Thực phẩm chứa các vi sinh vật gây bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hiện đang trở thành nguyên nhân chính gây ra các dịch bệnh. Mặc dù áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công nghệ và quy phạm vệ sinh an toàn thực phẩm (GMP, HACCP,…) nhưng nguy cơ nhiễm các vi sinh vật trong quá trình chế biến thực phẩm ngày càng gia tăng (Besselink et al., 2008). Để kiểm soát vấn đề này, nhiều cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm đã sử dụng các chất bảo quản hóa học và các chất phụ gia. Nhiều nghiên cứu chỉ ra các chất phụ gia gây ra tác dụng không mong muốn cho người tiêu dùng. Do đó, việc tìm ra những chất bảo quản vừa an toàn vừa hiệu quả đang là vấn đề thách thức cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Các nghiên cứu trong những thập niên gần đây cho rằng nhóm vi khuẩn sinh acid lactic (LAB) có khả năng sản sinh các chất kháng khuẩn trong quá trình sinh trưởng và phát triển nhận được sự chú ý đặc biệt (BernetCanard et al., 1997). Vì LAB được coi là vi khuẩn an toàn cho người tiêu dùng do chúng và các chất chuyển hóa của chúng không tạo nên những tác dụng phụ khi được sử dụng trong các thực phẩm lên men
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT
I Tổng quan 5
1 Đặt vấn đề 5
2 Lịch sử phát triển 5
3 Bacteriocin 5
4 Phân loại 6
II Đặc điểm và tính chất 7
1 Đặc điểm tính chất 7
a Đặc điểm 7
b Tính chất 7
2 Đặc tính hóa học 8
3 Đặc tính lý học 8
III Phương thức hoạt động 9
1 Phạm vi hoạt động 9
2 Cơ chế hoạt động 9
3 Kiểu hoạt động 10
IV Phương pháp 10
1 Phương pháp sinh tổng hợp bacteriocin 10
Quan hệ đối kháng và khả năng sinh tổng hợp bacteriocin 10 Thành phần môi trường nuôi cấy 10
Điều kiện nuôi cấy 11
2 Phương pháp tách chiết bacteriocin 11
a Phương pháp nhiệt độ: 11
b Phương pháp nồng độ proton 11
c Phương pháp dùng tác nhân hoá học 12
3 Phương pháp tinh sạch 13
4 Phương pháp xác định khả năng sinh tổng hợp bacteriocin bằng phương pháp đối kháng đồng thời 14
Trang 35 Phương pháp tính lượng bacteriocin sinh tổng hợp 14
6 Cách xác định khả năng kháng 14
Phương pháp xác định tính đối kháng 14
V Thử nghiệm tính kháng của bacteriocin trên các vi sinh vật gây bệnh 15
1 Escherichia coli: 15
2 Salmonella 16
3 Listeria monocytogenes 16
4 Staphylococcus aureus 17
VI Các ứng dụng tiềm năng của Bacteriocin 17
Bảo quản sinh học thực phẩm 17
Các sản phẩm chăm sóc sức khỏe 18
Các giống khởi động 18
Các probiotic 19
Các bacteriocin thương mại 19
Các marker tạo vector tác dụng trong thực phẩm 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GRAS Generally recognized as safe
E.coli Escherichia coli
EPEC Enteropathogenic E coli diarrheagenic E.
