LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, quá trình giao lưu và hội nhập của các dân tộc trên một quốc gia cũng như trên toàn thế giới diễn ra ngày càng sôi động hơn. Bên cạnh vấn đề hội nhập làm giàu cho dân tộc mình thì nguy cơ mất dần bản sác văn hóa đặc trưng, nguy cơ bị “hòa tan” nền văn hóa là điều đáng quan tâm hơn hết. Hoạt động du lịch mang trong mình nhiều trọng trách quan trọng, góp phần bảo tồn và thúc đẩy nền văn hóa phát triển. Du lịch đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế lớn cho quốc gia, đem lại việc làm cho người dân địa phương. Tuy nhiên du lịch đòi hỏi phải phát triển theo hướng bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch đảm bảo hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Dân tộc Dao là một dân tộc lưu giữ được khá nhiều phong tục, tập quán truyền thống độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, dân tộc Dao chủ yến sống tại một số tỉnh miền núi phía Bắc có những điểm du lịch nổi tiếng và thu hút nhiều khách du lịch như Sapa, Bắc Hà. Sự kết hợp giữa vẻ đẹp, thiên nhiên nơi đây và văn hóa phong tục sẽ là yếu tố thúc đẩy du lịch ở những địa phương này phát triển Để đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp không khói, việc khai thác du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn, phát huy nhữnggiá trị độc đáo của văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số được coi là hướng đi quan trọng mở ra hướng đi quan trọng, mở ra nhiều triển vọng. Với bài nghiên cứu dưới đây, em mong muốn giới thiệu chi tiết về văn hóa truyền thống của dân tộc Dao. Từ đó làm cơ sở lý luận nêu ra những ảnh hưởng của văn hóa dân tộc dao tới sự phát triển du lịch. PHẦN 1. GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI DAO 1.1.Tổng quan về người Dao - Tên: Ngoài tên gọi là Dao, người Dao còn thường được gọi là Mán, Trại, Dạo, Xá, Động... - Nhóm: Xếp theo ngũ hệ thì người Dao thuộc nhóm Hmông - Dao - Nguồn gốc lịch sử phát triển Người Dao có nguồn gốc từ phương Bắc nhập cư vào nước ta từ khoảng thế kỷ thứ XII. Quá trình chuyển cư kéo dài suốt từ thế kỷ XII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. - Phân bố ở Việt Nam: + Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên + Người Dao cư trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,...đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình. - Dân số: Tộc người Dao theo số liệu công bố năm 2009 hiện có 751.067 người. Họ sống xen kẽ với người Mông, Tày, Nùng, Thái, Kinh 1.2.Các giá trị văn hóa của người Dao 1.2.1.Văn hóa vật chất -Kinh tế trồng trọt + Kinh tế của người Dao chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp, trồng trọt chăn nuôi. Người Dao khai khẩn ruộng bậc thang để cấy lúa. Họ rất giỏi trong việc làm ruộng bậc thang. Ở đâu có nước là ở đó có thể khai khẩn được ruộng bậc thang. + Bên cạnh đó, đồng bào còn phát đốt nương tỉa ngô, đậu tương, khoai tây, lúa nương. Người Dao thường chọn những nơi có địa thể gồ ghề, đá vôi lởm chởm, đất xốp để làm nương ngô, nương đỗ tương. + Ngô lúa thu hoạch thì để ở lều nương rồi vận chuyển dần về kho trong vườn nhà. Nhà kho có sàn cao tránh ẩm ướt. Lúa giống, ngô giống thì buộc treo lên xà nhà, để ở gác bếp. -Chăn nuôi + Người Dao nuôi trâu để cày nương ruộng bậc thang. Những nhà giàu nuôi chùng độ dăm ba con. + Nuôi ngựa, lừa