự nói riêng, đặc biệt là các quan điểm, tư tưởng về cải tạo, giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cũng như việc
áp dụng hình phạt đối với chủ thể tội phạm này
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học pháp lý như: phân tích, tổng hợp và thống kê, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài tìm hiểu về các loại hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, căn cứ áp dụng từng loại hình phạt theo quy định của BLHS hiện hành và việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Chương 2: Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Trang 116
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm người dưới 18 tuổi phạm tội
BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”, việc thay đổi từ người chưa thành niên sang người dưới 18 tuổi không có nghĩa là nghĩa của hai thuật ngữ này khác nhau Thuật ngữ người dưới 18 tuổi và người chưa thành niên đều có ý nghĩa như nhau Khái niệm người dưới 18 tuổi khác với khái niệm trẻ em,
theo quy định tại Điều 1 của Luật Trẻ em năm 2016 thì: “Trẻ em là người dưới 16
tuổi”
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật như là đối với người đã thành niên
Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mỗi người là khác nhau, được hình thành từ lúc sinh ra và tích lũy dần trong cuộc sống và sinh hoạt Lứa tuổi dưới
18 là tuổi trong gia đoạn phát triển về tâm sinh lý cũng như thể chất mạnh mẽ nhất Đây là lứa tuổi cần được sự bảo vệ và che chở đặc biệt nhất
Tâm lý người chưa đủ 18 tuổi nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng có sự khác biệt đáng kể, những người đã đủ hoặc trên 18 tuổi thường có nhận thức, trưởng thành hơn người dưới 18 tuổi
Xuất phát từ đặc điểm tâm, sinh lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và yêu cầu của các Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về trẻ em, pháp luật hình sự Việt Nam có những quy định riêng có tính chất khoan hồng khi xử lý trách nhiệm hình
sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích tối đa cho họ Điều 12 của BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
Trang 12250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này
Như vậy, theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định trong luật, còn người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
Theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 2015 thì độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi Do đó, người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi vào thời điểm người đó thực hiện tội phạm
* Về căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi:
Tuổi của một người được xác định từ thời điểm người đó được sinh ra Căn cứ vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn với nhân thân của người đó (như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, các loại văn bằng,…) mà các cơ quan tư pháp xác định độ tuổi của một người Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không thu thập được, hoặc không xác nhận được cơ sở pháp lý của các loại giấy tờ, thì các cơ quan tư pháp sẽ phải xác định ngày sinh của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho họ
Theo khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong trường hợp
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của người bị buộc tội, người bị hại được xác định trong 5 trường hợp như sau:
+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh
+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh
Trang 13xác định vào thời điểm thực hiện hành vi Vì vậy, tuổi được xác định vào thời điểm
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Tức là, hành vi phạm tội đã xảy ra vào thời điểm nào thì sẽ xác nhận độ tuổi của người phạm tội ở thời điểm đó Trong trường hợp hành vi phạm tội kéo dài và liên tục, có nhiều hành vi được thực hiện ở các thời điểm khác nhau, khi xác định độ tuổi thực hiện hành vi phạm tội có thể gặp trường hợp có hành vi thực hiện khi chưa đủ tuổi, có hành vi thực hiện khi đã đủ tuổi Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ lấy độ tuổi ở hành vi cuối để xem xét trách nhiệm của họ
Tóm lại, người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi vào thời điểm người đó thực hiện tội phạm
* Đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội:
Người dưới 18 tuổi là đối tượng cần được sự quan tâm đúng mực của toàn xã hội Nghiên cứu đặc điểm người dưới 18 tuổi phạm tội dưới góc độ tâm sinh lý đặt trong mối quan hệ giữa các yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội là việc hết sức cần thiết và quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề quyết định hình phạt đối với bản thân họ
- Thứ nhất, về trạng thái cảm xúc, người dưới 18 tuổi là những người chưa phát triển toàn diện cả về thể chất cũng như nhận thức Sự phát triển không cân bằng của hệ tim mạch, tuyến nội tiết cũng như các bộ phận khác dễ đưa họ tới những cơn xúc động mạnh, nóng nảy vô cớ, sự kích động, dễ bị lôi kéo… dẫn tới những hành vi bất bình thường Đây là giai đoạn diễn ra những biến đổi đặc biệt, sự
Trang 149
phát triển của cơ thể dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của người dưới 18 tuổi Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân bằng có thể là yếu tố gây nên các hành vi lệch chuẩn của các em Có không ít các trường hợp vì những mâu thuẫn nhỏ nhưng vì không thể kiềm chế, làm chủ được bản thân nên các em đã phạm phải những hành động sai lầm dẫn đến những hành vi phạm tội
- Thứ hai, về các nhu cầu của bản thân như nhu cầu độc lập, nhu cầu khám phá cái mới: Đặc điểm tâm lý dễ nhận thấy ở lứa tuổi này là sự biểu hiện của nhu cầu độc lập, được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự quyết định theo ý kiến riêng của bản thân mà không muốn bị ảnh hưởng bởi người khác, thể hiện trước hết trong các hoạt động học tập, giao tiếp với bạn bè… Các em mong muốn tự quyết định cách thức và thời gian học tập, muốn được mọi người tôn trọng, đặc biệt là về nghệ thuật, thời trang, các em thường chạy theo những xu hướng, trào lưu mới được