coli
BRP Bacteriocin release protein
Bảng 2: Tinh sạch một số bacteriocin được sinh tổng hợp bởi vi khuẩn
Lactobacillus plantarum (trang 13-14)
Trang 5BACTERIOCIN VÀ ỨNG DỤNG
Tổng quan
1 Đặt vấn đề
Thực phẩm chứa các vi sinh
vật gây bệnh ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe con người và
hiện đang trở thành nguyên
nguy cơ nhiễm các vi sinh vật
trong quá trình chế biến thực
phẩm ngày càng gia tăng
(Besselink et al., 2008) Để kiểm
soát vấn đề này, nhiều cơ sở sản
xuất và chế biến thực phẩm đã
sử dụng các chất bảo quản hóa
học và các chất phụ gia Nhiều
nghiên cứu chỉ ra các chất phụ
gia gây ra tác dụng không mong
muốn cho người tiêu dùng Do
trong những thập niên gần đây
cho rằng nhóm vi khuẩn sinh
acid lactic (LAB) có khả năng
sản sinh các chất kháng khuẩn
trong quá trình sinh trưởng và
phát triển nhận được sự chú ý
đặc biệt (Bernet-Canard et al.,
1997) Vì LAB được coi là vi
khuẩn an toàn cho người tiêu
dùng do chúng và các chất
chuyển hóa của chúng không
tạo nên những tác dụng phụ khi
được sử dụng trong các thực
phẩm lên men (Ruiz-Larrea et
al., 2005) [1][2]
2 Lịch sử phát triển
Lịch sử của bacteriocin được
bắt đầu khi một nhà khoa học
người Bỉ André Gratia nghiên
cứu tìm cách tiêu diệt vi khuẩn
Vào năm 1925, khám phá đầutiên được thực hiện bởi Gratia vềmột loại kháng sinh đặc hiệucao được tạo ra bởi một chủng
của Escherichia coli và hoạtđộng chống lại các chủng kháccùng loài Chất này được pháthiện, sản xuất bởi nhiều loài
Entero Bacteriaceae [3]
Năm 1948 loại chất này đượcđặt tên là Colicin vì nó có khả
năng tiêu diệt được E coli và nó
được chia thành 17 loại dựa trên
sự hấp thụ đặc hiệu của nó Kếtquả của công trình này đã thúcđẩy sự phát triển của nhữngnghiên cứu về chất kháng sinh
và chất kháng khuẩn sinh ra từ
vi khuẩn
Năm 1952, Jacop và cộng sựphát hiện ra rằng các chấtkháng khuẩn có dạng colicincũng được sản sinh bởi các vikhuẩn không thuộc dạng trực
khuẩn đường ruột hay Entero
Bacteriaceae, thuật ngữ
Bacteriocin ra đời Trong khi chấtkháng sinh được định nghĩa lànhững chất do vi khuẩn sản sinh
có tác dụng kìm hãm hoặc ứcchế những vi sinh vật gây bệnh
ở nồng độ thấp, thì bacteriocinđược miêu tả là các chất có chứaprotein trong cấu trúc có hoạttính kháng khuẩn đặc hiệu caođối với các loài vi khuẩn khác,nhất là các chủng trong cùngmột loài [4]
Nhiều chất kháng khuẩnđược sản xuất từ động vật, thựcvật, côn trùng và vi khuẩn, như
là hydrogen peroxide, acid béo,acid hữu cơ, ethanol, kháng sinh
và bacteriocin Peptide khángkhuẩn (AMPs) hoặc protein dượcsản xuất từ vi khuẩn được xếpvào bacteriocin Các nghiên cứu
Trang 6trong những năm 1980 đã cho
thấy sự tăng đáng kể số lượng
các công bố về bacteriocin Từ
thời điểm này bắt đầu bùng nổ
những nghiên cứu về bacteriocin
với những tiềm năng trong y học
và trong công nghiệp để đạt
được mục tiêu giảm thiểu lượng
kháng sinh thải ra môi trường
Bên cạnh đó, tránh việc sử dụng
kháng sinh dùng cho nồi lên
men sinh học trong công nghiệp,
có thể giảm thiểu chi phí sản
xuất và chỉ tập trung thu các
ribosome của cả vi khuẩn gram
âm và vi khuẩn gram dương để
ức chế các vi khuẩn cạnh tranh
khác Các peptide này liên kết
với màng tế bào qua các tương
tác tĩnh điện với các
phospholipid tích điện âm Vì
vậy, việc xâm nhập của
bacteriocin qua màng tế bào
phụ thuộc vào điện thế màng,
được điều khiển bởi pH và
phospholipid (Ivanova et al.,
1998) Bacteriocin có khả năng
tiêu diệt các vi khuẩn khác do sự
tạo thành các kênh làm thay đổi
tính thấm của màng tế bào,
nhiều loại bacteriocin còn có khả
năng phân giải DNA, RNA và
tấn công vào peptidoglycan để
làm suy yếu thành tế bào [6]