để thồ nông sản từ nương ruộng về nhà hoặc ngô giống trên nương, thồ hàng xuống chợ. + Lợn gà, ngan, ngỗng thì nhà nào cũng dăm bảy con. Lợn thả rông, sáng chiều mới gọi về cho ăn. -Nghề rèn: + Người Dao rất thành thạo nghề rèn đúc. Đúc lưỡi cày, rèn dao, rèn quốc, thuổng, đúc lưỡi cày mang xuống chợ bán, hoặc để tảo đổi với bà con các xóm trong vùng. - Nghề thủ công: + Đối với người Dao nghề thủ công được lưu truyền chủ yếu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các sinh hoạt thường ngày ở gia đình. Nghề làm chàm dệt vải, nghề đan lát, nghề chạm khắc trong kiến trúc nhà sàn truyền thống. + Nghề làm chàm dệt vải khá công phu, tỉ mỉ, đặc biệt là quá trình làm ra nước nhuộm (được gọi là “cao chàm”) từ cây chàm trong tự nhiên. Cao chàm được chứa trong chum vại để dùng dần. Nhiều gia đình người Dao để dành cao chàm đủ nhuộm vải trong khoảng thời gian tới mười năm 1.2.2.Văn hóa phi vật chất -Nhà cửa: Nhà ở của người Dao thường đơn giản, với vật liệu chủ yếu là gỗ và tre nứa nhưng rất chắc chắn và toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông. + Người Dao ở nhà đất, tường trình đất dày, mái lợp gianh, cột cái cột quân bằng gỗ tròn chôn đất, loại gỗ không mối mọt nhưng kiêng lấy những cây đổ, bị dây leo quấn thân hoặc cụt ngọn. Cột cái đội nóc nhà. + Khi lợp, chỉ chủ nhà mới được phủ nóc. Chủ nhà làm phép bằng cách vỗ 3 cái xuống mái nhà và hỏi những người đứng dưới đất: “đã tối chưa?”, mọi người trả lời: “tối rồi”. Người Dao quan niệm như vậy mới có phúc. Mái nhà thường phải lợp lại sau 5 – 6 năm. Nhà của người Dao Họ - Lào Cai (ảnh: Bùi T.T Hường) + Nhà thấp và thường có 2 của ra vào. Cửa chính ở gian giữa và 1 của nách ở trái hồi. Vào nhà người Dao người ta có cảm giác ấm cúng nhưng có phần nặng nề, u tối. + Nhà có nhiều gian, có buồng ngủ cho các cặp vợ chồng. gian chính giữa sát sau vách đặt bàn thờ thần linh, thờ tổ tiên, trên vách thờ thường có các bộ tranh thờ gọi là tranh “Phàm Xchinh miên” + Nhà thường có 2 bếp: 1 bếp để nấu nướng hàng ngày, 1 bếp để tiếp khách. . Bàn thờ trong nhà của người Dao (ảnh: Bùi T.T Hường) -Ăn uống: + Lương thực chính là ngô, gạo. Gạo nấu cơm, ngô xay bột đồ hoặc làm bánh hấp. Thực phẩm: Rau, đậu, bí, khoai tây, thịt gia súc. Người Dao dùng rất nhiều mỡ trong bữa ăn. Thức ăn phải luôn luôn nóng nên luôn được chuyển tráo trên bếp. + Người Dao giỏi chế biến các món ăn bằng đậu tương, làm đầu phụ, xì dầu, tậu xị… không bao giờ ăn thức ăn ôi thiu, thịt súc vật toi dịch. + Người phụ nữ Dao thường ngồi đầu nồi, nói đúng hơn họ ít được ngồi lâu trong bữa cơm, nhất là cô con dâu, con gái vì phải ra vào bếp chuyển tráo thức ăn, tiếp thức ăn cho cả nhà. + Bữa cơm có khách, người phụ nữ tiếp thức ăn vào mâm rất lễ phép, quỳ hai gối, nâng hai tay theo nghi lễ phong kiến. -Quần áo – trang sức: + Phụ nữ Dao ăn mặc diêm dúa, màu sắc sặc sỡ. Trang sức vòng tay, vòng cổ, vòng tai bằng bạc lấp lánh sáng, đeo càng nhiều càng đẹp, càng biểu hiện sự giàu có. + Thiếu nữ Dao ở tuổi vị thành niên đã bắt đầu chuẩn bị cho mình bộ cánh đẹp, khâu may thêu thùa rất công phu. Đặc biệt tấm thêu sau vai áo được chăm chút rất tỉ mỉ. Tuy cùng khuân mẫu hoa văn 16 hình các con chó thần, nhưng qua cá tính, tâm hồn và đôi bàn tay khéo léo của mỗi người, mà mỗi con vật hiện lên một kiểu dáng, làm cho bức thêu trở nên sinh động.Người con trai Dao thường nhìn mảnh thêu ấy mà đánh giá sự khéo léo, tinh tế của người con gái. Khăn đội đầu dài năm bảy sải, quấn hàng chục vòng.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, quá trình giao lưu và hội nhập của các dân tộc trên một quốc gia cũng như trên toàn thế giới diễn ra ngày càng sôi động hơn Bên cạnh vấn đề hội nhập làm giàu cho dân tộc mình thì nguy cơ mất dần bản sác văn hóa đặc trưng, nguy cơ bị “hòa tan” nền văn hóa là điều đáng quan tâm hơn hết
