Nước ta đang tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân từ khi được hình thành lần đầu tiên ở Hiến pháp năm 1959 đến nay luôn được duy trì qua các bản Hiến pháp, các văn
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-TIỂU LUẬN
Môn NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ MỚI LUẬT KINH TẾ
Đề tài:
Hà Nội – 2020
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI MÀ NHÀ NƯỚC LÀM ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU Ở VIỆT
NAM
HỌ VÀ TÊN : HOÀNG THU HUYỀN
MÃ HỌC VIÊN : 27NC05013 KHOA : SAU ĐẠI HỌC NGÀNH : TỘI PHẠM HỌC VÀ PNTP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁN LỆ HÌNH SỰ VÀ ÁP
DỤNG ÁN LỆ HÌNH SỰ 2 1.1 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của án lệ hình sự 2 1.2 Khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc áp dụng án lệ hình sự 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG ÁN LỆ HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 8 2.1 Thực trạng áp dụng án lệ hình sự 8 2.2 Giải pháp nâng cao áp dụng án lệ hình sự Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN 13
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ALHS : Án lệ hình sự
BLHS : Bộ luật hình sự
BLDS : Bộ luật Dân sự
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân Tối cao
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
Chế độ sở hữu luôn là vấn đề quan trọng, cốt lõi ở mỗi quốc gia, nó đánh dấu ột nhà nước đi theo con đường phát triển theo kiểu tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa Các nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy chế độ công hữu làm chủ đạo trong nền kinh tế, ngược lại các nước tư bản chủ nghĩa sẽ chọn chế độ tư hữu là con đường phát triển chủ đạo Nước ta đang tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân từ khi được hình thành lần đầu tiên (ở Hiến pháp năm 1959) đến nay luôn được duy trì qua các bản Hiến pháp, các văn bản dưới luật ngày càng quy định rõ hơn về chế độ sở hữu toàn dân như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp Nhà nước
Bên cạnh đó việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân vào thực tiễn đã đạt được nhiều thành tựu nhất định, góp phần phát huy dân chủ, đưa nền kinh tế nước nhà phát triển lên tầm cao mới Tuy nhiên, chế dộ sở hữu toàn dân vẫn còn là một khái niệm chưa được rõ ràng về mặt pháp lý, từ đó đã dẫn đến không ít những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng, vẫn có sự mập mờ khó hiểu giữa sở hữu toàn dân và sở hữu Nhà nước Do đó việc tìm hiểu những nội dung của khái niệ chế độ sở hữu trở nên thật sự cần thiết nhất là ở thời điểm hiện nay, khi nước ta đang phát triển kinh tế ở một
tầ cao mới thì vấn đề sở hữu và chế độ sở hữu trở nên cực kỳ quan trọng
Chính vì những lẽ trên mà việc tìm hiểu, phân tích những quy định của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân để có những giải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót của pháp luật và chế độ sở hữu toàn dân được hiểu một cách đầy đủ và chính xác nhất trở nên rất cần thiết Đó cũng là lý do
tác giả chọn đề tài: “Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu ở Việt Nam”.
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU.
1.1 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của chế độ sở hữu toàn dân.
1.1.1 Khái niệm.
Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu tối cao, được tự do chiếm hữu, sử dụng và định đoạt quyền sở hữu Quyền sở hữu là quyền được ghi nhận và bảo
vệ của pháp luật đối với một chủ thể Là chủ sở hữu đồng thời có quyền ban hành pháp luật, Nhà nước can thiệp rất sâu vào các quan hệ đất đai, cụ thể:
– Nhà nước xác định giá các loại đất trên cơ sở giá trị sử dụng là khả năng sinh lợi của từng loại đất làm cơ sở, căn cứ để tính thuế chuyển quyền, tính tiền khi giao đất, cho thuê đất,…
– Nhà nước xây dựng các quy định trong việc quản lý đất đai như xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần phân bố hợp lý các ngành kinh
tế quốc dân trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương
– Nhà nước xây dựng các quy định nhằm bảo vệ và phát triểnvốn đất đai của mình như việc khuyến khích người sử đụng đất đầu tư lao động kỷ thuật, vật
tư, tiền vốn và những thành tựu khoa học kỹ thuật để cải tạo và bồi bổ đất đai; nghiêm cấm việc hủy hoại đất gây tổn hại đến môi trường cũng như các ảnh hưởng xấu khác đến lợi ích xã hội; loại trừ khả năng coi đất là phương tiện bóc lột sức lao động của người khác,…
– Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho người sử dụng đất, thiết lập các điều kiện và cơ sở để người sử dụng đất tham gia vào các quan hệ chuyển dịch đất đai,…
Từ những vấn đề đã nêu ở trên ta rút ra được định nghĩa về chế độ sở hữu Nhà nước đối với đất đai như sau:
Chế độ sở hữu Nhà nước (sở hữu toàn dân) đối với đất đai là tổng hợp
Trang 6nhận, quy định và bảo vệ quyền lợi của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt đất đai tạo thành sở hữu Nhà nước đối với đất đai.