Các phân tử của bacteriocin hình
thành các khối proteic hình
thành lỗ, dẫn đến sự thoát của
các ion (chủ yếu là K+ và Mg2+)
làm thất thoát proton trong tế
bào chất, mất ATP và acid amin
(De Martinis et al., 2001)
Bacteriocin có hoạt tính kháng
các vi sinh vật cạnh tranh trong
cùng ổ sinh thái và thường
kháng cùng loài (phổ hẹp), quachi (phổ rộng) (Cotter et al.,2005) Trong một quần thể, mỗi
tế bào vi sinh vật đều có những
cơ chế bảo vệ và cạnh tranh.Hầu như tất cả các loài vi khuẩntrong quá trình sinh trưởng, pháttriển, chúng đều có thể tổng hợpcác chất có khả năng ức chế các
vi khuẩn khác nhau và đôi khingay cả bản thân cũng bị ứcchế Các loại phân tử bao gồm:
Độc tố vi khuẩn (vd:diphtheria, tetanus,cholera )
Các enzyme làm tan tế bào
vi khuẩn ( lysostaphin,phospholipase A, )
Các sản phẩm của quá trìnhtrao đổi chất như acid hữu
cơ, amonia, diacetyl…
Chất kháng sinh phổ rộng cổđiển như: glamicidin,valinomycin, bacitracin,…
Bacteriocin và các hợp chấtgiống bacteriocin
Tuy nhiên trong công nghiệp,bacteriocin chủ yếu được sảnxuất từ vi khuẩn lactic nhờ tiềmnăng sử dụng trong bảo quảnthực thẩm như là chất bảo quản
tự nhiên Khả năng diệt củabacteriocin là một chiến lượcthành công để giảm thiểu tỉ lệcạnh tranh về chất dinh dưỡng
và không gian sống trong môitrường nuôi Ngoài ra việc sửdụng kháng sinh trong thựcphẩm là phạm pháp Khônggiống như chất bảo quản hóahọc hoặc kháng sinh, bacteriocinđược tổng hợp từ ribosome vànhạy cảm với protease, khônggây hại cho con người và môitrường xung quanh Ví dụ:
“generally recognized as safe”(GRAS) bacteriocin như là Nisin,
sử dụng an toàn như một chấtbảo quản trong rau củ quả, sữa,
Trang 7phô mai, thịt và một số loại thức
ăn khác Chúng ức chế nhiễm vi
sinh vật trong quá trình sản xuất
(Settanni and Corsetti, 2008)
4 Phân loại [7][8]
Cho tới nay có khoảng 200
loại bacteriocin được xác định,
tuy nhiên việc phân loại chúng
vẫn chưa được xác định rõ ràng
và nó đang là vấn đề tranh cãi
Bacteriocin được phân loại với
nhiều tiêu chí khác nhau như: họ
vi khuẩn sản xuất, trọng lượng
phân tử của chúng và trình tự
chuỗi amino acide Bacteriocin
được chia làm ba lớp theo
Klaenhammer 1993:
Lớp I: Bacteriocin lớp I hay
còn được gọi là Lantibiotics là
những peptide nhỏ có trọng
lượng phân tử (< 5 kDa) bền
nhiệt và tác động lên cấu trúc
màng tế bào Lantibiotic
bacteriocin lớp I được chia thành
hai lớp phụ Ia và Ib dựa trên sự
tương đồng cấu trúc:
Lớp Ia: bao gồm một cách
tương đối hình thon dài, nói
chung nó hoạt động bằng
việc tạo những lỗ trong
màng tế bào chất của loài
nhạy cảm Nisin thuộc vào
nhóm này
Lớp phụ Ib: là những
peptide đặc trưng hình cầu,
không linh động, tích điện
âm hoặc không tích điện
chúng thể hiện hoạt động
bằng cách gây nhiễu đối với
những phân tử enzyme thiết
yếu của vi khuẩn nhạy cảm
Đại diện: Mersacidin…
Lớp II: Non-Lantibiotics là
những peptide có trọng lượng
phân tử biến thiên, nhưng
thông thường nhỏ (< 10 kDa),
ổn định nhiệt, chứa những
amino acid thông thường
Nhóm này được chia cắt vàotrong ba nhóm nhỏ:
Lớp IIa: là lớp lớn nhất gồmnhững peptide hoạt độngchống Listeria, đại diện đặctrưng cho nhóm này làpediocin PA-1 Leucocin A vàSakacin P Các bacteriocinnhóm này hứa hẹn có nhữngứng dụng nhiều trong côngnghiệp nhờ vào hoạt độngkháng Listeria mạnh củachúng Thậm chí chúng cònđược chú ý hơn nhiều so vớibacteriocin lớp I (nisin) vìchúng không có phổ ức chếrộng vì vậy chúng không tiêudiệt các giống khởi động.Lớp IIb: được hình thành bởiphức hợp của hai peptideriêng biệt, những peptidenày ít hoặc không hoạt động.Bacteriocin đặc trưng cho
nhóm này là: Lactococcin G, Plantaricin EF và Plantaricin JK.
Lớp IIc: là những peptidenhỏ, bền nhiệt, gồm nhữngbacteriocin không đồng nhấtnên phương thức hoạt độngcủa chúng cũng khác nhau.Trong phân lớp này chỉ tìmthấy các bacteriocin nhưDivergicin A và Acidocin B
Lớp III: lớp này bao gồm các
peptide lớn có trọng lượng phân
tử lớn >30 kDa, không tan,không bền nhiệt Nhóm này baogồm các enzyme ngoại bàokháng lại các vi khuẩn có thểbắt chước các hoạt động sinh lícủa bacteriocin Các bacteriocinlớp III cho đến nay chỉ đượcphân lập từ các thành viên giốngLactobacillus Đại diện:
Acidofilicin A và Lactacins A, B
Trang 82, do bacteriocin khi sinh ra
không tham gia vào quá trình
trao đổi chất của chính tế
bào sinh tổng hợp ra nó
Bacteriocin có khả năng
chống lại một số vi khuẩn
gram dương, là những tế bào
có mối quan hệ gần gũi hoặc
cùng họ với loại tế bào đã
sinh tổng hợp ra bacteriocin
Ngoài ra còn có một số loại
bacteriocin có khả năng
chống lại các vi khuẩn gram
âm như Listeria, E Coli hay
bacteriocin hay khả năng
miễn dịch của tế bào đối với
bacteriocin của chính nó
được quyết định bởi các gen
nằm trên plasmid, nhiễm sắc
là peptid kháng khuẩn sinh rabởi vi khuẩn để chống lại vikhuẩn khác Như vậy, loại vikhuẩn tạo ra loại bacteriocinnào thì có khả năng kháng lạichính bacteriocin đó (các tếbào sản xuất thì miễn dịch vớihoạt tính bacteriocin) Hiện nay
đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu về bacteriocin đãđược báo cáo trong các tài liệutham khảo, song trình tự cácamino acid đối với hầu hết cácbacteriocin còn chưa được xácđịnh Người ta mới xác địnhđược trình tự các aide aminecủa 45 loại bacteriocin Cácbacteriocin có hoạt tính khángkhuẩn cao thậm chí ở nồng độrất thấp Hiệu quả kháng khuẩncủa bacteriocin với tế bào vikhuẩn mẫn cảm không phụthuộc vào số lượng acid amine
có trong phân tử Đặc tính diệtkhuẩn cao hơn ở pH thấp,tương đối bền ở nhiệt độ cao vàkhông bị ảnh hưởng bởi cácdung môi hữu cơ Các anion ởnồng độ cao có thể làm giảmhiệu quả diệt khuẩn của một sốbacteriocin tích điện dương nhờ
sự loại bỏ cạnh tranh Cácenzyme thủy phân protein tíchđiện âm có thể thủy phân cácpeptide này, từ đó dẫn đến sựmất hoạt tính Bacteriocin cóphổ kháng khuẩn tương đốihẹp, được tiết vào môi trường
để ức chế sự sinh trưởng của vikhuẩn hay bào tử, đôi khi tiêudiệt các vi khuẩn quan hệ gầngũi với chủng sản xuất
6 Đặc tính hóa học
Bacteriocin có bản chất làprotein, nhưng cũng có thể làhỗn hợp của protein với các chất
Trang 9khác Các enzyme đặc trưng như
proteinase,lipase,…được sử
dụng để được sử dụng để xác
định thành phần hoá học của
bacteriocin Phân tích hóa học
cho thấy, bacteriocin là loại
protein đơn giản, có trọng lượng
phân tử thấp Một trong những
bacteriocin đã được xác định
thành phần hoá học là
Streptosin STH1 Tuy nhiên,
bacteriocin đã được tinh sạch từ
một số vi khuẩn như
Staphylococcus, Clostridium và Lactobacillus cho thấy thành
phần hoá học của bacteriocinbao gồm protein, lipid vàcarbohydrate
7 Đặc tính lý học
Các đặc tính lý học về độbền nhiệt, pH hoạt động và khảnăng bị thủy phân bởi enzymecủa một số bacteriocin đượcsinh tổng hợp bởi vi khuẩn lacticđược thể hiện trong Bảng 1
Bảng 1: Đặc tính lí học của một số bacteriocin được sinh tổng hợp
bởi vi khuẩn gram dương [9]
phút 4-9 TrypsinChymotryps
inPronase P
RnaseDnase
Clostosin B 80oC/10
phút 4-9 TrypsinChymotryps
inPronase P
RnaseDnase
Clostosin C 80oC/10
phút 4-9 TrypsinChymotryps
inPronase P
RnaseDnase
Clostosin D 100oC/30
phút 4-9 TrypsinChymotryps
inPronase P
RnaseDnase
Boticin E-S5 100oC/10
phút 1.1-9.5 TrypsinChymotryps
inPepsin
Dnase
Boticin P 60oC/30
phút 6.5-7.5 Trypsin RNaseDnase
AlkalinephosphotasePhospholipas
es C,D
Trang 10Butyricin 7423 100oC/10
phút 2-12 TrypsinPerfringocin
oC/30phút 2-12 Trypsin
Phương thức hoạt động
8 Phạm vi hoạt động [10]
Hầu hết các bacteriocin được
sinh tổng hợp bởi vi khuẩn gram
âm có hoạt tính ức chế các loài
cùng họ hàng Đối với
bacteriocin được sinh tổng hợp
bởi vi khuẩn gram dương có
hoạt tính ức chế các loại vi
khuẩn gram dương Tuy nhiên
một vài loại vi khuẩn gram âm
bị ức chế bởi bacteriocin hay
chất giống bacteriocin được sinh
ra bởi vi khuẩn gram dương
Những vi khuẩn gram dương có
khả năng ức chế vi khuẩn gram
âm như Lactobacillus
acidophilus, Bacillus cereus,
Streptococci, Staphylococci,
Corynebacteria.
9 Cơ chế hoạt động [10]
Các bacteriocin thường có
hiệu quả chống lại vi khuẩn
Gram dương như: Bactobaccilus,
Listeria monocytogenes,
Salmonella tiphymurium.Các
bacteriocin của LAB có thể
không hiệu quả kiềm chế khi ức
chế hoạt động của vi khuẩn
Gram âm vì màng ngoài của
chúng gây cản trở cho hoạt
động của bacteriocin Những
màng này ngăn cản như chất
kháng sinh, chất tẩy rửa và
thuốc nhuộm xâm nhập tế bào
chất Tuy nhiên có một vài
nghiên cứu đã công bố hoạt
động của bacteriocin chống lại
các vi khuẩn nhóm này
VD: Plantaricin 35d sản xuất
bởi Lactobacillus plantarium
chống lại Aeromas hydrophita
sản xuất bởi Streptococcus
thermophilus hoạt động chống
lại E coli và Yersinia
entercolittica Các cơ chế hoạt
động của enzyme: ức chế sự nảymầm của bào tử và ngừng hoạtđộng của các chất mang anionthông qua sự hình thành các lỗ Các bacteriocin có thể cótính diệt khuẩn hoặc định khuẩn,tác động này chịu ảnh hưởng rấtnhiều bởi một số yếu
tố như: lượng bacteriocin và độtinh khiết của nó, tình trạng sinh
lí của các tế bào chỉ thị và các điều kiện thínghiệm Có khả năng lớp I và lớp
II sử dụng cùng các cơ chế hoạtđộng giống nhau Các peptideliên kết màng huyết tương thôngqua các tương tác tĩnh điện vớicác phospholipide tích điện âm
Vì vậy, việc xâm nhập củabacteriocin ngang qua màng tếbào phụ thuộc vào điện thếmàng được điều khiển bởi pH vàphospholipide Các đơn phân tửcủa bacteriocin hình thành cáckhối protic dẫn đến việc hìnhthành lỗ Kết quả là dẫn đến sựthất thoát của các ion chủ yếu là(K và Mg) Tổn thất lượng protontrong tế bào chất, thất thoát ATP
và acide amine Lượng protontrong tế bào chất có vai trò cơbản trong sự tổng hợp ATP vàtrong sự di chuyển của vi khuẩn.Phương thức hoạt động củacác bacteriocin nhóm III khôngđược biết đến Do đó, đòi hỏi
Trang 11phải nghiên cứu nhiều hơn để
làm sáng tỏ
Cơ chế kháng khuẩn được
thực hiện trên các plasmids Có
2 lớp plasmid, lớp lớn là những
plasmid có số lượng sao chép
thấp và lớp nhỏ là những
plasmid có số lượng sao chép
cao Những plasmid lớn mang
những gen khác như colicin
operon Colicin operon thường
được cấu tạo bởi một số gen
chính Những gen này bao gồm
một gen miễn dịch, môt gen cấu
trúc colicin và một Brp
(bacteriocin release protein)
Nghiên cứu cho thấy việc duy trì
plasmid colicin rất quan trọng
đối với tế bào có họ hàng với
chúng bởi vì nếu một tế bào mất
gen miễn dịch nó nhanh chóng
bị phá hủy bởi colicin Cùng lúc
colicin được phóng ra từ tế bào
phân chia bằng việc sử dụng
lysis protein làm chết tế bào
Bản thân colicin bao gồm 3
phần hình cầu phần thứ nhất
quy định mục tiêu và gắn với cơ
quan cảm nhận của tế bào nhạy
cảm Phần thứ 2 liên quan đến
chuyển mã hợp tác với tế bào
mục tiêu Phần thứ 3 là có chức
năng tiêu diệt và tạo ra một lổ
trong màng tế bào mục tiêu
hoặc hoạt động như một hạt
nhân dể phân giải DNA hoặc
RNA của tế bào mục tiêu Bởi vì
chúng nhằm vào cơ quan cảm
nhận nhất định và sử dụng cơ
chế chuyển mã nhất định nên
các tế bào có thể tự thân kháng
lại colicin bằng cách ức chế hoặc
xóa bỏ gen cho những protein
này Tế bào có tính kháng như
vậy có thể bị mất một thành
phần chủ chốt (ion sắt hoặc
vitamin B) nhưng có lợi là không
bị tiêu diệt Trong bài báo cáo
Nobel Laureate, Salvador e
Luria, 1969, nhấn mạnh colicin
là độc tố phá vỡ sự ổn định củamàng tế bào Ông ta khônghoàn toàn đúng nhưng colicinlàm mất nguồn năng lượng của
tế bào
10.Kiểu hoạt động [5]
Trong giả thiết rộng của kiểuhoạt động của bacteriocins, nóđược giả thiết rằng sự tương táccủa bacteriocins với tế bào nhạycảm bao gồm 2 giai đoạn Giaiđoạn thứ nhất tương ứng với sựhút bám vật lý của phân tửbacteriocin để tiếp cận thụ quanbên ngoài tế bào và nó có thể làmột pha thuận nghịch Sự tổnthương sinh lý học không thườngxuyên được tạo ra và loại bỏ củabacteriocin trong giai đoạn này.Trong một thời gian vừa phải sau
đó , giai đoạn 2 phát triển màthay đổi bệnh lý không thuậnnghịch bị ảnh hưởng qua tổnthương sinh hóa đặc trưng Nghiên cứu về colicins thấy rằng
nó hút thụ quan đặc trưng trên
vỏ bên ngoài của sinh vậtGiai đoạn 1: Sự hút bám vật
lý tiếp cận với thụ thể của tếbào
Trang 12Hình 1: Cơ chế hoạt động
của bacteriocin từ vi khuẩn
lactic acid (nguồn: Cotter et
al., 2005, nature review)
Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu bacteriocin
cần loại bỏ những hiện tượng
giống bacteriocin Một số loài vi
sinh vật có khả năng sinh ra
kháng chất giống bacteriocin
Một yếu tố quan trọng để phân
biệt giữa bacteriophages và
bacteriocin là bacteriocin không
mang yếu tố di truyền để tự
nhân bản Hamon và Peron đã
dùng những phương pháp khác
bacteriophages và bacteriocin
Trong đó bacteriophages kháng
trysin hơn bacteriocin còn
bacteriocin không bị ảnh hưởng
bởi tia cực tím và nhiều loại
bacteriocin chịu nhiệt rất tốt