du nhập từ nước ngoài Đây là một nhu cầu tất yếu của người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, nó có thể là nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội trong một số các trường hợp Ở người dưới 18 tuổi phạm tội, nhu cầu độc lập của họ trở nên thái quá, thể hiện ra bên ngoài dưới dạng như ngang bướng, cố chấp, bảo thủ, gây gỗ, sử dụng các hành vi bạo lực để chứng tỏ bản thân, không hiếm các bạn trai, khi muốn chứng tỏ bản thân mà không ngại sử dụng bạo lực, thậm chí một va chạm nhỏ có thể dẫn tới những hành vi bạo lực vô cùng nguy hiểm Mặt khác, người dưới 18 tuổi nói chung và dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng đang dần dần hoàn thiện bản thân, cùng với đó là sự tò mò, mong muốn khám phá, học hỏi từ thế giới xung quanh nhằm nâng cao tri thức, mở rộng khả năng nhận thức về xã hội về cả thế giới quan
và nhân sinh quan để có kinh nghiệm sống Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão thì khao khát hiểu biết của các em không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà còn cả các quốc gia khác Khi đó, nếu các em tìm tòi, thử nghiệm những cái thiếu lành mạnh, trái chuẩn mực xã hội thì sẽ dẫn tới hành vi phạm tội của các em Theo một nghiên cứu về người dưới 18 tuổi phạm tội ma túy thì quá trình phạm tội có thể bắt nguồn từ nhiều lý do, một trong số đó là tò mò, hiếu động,
Trang 1510
có xu hướng tìm kiếm những cái mới lạ Nhu cầu bản thân có quyết định rất lớn khi người dưới 18 tuổi tham gia vào các quan hệ xã hội Nếu không biết cân bằng giữa nhu cầu cá nhân và các chuẩn mực xã hội thì người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội là một điều tất yếu
- Thứ ba, nhận thức và quan niệm pháp luật của người dưới 18 tuổi phạm tội chưa hình thành đầy đủ hoặc bị lệch lạc theo suy nghĩ chủ quan của họ Khác với người trưởng thành, người dưới 18 tuổi thường hành động mà không thể lường trước hết hậu quả của hành vi Chẳng hạn như khi tham gia giao thông thì dàn hàng
ba, hàng tư gây ắt tắc giao thông, không đội mũ bảo hiểm hay chạy xe mà không đủ tuổi… Mặt khác, không ít các em cho rằng, những yêu cầu và đòi hỏi của chuẩn mực luật pháp chỉ được quy định trong các văn bản pháp luật và hoàn toàn mang tính hình thức còn hành động thì phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của cá nhân thì mới thể hiện được sự tự do trong cuộc sống Nhận thức pháp luật không đúng đắn, lệch chuẩn là nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em Thực tế cho thấy nhiều người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại không biết rằng mình phạm tội, không thấy hết tính nguy hiểm và hậu quả của hành
vi đó mà cho rằng hành vi của mình là hợp pháp
Trên đây là một số phân tích về đặc điểm tâm sinh lý chung của người dưới 18 tuổi phạm tội Với những đặc điểm trên, khi quy định về hình phạt và quyết định hình phạt, Đảng và Nhà nước cần có đường lối, chính sách đúng đắn, cân nhắc đến khả năng nhận thức còn hạn chế của họ để có các biện pháp cưỡng chế phù hợp, không được nghiêm khắc hơn người đủ 18 tuổi phạm tội, đặt mục đích giáo dục, cải tạo lên hàng đầu, làm cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thay thế các hình phạt bằng các biện pháp riêng nhằm tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi phạm tội tái hòa nhập cộng đồng, tránh tình trạng mặc cảm, tự ti dẫn đến tái phạm tội Đặc biệt là cân nhắc hơn nữa các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với họ Chỉ có như vậy thì việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mới phát huy được hết hiệu quả của nó
Trang 16Theo lý luận chung về pháp luật thì: “Áp dụng pháp luật là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền, thông qua trình tự thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể”[46, tr.188]
Dựa trên khái niệm về áp dụng pháp luật nêu trên và những đặc điểm cơ bản của hình phạt, chúng ta có thể xây dựng khái niệm áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi như sau:
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một hình thức của
áp dụng pháp luật do Tòa án tiến hành và áp dụng những quy phạm pháp luật hình
sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể để giải quyết các vụ án hình sự theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
* Đặc điểm áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
- Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội là Tòa án
Khoản 1 Điều 102 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ
quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Do đó, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng hình phạt đối với người bị
kết án
- Thứ hai, đối tượng bị áp dụng hình phạt là người dưới 18 tuổi phạm tội cụ
thể và trong trường hợp phạm tội cụ thể
Mục đích của áp dụng hình phạt là cá biệt hoá các quy định về hình phạt trong những điều kiện cụ thể Thông qua hoạt động áp dụng hình phạt đối với người dưới
Trang 1712
18 tuổi phạm tội, các quy định về hình phạt sẽ được cá biệt hoá cho người dưới 18 tuổi cụ thể cho mỗi trường hợp cụ thể
- Thứ ba, nội dung áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là áp dụng
các quy định về hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng các quy định về khoan hồng liên quan đến việc hình phạt như: miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt v.v…
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải đảm bảo các quy định tại Chương XII của BLHS năm 2015 “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” như nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91 của BLHS năm 2015), mức hình hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
- Thứ tư, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm
lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội Đặc điểm này là sự cụ thể hóa nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 91 của BLHS năm 2015 Hình phạt là một trong các biện pháp xử lý hình sự được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù nói chung và người dưới 18 tuổi nói riêng Khi áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì hình phạt phải đảm bảo mục đích xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều
91 của BLHS năm 2015
- Thứ năm, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt
động đòi hỏi tính sáng tạo (sự sáng tạo trong phạm vi quy định của pháp luật hình sự)
Khi áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải nghiên cứu thật kỹ trường hợp phạm tội, xác định chính xác hình phạt của nó để từ
đó lựa chọn hình phạt cụ thể và ra quyết định áp dụng hình phạt và tổ chức hình phạt Trong trường hợp hình phạt được quy định trong BLHS chưa rõ ràng thì phải vận dụng sáng tạo các nguyên tắc của luật hình sự để áp dụng hình phạt Để thực
Trang 1813
hiện được điều đó đòi hỏi Hội đồng xét xử phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức và có tay nghề cao
- Thứ sáu, trình tự, thủ tục áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phải
được tuân thủ trình tự, thủ tục luật định
Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm không thể tiến hành một cách tùy tiện, không thể tự ý thay đổi hay chấm dứt theo ý chí của Tòa án mà phải được diễn ra trên những cơ sở, trong những điều kiện và phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nói chung và quy định riêng khi áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Việc thực hiện không đúng, không đầy đủ những trình tự, thủ tục đã được quy định sẽ là nguyên nhân dẫn đến áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có thể
trở nên vô hiệu, vi phạm nguyên tắc pháp chế
1.1.3 Nội dung của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Nội dung của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là các trường hợp áp dụng pháp luật liên quan đến hình phạt và các biện pháp miễn, giảm hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bao gồm: quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, áp dụng án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên
Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Đây là hình thức áp dụng hình phạt chủ yếu đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong luật hình sự Việt Nam, việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50 BLHS) và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91 BLHS) Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm: quyết định các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù
có thời hạn (Điều 98 BLHS); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm
Trang 1914
tội, phạm tội chưa đạt (Điều 102 BLHS); các trường hợp quyết định hình phạt khác chung cho cả người trên 18 tuổi và dưới 18 tuổi phạm tội như: quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Điều 54 BLHS), quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 58 BLHS)
Tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc Tòa án xác
định hình phạt chung cho người dưới 18 tuổi phạm tội bị kết án
Việc tổng hợp hình phạt phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định Đó là nguyên tắc thu hút, nguyên tắc cộng hình phạt và nguyên tắc cùng tồn tại Việc tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi dựa trên ba nguyên tắc: nguyên tắc thu hút, nguyên tắc cộng hình phạt và nguyên tắc cùng tồn tại
Các trường hợp tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi theo luật hình
sự Việt Nam bao gồm: tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều
103 BLHS); tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 104 BLHS)
Án treo, là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án
áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù
Với tư cách là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, người dưới
18 tuổi nếu bị phạt tù không quá 3 năm có thể được tòa án lựa chọn cách thức chấp hành là tự cải tạo giáo dục theo quy định về chế độ thi hành án treo thay vì buộc họ phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ Việc tòa án lựa chọn cách thức chấp hành trong trường hợp này là hoạt động áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong luật hình sự Việt Nam, án treo được quy định áp dụng chung đối với trên 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 65 BLHS)
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với
người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của BLHS, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ
Trang 2015
Về bản chất, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn có điều kiện Tương tự như với án treo, áp dụng biện pháp này cũng là một hình thức áp dụng hình phạt
Trong luật hình sự Việt Nam, biện pháp tha tù trước hạn có điều kiện áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 106 BLHS
Miễn hình phạt là trường hợp không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt
về tội phạm mà người đó đã thực hiện
BLHS năm 2015 quy định biện pháp miễn hình phạt chung đối với cả người trên 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 59 BLHS
Miễn chấp hành hình phạt là không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn
bộ hoặc phần hình phạt còn lại đã tuyên
BLHS năm 2015 quy định biện pháp miễn chấp hành hình phạt áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 106 BLHS
- Giảm hình phạt là giảm một phần hình phạt đã tuyên cho người bị kết án
BLHS năm 2015 quy định biện pháp giảm mức hình phạt đã tuyên áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 106 BLHS
Tóm lại, các trường hợp áp dụng hình phạt với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm không chỉ quyết định hình phạt mà nó còn áp dụng các biện pháp khoan hồng liên quan đến hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Hệ thống các trường hợp này tạo nên sự đa dạng về biện pháp xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân hóa và cá thể hóa hình phạt đối họ, đảm bảo nguyên tắc xử lý hình sự khi áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội là “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt
nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 91 BLHS.)