1.1.2 Chủ thể quyền sở hữu đất đai
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ thể đặc biệt của quyền sở hữu đất đai vì các lý do sau:
Thứ nhất: Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất và tuyệt đối với toàn bộ vốn
đất đai trên phạm vi cả nước Nhà nước vừa là chủ thể sở hữu đất đai vừa là chủ thể quản lý đất đai
Thứ hai: Nhà nước vừa là người sở hữu vừa là người ban hành pháp luật
nên Nhà nước tự quy định cho mình những biện pháp và cách thức thực hiện các quyền năng của một chủ sở hữu
1.1.3 Khách thể quyền sở hữu đất đai
Khách thể quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai là toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước bao gồm: Đất liền, hải đảo, lãnh thổ Với tổng diện tích đất tự nhiên trên 33 triệu ha và được chia thành 3 loại: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng
1.1.4 Nội dung của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
- Quyền chiếm hữu
Luật Dân sự định nghĩa rằng: Quyền chiếm hữu là quyền được giữ vật sở hữu trong tay Vật sở hữu nằm trong tay ai một cách hợp pháp thì người đó được quyền chiếm hữu
Nhà nước các cấp chiếm hữu đất đai thuộc phạm vi lãnh thổ của mình tuyệt đối và không điều kiện, không thời hạn, Nhà nước cho phép người sử dụng đất được quyền chiếm hữu trên những khu đất, thửa đất cụ thể với thời gian, có thể lâu dài nhưng không phải là vĩnh viễn, sự chiếm hữu này chỉ là để sử dụng đúng mục đích được giao theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần phải hiểu rằng, chúng ta không thể đồng nhất quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước với quyền chiếm hữu tài sản trong Luật Dân sự Có thể hiểu: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ vốn đất
đai trong phạm vi cả nước, quyền kiểm soát và chi phối mọi hoạt động của người
Trang 7sử dụng đất Xuất phát từ quan điểm như vậy nên đất đai không được quan niệm
là tài sản có thể lưu thông dễ dàng trong đời sống xã hội mà nó là hàng hóa đặc biệt nằm trong sự kiểm soát và chi phối của Nhà nước.
Như vậy, quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước không bị hạn chế, còn quyền chiếm hữu đất đai của người sử dụng bị hạn chế bởi các quy định của Nhà nước
- Quyền sử dụng
Là chủ sở hữu, Nhà nước cũng có quyến sử dụng Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất để phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội
Nhà nước không trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đai mà giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Sẽ là một sai lầm nếu quan niệm rằng khi Nhà nước giao đất cho người sử dụng để khai thác là Nhà nước đã mất đi quyền sử dụng Quyền sử dụng của người sử dụng đất hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước Nhà nước có thể tước quyền sử dụng đất của người này chuyển cho người khác theo trình tự pháp luật
- Quyền định đoạt
Quyền định đoạt là quyền quyết định số phận pháp lý của đất
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua nhiều hình thức khác nhau:
+ Nhà nước xác định mục đích sử dụng các loại đất trong thành phần đất đai thống nhất Chỉ có Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới có quyền xác định mục đích sử dụng đất Người sử dụng đất có nghĩa
vụ sử dụng đất đúng mục đích được giao, không được tự ý chuyển mục đích sử dụng từ loại đất này sang loại đất khác
+ Nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, phạn chia điều chỉnh đất đai giữa những người sử dụng
+ Nhà nước quy định các quyền và nghã vụ cho người được Nhà nước giao đất cho sử dụng Đồng thời bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ được thực hiện trên thực tế
Trang 8Quyền định đoạt là quyền năng duy nhất do Nhà nước thực hiện Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp nhưng không có quyền định đoạt đất đai Mọi hành vi vi phạm đến quyền sở hữu của Nhà nước thì sẽ chiếu theo tính chất nghiêm trọng của hành vi mà Nhà nước quyết định các biện pháp xử lý thích đáng, phù hợp với pháp luật đất đai
1.2 Cơ sở lý luận trong việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Trước đây, Việt Nam cũng giống như nhiều nước trên thế giới thừa nhận
sự tồn tại cả nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai Hiến pháp 1980 ra đời
đã là dấu mốc mang tính bước ngoặt cho sự thay đổi về chủ sở hữu của toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Từ đây nhà nước chỉ thừa nhận suy nhất một hình thức sở hữu về đất đai đó là sở hữu toàn dân Hình thức sở hữu này lại tiếp tục được khẳng định tại điều 17 của Hiến pháp 1992 Bên cạnh đó theo chủ nghĩa Mác-Lê nin về tính tất yếu của việc quốc hữu hóa đất đai Học thuyết Mác-Lê nin cho rằng nhân loại cần phải thay thế hình thức sở hữu tư nhân về đất đai bằng cách “xã hội hóa” đất đai thông qua việc thực hiện quốc hữu hóa đất đai Quốc hữu hóa đất đai là một việc làm mang tính tất yếu khách quan và phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội loài người
Bởi các lý do sau:
Thứ nhất, trên phương diện kinh tế, việc tích tụ, tập trung đất đai sẽ đem
lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc sản xuất nông nghiệp trong điều kiện duy trì hình thức sở hữu tư nhân về đất đai
Việc sở hữu tư nhân về đất đai dẫn đến việc chia nhỏ, manh mún đất đai Điều này không phù hợp với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
và phương thức sản xuất trong nông nghiệp, cản trở việc áp dụng máy móc và các thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp
Để khắc phục nhược điểm này cần phải tích tụ, tập trung đất đai thông qua việc quốc hữu hóa đất đai
Trang 9Thứ hai, các nhà sáng lập chủ nghãi Mác-Lê nin nhận thấy: đất đai không
do bất cứ ai tạo ra, có trước con người và là vật tặng của thiên nhiên ban tặng cho con người, mọi người đều có quyền sử dụng Không ai có quyền biến đất đai-tài sản chung của con người thành của riêng mình
Thứ ba, nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông
nghiệp, C.Mác đưa ra kết luận rằng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì đất càng bạc màu nhanh chóng Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp được xác lập và vận hành dựa trên ba chủ thể cơ bản là chủ đất, nhà tư bản và người lao động Xét dưới góc độ kinh tế thì hiệu quả kinh tế
mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mang lại dựa trên
sự khai thác tối đa có xu hướng làm đất “kiệt quệ hóa” đất đai
Mặt khác xét về phương diện xã hội, sở hữu tư nhân về đất đai vô hình chung trở thành phương tiện để giai cấp tư sản thực hiện việc khai thác, bóc lột người lao động để làm giàu cho mình Muốn giải phóng người lao động tiến lên xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng và tiến bộ cần phải thủ tiêu hình thức
sở hữu tư nhân về đất đai của giai cấp tư sản chiếm thiểu số trong xã hội Đồng thời, chủ nghĩa Mác-Lê nin cũng chỉ rõ sứ mệnh thủ tiêu hình thức sở hữu đất đai đó thuộc về những người lao động tập hợp xung quanh bộ tham mưu lãnh đạo là giai cấp công nhân
Thứ tư, quốc hữu hóa đất đai do giai cấp vô sản thực hiện phải gắn bó với
vấn đề chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản Lê nin đã kế thừa và phát huy luận điểm cách mạng đó của C.Mác và Ph Ăng ghen về quốc hữu hóa đất đai Người cho rằng một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền công-nông là phải xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong phạm vi toàn quốc nhằm đem lại ruộng đất cho người dân
Thứ năm, việc xóa bỏ chế độ tư hữu về ruộng đất của giai cấp tư sản phải
là một quá trình tiến hành lâu dài, gian khổ Dù khẳng định rằng tiến hành quốc hữu hóa đất đai là một tất yếu khách quan Song các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lê nin cũng khẳng định rằng không thể xóa bỏ ngay lập tức chế độ tư hữu
về ruộng đất, đây phải là một quá trình lâu dài V.I.Lênin đã khẳng định “Quốc
Trang 10hữu hóa đất đai là một quy luật tất yếu khách quan đối với bất kỳ nước nào làm cách mạng vô sản nhưng không nhất thiết phải tiến hành ngay lập tức khi giai cấp vô sản giành chính quyền mà có thể dần dần từng bước từ thấp đến cao, từ tập thể hóa đến xã hội hóa.”
Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lê nin đã là một trong những cơ sở để hình thành nên chế độ sở hữu về đất đai như ngày nay ở nước ta Theo khẳng định của Lê nin thì bất cứ quốc gia nào làm cách mạng vô sản thì quốc hữu hóa đất đai cũng là một quy luật tất yếu Và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó
1.3 Cơ sở thực tiễn trong việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của học thuyết Mác-Lê nin
về quốc hữu hóa đất đai vào thực tiễn cách mạng Việt Nam quá trình quốc hữu hóa ở nước ta đã trải qua các thời kỳ lịch sử Đặc biệt nhất là hình thức sở hữu toàn dân đã được khẳng định rõ ràng qua hai bản Hiến pháp 1980 và 1992 Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân của hai bản Hiến pháp trên dựa trên những cơ sở thực tiễn chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về mặt chính trị, ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức,
mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải thuộc về toàn thể nhân dân
Thứ hai, về phương diện lịch sử, ở nước ta hình thức sở hữu nhà nước về
đất đai đã xuất hiện từ rất sớm và tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc
Thứ ba, về mặt thực tế, nước ta còn gần một nửa diện tích đất tự nhiên
chưa sử dụng (khoảng hơn 10 triệu ha – số liệu của Tổng cục thống kê đất đai toàn quốc năm 2000) Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong việc xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch phát triển chung nhằm quản lý chặt chẽ
và từng bước đưa diện tích đất hoang vào khai thác, sử dụng Đồng thời trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì quốc hữu hóa đất đai cũng sẽ
Trang 11tạo điều kiện cho nhà nước trong việc sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích chung của toàn xã hội
Thứ tư, việc duy trì và củng cố hình thức sở hữu toàn dân về đất đai trong
giai đoạn hiện nay còn căn cứ vào lý do thực tiễn Các quan hệ về quản lý đất đai ở nước ta mang tính ổn định trong thời gian khá dài, nếu thay đổi hình thức sở hữu sẽ dẫn đến sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, tăng tính phức tạp của quan hệ đất đai
Thông qua việc sở hữu đất đai ở thời kỳ phong kiến của bài viết ta đã thấy
rõ rằng: “tổ tiên đã để lại một di sản pháp luật sở hữu về đất đai, tuy không tinh
xảo, song cũng đủ minh định rõ ràng ai là chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất kiến tạo nên lãnh thổ quốc gia.” Từ đó ta rút ra được nhữ đặc điểm về quan
hệ chiếm hữu ruộng đất trong lịch sử Việt Nam: Quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai được hình thành từ rất sớm ở nước ta Ở Việt Nam, nhà nước giữ quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ đất đai của quốc gia Quyền tư hữu đối với đất đai bị hạn chế và không hoàn chỉnh, luôn bị chi phối bởi quyền sở hữu tối cao của nhà nước
Như vậy, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay được xây dựng không chỉ dựa vào những luận cứ khoa học của học thuyết Mác – Lê nin
về quốc hữu hóa đất đai mà còn do điều kiện thực tiễn đặc thù của đất nước và
kế thừa những phong tục tập quán của cha ông ta trong lịch sử.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI.
2.1 Thực trạng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
ở nước ta hiện nay
2.1.1 Thực trạng.
Ở nước ta việc thể chế hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiếp pháp và Luật Đất đai đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân, thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tránh được những hậu quả do chế
độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra Ta thấy,sở hữu toàn dân về đất đai không phải thuộc sở hữu của riêng ai mà toàn thể nhân dân là chủ sở hữu đối với đất đai,