tố có tính đối kháng không cóbản chất bacteriocin Nhưbacteriophages là một loại vi rútcũng có khả năng diệt vi khuẩnhay antibiotic là một loại khángsinh cũng có khả năng diệt vikhuẩn Vì vậy tính đối kháng donhiều nguyên nhân gây nên vàmột trong những nguyên nhântạo nên tính đối kháng giữa cácchủng vi khuẩn là khả năng sinhtổng hợp bacteriocin
Thành phần môi trường nuôi cấy [9]
Điều kiện nuôi ủ đối vớinhững loại sinh tổng hợp nênbacteriocin có ảnh hưởng đếnhoạt tính kháng khuẩn Đối vớinhiều chủng vi sinh vật điềukiện nuôi cấy để khả năng sinhtổng hợp bacteriocin là cao nhất
đã được xác định Đối với vikhuẩn gram dương có khả năngtạo bacteriocin thì rất thích hợpvới môi trường rắn Tăng độnhớt của môi trường bằng cáchthêm agardextran, glycerol hoặctinh bột sẽ làm tăng khả năngsinh tổng hợp bacteriocin của vikhuẩn streptococci Nhiều loạimôi trường khác nhau có tácdụng khác nhau trong việc làmtăng hay giảm khả năng sinhtổng hợp bacteriocin Một sốthành phần môi trưòng làm tăngkhả năng sinh tổng hợpbacteriocin phải kể đến là: caomen, mannitol, glucose, ionmangan
Điều kiện nuôi cấy [6]
Điều kiện nuôi cấy bao gồmnhiệt độ, thời gian, sự sục khí và
pH ảnh hưởng đến hoạt tính củabacteriocin
Nhiệt độ thích hợp cho loại vikhuẩn có khả năng sinhbacteriocin phát triển cũng là
Trang 13nhiệt độ thích hợp cho việc sinh
tổng hợp bacteriocin Mỗi loại vi
khuẩn thích hợp với một khoảng
nhiệt độ khác nhau
Số lượng bacteriocin trong
một môi trường có thể sinh ra
khác nhau ở các pha khác nhau
của một chu kỳ phát triển Việc
sinh tổng hợp bacteriocin tốt
nhất ở pha phát triển và giảm
dần ở những pha tiếp theo
Nhiều nghiên cứu cho thấy
bacteriocin được sinh ra sau 8
giờ, đạt tối đa sau 18 giờ đến 24
giờ và sau đó không sinh
bacteriocin nữa [9]
Việc kiểm soát pH là một
trong những yếu tố ảnh hưởng
dựa trên những tính chất hoá lý
của protein như độ tích điện,
kích thước phân tử, độ hoà tan
của protein cần chiết rút Nhiều
protein còn liên kết với các phân
tử sinh học khác nên việc chiết
rút các protein này còn phụ
thuộc vào bản chất của các liên
kết Muốn thu nhận protein
↓Lọc lấy kết tủa
↓Hoà tan bằng phosphate buffer
↓Tiến hành điện di
a Phương pháp nhiệt độ:
Để tách các protein khácnhau dựa trên khả năng kết tủacủa chúng người ta có thể sửdụng phương pháp biến tínhchọn lọc nhờ tác dụng của nhiệt.Phương pháp này chỉ nên dùngvới các protein bền với nhiệt.Dịch protein được giữ ở 50-70oCtrong thời gian xác định, sau đóprotein tạp đã bị biến tính đượcloại bỏ bằng cách lọc hoặc lytâm Như vậy, dịch chiết proteinthô bền với nhiệt có thể đượcthu nhận bằng cách cho kết tủakhông thuận nghịch
Để thu nhận chế phẩmprotein theo phương pháp kếttủa thuận nghịch bằng các muốitrung tính, cần tiến hành ở nhiệt
độ thấp, đối với dung môi hữu cơcần tiến hành ở nhiệt độ dưới
0oC để tránh biến tính
b.Phương pháp nồng độ proton
Protein là các chất lưỡng tính
vì vậy trong dung dịch acid vàkiềm chúng sẽ bị phân ly nhưsau:
Protein-COOH Protein-COO- + H +
Protein-NH Protein-NH+
kiềmacidacid