1.1.4 Ý nghĩa của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là hoạt động quan trọng cụ thể hóa nguyên tắc của Luật hình sự và chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi
Trang 2116
phạm tội Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa quan trọng để có thể đạt được mục đích của hình phạt Mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt có đạt được hay không và đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất nhiều vào việc áp dụng hình phạt
- Ý nghĩa chính trị - xã hội: Các hành vi phạm tội của người phạm tội nói chung, của người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng đã tác động xấu đến xã hội, xâm phạm đến các khách thể được Luật Hình sự bảo vệ Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi nói riêng, người phạm tội nói chung nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việc
áp dụng hình phạt với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm mục đích chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội thể hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối
xử nhân văn, khoan hồng với người phạm tội là người dưới 18 tuổi Điều này tạo niềm tin cho người dân vào tính nghiêm minh của pháp luật, vào uy tín của các cơ quan công quyền góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
* Ý nghĩa pháp lý: Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đúng đắn, hợp lý, phù hợp với hành vi và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bên cạnh có ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội thì còn có ý nghĩa sâu sắc về pháp lý Ý nghĩa pháp lý của việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện ở chỗ thông qua việc áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội, chủ thể có thẩm quyền phát hiện những điểm hợp lý, tích cực của quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong áp dụng hình phạt, vừa phát hiện những điểm bất cập, vướng mắc, chưa hợp lý trong quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về áp dụng hình phạt cho người dưới 18 tuổi pháp tội Từ đó, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tổng kết hoạt động xét xử, ban hành án lệ cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật
* Ý nghĩa giáo dục, phòng ngừa: Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ngoài ý nghĩa răn đe, trừng trị người phạm tội thì ý nghĩa chủ yếu là
Trang 2217
nhằm giáo dục người phạm tội và để ngăn ngừa hành vi phạm tội tiếp theo của người phạm tội Từ đó, giúp người phạm tội nhận thức được sai lầm cũng như phòng ngừa các chủ thể khác không thực hiện hành vi phạm tội tương tự
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Cơ sở pháp lý về việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
là các quy định của BLHS về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Khi áp dụng hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các qui định của BLHS để lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Đây là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong áp dụng hình phạt
Các qui định của BLHS là căn cứ áp dụng hình phạt bao gồm các qui định ở Phần thứ nhất – Những qui định chung (Phần chung) và các qui định ở Chương XII Phần chung của BLHS có tính nguyên tắc chung cho việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Và ở Phần thứ hai - các tội phạm (Phần các tội phạm)
là qui định về hình phạt đối với tội phạm mà người dưới 18 tuổi đã phạm tội
Cơ sở thực tế của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tình tiết của vụ án, những nhu cầu, đòi hỏi thực tế có thật (đáng tin cậy) Nếu
ra quyết định áp dụng hình phạt mà không căn cứ vào những cơ sở thực tế đáng tin cậy hoặc không có thật thì sẽ có thể áp dụng hình phạt nhầm, sai hoặc không có tính thuyết phục
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Khi áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, ngoài các quy định về hình phạt trong Phần chung BLHS, Tòa án còn căn cứ vào các quy định về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định từ Điều 90 đến Điều
104 Chương XII của BLHS năm 2015
Điều 91 của BLHS năm 2015 quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện chính sách hình sự nhân đạo và khoan hồng của Nhà nước nhằm đảm bảo mục đích chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội
Trang 2318
sửa chữa sai lầm, đồng thời định hướng đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý đối với các đối tượng đặc biệt này cụ thể:
Nguyên tắc thứ nhất là “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm
lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”
[27, tr.65] Nguyên tắc này bảo đảm lợi ích tố nhất và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội là torng mọi tình huống, mọi trường hợp
cơ quan tiến hành tố tụng và ngưới tiến hành tố tụng phải tạo mọi điều kiện và áp dụng phi trừng trị đối với họ Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Yêu cầu của nguyên tắc này là giáo dục, giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Do đó, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi cũng phải thể hiện sao cho bảo đảm việc giúp đỡ họ sửa chữa sai lâm, chứ không nhằm trừng trị Cho nên, ngay từ khi khởi tố, điều tra, cơ quan điều tra không chỉ áp dụng các biện pháp lý có lợi nhất, đồng thời phải quán triệt tinh thần là: nếu không cần thiết bãt giữ, tạm giữ tạm giam đối với họ thì không được áp dụng cac biện phap này Mặt khác, phải bảo đảm các quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với họ như: phải cố người bao chữa ngay từ khi bị bắt; nếu trường hợp buộc phải bắt giữ để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội thì sau khi bị bắt, nếu có người bảo lĩnh hoặc thấy việc cho tại ngoại không ảnh hưởng cho xã hội thì cương quyết phải cho tại ngoại [23, tr.369]
Nguyên tắc thứ hai là, “Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các
trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này [27, tr.66]:
Trang 2419
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134; Điều 141; Điều 171; Điều 248; Điều 249; Điều 250; Điều 251; Điều 252 của BLHS năm 2015
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng tội do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015, trừ trường hợp quy định tại Điều 123; Điều 134; Điều 141; Điều 142; Điều 144; Điều 150; Điều 151; Điều 168; Điều 171; Điều 248; Điều 249; Điều 250; Điều 251; Điều 252 của Bộ luật này + Người dưới 18 tuổi là người giúp sức bị rủ rê, lôi kéo, người thực hiện không tích cực… nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án
Nguyên tắc thứ ba là, “Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi
phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm” [27, tr.66] Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp
dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ và phải bảo đảm yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Yêu cầu này nhằm bảo đảm để đạt được mục đích đặt ra là
“chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm” Để xác định trường hợp nào
là cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào loại tội phạm mà họ thực hiện, tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cùng những yếu tố khác: (như nhân thân, sự ăn năn hối cải của người phạm tội, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm chính sách hình sự của Nhà nước trong từng giai đoạn…) và các tình tiết khác của vụ án
Nguyên tắc thứ tư là, “Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa” [27, tr.66] Nội dung nguyên tắc này đòi hỏi Tòa án chỉ áp dụng
Trang 2520
hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng một trong các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại trường giáo dưỡng nhưng không có hiệu quả Như vậy, trước khi Tòa án áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi thì phải áp dụng các biện pháp không phải là hình phạt trước Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án chỉ cân nhắc và xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để quyết định có
áp dụng hình phạt hay không Nếu xét thấy không cần áp dụng hình phạt thì mới áp dụng các biện pháp giáo dục khác
Nguyên tắc thứ năm là, “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội” [27, tr.67] Đây là nguyên tắc xử lý, đồng thời cũng là
căn cứ quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Mục đích xử lý
người dưới 18 tuổi phạm tội “chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm”
Vì vậy, không cho phép xử phạt tù chung thân hoặc tử hình (là những hình phạt nghiêm khắc nhất) đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Nguyên tắc thứ sáu là, “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” [27, tr.67]
Nguyên tắc này cho thấy, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không
có tác dụng răn đe, phòng ngừa Trong trường hợp này Tòa án cho họ được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng (Điều 101) và với thời hạn thích hợp ngắn nhất Trong mọi trường hợp Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Khi Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án sẽ quyết định hình phạt tù nhẹ hơn mức hình phạt đối với người đủ 18 tuổi trở lên
Trang 2621
Nguyên tắc thứ bảy là, “Án đã tuyên đối với người khi chưa đủ 16 tuổi thì
không tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm” [27, tr.67] Việc không quy
định đối với người chưa đủ 16 tuồi bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiêm cũng
là thê hiện nguyên tắc không coi việc trừng trị là mục đích đối với người chưa đủ 16 tuổi, không thành kiến đối với người dưới 16 tuổi và tạo điều kiện cho các em phát triển bình thường trong cuộc sống trước mắt và lâu dài, vì đối với người chưa đủ 16 tuổi còn cả một tương lai phía trước Nguyên tắc này nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dưới 18 tuổi sớm hòa nhập với cộng đồng, tránh sự thành kiến của xã hội và sự mặc cảm của bản thân người dưới 18 tuổi về hành vi phạm tội mà họ đã bị kết án trong quá khứ
1.2.2 Quy định về hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Nội dung áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là áp dụng các quy định về hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng các quy định về khoan hồng liên quan đến hình phạt như: miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt v.v… Do đó, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gồm các trường hợp sau:
1.2.2.1 Hình phạt cảnh cáo
Hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hình phạt chính, có mức trách nhiệm hình sự nhẹ nhất nhưng có tính giáo dục sâu sắc, thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và hành vi phạm tội của họ Cảnh cáo có khả năng tác động một cách mạnh mẽ đến ý thức người dưới 18 tuổi phạm tội, giáo dục, răn đe để họ không phạm tội mới, đạt được mục đích của hình phạt
Người dưới 18 tuổi bị phạt cảnh cáo khi phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự
Như vậy, người phạm tội được áp dụng hình phạt cảnh cáo nếu có đủ các điều kiện như sau:
Trang 2722
- Thứ nhất, tội phạm mà người dưới 18 tuổi thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của BLHS năm 2015 quy định: “Tội
phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm”
Nhìn chung, việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng không phải căn cứ vào mức cao nhất của hình phạt đối với tội đó mà chỉ căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt Một tội phạm được quy định trong một điều luật có thể có một khung hình phạt nhưng cũng có thể có nhiều khung hình phạt [23, tr.170, 171]
- Thứ hai, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
Có nhiều tính tiết giảm nhẹ có nghĩa là có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trở lên Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 34 của BLHS năm 2015, không bắt buộc tình tiết giảm nhẹ này phải thuộc khoản 1 hay khoản 2 Điều 51 của BLHS năm
2015 Do đó, về lý thuyết thì không nhất thiết người dưới 18 tuổi phạm tội phải có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 mà
có thể chỉ có một tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2, thậm chí cả hai tình tiết đều được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS năm
2015
- Thứ ba, không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Để áp dụng hình phạt cảnh cáo thì điều kiện thứ ba người phạm tội dưới 18 tuổi không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Như vậy, cảnh cáo là một hình phạt có nội dung khiển trách công khai của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Có thể khẳng định so với các hình phạt chính khác, cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất vì nó không tước bỏ hoặc hạn chế bất cứ quyền lợi nào của người dưới 18 tuổi phạm tội mà chỉ lên án về tinh thần đối với họ Nội dung của hình phạt cảnh cáo chỉ thể hiện ở việc Tòa án tuyên bản án có tội đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội và Tòa án sẽ nhân danh Nhà nước lên án người bị kết án về việc họ đã thực hiện hành
Trang 2823
vi phạm tội Hậu quả pháp lý duy nhất mà hình phạt cảnh cáo mang lại cho người dưới 18 tuổi phạm tội là họ phải chịu án tích trong thời hạn 06 tháng (chỉ đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) Tuy nhiên, hình phạt này cũng gây ra cho người dưới 18 tuổi phạm tội những tổn thất nhất định về mặt tinh thần, kể cả việc
họ phải mang án tích
1.2.2.2 Hình phạt tiền