Hoạt động du lịch mang trong mình nhiều trọng trách quan trọng, góp phần bảo tồn và thúc đẩy nền văn hóa phát triển Du lịch đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế lớn cho quốc gia, đem lại việc làm cho người dân địa phương Tuy nhiên du lịch đòi hỏi phải phát triển theo hướng bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch đảm bảo hài hòa giữa kinh tế,
xã hội và môi trường
Dân tộc Dao là một dân tộc lưu giữ được khá nhiều phong tục, tập quán truyền thống độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Bên cạnh đó, dân tộc Dao chủ yến sống tại một số tỉnh miền núi phía Bắc có những điểm du lịch nổi tiếng và thu hút nhiều khách
du lịch như Sapa, Bắc Hà Sự kết hợp giữa vẻ đẹp, thiên nhiên nơi đây và văn hóa phong tục sẽ là yếu tố thúc đẩy du lịch ở những địa phương này phát triển
Để đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp không khói, việc khai thác du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn, phát huy nhữnggiá trị độc đáo của văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số được coi là hướng đi quan trọng mở ra hướng đi quan trọng, mở ra nhiều triển vọng Với bài nghiên cứu dưới đây, em mong muốn giới thiệu chi tiết về văn hóa truyền thống của dân tộc Dao Từ đó làm cơ sở lý luận nêu ra những ảnh hưởng của văn hóa dân tộc dao tới sự phát triển du lịch
Trang 2PHẦN 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI DAO
1.1. Tổng quan về người Dao
- Tên:
Ngoài tên gọi là Dao, người Dao còn thường được gọi là Mán, Trại, Dạo, Xá, Động
- Nhóm:
Xếp theo ngũ hệ thì người Dao thuộc nhóm Hmông - Dao
- Nguồn gốc lịch sử phát triển
Người Dao có nguồn gốc từ phương Bắc nhập cư vào nước ta từ khoảng thế kỷ thứ XII Quá trình chuyển cư kéo dài suốt từ thế kỷ XII cho đến nửa đầu thế kỷ XX
- Phân bố ở Việt Nam:
+ Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên
+ Người Dao cư trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình
- Dân số:
Tộc người Dao theo số liệu công bố năm 2009 hiện có 751.067 người Họ sống xen kẽ với người Mông, Tày, Nùng, Thái, Kinh
1.2. Các giá trị văn hóa của người Dao
1.2.1. Văn hóa vật chất
- Kinh tế trồng trọt
+ Kinh tế của người Dao chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp, trồng trọt chăn nuôi Người Dao khai khẩn ruộng bậc thang để cấy lúa Họ rất giỏi trong việc làm ruộng bậc thang Ở đâu có nước là ở đó có thể khai khẩn được ruộng bậc thang
+ Bên cạnh đó, đồng bào còn phát đốt nương tỉa ngô, đậu tương, khoai tây, lúa nương Người Dao thường chọn những nơi có địa thể gồ ghề, đá vôi lởm chởm, đất xốp
để làm nương ngô, nương đỗ tương
+ Ngô lúa thu hoạch thì để ở lều nương rồi vận chuyển dần về kho trong vườn nhà Nhà kho có sàn cao tránh ẩm ướt Lúa giống, ngô giống thì buộc treo lên xà nhà, để
ở gác bếp
- Chăn nuôi
Trang 3+ Người Dao nuôi trâu để cày nương ruộng bậc thang Những nhà giàu nuôi chùng độ dăm ba con
+ Nuôi ngựa, lừa để thồ nông sản từ nương ruộng về nhà hoặc ngô giống trên nương, thồ hàng xuống chợ
+ Lợn gà, ngan, ngỗng thì nhà nào cũng dăm bảy con Lợn thả rông, sáng chiều mới gọi về cho ăn
- Nghề rèn:
+ Người Dao rất thành thạo nghề rèn đúc Đúc lưỡi cày, rèn dao, rèn quốc, thuổng, đúc lưỡi cày mang xuống chợ bán, hoặc để tảo đổi với bà con các xóm trong vùng
- Nghề thủ công:
+ Đối với người Dao nghề thủ công được lưu truyền chủ yếu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các sinh hoạt thường ngày ở gia đình Nghề làm chàm dệt vải, nghề đan lát, nghề chạm khắc trong kiến trúc nhà sàn truyền thống
+ Nghề làm chàm dệt vải khá công phu, tỉ mỉ, đặc biệt là quá trình làm ra nước nhuộm (được gọi là “cao chàm”) từ cây chàm trong tự nhiên Cao chàm được chứa trong chum vại để dùng dần Nhiều gia đình người Dao để dành cao chàm đủ nhuộm vải trong khoảng thời gian tới mười năm
1.2.2. Văn hóa phi vật chất
- Nhà cửa:
Nhà ở của người Dao thường đơn giản, với vật liệu chủ yếu là gỗ và tre nứa nhưng rất chắc chắn và toát lên sự kín đáo, tế nhị của người Á Đông
+ Người Dao ở nhà đất, tường trình đất dày, mái lợp gianh, cột cái cột quân bằng
gỗ tròn chôn đất, loại gỗ không mối mọt nhưng kiêng lấy những cây đổ, bị dây leo quấn thân hoặc cụt ngọn Cột cái đội nóc nhà
+ Khi lợp, chỉ chủ nhà mới được phủ nóc Chủ nhà làm phép bằng cách vỗ 3 cái xuống mái nhà và hỏi những người đứng dưới đất: “đã tối chưa?”, mọi người trả lời:
Trang 4“tối rồi” Người Dao quan niệm như vậy mới có phúc Mái nhà thường phải lợp lại sau
5 – 6 năm
Nhà của người Dao Họ - Lào Cai (ảnh: Bùi T.T Hường)
+ Nhà thấp và thường có 2 của ra vào Cửa chính ở gian giữa và 1 của nách ở trái hồi Vào nhà người Dao người ta có cảm giác ấm cúng nhưng có phần nặng nề, u tối
+ Nhà có nhiều gian, có buồng ngủ cho các cặp vợ chồng gian chính giữa sát sau vách đặt bàn thờ thần linh, thờ tổ tiên, trên vách thờ thường có các bộ tranh thờ gọi là tranh “Phàm Xchinh miên”
+ Nhà thường có 2 bếp: 1 bếp để nấu nướng hàng ngày, 1 bếp để tiếp khách
Trang 5Bàn thờ trong nhà của người Dao (ảnh: Bùi T.T Hường)
- Ăn uống:
+ Lương thực chính là ngô, gạo Gạo nấu cơm, ngô xay bột đồ hoặc làm bánh hấp Thực phẩm: Rau, đậu, bí, khoai tây, thịt gia súc Người Dao dùng rất nhiều mỡ trong bữa ăn Thức ăn phải luôn luôn nóng nên luôn được chuyển tráo trên bếp
+ Người Dao giỏi chế biến các món ăn bằng đậu tương, làm đầu phụ, xì dầu, tậu xị… không bao giờ ăn thức ăn ôi thiu, thịt súc vật toi dịch
+ Người phụ nữ Dao thường ngồi đầu nồi, nói đúng hơn họ ít được ngồi lâu trong bữa cơm, nhất là cô con dâu, con gái vì phải ra vào bếp chuyển tráo thức ăn, tiếp thức ăn cho cả nhà
+ Bữa cơm có khách, người phụ nữ tiếp thức ăn vào mâm rất lễ phép, quỳ hai gối, nâng hai tay theo nghi lễ phong kiến
- Quần áo – trang sức:
+ Phụ nữ Dao ăn mặc diêm dúa, màu sắc sặc sỡ Trang sức vòng tay, vòng cổ, vòng tai bằng bạc lấp lánh sáng, đeo càng nhiều càng đẹp, càng biểu hiện sự giàu có
+ Thiếu nữ Dao ở tuổi vị thành niên đã bắt đầu chuẩn bị cho mình bộ cánh đẹp, khâu may thêu thùa rất công phu Đặc biệt tấm thêu sau vai áo được chăm chút rất tỉ mỉ Tuy cùng khuân mẫu hoa văn 16 hình các con chó thần, nhưng qua cá tính, tâm hồn và đôi bàn tay khéo léo của mỗi người, mà mỗi con vật hiện lên một kiểu dáng, làm cho
Trang 6bức thêu trở nên sinh động.Người con trai Dao thường nhìn mảnh thêu ấy mà đánh giá
sự khéo léo, tinh tế của người con gái Khăn đội đầu dài năm bảy sải, quấn hàng chục vòng
Trang phục nữ của người Dao ở Hòa Bình (ảnh: Bùi T.T Hường)
+ Đàn ông Dao ăn mặc đơn giản hơn: áo quần màu đen, màu chàm, áo nở ngực đơm cúc
Trang phục truyền thống của người Dao ở Lai Châu, Quảng Ninh, Tuyên Quang
(ảnh: Bùi T.T Hường)
Trang 71.2.3 Văn hóa tinh thần
1.2.3.1 Tổ chức xã hội
- Người Dao có sự phân chia đẳng cấp giàu nghèo, chịu khó ảnh hưởng phong kiến Trung Hoa khá nặng nề Tầng lớp tăng lữ, thầy cúng có uy tín lớn trong đời sống xã hội
- Vị trí người đàn ông được khẳng định, nhất là những nguwoif đàn ông có chữ
1.2.3.2 Về hôn nhân và gia đình:
- Trai gái người Dao tự nguyện yêu nhau, tự do lựa chọn, nhưng khi bố mẹ ép gả cũng phải chịu Lễ thách cưới nặng những thịt lợn, gà, gạo nếp, tiền bạc trắng… Sau lễ cưới, cô dâu về ở nhà chồng và mang theo các tư trang của mình
- Gia đình Dao là gia đình phụ quyền, có thể một nhà có hai ba thế hệ sống chung Về quan hệ thân tộc thì trong cùng một dòng họ, con cô con cậu không được lấy nhau
- Người phụ nữ Dao sau khi chồng chết có quyền được tái giá, con cái để lại cho
bố mẹ, anh em bên nội nuôi
1.2.3.3 Nghi thức và lễ hội
- Về ma chay:
+ Gia đình người Dao khi có người chết, nhất là từ tuổi vị thành niên trở lên, nam giới đã được “cấp sắc” thì bắn 3 phát súng lên trời báo với thần linh trời đất, với tổ tiên
và bà con xóm mạc xa gần Mời thầy cúng (thầy Tào) về cúng hồn, tiến hành các thủ tục khâm liệm
+ Sau khi phát tang, những người trong gia đình tang chủ không được đeo trang sức Cơm, thức ăn đều dọn trên lá chuối, ăn bốc Ban nhạc tang phục vụ từ khi phát tang đến lúc đưa quan tài ra rừng
+ Người Dao để tang 100 ngày, 7 ngày mở cửa mả Trong 7 ngày thì thường ngày tang chủ lấy cơm, thức ăn vào chén đem ra đầu ngõ xóm cúng hồn người chết
+ Khi đốt vàng mã hạn “mở cửa mả” Thầy cúng tiến hành chia của tượng trung cho người chết (tài sản được xông lên khói vàng mã)
- Lễ cấp sắc
Trang 8+ Đây là nghi lễ tín ngưỡng đặc trưng của người Dao Mỗi người con trai
khi lớn lên đều phải qua lễ Cấp sắc này mới được coi là trưởng thành Người thụ
lễ được cấp tờ sắc như một tờ “giấy thông hành” để khi chết thì đem theo về quê cha đất tổ
+ Lễ cấp sắc còn nhằm trao cho người thụ lễ một “chứng chỉ” để hành nghề thầy cúng, một trong những nghề danh giá nhất của xã hội Dao truyền thống
+ Muốn được cấp sắc, phải học chữ Hán và chữ Nôm Dao để đọc sách cúng, học cách thức tiến hành các lễ cúng và phải thực hiện một số điêu cấm kỵ nhằm tránh bị ô uế
+ Lễ này vừa mang tính phong tục, lại vừa có ý nghĩa văn hoá, đánh dấu một giai đoạn trưởng thành của mỗi người đàn ông trong tộc người Dao Bằng việc thực hiện nghi lễ mang tính biểu trưng đậm nét văn hóa tín ngưỡng này mà mỗi thanh niên người Dao nhận thấy được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong cộng đồng của mình
Lễ cấp sắc của người Dao Đỏ ở Yên Bái (ảnh: Bùi T.T Hường)
+ Có 3 cấp sắc từ thấp lên cao: 3 đèn (quá tăng), 7 đèn và 12 đèn (đều là slai) Tương ứng với số đèn là số âm binh:36, 72 và 120, để trở thành thầy cúng sai khiến mỗi khi hành lễ
Trang 9- Lễ cúng Bàn Vương
+ Lễ cúng Bàn vương (Chẩu Đàng), có nơi còn gọi là “làm chay” hay
“đám chay”, là một tín ngưỡng hết sức phổ biến của người Dao Mọi gia đình, dòng họ người Dao phải cúng Bàn vương ít nhất một lần trong đời người
+ Người Dao quan niệm, khi chết, linh hồn không mất đi mà mãi bất diệt
và “quay về với tiên tổ” Người Dao luôn sử dụng rất nhiều bức tranh thể hiện quan niệm của người xưa về vũ trụ và mối quan hệ giữa cuộc sống của con người với vạn vật trong vũ trụ theo tục thờ Đạo giáo
1.2.3.4 Tín ngưỡng:
+ Thờ thần, thở tổ tiên trong nhà Bàn thờ đặt sát vách gian giữa, trên vách gian giữa, trên vách trên xà nhà bày dán các bức tranh thờ gọi là “Phàm Xching miên” Đây
là những bức tranh dân gian đường nét mộc mạc, thô vụng, màu sắc tương phản, chói chang
+ Hàng năm người Dao tiến hành lễ tết theo lịch Trung Hoa
1.2.3.5 Về văn học:
+ Người Dao có tranh thờ, tranh thờ dân gian khá độc đáo Có nhiều bài hát cúng được ghi bằng chữ Nôm Dao trong sách thầy cúng
Sách xem vạn niên, mẫu sớ và ấn của thầy cúng (ảnh: Bùi T.T Hường)
Trang 10+ Tranh cúng của người Dao được vẽ theo kiểu tranh dân gian, nên nét vẽ thường tả thực, với các gam màu chủ đạo là xanh, đỏ, tím vàng, đen, trắng, được
cụ thể hóa trong từng họa tiết
Tranh cúng của dân tộc Dao (St)
+ Chữ Nôm của người Dao được xây dựng từ một hệ thống ký tự chữ Hán dùng để phiên âm tiếng nói của người Dao Người Dao trước kia dùng chữ Nôm trong học tập, ghi chép các bài hát dân ca, ghi gia phả, ghi lịch, bài cúng, bài thuốc, câu đối, dạy con trẻ về lễ nghĩa, học nghề, di chúc, văn tự, bán ruộng nương, nhận con nuôi v.v
+ Chữ Nôm còn được dùng phổ biến trong lễ cấp sắc, tết nhảy, tục treo tranh lễ tơ hồng, lễ cúng chữa bệnh, cầu mùa, làm nhà, đặt mộ, làm chay, sang cát Muốn làm được lễ, thầy cúng nhất là những thầy mới vào nghề phải đọc thông, viết thạo chữ Nôm
+ Đặc biệt, kho tàng truyện kể dân gian rất phong phú gồm nhiều thể loại: Truyện thần thoại, cổ tích thế sự, truyện cười…
Trang 11+ Truyện kể dân gian phản ánh tư tưởng tư tưởng, tình cảm và những quan niệm
về trời đất, vũ trụ , về thần linh; quan niệm về đạo đức cắt nghĩa sự hình thành những tập tục tốt đẹp của xã hội người Dao, phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái thiện, cái ác Và kết cục bao giờ cái thiện cũng thắng
1.2.3.6 Về nghệ thuật:
+ Ca hát và sáng tác thơ là nhu cầu sinh hoạt văn nghệ phổ biến của người Dao Người Dao hát, sáng tác hoặc ứng tác lời hát vào các dịp trai gái đến chơi làng, trong đám cưới, dịp vào nhà mới, những ngày hội và chợ phiên
+ Có hai hình thức thể hiện là hát đơn và hát đối đáp, nhưng hát đối đáp là thông dụng hơn Hát đối đáp thường áp dụng khi làm quen, tìm hiểu nhau Theo đó, người ta chia làm hai bên, một bên nam, một bên nữ, tối thiểu mỗi bên có một người
+ Tục ngữ, ca dao phải ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các kinh nghiệm sản xuất và sinh hoạt xã hội Câu đối cũng đa dạng và phản ánh nhiều khía cạnh của cuộc sống lao động và thiên nhiên xunh quanh con người
+ Nhạc cụ dân tộc của người Dao chủ yếu được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, gồm có trống, thanh la, chũm choẹ, chuông nhạc và tù và Ngoài ra, người Dao còn có các loại nhạc cụ khác như nhị, sáo, đàn môi
+ Có nhiều điệu múa tập thể Sôi nổi nhất, vui nhất được nhiều người đàn ông các lứa tuổi tham gia múa là múa “nhảy rùa” – một nghi lễ múa thiêng
Trang 12PHẦN 2 VẬN DUNG VĂN HÓA NGƯỜI DAO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
2.1 Vận dụng văn hóa tộc người Dao với vai trò là tài nguyên du lịch
2.1.1 Tài nguyên du lịch
Qua tổng quan về những giá trị di sản văn hóa của tộc người Dao, có thể thấy, những giá trị di sản này là hết sức phong phú, đặc sắc và có vị trí quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Đây
là những di sản văn hóa cần được trân trọng, bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống đương đại
- Lễ hội truyền thống:
Dân tộc Dao là một trong những dân tộc có nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống văn hóa của người dân như: Lễ hội tủ cải (phong sắc, cấp sắc), Lễ hội nhảy lửa; Lễ hội “ăn trộm” lấy may đầu năm …
- Văn nghệ dân gian
Trong những nghi lễ quan trọng như Lễ Lập tịch, tết Nhảy của đồng bào dân tộc Dao không thể thiếu những điệu múa, câu ca Điều này góp phần làm nên sự đặc sắc của các lễ hội truyền thống: Múa Chuông (là điệu múa nằm trong khuôn múa thiêng vì có sự xuất hiện của ông Mo và chỉ những người đàn ông mới được múa)
- Nghề thủ công truyền thống
Người Dao có nhiều nghề thủ công truyền thống có giá trị văn hóa cao như nghề chạm khắc bạc, thêu dệt thổ cẩm làm trang phục, rèn đúc, làm đồ mộc…Các sản phẩm nghề thủ công phục vụ du lịch của người Dao đa dạng, phong phú nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc kế thừa kỹ thuật, họa tiết, thẩm
mỹ truyền thống, sản xuât thủ công hoàn toàn
2.1.2 Các hoạt động khai thác các yếu tố đó
Trang 13Phát huy thế mạnh về tài nguyên di sản văn hóa, trong đó lấy du lịc di sản là hướng trọng tâm có tính chìa khóa hướng tới mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì đòihỏi các bên cùng hành động, có những giải pháp hữu hiệu về bảo tồn và phát huy bền vũng đối với di sản văn hóa trong phát triển du lịch:
+ Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch cần xây dựng những cơ quan điều phối
du lịch ở các địa phương trong tỉnh Ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết quy định rõ việc quản lý hoạt động của các khu du lịch, những quy định cụ thể
về việc bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho phát triển du lịch
+ Có chiến lược phát triển du lịch văn hóa phù hợp, trong đó lựa chọn sản phẩm du lịch dựa trên phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển du lịch có trách nhiệm gắn với văn hóa cộng đồng; tôn trọng đa dạng văn hóa, đề cao vai trò văn hóa bản địa; nâng cao nhận thức, bảo vệ lợi ích và phát huy vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển du lịch văn hóa
+ Cần đào tạo nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số để phục vụ các sinh hoạt văn hóa các tộc người tại các điểm du lịch (dưới hình thức trình diễn các tiết mục, hoạt động thuộc các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể); hướng dẫn du khách tìm hiểu về văn hóa của tộc người mình
+ Tiến hành tuyên truyền giáo dục cho nhân dân địa phương tại điểm du lịch về giá trị văn hóa tộc người và các hình thức, nội dung tham gia vào hoạt động du lịch ở địa phương theo phương châm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa cải thiện và phát triển kinh tế cho đồng bào, vừa góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
+ Tạo điều kiện cho người dân tham gia thực hiện mô hình trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và cùng quản lý, góp phần đem lại lợi ích kinh tế cho mỗi thành viên, mỗi gia đình và cả cộng đồng dân cư