Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng qua hệ thống giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay.Vì vậy, đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các giá trị l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Ý nghĩa của đề tài 6
8 Kết cấu của đề tài: Gồm 2 chương 6
CHƯƠNG I 7
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc- Một số vấn đề lý luận 7
1.1.1 Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc 7
1.1.2 Giá trị văn hóa địa phương là biểu hiện cụ thể của văn hóa dân tộc 14
1.2 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương trong nền kinh tế thị trường 17 1.2.1 Những giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc ở Hải Dương 18
1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa ở Hải Dương trong nền kinh tế thị trường 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 56
CHƯƠNG 2 57
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 57
2.1 Thực trạng của việc gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương 57
2.2 Phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương 62
2.2.1 Phương hướng 62
2.2.2 Giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86
KẾT LUẬN CHUNG 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nhấn mạnh quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”
Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không có sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững
Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người mới có điều kiện phát triển toàn diện Văn hóa
là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế Các nhân
tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương…biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển
Giá trị văn hóa là tài sản của dân tộc do lịch sử để lại, là cốt lõi của bản sắc dân tộc bao gồm các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa là tài sản, là của cải quý báu kết tinh sự sáng tạo lâu dài của dân tộc, phản ánh trình độ, diện mạo, bản sắc và bản lĩnh của dân tộc Đồng thời di sản văn hóa là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng để sáng tạo các giá trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng quan hệ và giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên thế giới Di sản văn hóa không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc mà còn là nguồn lực để phát triển kinh tế -xã hội Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng qua hệ thống giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay.Vì vậy, đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các giá trị lịch sử văn hóa, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy vai trò của giá trị văn hóa dân tộc là công việc vừ cơ bản vừa cấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng
Trang 5Hiện nay, cùng với nhịp sống công nghiệp của nền văn minh hiện đại, loài người đang đối mặt với một nghịch lý của sự tiến bộ là: trong khi khả năng hoàn thiện của thế giới nhân tạo, mức dộ thỏa mãn những nhu cầu đời sống vật chất của con người ngày càng tỏ ra có cơ may thì đi đôi với nó, sự “ gặm mòn” thế giới nhân tính, sự khủng hoảng trong thế giới tâm linh và sự gia tăng của những nguy cơ xung đột và đói nghèo cũng trở thành hiện thực Trong bối cảnh ấy việc khơi dậy ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thật có ý nghĩa lớn lao
Thực tiễn trong những năm qua việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương nói riêng đã thu được những thành tựu nổi bật Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường
Giá trị văn hóa dân tộc Hải Dương là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, góp phần làm tăng thêm giá trị, diện mạo bản sắc văn hóa dân tộc, là nguồn lực để góp phần phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và của đất nước
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong bối
cảnh kinh tế thị trường” Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài góp phần tìm ra
những giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương nói riêng, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và năng lực vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước cho cán bộ quản lý, lãnh đạo ở địa phương nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề văn hóa đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu lớn bàn về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc Tập trung theo hai hướng cơ bản được các tác giả quan tâm, đã có một số tác giả viết bài và luận văn nghiên cứu ở từng khía cạnh khác nhau:
Trang 61.Giá trị văn hóa dân tộc:
- “Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long- Hà Nội” –Tác giả: PGS-TS Võ Quang Trọng- Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
- “Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta” – Tác giả: Nguyễn Văn Lãng
- “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa”, Tác giả: Nguyễn Đình Tường, Viện khoa hoc xã hội Việt Nam
- “Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số”, Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 7/2000
- “Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” ” – Tác giả: Đỗ văn Hòa
2 Bản sắc văn hóa
-“Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002
- “Bản sắc văn hóa dân tộc”, Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003
- “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập” – Tác giả: GS Đinh Xuân Lâm- ĐHKHXH và NV- ĐHQG Hà Nội
- “ Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay qua thực tế của tỉnh Sơn La” –Tác giả: Nguyễn Tuấn Nghĩa
- “Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc”, PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001
- “Quản lí nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở huyện Con Cuông - Nghệ An” – Tác giả: Phạm Hương
-“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nguyễn Khoa Điềm(chủ biên)
- “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”, Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,1994
Nhìn chung các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về văn hóa Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
Trang 7của vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong bối cảnh kinh tế thị trường dưới góc độ triết học thì chưa có công trình nào đề cập một cách tập trung và có hệ thống Chính vì vậy đề tài “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong bối cảnh kinh tế thị trường” góp phần vào thực hiện mục đích đó
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong bối cảnh kinh tế thị trường, đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn có hiệu quả giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay
Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về giá trị văn hóa dân tộc
- Phân tích làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy giá tị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm gìn giữ có hiệu quả giá trị văn hóa dân tộc ở tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc tiêu biểu ở tỉnh Hải Dương
Phạm vi nghiên cứu: Văn hóa là một vấn đề rộng, giá trị văn hóa dân tộc rất đa dạng và phong phú, luận văn không trình bày toàn bộ giá trị văn hóa dân tộc nói chung mà chỉ trình bày giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương, chủ yếu khai thác đề tài này theo khía cạnh triết học
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
+ Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc tiêu biểu ở tỉnh Hải Dương, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
+ Mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc với sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp luận: đề tài được thực hiện trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu
Trang 8+ Phương pháp điều tra xã hội học
+ Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
+ Phương pháp quan sát và tìm hiểu địa phương
7 Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu lý luận cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị văn hóa của Hải Dương là biểu hiện cụ thể và sinh động của bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm tăng thêm giá trị và diện mạo của bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên thế mạnh của tỉnh trong mối tương quan với các địa phương khác
8 Kết cấu của đề tài: Gồm 2 chương
Trang 9CHƯƠNG I
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH HẢI
DƯƠNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc- Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc
a Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú Mọi sự vật hiện tượng, mọi công trình trên thế giới vật chất lẫn tinh thần có mối liên hệ với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức, tác động và ảnh hưởng trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa của nó Vì vậy, trong cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật- công nghệ càng phát triển, trình độ tư duy của con người ngày càng cao thì nội hàm văn hóa càng được mở rộng không ngừng
Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra những giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân- thiện- mỹ và khả năng sáng tạo ra cái chân, thiện, mỹ trong đời sống
Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học, nó trở thành một thuật ngữ đa nghĩa Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách tiếp cận văn hóa
PGS Trường Lưu cho rằng, nhìn một cách tổng quát các nhà khoa học thường dựa vào mức độ khái quát và phạm vi đối tượng để chia ra 3 cấp độ tiếp cận:
Thứ nhất: cấp độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm
một lĩnh vực mang tính bao trùm
Thứ hai: cấp độ giá trị tinh thần được chi phối bởi bản chất văn hóa
Thứ ba: cấp độ hệ thống từng lĩnh vực cụ thể của giá trị tinh thần được
thể hiện thành sản phẩm vật chất 46.tr.37
Hướng tiếp cận thứ ba dựa vào cấu trúc hệ thống của sự vật để hiểu sự vật
qua một biểu tượng nào đó, lựa chọn những biểu tượng tượng trưng cho một nền
Trang 10văn hóa Thí dụ Kim tự tháp là biểu tượng cho văn hóa Ai Cập, tháp Epphen là biểu tượng của văn hóa Pháp, trống Đồng Đông Sơn là biểu tượng của văn hóa Việt Nam…Nhưng rõ ràng biểu tượng chỉ mới là giai đoạn cao của nhận thức cảm tính, mới chỉ ở cấp độ tượng trưng, là đại diện chứ chưa phải là toàn bộ bản chất văn hóa
Hướng tiếp cận thứ hai chính là khuynh hướng của học thuyết giá trị
Nhưng phải thấy tính hai mặt của học thuyết này, mọi giá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người với vật, chỉ khi nào sự vật khách quan có ích cho con người thì mới gọi là giá trị Nhưng giá trị không chỉ quyết định bởi ban thân sự vật mà còn quyết định bởi con người đang chịu chi phối của giai cấp, dân tộc, tôn giáo, thời đại…do đó một giá trị có thể đưa ra nhiều cách nhìn khác nhau Giá trị mới chỉ là thước đo của văn hóa chứ chưa phải là bản thân văn hóa
TSKH Đỗ Văn Khang nhận xét rằng, lâu nay nghiên cứu văn hóa người ta thường tiếp cận theo khuynh hướng giá trị luận, ít chú ý đến bản thể luận, nặng
về mối quan hệ giữa giá trị văn hóa và chủ thể chứ chưa phải là bản thân văn hóa
GS Phan Ngọc quan niệm rằng, một khi văn hóa không phải là một đồ vật, mà là một mối quan hệ, một thuộc tính có ở mọi sự vật liên quan đến con người, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, thì không thể nào tìm một định nghĩa về văn hóa ở các ngành khoa học tự nó đã chia cắt loài người ra thành những tập đoàn khác nhau như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học Cần phải tìm nó ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học 26, tr.15 Quan niệm của GS Phan Ngọc cũng chứng tỏ các nhà văn hóa học cũng muốn “thoát ra” khỏi văn hóa học để định nghĩa văn hóa Đó chính là hướng tiếp cận thứ nhất, hướng tiếp cận ở góc độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm Đó chính là hướng tiếp cận của Triết học
Các nhà triết học cổ đại phương Đông đều nhấn mạnh khía cạnh quan hệ
Lễ - Nghĩa của cộng đồng; các nhà triết học cổ đại phương Tây nhấn mạnh các điều kiện khách quan qui định nên tính cách dân tộc, tính đặc thù và tính cách
Trang 11của mỗi dân tộc người, ý nghĩa nhân đạo trong phương thức ứng xử của con người Các yếu tố đó có ý nghĩa đối với sự phát triển xã hội
Trong thời cận đại nhà triết học người Anh, Jon Locke (1632-1704) quan tâm đến ý nghĩa của những nét đặc thù trong hoạt động sống của các cộng đồng, vai trò và ý nghĩa của các dạng văn hóa, đặc biệt ông đề cao ý nghĩa của văn hóa tộc người
Nhà triết học người Đức, J.G Hecđe (1744-1804) là người đã nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển của các dân tộc cũng như toàn xã hội Ông cho rằng văn hóa là cái tạo ra tinh thần của dân tộc
Quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen về bản chất văn hóa thể hiện trong mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội: “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của các nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ” 7, tr11
C.Mác gọi hoạt động sống của con người là những hoạt động thể hiện quam hệ con người với con người, con người với xã hội C.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với những năng lực sáng tạo của con người Sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động Văn hóa là sự “Thăng hoa” của sản xuất vật chất Ông cho rằng người ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn hóa C.Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài nó, con người chỉ có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng
Do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” 7, tr.10 C.Mác cho rằng việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là thuộc tính bản chất, chính nó là cái văn hóa trong hoạt động của con người Như vậy theo C.Mác, hoạt động của con người không chỉ thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở…mà còn là kết tinh năng lực sáng tạo, là cách sống, phương thức sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện ra trong toàn bộ sản phẩm vật chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử-
xã hội của mình Con người là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính sự sáng tạo và thái độ của con người trước hiện thực Vì vậy
Trang 12Ph.Ăngghen đã nói “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tự do” 7,tr.164
Khi bàn về văn hóa, V.I.Lênin cho rằng, trong xã hội có giai cấp, luôn luôn tồn tại hai nền văn hóa, nền văn hóa của giai cấp thống trị và nền văn hóa của nhân dân lao động Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng văn hóa, cuộc cách mạng này hết sức khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng lạc hậu song phải chủ động tạo ra các tiền đề căn bản của nền văn hóa cách mạng, là yếu tố rất quan trọng để xây dựng xã hội mới.V.I.Lênin đã gắn văn hóa với phát triển, chỉ ra mục tiêu quan trọng nhất của văn hóa là hoàn thiện con người mọi mặt
GS Đào Duy Anh cho rằng: “Người ta thưởng cho ta rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải là như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại là không phải ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua chỉ là chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng
“Văn hóa tức là sinh hoạt” Như vậy theo GS Đào Duy Anh văn hóa là sinh hoạt
có nghĩa ông muốn trình bày văn hóa như một kiểu thức sinh tồn của xã hội, đồng nhất văn hóa với xã hội
GS.TS Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hôi của mình” Định nghĩa trên đã bao quát các cách tiếp cận văn hóa đồng thời nhận diện văn hóa trong một loạt các vấn đề khác có liên quan Định nghĩa làm sáng tỏ bốn chức năng của văn hóa: chức năng tổ chức; chức năng điều chức năng điều chỉnh; chức năng giao tiếp và chức năng giáo dục
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), tổng thư ký UNESCO định nghĩa:
Trang 13Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hang bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc riêng của mình
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,
có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch sử của con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì có liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa
Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con người Thông thường người ta chia văn hóa thành hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được
“vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán
Văn hóa của dân tộc là sự biểu hiện tập trung nhất ở bản sắc dân tộc, đồng thời các hoạt động văn hóa có tác dụng giáo dục, phổ biến sâu rộng bản sắc dân tộc đó Đã bao đời nay các thế hệ người Việt Nam đã nuôi dưỡng về tinh thần bằng kho tàng văn hóa dân gian, bằng những áng văn thơ tuyệt tác, bằng những phong tục và lễ hội, bằng những di tích lịch sử oai hùng Bản chất đôn
Trang 14hậu, giàu tình thương, trọng lao động, khát vọng cuộc sống hòa bình, gắn bó mật thiết với non sông, đất nước…đã làm nên nội dung cơ bản của văn hóa Việt Nam
Như vậy, văn hóa trước hết là các hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực tinh thần cơ bản của con người, tạo ra các chuẩn mực, các giá trị, nâng cao khả năng hiểu biết và sáng taọ của con người Do đó, Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa văn hóa và chúng tôi cũng đồng tình với định nghĩa này như sau: “ Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng, văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản than Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn than một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa
mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản than, tự biết mình là phương án chưa hoàn chỉnh đặt ra để xem xét những thành tựu của bản than, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới vượt trội lên bản thân mình”45,tr23,24 Như vậy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Đó là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tao phục vụ cho sự phát triển của xã hội Văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà từng dân tộc dựa vào đó mà khẳng định bản sắc riêng của mình
b Giá trị văn hóa dân tộc
Nhìn từ lăng kính triết học văn hóa thì đời sống con người về thực chất là một thế giới của các giá trị- các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần, các giá trị truyền thống và các giá trị phi truyền thống, các giá trị lý tưởng và các giá trị giả định, các giá trị văn hóa và các giá trị văn minh, các giá trị nội sinh và các giá trị ngoại nhập, v.v Người ta thật khó hình dung có hành vi nào hay xảy ra trong đời sống xã hội mà lại không mang một đơn vị giá trị đối với con người Bất cứ
Trang 15cái gì cũng có thể và cần phải được thẩm định về mặt giá trị hay buộc phải nằm trong những thang bậc giá trị nhất định của bảng giá trị
Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức… đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa Giá trị, giá trị văn hóa là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh
và kết tinh đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người
Giá trị, trước hết là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay,
là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện,
mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hóa nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội
Với mỗi dân tộc, các giá trị văn hóa nền tảng là “căn cước dân tộc” của
nó Hiện nay, lý do tồn tại của mỗi dân tộc, hay nói một cách khác cái làm cho mỗi dân tộc tồn tại, xét cho cùng, thuộc về văn hóa Nói đến văn hóa dân tộc
theo nghĩa đầy đủ của nó, người ta phải nói đến toàn bộ sự hình thành, định hình
và phát triển của mỗi dân tộc với tất cả những tình huống thăng trầm của lịch
sử mà nó đã trải qua, bao gồm toàn bộ những gì làm cho nó là nó với tính cách
là một dân tộc Do vậy, nếu sự hy sinh một phần các giá trị văn hóa truyền thống
là điều cần thiết để mỗi dân tộc hay mỗi xã hội đạt tới tiến bộ, thì quá trình đó bao giờ cũng được kiểm soát nghiêm ngặt trong giới hạn khắt khe Ý thức tự nhiên của mỗi dân tộc thường chỉ tìm cách khuyến khích những quá trình theo chiều ngược lại: ưu tiên du nhập những nhân tố của sự tiến bộ không làm tổn hại đến văn hóa dân tộc; sẵn sàng tiếp thu những giá trị mới nếu chúng hài hòa với các giá trị truyền thống, tạo điều kiện cho các giá trị truyền thống thích ứng với đòi hỏi hiện đại của tiến bộ xã hội; tìm cách “đóng cửa” hoặc hạn chế đối với các nhân tố mới của tiến bộ xã hội nếu chúng đi kèm nguy cơ làm cho văn hóa dân tộc bị “ đánh mất mình”
Giá trị văn hóa do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một hệ giá trị văn hóa hình thành thì nó lại có vai trò định hướng
Trang 16cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy Khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết của
hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con người Cũng như văn hóa, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội
Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng người (dân tôc, quốc gia…) bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau Văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền thống được hiểu như là văn hóa và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa, giá trị văn hóa thời đại công nghiệp hóa Khái niệm truyền thống để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hội công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì truyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế nữa, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hóa thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hóa
1.1.2 Giá trị văn hóa địa phương là biểu hiện cụ thể của văn hóa dân tộc
Những yếu tố cơ bản cấu thành những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo nên giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đó là : “ Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lí, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”15,tr.56
Vì vậy, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, trước hết cần giữ gìn
và phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, khẳng định ý chí và bản lĩnh của con người Việt Nam hiện tại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, bảo vệ và phát huy các tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các giá trị của tinh hoa văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới
Trang 17Hải Dương thuộc vùng đất cổ ở đồng bằng sông Hồng, một trong những nơi phát tích nền văn minh sông Hồng Đó là vùng đất tiếp giáp từ kinh đô Thăng Long kéo dài tới bờ biển Đông Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi dựng nước tới nay Hải Dương có nhiều tên gọi khác nhau:
Lúc mới thành lập, Hải Dương là một tỉnh rộng lớn từ Bình Giang đến Thủy Nguyên Năm 1888 tách dần một số xã của huyện Thủy Nguyên, huyện Tiên Lãng khỏi tỉnh Hải Dương để thành lập tỉnh Hải Phòng Năm 1968 Hải Dương nhập với tỉnh Hưng Yên trở thành Hải Hưng Năm 1997 Hải Hưng lại được chia thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên Hải Dương hiện nay bao gồm 12 huyện thị, là tỉnh nằm trong khu vực tam giác kinh tế giữa Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh, là nơi giao thoa kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng
Vài nét về nền văn minh sông Hồng ở Hải Dương: Theo kết quả nghiên cứu những di chỉ khảo cổ khai quật được trên đất Hải Dương từ thời kỳ đồ đá, trên vùng đất Hải Dương đã có con người sinh sống Qua các cuộc khai quật ở khu vực sông Kinh Thầy (Kinh Môn) người ta đã tìm thấy những di vật cách đây 3000- 4000 năm Ở Tứ Thông, Ngọc Uyên, Đồng Niên (TP Hải Dương) cũng tìm thấy những mộ táng trong đó co những vật tùy táng bằng gốm từ thời Hùng Vương Năm 1965, tìm thấy được trống đồng ở làng Hữu Chung (Tứ Kỳ) có niên đại cách đây khoảng 2500 năm Ngành khảo cổ học còn tìm thấy ở Ngọc Lặc ( Tứ Kỳ) và ở Nam Sách nhiều mộ táng các quan lại người Việt và người Hán thời đầu công nguyên Trong các ngôi mộ đều có chôn theo tùy táng như vò nậm rượu, cối giã trầu, rìu, cung nỏ, dao kiếm, khuôn đúc đồng bằng sành sứ, bằng đồng hoặc sắt Những kết quả khai quật trên đã phần nào phản ánh đời sống vật chất, tinh thần phong phú, đa dạng với trình độ kĩ thuật và thẩm mỹ cao của cư dân Việt Cổ sống trên vùng đất Hải Dương xưa
Vùng đất Hải Dương ở bất kể thời đại nào cũng xuất hiện người tài, có công với nước, là đất học nổi tiếng Bắc Hà Chỉ tính trong triều đại Lý, Trần, Lê thì Hải Dương đã có 372 Tiến sĩ, 11 Trạng nguyên, 10 Bảng nhãn, 20 Thám hoa, 150 Hoàng giáp ( đứng thứ hai cả nước chỉ sau Kinh Bắc)
Trang 18Nếu tính chung các triều đại, ở Hải Dương đã có 485 Tiến sĩ, nhiều nhất trong cả nước Riêng Mạc Đĩnh Chi là người duy nhất ở nước ta được phong là
“Lưỡng quốc Trạng nguyên” Làng Mộ Trạch (Bình Giang) còn được gọi là
“Làng tiến sĩ” vì nơi đây đã sản sinh ra 39 Tiến sĩ qua các thời kì
Những di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hóa ở Hải Dương: Hải Dương có hàng trăm ngôi đình, chùa, đền thờ rải rác các địa phương, thể hiện bàn tay tài hoa và trình độ nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc của con người Đến nay Hải Dương đã có 139 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia, trong
đó có những di tích nổi tiếng như:
Di tích lịch sử, văn hóa Côn Sơn (Chí Linh) Đây là một quần thể chùa tháp, núi non, bàn cờ tiên, suối chảy và rừng thông, rừng trúc, chỗ nào cũng gợi cho ta những kỷ niệm về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc (thế kỉ XV) Nơi đây đã được Bác Hồ về thăm (tháng 2/1965) Côn Sơn là điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Hải Dương
Đền Kiếp Bạc (Chí Linh) là di tích kỷ niệm anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người có công lớn trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thế kỉ XIII
Trên núi Phượng Hoàng (xã Văn An- Chí Linh) có di tích lịch sử bao gồm
mộ và đền thờ thầy giáo Chu Văn An, nhà giáo mẫu mực, lừng danh thế kỉ XIII, mãi mãi người đời còn suy tôn, ngưỡng mộ và vinh danh là thầy giáo của muôn đời Vậy chỉ trong một không gian chừng 5km2 đã có hang chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về ba danh nhân vĩ đại của đất nước và thế giới đó là Trần Hưng Đạo- Danh nhân quân sự; Nguyễn Trãi- Danh nhân văn hóa; Chu Văn An- Thầy giáo của muôn đời, đã trở thành huyền thoại của non sông đất nước
Động Kính Chủ (Kinh Môn) là di tích lịch sử, đồng thời là một thắng cảnh đẹp, hấp dẫn, nơi đây còn lưu giữ nhiều văn bia ghi lại lịch sử văn hóa dân tộc
Trên núi An Phụ (Kinh Môn) có tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn uy nghi, hoành tráng và đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, người sinh thành ra Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Trang 19Trên đất Hải Dương có nhiều lễ hội truyền thống, những trò chơi dân gian
ở khắp các làng xã làm nổi bật sắc thái riêng của từng địa phương Tiêu biểu là
lễ hội chùa Côn Sơn vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Kiếp Bạc từ ngày 15 đến ngày 20/8 âm lịch, hàng năm thu hút đông đảo du khách thập phương đến dự, vừa có dịp thăm cảnh đẹp nơi đây và vui chơi du lịch, vừa tỏ lòng tưởng nhớ công lao to lớn của người anh hùng dân tộc Ngoài ra còn có một số lễ hội chùa Muống (Kim Thành), lễ hội đền Sượt (TP Hải Dương), lễ hội đền Tranh (Ninh Giang), lễ hội xứ đạo Kẻ Sặt (Bình Giang)
Làng Bồ Dương (Ninh Giang) vẫn duy trì nghệ thuật múa rối nước, một
số xã như Minh Đức, Quang Khải (Tứ Kỳ), Nghĩa An, Tân Hương (Ninh Giang) vào tháng 3, tháng 4 âm lịch hàng năm còn tổ chức hội trò chơi đánh pháo đất, một trò chơi vui dân gian độc đáo, lâu đời
Những di tích lịch sử, những nét truyền thống văn hóa trên đây cho thấy nhân dân Hải Dương đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển văn hóa, khoa học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc của đất nước
1.2 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương trong nền kinh
tế thị trường
Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc là hướng tới một nền văn hóa dân tộc đa dạng, phong phú về sắc thái, chứ không phải là một nền văn hóa nghèo nàn, giống nhau, cùng khuôn mẫu Đa dạng, phong phú về giá trị là một thuộc tính của văn hóa thể hiện ở khả năng sáng tạo của một dân tộc trong điều kiện lịch sử
cụ thể Ngày nay, hội nhập quốc tế, một mặt tạo điều kiện để các nền văn hóa dân tộc được giao lưu, hợp tác và phát triển, mặt khác cũng tạo ra xu hướng toàn cầu hóa về văn hóa, về lối sống và quan niệm về giá trị Quá trình đó đặt các dân tộc trước nguy cơ đánh mất giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời còn ẩn chứa nguy
cơ làm suy giảm tính sáng tạo của các dân tộc trong quá trình phát triển
Sự sáng tạo trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc là một yếu tố quan trọng Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, một mặt phải gắn liền với chống lạc hậu, lỗi thời “trong phong tục, tập quán, lề thói cũ”, mặt khác, giữ gìn phải biết lọc bỏ, bổ sung, phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với đời sống
Trang 20hiện đại Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc là không ngừng xác lập một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trên cơ sở phát huy tính sáng tạo của dân tộc Đó chính là sức sống nội lực của một dân tộc trong quá trình phát triển bền vững Ngoài ra, khơi dậy và khuyến khích sáng tạo không chỉ trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa mà cả trong phát triển kinh tế, mỗi sự thụ động, bảo thủ, trì trệ đều kìm hãm sự phát triển Đa dạng, phong phú về giá trị không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực thúc đẩy quá trình giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc và phát triển trong thời kỳ kinh tế thị trường.Với tư duy sáng tạo con người mới làm chủ được quá trình giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn, kế thừa và phát triển, mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái hiện đại, tiên tiến Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc không chỉ nhấn mạnh những nét đặc sắc của dân tộc mà con giữ gìn những giá trị thuộc về dân tộc đó Đồng thời, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở ý thức
tự giác của cả cộng đồng dân tộc Đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói, văn hóa phải “ đi sâu vào tâm lý quốc dân” để từ đó “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”
1.2.1 Những giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc ở Hải Dương
a Danh nhân văn hóa
Hải Dương là vùng đất địa linh nhân kiệt, cùng với lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, nơi đây đã sản sinh biết bao người con ưu
tú Họ là những vĩ nhân, anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao kiệt xuất; những nhà khoa học, nhà sư phạm, nhà toán học; những nhà danh y, những bậc đại khoa, những danh nhân văn hóa, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ, văn nghệ sĩ tài ba Cuộc đời và sự nghiệp của họ đã làm rạng danh quê hương đất nước, góp phần hun đúc lên tâm hồn, trí tuệ và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam Sau đây là một số danh nhân tiêu biểu nhất trong số các danh nhân của Hải Dương và cũng là danh nhân tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
- Mạc Đĩnh Chi (1272-1346)
Danh sĩ đời Trần Anh Tông, tự là Tiết Phụ, sinh năm Nhâm Thân đời Trần Thiệu Long (1272), tại làng Lũng Động, huyện Chí Linh, nay thuộc xã
Trang 21Nam Tân, huyện Nam Sách Ông thuộc dòng dõi Mạc Hiển Tích, người đỗ đầu khoa Bính Dần năm 1086, và là tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung Ông là người học rộng, thông minh tráng việt, thẳng thắn, liêm khiết, làm quan to nhưng rất thanh đạm,nhưng người nhỏ bé, tướng mạo xấu xí Khoa thi Thái học sinh năm GiápThân, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), ông đỗ đầu Đệ nhất giáp, tức Trạng nguyên Vua Trần Anh Tông có ý chê ông xấu xí, ông bèn làm bài phú
“Ngọc tỉnh lên” để tự ví mình với cây sen,Vua Trần Anh Tông khen hay, cất nhắc ông lên làm Thái học sinh dũng thư và sung chức Nội thư gia Đời Hiến Tông (1329-1341),ông làm đến chức Đại liêu ban, Tả bộc xạ, Nhập nội hành khiển
Mạc Đĩnh Chi là một nhân vật nổi tiếng đời Trần, cuộc đời và văn thơ của ông chứng tỏ là đại biểu cho sự thanh cao của Nho sĩ đương thời Sau khi về trí
sĩ, ông mở trường dạy học, nơi ấy thời sau gọi là Trạng nguyên Cổ đường, được xếp vào hàng Chí Linh bát cổ Trải qua nhiều biến cố, Cổ đường bị hư hại, nay
đã được khôi phục Ông mất năm Bính Tuất, niên hiệu Thiệu Phong thứ 6 (1346) Tại Lũng Động, đền thờ, lăng mộ danh nhân từng được trùng tu, khôi phục Năm 1992, khu di tích này đã được xếp hạng quốc gia Hàng năm đến ngày 20 tháng 2 các chi họ Mạc từ mọi miền đất nước lại trở về Lũng Động cùng nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể những danh nhân họ Mạc, tiêu biểu là Mạc Đĩnh Chi
Tác phẩm của ông còn lưu đến nay có: Ngọc tỉnh liên phú; một bài thơ và câu đối chép trong Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục Năm 2004, tỉnh Hải Dương đã đúc tượng Mạc Đĩnh Chi để thờ trong Văn miếu Mao Điền
- Đại danh y Tuệ Tĩnh (1330 -1400)
Tuệ Tĩnh là pháp hiệu của Nguyễn Bá Tĩnh, ông là danh y nổi tiếng đời Trần Dụ Tông, biệt hiệu là Tráng Từ Vô Dật, quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương ( nay là xã Cẩm
Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương)
Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh) đã để lại nhiều tác phẩm y học và phật học (Thiền tông) có giá trị, tiêu biểu là hai cuốn: Nam dược thần hiệu (còn có tên là
Trang 22Nam dược chỉ nam); giới thiệu 580 vị thuốc nam và 3873 phương thuốc điều trị
184 loại bệnh; Hồng Nghĩa giác tư y thư ( còn có tên là Thập tam phương gia giảm): gồm các bài phú về thuốc nam, về dược tính và các mục về y lý và chủ trị các bài thuốc Đây là những công trình y dược đến nay vẫn còn nguyên giá trị, những bộ sách quý về y học của ông có ảnh hưởng rất sâu rộng trong nền y học
cổ truyền nước ta Khẩu hiệu và phương châm mà Tuệ Tĩnh nêu ra: Thuốc nam chữa bệnh người Nam (Nam dược trị Nam nhân) vừa mang tính dân tộc, đại chúng, vừa mang tính khoa học, bởi dùng các loại dược vật ở miền địa lý khí hậu nào chữa bệnh cho người miền đó là thích hợp Cả cuộc đời Tuệ Tĩnh hiến dâng cho nghiên cứu chữa bệnh cứu người, có công đầu tư xây dựng nền y học dân tộc Việt Nam, những cống hiến to lớn về lý luận và thực tiễn cho nền y học dân tộc, sự nghiệp của ông không ngừng được kế thừa và phát huy Ông là người trồng cây đức được quả phúc cho đời Tuệ Tĩnh Thiền sư được tôn thờ là Thánh sư nam dược (Vị Thánh thuốc Nam)
Hiện nay vùng Cẩm Giàng còn một số di tích về Nguyễn Bá Tĩnh như: đền Xưa (làng Nghĩa Phú), đền Bia (làng Văn Thai) thờ Tuệ Tĩnh trong đền có câu đối:
Thi đậu Hoàng giáp tiếng lừng đất Bắc Chữa bệnh thần diệu tài quán Nam Bang
Nhiều di tích có quan hệ đến ông đã được xếp hạng quốc gia và từng bước được tôn tạo để xứng đáng với vị thế của ông trong lịch sử Năm 2005 được sự
hỗ trợ của tỉnh và Trung ương, nhân dân địa phương đã trùng tu đền Bia nơi thờ Tuệ Tĩnh Bài vị của ông được thờ phụng tại Văn miếu Mao Điền
- Nguyễn Đại Năng (Thế kỷ XV)
Nguyễn Đại Năng, quê ở Giáp Sơn, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) không rõ năm sinh, năm mất, ông là một võ tướng của triều Hồ, đồng thời còn là một danh sĩ, chuyên tâm nghiên cứu phép chữa bệnh bằng châm cứu Khoảng năm Qúi Mùi 1403, nhà Hồ xây cất bệnh viện Trung ương phục vụ nhân dân, gọi là Quảng tế thự, ông được Hồ Qúy Ly
Trang 23trọng dụng, giao cho cai quản cơ quan y tế Trung ương với cương vị là Quảng tế
tự thừa (Giám đốc viện y tế Trung ương) vì ông là người giỏi về khoa châm cứu
Ông cũng giỏi về quân sự, có tài bắn nỏ nên cũng được nhà Hồ cử kiêm coi việc quân sự, và về sau coi sóc Quân y viên
Ông đã viết tập sách về y học: Châm cứu tiếp hiệu diễn ca, ghi lại cách chữa 130 loại bệnh chứng, 140 huyệt châm cứu trong đó có 11 huyệt do tổ tiên chúng ta tìm ra Ông là người đầu tiên ở Việt Nam viết sách về khoa châm cứu Đến nay tác phẩm “ Châm cứu tiếp hiệu diễn ca” vẫn là một tài liệu khoa học có giá trị đối với nền y học dan tộc nước nhà
Nguyễn Đại Năng xứng đáng là thủy tổ của thuật châm cứu Việt Nam, đồng thời là người có công lớn đề xướng và phát triển nền y học nhân dân dưới thời nhà Hồ
- Nguyễn Trãi (1380 -1442)
Nguyễn Trãi, Danh sĩ, Nhà văn hóa lớn, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Ông sinh năm 1380, quê vốn ở làng Chi Ngãi, huyện Phượng Nhơn (nay là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, Hải Dương), sau dời về làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây
Nguyễn Trãi có tên hiệu là Ức Trai, ông ngoại là tư đồ Trần Nguyên Đán,
tể tướng nhà Trần, cha ông là Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh), mẹ ông
là Trần Thị Thái Lúc trẻ Nguyễn Trãi đã nổi tiếng là người thông minh, giỏi văn chương, am hiểu kinh sử, bách gia, binh thư thao lược Năm Canh Thìn (1400),
20 tuổi ông đỗ Thái học sinh nhà Hồ Ông được giữ chức Ngự sử đài chính chưởng Hai cha con ông cùng làm quan trong triều đình nhà Hồ
Năm 1428, cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn thắng lợi, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” nổi tiếng Đó là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc tràn đầy lòng tư hào, tinh thần yêu nước và tư tưởng nhân đạo Chính vì có công cứu nước mà Nguyễn Trãi được Lê Thái Tổ cho đổi họ vua là Lê, nên gọi là Lê Trãi và phong tước Quan Phục Hầu
Sau khi Lê Lợi mất, ông bị bọn gian thần trong triều gièm pha Chán nản triều chính, ông từ quan xin về nghỉ ở núi Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương)
Trang 24Trong thời gian sống ẩn dật ở đây, ông thường gửi tâm sự của mình vào những dòng thơ, bài Côn Sơn ca là một áng văn tuyệt tác
Năm Giáp Dần (1434), vua Lê Thái Tông lại mời ông về Kinh đô lo việc triều chính Song không bao lâu, khi Lê Thái Tông đi duyệt binh ở vùng Đông Bắc, ghé qua Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), rồi mất đột ngột khi nghỉ ở Vườn vải (tức Lệ Chi Viên, nay thuộc địa phận Bắc Ninh) Ông bị bọn gian thần ghép tội thủ mưu cho vợ ông là Nguyễn Thi Lộ giết vua, rồi bắt ông giam vào ngục Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) Nguyễn Trãi bị giết cùng 3 họ, thọ 62 tuổi
Đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), năm 1464, niên hiệuQuang Thuận thứ
5 nỗi oan của ông được giải: vua truy phong ông là Tế Văn Hầu, các con cháu còn sót lại (Nguyễn Anh Võ, Tô Giám, Tô Kiên) đều được trọng dụng
Qua nhiều thế kỷ, Nguyễn Trãi luôn được đánh giá là anh hùng dân tộc, một thiên tài trong nhiều lĩnh vực như tư tưởng chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học Tài bang tế thế, cuộc đời sáng ngời phẩm chất cao quý là niềm tự hào của cả dân tộc Năm 1980 Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa thế giới
Năm 2003 tỉnh Hải Dương đã tổ chức khánh thành đền tưởng niệm Nguyễn Trãi tại khu di tích Côn Sơn huyện Chí Linh Tượng Nguyễn Trãi thờ ở Văn miếu Mao Điền
- Nguyễn Thị Duệ (1574- ?)
Nguyễn Thị Duệ sinh năm 1574, còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn, Nguyễn Thị Du, hiệu là Diệu Huyền, tự Tinh Phi Bà người làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là xã Văn An, huyện Chí Linh)
Nguyễn Thị Duệ học hành tiến bộ, nhân lúc triều đình mở khoa thi, bà cũng lều chõng như những sĩ tử khác về Kinh đô ứng thí, bằng cách ăn mặc giả trai, bà lọt vào kỳ thi và đỗ Tiến sĩ Trong buổi tiếp tân khoa, vua Mạc Kính Cung phát hiện ra vị Thủ khoa Tiến sĩ mặt hoa da phấn, tay búp măng thì sinh nghi, tra hỏi mới biết đó là gái giả trai, nhưng nhà vua không những không khép tội mà còn khen ngợi và mời vị nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước Việt vào cung dạy
Trang 25các phi tần, sau vua lấy làm vợ, đặt tên là Tinh Phi (bà Chúa Sao Sa) Cuộc chiến tranh giành ngôi vị Lê – Mạc xảy ra, nhà Mạc bị nhà Lê tiêu diệt, bà đành lui về làng quê ở ẩn và mở trường dạy học Trọng dụng người tài, vua Lê lại cho mời bà ra Kinh đô giữ trọng trách chỉ dạy cho cung nữ và ban cho danh hiệu Nghi ái quan Hàn lâm viện Trong các kỳ thi bà còn giúp quan giám khảo chấm thi, tuyển chọn người tài Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ thời đó đã nghĩ ra một cách học mới: tự ra đề cho các quan và sĩ tử hàng huyện học, cho họ làm bài gửi về cung để bà tự tay chấm Với cách học này, có lẽ bà là người đầu tiên trên thế giới áp dụng việc học từ xa Bà là người đã phát hiện cho nhà vua các khảo quan
về tài năng của Tiến sĩ Nguyễn Minh Triết
Ở Kinh đô, bà có dịp giao du với các bậc hiền tài khoa bảng, do đó cũng học hỏi được nhiều điều hay, lẽ đẹp, đã nhiều lần nhà vua cho mời bà tham gia việc luận bàn chính sử và bà đều có những ý kiến xác đáng Thông qua việc học hỏi sách thánh hiền, noi gương những bậc kỳ tài trong sử sách, bà luôn thể hiện lời lẽ khuyên răn triều đình chăm lo phát triển đất nước, yêu quý dân chúng, một lòng vì sự phồn thịnh của nước nhà Đối với quê hương bà khuyến khích hỗ trợ vật chất và tạo điều kiện để việc học hành, thi cử được mở mang, nhờ đó sau nay nhiều người ở quê hương bà đã đỗ Đại khoa
Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Thị Duệ là người phụ nữ có đủ tài sắc và đức độ, là nữ Tiến sĩ đầu tiên của đất nước, tiên phong cho việc giải phóng phụ
nữ, trước hết là tự giải phóng mình, làm rạng danh cho phụ nữ Việt Nam Bà là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà thực hiện dạy học từ xa, mà sau nhiều thế kỷ, chúng ta mới bắt đầu thực hiện
Năm 2004, bài vị của bà được đưa vào thờ phục trong Văn miếu Mao Điền, là một trong 8 vị đại khoa của xứ Đông qua các triều đại phong kiến, trong
đó có nữ Tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam Nguyễn Thị Duệ được thờ phụng tại đây
b.Văn hóa vật thể
- Khu di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của tỉnh Hải Dương
+ Cụm di tích lịch sử, văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc (Chí Linh)
Trang 26Côn Sơn, Kiếp Bạc là hai di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp huyện Cẩm Lý (tỉnh Bắc Giang), phía Nam giáp xã Cộng Hòa và Văn An (Chí Linh), phía Đông giáp xã Bắc An và xã Hoàng Hoa Thám (Chí Linh), phía Tây giáp huyện Yên Dũng (tỉnh Bắc Giang)
Cùng với Yên Tử, Quỳnh Lâm và Thanh Mai, Côn Sơn là chốn của Thiền phái Trúc Lâm, một Thiền phái mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam Đệ nhất
tổ - Điều Ngự Giác Hoàng Trần Tông, Đệ nhị tổ - Pháp Loa tôn giả và Đệ tam tổ
- Huyền Quang tôn giả đều đã về đây thuyết pháp, phát triển giáo giới, xây dựng chùa Hun thành chốn tổ đình, một Thiền viện lớn từ thời đại nhà Trần
Côn Sơn là mảnh đất có bề dầy văn hóa hiếm có Ở đây, văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo và văn hóa Lão giáo cùng tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, nhưng tất cả đều thấm đậm bản sắc văn hóa Việt, đều để lại dấu ấn qua mỗi công trình xây dựng, qua từng chi tiết kiến trúc, chạm khắc, qua các bia đá, tượng thờ, hoành phi, câu đối Văn hóa Lý – Trần, văn hóa Lê – Nguyễn hiển hiện trước mắt mọi người và ở các tầng văn hóa dưới lòng đất khi khai quật khảo cổ học Di sản văn hóa phi vật thể quý giá ở Côn Sơn chứa đựng trong sách
vở, trong các truyền thuyết còn lưu, trong các nghi thức cúng tế, trong cá hoạt động lễ hội vô cùng phong phú
Kiếp bạc là một địa danh lừng lẫy bên Lục Đầu Giang, cách Côn Sơn chừng 5 cây số Kiếp bạc có thế “rồng vươn, hổ phục” có “tứ đức, tứ linh” Thế sông núi hiếm mà hài hòa, hùng vĩ thoáng đạt mà trang nhã Tại đây, hội nước 4 dòng sông từ thượng nguồn đổ về, chảy vào sông Thái Bình và sông Kinh Thầy, mang phù sa mầu mỡ tốt tươi về xuôi bồi đắp Vào thời nhà Trần ở thế kỷ XIII, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, vị tổng chỉ huy quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông đã chọn Vạn Kiếp để đặt bản doanh, xây dựng phủ đệ, với tài thao lược của Quốc Công Tiết Chế, Kiếp Bạc – Lục Đầu Giang đã phát huy sức mạnh tổng lực, của thế trận chiến tranh nhân dân Từ sau cuộc đại thắng giặc Nguyên lần thứ ba, Trần Hưng Đạo đã về ở hẳn tại tư dinh Vạn Kiếp cho tới
Trang 27cuối đời Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), Đại Vương mất tại Kiếp Bạc Triều đình đã phong là Thái sư Thượng phụ, Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương; nhân dân Đại Việt tôn là Đức Thánh Tràn, xây đền Kiếp Bạc
để tưởng nhớ công lao to lớn đối với non sông, đất nước Ngày giỗ Đại Vương hàng năm trở thành ngày chính hội đền Kiếp Bạc Hội đền kéo dài hàng tuần, thu hút hàng chục vạn con dân Đại Việt từ khắp mọi miền đất nước về kính bái, nguyện cầu Đó là một trong số lễ hội lớn nhất của cả nước được gìn giữ hơn 7 thế kỷ nay, trở thành mỹ tục truyền thống, thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
Đền Kiếp Bạc cùng với hai ngôi đền trên núi Bắc Đẩu và Nam Tào được
ví như “một cõi thiên bồng giữa hạ giới” Tại vị trí trang trọng nhất của đền Kiếp Bạc, tượng Đức Thánh Trần bằng đồng nặng hàng tấn ngự trên ngai sơn son thếp vàng đường bệ, uy nghi, bao thế kỷ vẫn toát ra hùng tâm tráng chí và hào khí lẫm liệt, khiến khách hành hương không ai không ngưỡng vọng thành kính Được phối thờ tại đền là gia quyến của Đại Vương, gồm bốn tượng thờ: Nguyễn từ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa (tức phu nhân của Trần Hưng Đạo), tướng quân Phạm Ngũ Lão (Danh tướng đời Trần, và là con rể của Đại Vương), hai người con gái của Trần Hưng Đạo là Đệ nhất Khâm từ Hoàng thái hậu Quyên Thanh công chúa (phu nhân của vua Trần Nhân Tông), Đệ nhị Nữ đại hoàng Anh Nguyên quận chúa (phu nhân tướng Phạm Ngũ Lão) và bốn ngài cùng bài vị thờ vọng bốn con trai của Đại Vương
Cổng đền Kiếp Bạc có câu đối nổi tiếng:
“Kiếp Bạc hữu sơn giai kiếm khí Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”
Nghĩa là: Kiếp Bạc muôn ngọn núi đề có hùng khí của kiếm thiêng
Lục Đầu không con nước nào chẳng vọng tiếng thu
+ Cụm di tích lịch sử, văn hóa An Phụ - Kính Chủ (Kinh Môn):
Cụm di tích An Phụ hiện nay thuộc xã An Sinh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, cách thành phố Hải Dương hơn 30km về phía Đông Quý khách hành hướng theo đường bộ như đường QL5 qua cầu An Thái, đường 18 sang
Trang 28đường 189 và đường thủy theo các tuyến sông Thái Bình, sông Kinh Thầy đề có thể chiêm ngưỡng và đến di tích một cách thuận tiện Cụm di tích An Phụ gồm các công trình:
Đỉnh núi An Phụ, ngọn núi phía Nam là đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, tục gọi là đền Cao, văn bia gọi là An Phụ Sinh Từ Trần Liễu sinh năm Kiến Gia thứ nhất (1211), nguyên quán ở Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định Ông là anh ruột của Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông (1218 – 1277) vua đầu tiên triều Trần và là thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người đã lập chiến công hiển hách 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông Năm 1237 Trần Liễu được vua Trần Thái Tông phong phẩm tước Đại Vương Năm Tân Hợi (4-1251) An Sinh Vượng tạ thế tại phủ đệ An Phụ, hưởng thọ 41 tuổi Sau khi mất ông được vua Trần Thái Tông cho sửa chữa phủ đệ trên đỉnh núi An Phụ thành đền Cao để thờ ông Kỷ niệm ngày mất của ông (1-4 âm lịch) trở thành ngày hội của đền Cao
Tượng đài Trần Hưng Đạo ở độ cao 200 mét, thấp hơn đền An Phụ Sinh
Từ 50 mét, đây là công trình tượng đài anh hùng dân tộc hoành tráng, điển hình của nước ta cuối thế kỷ XX
Từ nhiều thế kỷ trước, sử sách từng ghi núi An Phụ, Thiên kỳ Kính Chủ là những thắng cảnh đẹp đáng du ngoạn Nơi đây có nhiều di tích cần tham quan, nghiên cứu, du khách đến An Phụ không chỉ là cuộc tham quan di tích lịch sử và danh thắng mà còn là cuộc đi bộ thể thao leo núi bổ ích Trên đường du lịch đến cụm di tích An Phụ, khách nhớ đến thăm động Kính Chủ, đình Huề Trì, những
di tích văn hóa tiêu biểu của tỉnh Hải Dương
+Đền thờ Thầy giáo Chu Văn An trên núi Phượng Hoàng (Chí Linh):
Đền thờ thầy giáo Chu Văn An, nằm dưới chân núi Phượng Hoàng, tại xã Văn An, huyện Chí Linh, là khu di tích lịch sử đã được nhà nước xếp hạng quốc gia Khu di tích Phượng Hoàng là nơi sinh ra tám vị quan, quê hương của bà Chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ, nữ Tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam trong lịch sử Sau khi từ quan, Chu Văn An về đây ở ẩn, dựng nhà dạy học, lấy tên hiệu Tiều
Ẩn (tiều phu ở ẩn) Đền thờ thầy giáo Chu Văn An, người thầy giáo được coi là
Trang 29“Vạn thế sư biểu” của Việt Nam Nơi đây vừa có cảnh quan của một vùng du lịch văn hóa, vừa là nơi đạo làm thầy được tôn vinh, chữ “ Học” được đề cao và
là nơi mỗi lần đến thăm, đội ngũ nhà giáo “ tự sửa” mình theo những phẩm chất tốt đẹp của nhà giáo
Đền thờ thầy giáo Chu Văn An còn là nơi từng diễn ra nhiều hoạt động nhằm tôn vinh những điển hình trong ngành giáo dục của cả nước Xin chữ ở đền thờ thầy giáo Chu Văn An vừa thừa kế được văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa mang ý nghĩa riêng cho đạo học Bởi xưa kia khi Thầy ẩn cư tại núi Phượng Hoàng này cũng hay cho chữ nhiều người Chữ được viết bằng mực son
đỏ tươi, lấy từ Giếng Son dưới núi, người được thầy Chu Văn An cho chữ coi đó như một báu vật thiêng liêng nâng niu suốt đời, có chữ như có Thầy ở bên cạnh khuyến khích động viên nhắc nhở Người xin chữ Thầy thường bày tỏ tâm nguyện hướng tới phấn đấu đạt được như chữ đã xin Học trò cũng vậy, cứ đến gần mùa thi, cô cậu nào cũng đến đây đều xin chữ và ước nguyện Thầy linh ứng cho mình trúng kỳ thi sắp tới
Trong buổi lễ cắt băng khánh thành trùng tu khu di tích ngày 4 -01-2008, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: “Sự nghiệp và cuộc đời nhà giáo Chu Văn An có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức Việt Nam Qua hơn 600 năm, sự nghiệp và những giá trị tinh thần mà nhà giáo Chu Văn An để lại là tài sản vô giá được bảo tồn và phát huy cùng với tiến trình phát triển văn hóa của dân tộc” Phó Thủ tướng cho rằng, các thầy cô giáo của thế hệ hôm nay nên nguyện soi mình vào tấm gương của nhà giáo Chu Văn An để rèn luyện, vượt khó, phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà Đây cũng là nơi được Bộ giáo dục và Đào tạo chọn là điểm tổng kết phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông của cả nước
Hàng năm lễ hội đền được tổ chức ngày 25 -8 (âm lịch) để kỷ niệm ngày sinh và ngày 26-11 để tưởng nhớ ngày thầy Chu Văn An từ trần
Trang 30+Văn miếu Mao điền (Cẩm Giàng):
Người Hải Dương vẫn luôn tự hào về truyền thống hiếu học và truyền thống tôn sư trọng đạo của mình Một trong những công trình có ý nghĩa, nơi hội
tụ những tinh hoa văn hóa giáo dục của tỉnh Đông hàng mấy trăm năm trước, chính là Văn miếu Mao điền- trường học, trường thi đầu tiên của trấn Hải Dương xưa Trong hệ thống Văn miếu của cả nước thì Văn miếu Mao Điền có quy mô và lịch sử lâu đời đứng thứ 2, chỉ sau Văn miếu Quốc Tử Giám
Từ giữa thế kỷ XV, với chủ trương mở mang việc học hành và đào tạo nho sĩ, quan lại, nhà Lê cho xây dựng một loạt trường học (trường quốc lập), trong đó có Văn miếu Mao Điền Nơi đây xưa thuộc tống Mao Điền, phủ Bình Giang, trấn Hải Dương Nay thuộc thôn Mao Điền, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Như vậy, trong quá trình tồn tại, Văn miếu Mao Điền từ
vị trí là trường học của riêng trấn Hải Dương đã trở thành trường thi của cả vùng, góp phần giáo dục và đào tạo nhân tài cho quê hương và cho cả giang sơn
xã tắc Nơi đây còn nhiều dấu tích cảu các sĩ tử, danh nhân đã chiếm bảng vàng Trạng nguyên trong các kỳ thi ở cấp cao hơn Nhiều người đã vinh hiển trở về thăm lại trường học xưa, xúc động viết lên những bài thơ còn in lại trên các bia
đá cổ
Năm 2002 được sự đầu tư, hỗ trợ của các ban ngành Trung ương và của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hải Dương đã khởi công xây dựng, tu bổ lại Văn miếu Sau hơn hai năm nỗ lực thi công, công trình đã được khánh thành Giờ đây nhìn lại diện mạo rạng rỡ của Văn miếu, mỗi người dân đều phấn chấn, tự hào Nền văn hiến ngàn đời của xứ Đông, trung tâm truyền thống văn hóa, giáo dục của cả vùng đã được khôi phục
Hiện nay, trong Văn miếu ngoài thờ Khổng Tử, còn phối thờ các bậc danh nhân, tiên hiền của quê hương đất nước: Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu và nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ Hàng năm, cứ đến tháng 2 âm lịch, tỉnh Hải Dương lại mở lễ hội Văn miếu, những người con quê hương ở khắp nơi lại tề tựu về đây dự lễ hội, báo công, dâng hương tưởng nhớ các bậc danh nhân, tiên hiền của đất nước
Trang 31- Một vài nét của kiến trúc đình ở Hải Dương:
Đình làng được xây dựng theo nhiều kiểu kiến trúc như chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, chữ đinh, tiền nhất hậu đinh, tiền nhất hậu công trong chữ Hán, trong
đó phổ biến nhất là kiểu chữ đinh Thông thường phần trước của đình có 5 gian,
2 chái Hậu cung, dân gian hay còn gọi là chuôi vồ, nối với gian giữa của phần trước Chiều rộng của gian đình khoảng 4m chiều rộng của hậu cung thường bằng chiều rộng của gian giữa Một số đình làng có gian giữa rộng khoảng 3,6m
Trước đình thường có sân rộng, hai bên có công trình phụ trợ, được xây theo kiểu gọng bìa, mỗi cái có khoảng 5 gian nhỏ, gọi là Giải vũ Phía ngoài sân
là tam quan, cột đồng trụ, tường bao nối với giải vũ và đình tạo thành một không gian khép kín
Kết cấu của vì có hai kiểu chính: con chồng đấu sen hoặc kẻ chuyền Nếu làm con chồng kiểu đấu sen thì hàng ngang tính từ dưới lên gồm có bảy hoặc chín kẻ (nếu có cột hiên) trên có lá dong, đầu bẩy ở phía trong cột quân đẽo vát mỏng gọi là lưỡi nghé
Đề tài trang trí: hai vì giữa phổ biến là tứ linh, tứ quý, tam hựu, long thần, tam hữu, tùng hạc, tùng lộc, long cuốn thủy, liên áp Các vì khác và trên các xà chủ yếu trang trí hình tượng của tứ linh, tứ quý nhưng tách ra từng cá thể theo các chủ đề trúc, mai, ngư hóa long Nhiều hình ảnh sinh hoạt văn hóa dân gian như kéo co, đánh vật, đánh đáo, thổi sáo, cũng được lấy làm chủ đề điêu khắc trang trí trong đình
- Một số ngôi đình tiêu biểu trên địa bàn của tỉnh:
+ Đình Nhân Lý ( thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách) là một ngôi đình
lớn và điêu khắc của đình vào loại điển hình của đất nước ở thế kỷ XVII, đình thờ Thành hoàng là Lý Tuấn Lương, có công phù Lý Nam Đế, đánh giặc Lương vào thế kỷ VI Lễ hội hàng năm vào trung tuần tháng 2 và tháng 8 Đình được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1980
+ Đình Vạn Niên (thị trấn Nm Sách, huyện Nam Sách) được xây dựng
vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, thờ Nguyễn Qúy Minh có công giữ
Trang 32nước thời Lê Thánh Tông Lễ hội hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng Đình được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1992
+ Đình Huề Trì (làng Huề Trì, xã An Phụ, huyện Kinh Môn) Lịch sử
đình Huề Trì đã được văn bia tại di tích ghi nhận qua các lần trùng tu từ thế kỷ XVIII trở lại đây Theo văn bia đình là nơi thờ Thiện Nhân, Thiện Khanh Lễ hội hàng năm vào ngày 7 tháng Giêng Đình được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1974
+ Đình Thạch Lỗi (thôn Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng), thờ Lý Quốc Bảo,
cháu trai của Lý Bí và phu nhân là Vũ Thị Thùy Đình được bắt đầu xây dựng vào năm nào chưa rõ nhưng vào năm 1689 thì xong và dựng bia Lễ hội hàng năm vào ngày 10 đến ngáy 15 tháng Hai Đình được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1996
+ Đình Mộ Trạch (làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang)
Đình thờ Vũ Hồn, người gốc tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), làm quan đến Thứ
sử Gia Châu, có công lập ấp Khả Mộ, nay là làng Mộ Trạch Đình Mộ Trạch được xây dựng khoảng thế kỷ XVI ở phía Tây của làng, đầu thế kỷ XVII đình được chuyển về vị trí hiện nay Lễ hội hàng năm vào ngày 8 tháng Giêng Đình được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991
- Một số nét về kiến trúc chùa ở Hải Dương:
Kết quả nghiên cứu các công trình kiến trúc chùa cổ trên địa bàn tỉnh cho thấy: 80% chùa ở Hải Dương được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn Phần còn lại là sự pha trộn giữa kiến trúc thời Nguyễn và Hậu Lê Một số chùa được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn, nhưng nhiều đồ tế tự (thờ tự) lại theo thời
Lê
Cũng như các ngôi đình, bố trí mặt bằng của ngôi chùa đa số theo các kiểu sau đây: chữ đinh, chữ công, nội công ngoại quốc, chữ nhị, chữ tam (trong chữ Hán) Phía trước cổng chùa thường là một cổng lớn (tam quan), một gác chuông, hoặc đơn giản chỉ là bốn cột trụ Đây là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thờ tự Phật giáo
Khu trung tâm của chùa là điện thờ Phật, có 3 ngôi nhà kế tiếp nhau:
Trang 33+ Tiền đường: là căn nhà ngoài, nơi thiện nam, tín nữ chờ để dâng hương hành lễ cầu Phật, hai bên có tượng Khuyến thiện và Trừ ác
+ Thiêu hương: nơi đốt hương, sắp lễ
+ Thượng điện: gồm nhiều tượng Phật đặt trên các bệ xây từ thấp đến cao, tượng trưng cho sự tu hành và đắc đạo của đức Phật gọi là tòa “Tam bảo” của chùa, đồng thời thể hiện triết lý đạo Phật.Ngoài khu trung tâm nói trên, kiến trúc chùa còn có dãy hành lang ở trong cùng là nơi đặt bàn thờ và điêu khắc tượng các vị La Hán, các vị Hòa Thượng, hoặc phối hợp cùng hành lang hai bên làm nơi tạm trú cho khách thập phương, chuẩn bị lễ chay trong các ngày lễ, vừa trang nghiêm, lại vừa giản dị của nhà chùa
-Một số chùa tiêu biểu trên địa bàn của tỉnh:
+ Chùa Côn Sơn (xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh) Chùa Côn Sơn có tên
chữ Thiên Tự Phúc, tên nôm là chùa Hun Chùa được khởi xây dựng vào cuối thế kỷ thứ VIII, mở rộng vào năm 1329, trùng tu, tôn tạo ở các thế kỷ XVII, XVIII Đặc biệt trong thế kỷ XX, chùa Côn Sơn được trùng tu nhiều lần Đệ nhất tổ Thiền phái Trúc lâm Trần Nhân Tông, Đệ nhị tổ Pháp Loa đã từng tu hành và thuyết pháp tại chùa này Riêng Đệ tam tổ Huyền Quang trù trì chùa Côn Sơn đã lấy nơi đây làm trung tâm truyền bá giáo lý của Thiền phái Chùa chính có kiến trúc kiểu chữ công, bao gồm tòa tiền đường và tòa thượng điện có niên đại xây dựng vào thời Nguyễn Sau thượng điện qua một khoảng sân là nhà thờ tổ có kiến trúc kiểu chữ đinh, được xây dựng thời Nguyễn (thế kỷ XX) Nhà thờ tổ thờ Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Ngoài ra, còn có bức tượng gỗ được cho là tượng quan tư đồ Trần Nguyên Đán
Hiện nay, khu di tích Côn Sơn tiếp tục được tôn tạo nhiều công trình, là nơi tham quan chiêm bái của nhân dân cả nước
+ Chùa Trăm gian (xã An Bình, huyện Nam Sách) Chùa Trăm gian còn
có tên là chùa An Ninh, chùa Vĩnh Khánh Theo hệ thống bia ký, chùa Trăm gian có quy mô khá lớn vào đầu thế kỷ XVII Đến năm Chính Hòa(1691) đời vua Lê Huy Tông sửa thượng điện, năm Vĩnh Thịnh thứ 1(1705) đời vua Lê Dụ
Trang 34Tông tiếp tục sửa thượng điện, các năm 1740, 1809 tôn tạo khá nhiều công trình trong chùa Thế kỷ XIX, XX chùa Trăm gian được trùng tu lớn
Đến thế kỷ XX, chùa Trăm gian còn đủ 100 gian, nhưng hiện nay chùa chỉ còn 85 gian Chùa còn lưu giữ hệ thống cổ vật phong phú gồm 57 pho tượng Phật, có liên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, 12 bức đại tự, 12 đôi câu đối các loại, 738 bản khắc kinh Phật, 7 bia đá có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, nhiều cổ vật có chất liệu gỗ, gốm, đồng và khá nhiều đồ
tế tự mới Chùa Trăm gian đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1990
+ Chùa Động Ngọ (xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà) Chùa còn có tên là
chùa Cập Nhất, là một công trình kiến trúc tôn giáo cổ bậc nhất của tỉnh Hải Dương Tư liệu chữ Hán khắc trên thương lượng cho thấy chùa được dựng vào năm 971.Căn cứ vào hiện vật khảo cổ học tại khu vực chùa hiện còn như ngói mũi hài, ngói có kích cỡ lớn được sản xuất từ thời Lý – Trần, chứng tỏ tại đây đã tồn tại một công trình tôn giáo lớn Chùa chính kiến trúc chữ đinh bao gồm 5 gian, 2 dĩ Chùa được tu sửa lớn vào năm Kỷ Sửu (1529) Trong chùa còn nhiều tượng Phật, đồ thờ cổ Chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 3 năm
1974
+ Chùa Linh Ứng (thôn Hà Tràng, xã Thăng Long, huyện Kinh Môn)
Chùa còn có tên gọi là chùa Tràng, chùa Hà Tràng, trên khu đất cao ráo, rộng rãi
có diện tích khoảng 4.000 m2 Mặt tiền của chùa quay về hướng Tây Nam, quần thể các công trình kiến trúc của chùa tập trung tại tâm khuôn viên rộng lớn của chùa Chùa có kiến trúc kiểu chữ đinh, bao gồm 5 gian tiền đường và 3 gian thượng điện Chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 2 năm 1999
+ Chùa Đông Cao (thôn Đông Cao, xã Đông Xuyên, huyện Ninh Giang)
Chùa có tên chữ là Sùng Ân được khởi dựng vào thời Lý, tu sửa vào thời Trần
và phát triển rực rỡ vào thời Hậu Lê thế kỷ XIX- XX Đương thời, chùa Đông Cao có các công trình hiến tạo theo kiểu nội công, ngoại quốc Ngoài chùa chính, chùa còn 2 dãy hành lang, tam quan, tòa Thiêu Hương, nhà tổ, nhà Tăng, các công trình phụ trợ khác Hiện nay, chùa không còn kiến trúc đồng bộ như trước, kiến trúc của ngôi chùa chính, còn lại được xây dựng theo kiểu chữ Công
Trang 35gồm 5 gian tiền đường, 7 gian thượng điện Trong đó, 5 gian dọc và 2 gian bên
bố trí tại vị trí cuối cùng của tòa nhà Chùa đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia tháng 3 năm 1974
- Một số nét kiến trúc đền, văn miếu:
Kiến trúc đền, miếu là một bộ phận kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng nước ta Xây dựng đền thường xuất phát từ lòng kính trọng, ngưỡng ngộ và ghi nhớ công
ơn của một anh hùng dân tộc có công với nước hay công đức của một cá nhân với một địa phương Đền cũng có thể được xây dựng theo truyền thuyết tín ngưỡng dân gian Địa điểm xây dựng đền cổ thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến truyền thuyết, sự tích, cuộc sống của các nhân vật được tôn thờ
Bố cục kiến trúc, vật liệu xây dựng các đền có những đặc diểm cơ bản tương tự kiến trúc đình, chùa bên trong đền phần lớn thường chỉ có hương án, bài vị, tượng thần chủ Phương án, bài vị để thờ cúng, hoành phi câu đối thường được sơn son thếp vàng hoặc chạm khắc tinh sảo theo nghệ thuật truyền thống
để tạo lên không khí trang nghiêm của đền
- Một số đền và văn miếu tiêu biểu:
+ Đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh) Tên Kiếp Bạc là nơi thờ
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, một nhân vật nổi tiếng thời Trần, thiên tài quân sự, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông của thế kỷ XIII Đền thờ Hưng Đạo Vương được xây dựng tại trung tâm thung lũng Kiếp Bạc dưới thời Trần với quy mô lớn Các công trình kiến trúc của đền hiện nay được trùng tu từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
và những năm gần đây Đền được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1962
+ Đền Đồng Bào (thôn Đồng Bào, xã Gia Xuyên, huyện Gia Lộc) Đền có
tên chữ là Vương Mẫu Linh Từ, nằm trong cụm di tích đình – đền – chùa của thôn Đồng Bào, xã Gia Xuyên, huyện Gia Lộc Đền là nơi thờ Hoàng Thái Hậu
Ỷ Lan Đền được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 1 năm 1991
Trang 36+ Đền Đươi (thôn Cẩm Đới, xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc) Đền thờ
Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan Đền được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 1 năm
1991
+ Đền Sượt (Phường Thanh Bình, Thành phố Hải Dương) Đền có tên là
Thanh Cương Linh Từ, thờ thành Hoàng Làng là Vũ Hựu, một công thần thời
Lê, người có công trong việc giữ gìn và bảo vệ đất nước Đền Sượt được khởi dựng từ thế kỷ XVI, trên mảnh đất sinh thành, lớn lên và nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng tuổi già của tướng quân Vữ Hựu Đền Sượt có kiến trúc kiểu chữ Công bao gồm tòa tiền tế, trung từ, hậu cung và hai dãy dải vu Đền được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 1 năm 1993
+ Đền thờ Nguyễn Trãi (xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh) Đền được khởi
công xây dựng ngày 14 tháng 12 năm 2000 tại Thanh Hư Động thuộc khu di tích Côn Sơn và được khánh thành vào ngày 22 tháng 9 năm 2012 Đền thờ Nguyễn Trãi được xây dựng mới, đồ sộ nhưng mang đậm dáng dấp cổ, khuôn viên đền rộng gần 10.000m2, nằm trong khu vực Thanh Hư động, bên cạnh suối Côn Sơn Ngôi đền chính có kiến trúc hình chữ công trong chữ hán, 9 gian, 2 dãy giải vu, dựa lưng vào Tổ Sơn, 2 bên là núi An Lạc và núi Ngũ Nhạc, bên phải là suối Côn Sơn Công trình được xây dựng bằng gỗ lim, đá xanh, ngói mũi hài, chạm khắc tinh tế, có giá trị nghệ thuật cao
+ Văn miếu Mao Điền (xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng) Từ giữa thế kỷ
XVIII đến năm 1804, Mao Điền là ly sở của trấn Hải Dương Văn miếu được di rời từ xã Vĩnh Lại, huyện Bình Giang trở về Mao Điền, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng Văn Miếu có quy mô lớn với diện tích 36.000m2, đồng thời là trường học của phủ Thượng Hồng Hiện nay Văn Miếu đã được trùng tu, tôn tạo, các công trình trong Văn Miếu khá hoàn chỉnh, trở thành một danh thắng, một điểm thăm quan hấp dẫn của đồng bào cả nước Văn miếu Mao Điền đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia tháng 1 năm 1992
Trang 38- Loại hình di tích xếp hạng quốc gia chia theo huyện, thành phố:
c Văn hóa phi vật thể
Theo điều tra của Sở văn hóa- Thông tin Hải Dương, vào tháng 6- 2005,
đã tiến hành điều tra văn hóa phi vật thể tại 1411 làng, khu dân cư trên địa bàn tỉnh, kết quả cho biết toàn tỉnh có 891 lễ hội dân gian Hầu hết các lễ hội gắn liền với các di tích phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó, 59 lễ hội tổ chức ở các đền, 197 ở chùa, 566 ở đình, 42 ở miếu, 11 ở nghè, 01 ở động, 02 ở văn chỉ,
Trang 3904 ở nhà thờ, 01 lễ hội công giáo, 03 lễ hội hiện được tổ chức tại nhà văn hóa thôn, xã và 05 lễ hội tổ chức ở nơi khác
Phần lớn các lễ hội của Hải Dương diễn ra vào mùa Xuân, một số lễ hội diễn ra vào mùa Thu, một số lễ hội diễn ra ở cả mùa Xuân và mùa Thu Ngày nay, tùy theo điều kiện cụ thể của từng thôn, làng song thời gian mở hội về cơ bản vẫn được tổ chức đúng về thời điểm nhưng thời gian lễ hội hầu hết được rút ngắn, chỉ tổ chức từ 1- 3 ngày Những năm gần đây lễ hội được tổ chức tại các
di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia hay cấp tỉnh Theo quy mô tổ chức lễ hội
ở Hải Dương có thể phân loại như sau:
- Quy mô quốc gia: lễ hội chùa Côn Sơn và lễ hội đền Kiếp Bạc
- Quy mô vùng (tỉnh): lễ hội đền An Phụ, động Kính Chủ (Kinh Môn) và đền Tranh (Ninh Giang)
- Quy mô khu vực huyện có 20 lễ hội, quy mô khu vực xã xó 130 lễ hội, còn lại là lễ hội với quy mô làng Ngoài ra, lễ hội Công giáo thường được tổ chức tại nhà thờ Kẻ Sặt (huyện Bình Giang) và nhà thờ xứ Hải Dương (thành phố Hải Dương)
Hầu hết các lễ hội ngày nay vẫn lưu giữ được những nghi thức cơ bản, 628 lễ hội có lễ rước bài vị, rước kiệu và tế; 537 lễ hội có biểu diễn văn nghệ; 487 lễ hội có tổ chức các trò chơi dân gian; 157 lễ hội có dâng lễ vật và nhiều lễ hội còn lưu giữ được các tục và trò chơi dân gian đặc sắc
- Phần lễ:
Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu biểu của làng xã đồng bằng Bắc Bộ hình thành và định hình trên cơ sở một nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo: Hội chùa (thờ Phật), Hội đền (thờ Thần), Hội đình (thờ Thành hoàng làng)… thông thường, các lễ thức ( tế lễ, rước, lễ vật dâng thánh…) mang tính phong tục, nghi lễ luôn được thực hiện trong kịch bản các lễ hội xưa
+ Các nghi thức tế lễ
Các nghi thức tế lễ, rước (rước nước, rước văn, rước thánh…) kèm theo lễ vật dâng thánh (gọi chung là lễ thức) vẫn được duy trì từ xưa đến nay, tuy nhiên, ngày nay bị lược bỏ ít nhiều
Trang 40Các nghi lễ chính: tế cáo yết (tế nhập tịch, khai hội), lễ mộc dục (tế bao sái đồ lễ, tắm tượng), rước (rước nước, rước văn, rước thánh), tế chính (tế giữa,
tế sân đình), tế tạ (tế rã đám, tế xuất tịch) vẫn được duy trì, giữ gìn Song tùy nơi, các nghi thức cũng bị tiết giảm, do điều kiện kinh tế, thời gian hoặc do chính ban tổ chức bỏ bớt
Việc rước thánh chỉ diễn ra ở những lễ hội có tổ chức đánh bệt hoặc những năm được mùa lớn (xưa), lễ rước bộ và đánh bệt, nấu rượu Hoàng tửu được tổ chức 5 năm một lần (nay) ở lễ hội đền Sượt, thành phố Hải Dương
- Lễ vật dâng thánh
Sự phong phú của lễ vật dâng thánh xưa thể hiện tín ngưỡng và sắc thái ẩm thực vốn là niềm tự hào riêng trong phong tục tập quán cộng đồng Có những lễ vật dâng thánh hết sức đặc biệt như:
+ Lợn sống cả con, rượu Hoàng tửu, trầu cau, hoa quả cùng cỗ chay, cỗ mặn (lễ hội đền Sượt – thành phố Hải Dương)
+ Lợn sống nguyên con do các giáp nuôi và dâng tế, có nơi tổ chức thi “ Ông lợn” (lễ hội đình Ngọc Uyên – thành phố Hải Dương, đền Gốm – Chí Linh, đình chùa Cậy – Bình Giang, đình Đào Lâm – Thanh Miện, đình Kiên Lao – Km Thành)
+ Lợn nuôi gò: bốn giáp có bốn con lợn sống (được nuôi trong cũi, không cho xuống đất, không để ăn bẩn), mổ thịt moi ruột ra, nhét lá chuối khô vào, gò cho đứng và dội nước sôi cho đến khi chín Gà gò: gà nuôi một năm phải nặng 5kg, cũng luộc bằng cách dội nước sôi cho đến khi chín Xôi lồng: xôi trắng nén trong lồng vuông mỗi chiều dài 40cm, cao khoảng 20cm, gà luộc để đứng bên trên lồng xôi (lễ hội đình Đào Lâm – Thanh Miện)
+ Trâu bò thui cả con đưa vào thánh, lợn cũng được từng giáp chọn người trong giáp nuôi và chăm sóc rất công phu, khi lễ cũng luộc cả con (lễ hội đình chùa Cậy – Bình Giang), thịt lợn sống và thịt trâu sống cả con, xôi, gà, cá, rượu, bánh, hoa quả (lễ hội đình miếu Phạm Xá – Tứ Kỳ)
+ Cỗ chay, cỗ mặn (lễ hội đền Sượt – thành phố Hải Dương, đền Sinh – đền Hóa (Chí Linh), đình Huề Trì, đình Xạ Sơn, chùa Nhẫm Dương (Kinh