Điều 99 của BLHS năm 2015 quy định về hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội Hình phạt tiền là việc buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định theo quy định của pháp luật để sung quỹ nhà nước Theo quy định này khi xét thấy không cần áp dụng hình phạt khác mà mục đích của hình phạt vẫn đạt được thì Tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu người phạm tội thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau:
- Một là, người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
- Hai là, người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng
Quy định này là rất phù hợp với thực tế xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi, góp phần đa dạng hóa các hình phạt Đồng thời, trong thời điểm hiện tại có nhiều người dưới 18 tuổi có thu nhập hay tài sản riêng và có thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Chính sách hình sự của nước ta luôn muốn hạn chế áp dụng các hình phạt tước
quyền tự do của con người, đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì “Tòa án
chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa” [27, tr.67]
Do đó, việc áp dụng hình phạt tước đi quyền lợi về tài sản có thể tái tạo được
mà vẫn đảm bảo được mục đích giáo dục người phạm tội như hình phạt tiền là rất cần thiết
Trang 29- Hai là, người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và có thu nhập hoặc tài sản riêng; người dưới 18 tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu hình phạt tiền Bởi lẽ, ở độ tuổi này vấn đề tài chính của người phạm tội vẫn còn lệ thuộc hoàn toàn vào gia đình, ít có trường hợp có thu nhập hoặc tài sản riêng nên nếu áp dụng hình phạt này đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không đảm bảo tính khả thi Mặt khác, việc áp dụng hình phạt này sẽ đem lại gánh nặng cho gia
đình, không đúng với tính chất “cá thể hóa trách nhiệm hình sự”, không đảm bảo
được mục đích và hiệu quả của hình phạt này nên nhà làm luật không cho phép áp dụng hình phạt tiền đối với đối tượng này
Bên cạnh đó, chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu
có thu nhập hoặc có tài sản riêng điều này vừa đảm bảo tính khả thi của hình phạt, vừa tạo thêm điều kiện để Tòa án áp dụng linh hoạt các hình phạt, giảm bớt các trường hợp xử phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Tài sản riêng của người dưới 18 tuổi ở đây là tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của người đó có được do lao động, được thừa kế, được tặng cho… Thu nhập của người dưới 18 tuổi là thu nhập thực tế từ hợp đồng lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể là thu nhập thường xuyên hoặc không thường xuyên
- Thứ ba, mức phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá ½ mức tiền phạt mà điều luật quy định Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất
và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xem xét đến tình hình tài sản của
Trang 30án có thể xem xét quyết định giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại 1.2.2.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có nội dung giáo dục sâu sắc khi không buộc người được áp dụng hình phạt này phải cách ly khỏi đời sống xã hội
Họ vẫn có thể thực hiện công việc thường ngày và sống trong môi trường gia đình
và xã hội như trước đây nhưng được đặt dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú
Hình phạt cải tạo không giam giữ không chỉ là hình phạt được áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội Loại hình phạt này cũng được áp dụng đối với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên Do đó, khi Tòa án quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phải căn cứ vào Điều 36 BLHS năm
2015 về cải tạo không giam giữ, đồng thời căn cứ vào Điều 100 của BLHS năm
2015 quy định việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi [23, tr.383]
Cơ sở để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ chủ yếu căn cứ vào hai yếu
tố là tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và điều kiện về khả năng có thể tự cải tạo của người phạm tội Theo đó, hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ có thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi khi đáp ứng được các điều kiệu như sau:
- Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất
Trang 31+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng có thể là cố
ý hoặc vô ý [27, tr.72]
- Chỉ được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội
có nơi làm việc ổn định, thường xuyên và có nơi cư trú rõ ràng Riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ cần điều kiện là có nơi cư trú rõ ràng, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 100 của BLHS khi
áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, không khấu trừ thu nhập của người đó nên việc xác định người phạm tội có nơi làm việc ổn định là không cần thiết, mà chỉ cần xác định người phạm tội có nơi cư trú rõ ràng là được
Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 thì: “Nơi cư trú của
công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú” Đối với nơi cư trú của người dưới 18
tuổi được xác định như sau: Nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người dưới 18 tuổi là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người dưới 18 tuổi thường xuyên chung sống; Người dưới 18 tuổi có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định
- Hình phạt cải tạo không giam giữ được Tòa án áp dụng khi xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội Khi xem xét điều kiện này Tòa
án cần phân tích, đánh giá một cách toàn diện những tình tiết có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội có khả năng ảnh hưởng đến khả năng tự cải tạo, giáo dục họ, đảm bảo cho họ tự cải tạo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội Đồng thời,
Trang 3227
phải xem xét đến yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Thông thường, Tòa án áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội có mức độ nhẹ, phạm tội lần đầu, có ý thức sửa đổi sai lầm
Khi người dưới 18 tuổi phạm tội đã thỏa mãn các điều kiện nêu trên thì Tòa án
có thể xem xét quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với họ Thời gian và phương pháp áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định gồm:
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 của BLHS năm 2015 thì hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng có thời gian từ 06 tháng đến 03 năm Tuy nhiên, đây là quy định áp dụng chung đối với mọi cá nhân phạm tội, riêng đối với người
dưới 18 tuổi thì “Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định” [27, tr.73] Như vậy,
thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn phải đảm bảo mức tối thiểu là 06 tháng nhưng cao nhất là 01 năm 06 tháng
Ngoài ra, khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm thì Tòa án cần chú ý đến các quy định:
- Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó [27, tr.72]
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của BLHS năm 2015 thì đối với người đủ
18 tuổi trở lên, trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước Tuy nhiên, đối với người dưới 18 tuổi thì Tòa án sẽ không khấu trừ thu nhập của họ Quy định này, xuất phát từ thực
tế rằng ở độ tuổi này việc tham gia lao động, tạo ra thu nhập còn rất hạn chế, phần lớn chủ thể này đều phụ thuộc vào kinh tế của gia đình nên việc khấu trừ thu nhập của họ là thiếu tính khả thi, không thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nước
- Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ [27, tr.27]
Trang 3328
Như vậy, trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng đã bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì khi quyết định thời hạn cải tạo không giam giữ, Tòa án phải khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam
Nói chung, để hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đạt hiệu quả cao, tránh tái phạm thì vai trò của gia đình người
bị kết án đóng vài trò vô cùng quan trọng Những người dưới 18 tuổi phải chịu cải tạo không giam giữ nếu đã đạt được tiến bộ đáng kể và họ đã hoàn thành một phần
tư thời gian do Tòa án quy định để giảm hình phạt Nếu họ lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì họ sẽ được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại
1.2.2.3 Hình phạt tù có thời hạn
Tù có thời hạn là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi cuộc sống xã hội và chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định
Hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc cao hơn so với các hình phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ Khi người phạm tội bị áp dụng hình phạt này đồng nghĩa với việc họ bị tước quyền
tự do và một số quyền công dân khác, bị cách ly khỏi gia đình, xã hội, phải lao động cải tạo tại trại giam trong một thời gian được xác định trong bản án đã có hiệu lực pháp luật Chế độ cải tạo cũng như việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo Luật Thi hành án hình sự và Nghị định hướng dẫn cụ thể
Theo quy tắc 19 của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi (còn gọi là quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29 tháng 11 năm 1985 đưa ra nguyên tắc cơ
bản là: “Việc đưa trẻ em vào trại giam là phương pháp giải quyết cuối cùng và
trong thời hạn cần thiết tối thiểu” Tòa án chỉ đưa ra hạn chế tự do cá nhân đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội, khi họ bị xét xử về hành vi rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, có dùng bạo lực để chống lại người khác hay ngoan cố gây ra những hành vi nghiêm trọng khác mà không còn hướng giải quyết nào [53, tr.178]
Trang 3429
Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì: “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời
hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất” [27, tr.67]
Như vậy, chính sách hình sự của Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hạn chế áp dụng hình phạt tù Chỉ trong những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu và môi trường sống không thuận lợi cho việc cải tạo, giáo dục để người dưới 18 tuổi tự cải tạo ngoài xã hội và việc áp dụng các hình phạt không tước tự do khác không đảm bảo hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm thì mới phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Việc BLHS quy định hạn chế áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã thể hiện nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta đối với đối tượng này
Bên cạnh đó, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì BLHS năm 2015 quy định không được áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình Do đó, có thể khẳng định đây là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống các hình phạt đối với chủ thể này
Theo quy định tại Điều 101 của BLHS năm 2015 thì mức hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi được chia ra thành 02 nhóm sau:
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi:
+ Khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù + Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi:
Trang 3530
+ Khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù + Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định [19, tr.214]
Tuy nhiên, quy định nêu trên chỉ xác định mức hình phạt tù cao nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là 18 năm hoặc 12 năm tùy thuộc từng nhóm tuổi mà không quy định mức tối thiểu là bao nhiêu tháng Việc xác định thời hạn tối thiểu chấp hành hình phạt tù phải được tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của
BLHS năm 2015 “mức tối thiểu là 03 tháng”
Ngoài ra, trong trường hợp người bị kết án bị tạm giữ, tạm giam trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử thì “Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời
hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù” [27, tr.29]
Từ những phân tích nêu trên cho thấy hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất có thể áp dụng đối với người dưới 18 tuổi Hình phạt này được áp dụng khi người dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, cần thiết áp dụng hình phạt nhưng không có đủ điều kiện áp dụng các hình phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ thì cũng áp dụng hình phạt tù có thời hạn Tuy nhiên, về mức độ áp dụng hình phạt tù so với người
đủ 18 tuổi phạm tội thì người dưới 18 tuổi luôn được hưởng mức án nhẹ hơn và với
thời hạn thích hợp ngắn nhất
1.2.3 Quy định về tổng hợp hình phạt, miễn hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên
1.2.3.1 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Phạm nhiều tội là trường hợp người đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án lần nào, nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm [48, tr.89]
Trang 3631
BLHS năm 2015 đã quy định rõ ràng, đầy đủ về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo hướng quy định nguyên tắc chung về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Với chính sách hình sự đặc biệt, quyết định hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng mang những đặc trưng riêng khi tổng hợp hình phạt Theo
đó, Điều 103 của BLHS năm 2015 xác định có ba trường hợp đặc biệt khi tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội
- Thứ nhất, khoản 1 Điều 103 của BLHS năm 2015 đã xác định nguyên tắc và giới hạn tổng hợp hình phạt khi các tội họ thực hiện đều nằm trong giới hạn từ 14
đến 16 tuổi, hoặc đều nằm trong giới hạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi: “Khi xét xử cùng
một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này…”
Theo đó, nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội
Có thể thấy rằng nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được khoan hồng nhiều hơn, bên cạnh đó thì khoản 1 Điều 103 của BLHS năm 2015 không quy định mức tối đa của hình phạt tiền Và giống với người đủ 18 tuổi trở lên, nếu người dưới 18 tuổi bị áp dụng hình thành hình phạt chung mà không khống chế mức tối đa (điểm
đ, khoản 1 Điều 55 phạt tiền thì không tổng hợp với các hình phạt khác mà các khoản tiền phạt được cộng lại của BLHS năm 2015 [33, tr.27, 28]
- Thứ hai, khoản 2 Điều 103 của BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 16 tuổi Theo đó thì việc tổng hợp hình phạt được thực hiện như sau:
+ Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó
đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện
Trang 37+ Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ
16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo khoản 1 Điều này, tức là không được vượt quá 03
năm đối với hình phạt chung là cải tạo không giam giữ và 18 năm đối với hình phạt chung là tù có thời hạn
- Thứ ba, khoản 3 Điều 103 của BLHS năm 2015 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 18 tuổi đã có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn của hình phạt Theo đó, việc tổng hợp hình phạt được thực hiện như sau:
+ Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này;
+ Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã
đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa
đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội
1.2.3.2 Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
Đối với trường hợp người dưới 18 tuổi đang chấp hành một bản án nhưng lại
bị đưa ra xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này hoặc một tội thực hiện sau khi có bản án thì thực hiện theo nguyên tắc chung như đối với người thành niên Tuy nhiên, mức tối đa của hình phạt chung bị khống chế như tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã nêu trên Cụ thể, Điều 104 của BLHS năm 2015
Trang 38Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật này
1.2.3.3 Miễn hình phạt
Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt
nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự [27, tr.43]
Theo quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015, người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
1, khoản 2 Điều 54, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự
Như vậy, người phạm bất cứ tội gì cũng có thể được miễn hình phạt, không phân biệt tội đó là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, điều kiện để người được miễn hình phạt lại không cụ thể, ngoài điều kiện về tình tiết giảm nhẹ và nếu chỉ căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ thì người phạm tội chỉ có thể được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điêu 54 BLHS chứ chưa thể được miễn hình phạt Vì vậy, người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới chỉ là một điêu kiện cần mà chưa đủ, phải có thêm điều kiện khác, mà điêu kiện này mới có ý nghĩa quyết định có cho miễn hình phạt hay không, đó là “đáng được khoan hồng đặc biệt,
nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”
Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS là phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và các tình tiết đó phải được quy định tại khoản 1 Điều 54 Điều kiện này hoàn toàn giống với điều kiện đê người phạm tội được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, vấn đề
Trang 3934
còn lại là xác định điều kiện “đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” Có thể nói người phạm tội được miễn hình phạt là người có điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự nhưng chưa được miễn trách nhiệm hình sự
Người phạm tội được miễn hình phạt, nhất thiết phải có những điêu kiện về trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, nhưng vì tính chât và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án mà không thể miễn trách nhiệm hình sự đối với họ thì mới miễn hình phạt [23, tr.332] 1.2.3.4 Giảm mức hình phạt đã tuyên
Các quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi được
áp dụng trong những trường hợp khác nhau tùy thuộc vào loại hình phạt mà họ đang phải chấp hành: (i) người phạm tội có tiến bộ; (ii) người phạm tội lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, và (iii) người phạm tội lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn kéo dài
* Giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp người dưới 18 tuổi bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn
- Trường hợp người phạm tội có tiến bộ
So với người thành niên, thì các quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù có thời hạn được khoan hồng nhiều hơn ở các khía cạnh sau Thứ nhất, người dưới 18 tuổi được xét giảm sớm hơn, khi đã chấp hành được một phần tư thời hạn đã tuyên Thứ hai, đối với mỗi lần xét giảm, họ có thể được giảm nhiều hơn, tối đa đến 04 năm Thứ ba, thời gian tối thiểu họ phải chấp hành hình phạt ngắn hơn, tối thiểu là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên (khoản 1 Điều 105 của BLHS năm 2015)
- Trường hợp người phạm tội lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
Trong trường hợp lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, người dưới 18 tuổi có thể được xét giảm ngay khi có các sự kiện pháp lý này xảy ra và có thể được miễn chấp hành toàn bộ phần hình phạt còn lại (khoản 2 Điều 105 của BLHS năm 2015)
Trang 40* Cần lưu ý rằng, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các quy định tại Chương XII của BLHS năm 2015 là những quy định về hình phạt được áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bên cạnh đó người chưa thành niên phạm tội còn có thể áp dụng hình phạt khác nếu không trái với các quy định tại Chương XII của BLHS năm 2015.Chẳng hạn: các quy định về miễn chấp hành hình phạt (Điều 62 của BLHS năm 2015), giảm hình phạt đã tuyên (Điều
63 BLHS), hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67 của BLHS năm 2015), tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 68 của BLHS năm 2015) … được áp dụng chung cho cả người đã thành niên và người dưới 18 tuổi phạm tội Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu việc áp dụng hình phạt chỉ áp dụng riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội
1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Như đã nghiên cứu ở Mục 1.1, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là một hình thức của áp dụng pháp luật do Tòa án tiến hành và
áp dụng những quy phạm pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể để giải quyết các vụ án hình sự theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Từ khái niệm này, chúng ta thấy có các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi như sau: