Bảng 2.2: Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại Những trị số ghi trong các bảng 1-2-3 được tính theo liều lượng hoạt chất.. Bảng 2.3: Bảng phân loại độ độc của thuốc bảo vệ thực vật
Trang 1MỤC LỤC
Trang
2.1 Tính liều lượng, nồng độ thuốc bảo vệ thực vật
2.2 Xác định tính độc của thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm
2.3 Cách tính hiệu quả của thuốc bảo vệ thực vật
2.4 Cách phối hợp thuốc bảo vệ thực vật
2.5 Chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật
2.6 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
2.7 Xử lý trường hợp nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật
Trang 2BÀI 2: SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
2.1 Tính liều lượng, nồng độ thuốc bảo vệ thực vật
2.1.1 Định nghĩa nồng độ dịch phun: là tỷ lệ % giữa trọng lượng hay thể tích sản phẩm
* Điều chỉnh tốc độ di chuyển máy để đảm bảo trang trải đều và đủ nước:
Khi phun thuốc, có nhiều trường hợp do di chuyển máy phun quá chậm, nên chưaphun hết diện tích cần phun đã hết thuốc; ngược lại khi di chuyển quá nhanh, phun hếtdiện tích lại thừa thuốc Cả hai trường hợp này đều không tốt, hoặc là lượng thuốc phunnhiều (đi chậm) dễ thất thoát nước, gây độc cho môi trường và người sử dụng; hoặc quá ítthuốc (đi nhanh) sẽ không trang trải đều thuốc, dịch hại không tiếp xúc đủ với thuốc, hiệulực của thuốc giảm Vì vậy chúng ta phải xác định được tốc độ phun hợp lý để bảo đảm
có tốc độ di chuyển máy bơm phù hợp, phun vừa hết lượng nước, vừa hết diện tích cầnphun Cách làm:
- Đo lưu lượng máy bơm (lít/phút): đổ nước vào bình phun, bấm giờ và xả nước raxô; sau thời gian đã định, đo lại lượng nước, tính theo lít, chia cho thời gian xả nước
- Đo bề rộng làm việc của máy phun (m): Vòi phun cách tán cây 20cm, bơm khíđến đúng chế độ làm việc, tiến hành phun bình thường Đo chiều rộng của vệt phun
- Xác định tốc độ di chuyển của máy phun:
Trang 3Lưu lượng máy phun (lít/phút) x 10.000 m2Tốc độ di chuyển =
(m/phút) Lượng nước qui định (lít/ha) x bề rộng làm việc máy phun (m)
- Điều chỉnh tốc độ di chuyển máy phun để phun đúng lượng nước:
Chiều dài đoạn đường (m)Thời gian đi hết đoạn =
đường định trước (m) Tốc độ di chuyển của máy phun (m/phút)
2.1.2 Liều lượng - mức tiêu dùng:
Nhiều khi hai khái niệm này lẫn lộn nhau Sự khác nhau cơ bản của hai khái niệmnày là:
Lượng thuốc là lượng thuốc tối thiểu cần thiết đem lại hiệu quả mong muốn Cònmức tiêu dùng là lượng thuốc tối thiểu cần thiết để đem lại hiệu quả mong muốn trên mộtđơn vị diện tích hay thể tích Vì vậy, muốn diệt được dịch hại có hiệu quả phải giữ nguyênđược liều lượng hay mức tiêu dùng
Mức tiêu dùng của sản phẩm được tính theo công thức:
Mức tiêu dùng của sản phẩm (lít/ha) = nồng độ (%) x lượng nước dùng (lít)
Như vậy, nếu biết hai trong ba yếu tố trên ta dễ dàng tính được yếu tố còn lại
Có trường hợp thay đổi công cụ phun thuốc, lượng nước dùng có thể sẽ thay đổi,nhưng mức tiêu dùng không thay đổi Để đảm bảo mức tiêu dùng không thay đổi, chỉ cócách thay đổi nồng độ
Ví dụ: Để phòng trừ sâu rau, người ta cần phun Fastac 5EC ở nồng độ 1/1000 (=0.001) với lượng nước 600 lít/ha Vậy nếu dùng máy bơm động cơ, chỉ cần phun vớilượng nước 300 lít/ha Vậy nồng độ thuốc cho bơm động cơ là bao nhiêu?
Cách tính: Dùng công thức: V1 x C1 = V2 x C2
Trong đó: V1: Lượng nước dùng cho bơm thường
V2 : Lượng nước dùng cho bơm động cơ
C1: Nồng độ dùng cho bơm thường
Trang 4C2: Nồng độ dùng cho bơm động cơSuy từ công thức trên ta có: Nồng độ dùng cho bơm động cơ C2 là :
V1 x C1 C2 = -
Ví dụ: Để trừ sâu hại chè, người ta thường dùng 20gam Padan 95SP cho 1 sào Bắc
bộ Nhưng nếu ta có Padan 50SP, lượng thuốc cần dùng cho 1 sào Bắc bộ là bao nhiêu?
Cách tính: Cũng dùng công thức V1 x C1 = V2 x C2
Trong đó: V1 Khối lượng (g) hay thể tích (ml) của thuốc đang có tài liệu
V2 Khối lượng (g) hay thể tích (ml) của thuốc có hàm lượng cao/thấp hơn
C1 Hàm lượng của thuốc đang có tài liệu
C2 Hàm lượng của thuốc có hàm lượng cao/ thấp hơn
Như vậy lượng thuốc Padan 50SP cần dùng cho 1 sào Bắc bộchè là:
Trang 5Đa số chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp hiện nay là cácchế phẩm ở thể lỏng hoặc ở thể rắn, khi dùng phải hoà với nước Khi pha, cần để chếphẩm phân tán thật đồng đều vào nước Khi phun, thuốc phải được trang trải thật đều trên
bề mặt vật phun
Tính toán chính xác lượng thuốc cần sử dụng trên thửa ruộng định phun, lượngthuốc cần pha cho một bình bơm và cần mang vừa đủ, không dư để tránh lãng phí khôngcần thiết Nếu không rõ, cần hỏi cán bộ kỹ thuật
Để đảm bảo pha đúng nồng độ, cần có công cụ cân đong đo thích hợp (ống đong,cân thuốc, que khuấy, xô pha thuốc)
Rót thuốc cẩn thận để tránh tràn đổ, chỉ cân đong đủ lượng thuốc cần
Không pha thuốc ở gần nơi có trẻ em, nơi chăn thả gia súc và gần kho lương thực,thực phẩm, nguồn nước sinh hoạt Có quần áo bảo hộ
Trong nghiên cứu độc lý, người ta quan tâm đến các liều lượng sau:
Liều lượng ngưỡng: là liều lượng rất nhỏ chất độc tuy đã gây biến đổi có hại cho cơ thểsinh vật, nhưng chưa có biểu hiện các triệu chứng bị hại
Liều lượng độc: là liều lượng nhỏ chất độc đã gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinhvật và các triệu chứng ngộ độc bắt đầu biểu hiện
Liều gây chết: là liều lượng chất độc đã gây cho cơ thể sinh vật những biến đổi sâu sắcđến mức không thể hồi phục, làm chết sinh vật
Để đánh giá tác động của chất độc đến cơ thể sinh vật, hay so sánh độ độc của cácloại thuốc với nhau, người ta còn chia ra:
Liều dưới liều gây chết: là liều lượng chất độc đã phá huỷ những chức năng của cơthể sinh vật, nhưng chưa làm chết sinh vật
Trang 6gây chết cho 50% số cá thể đem thí nghiệm Giá trị LD50 (qua miệng và qua da động vật thínghiệm) được dùng để so sánh độ độc của các chất độc với nhau Giá trị LD50 càng nhỏ,chứng tỏ chất độc đó càng mạnh Giá trị LD50 thay đổi theo loài động vật thí nghiệm và điềukiện thí nghiệm
Bảng 2.2: Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại
Những trị số ghi trong các bảng 1-2-3 được tính theo liều lượng hoạt chất Nhưngvới thuốc bảo vệ thực vật, người ta lại sử dụng các thành phẩm khác nhau Vì vậy, độ độccủa các dạng thuốc thành phẩm rất quan trọng và thường thấp hơn độ độc của hoạt chất
Để xác định giá trị LD50 của thuốc thành phẩm thường phải làm thí nghiệm như xácđịnh trị số LD50 của hoạt chất Nhưng trong trường hợp không thể tiến hành làm thínghiệm, FAO đã đưa ra một công thức tính tạm chấp nhận độ độc trung bình của một thànhphẩm đơn cũng như hỗn hợp như sau:
Trong đó: T = LD50 qua da /miệng của hoạt chất
C = Tỷ lệ a.i có trong sản phẩm
Tm = LD50 qua da /miệng của thuốc hỗn hợp
A,B,Z = Tên hoạt chất
Trang 7Lưu ý: Hai công thức này đều mang tính tương đối vì không cho biết độ độc theo dạng
và đặc biệt với thuốc hỗn hợp, có trường hợp độ độc của thuốc không giảm mà còn tăng hơn
Bảng 2.3: Bảng phân loại độ độc của thuốc bảo vệ thực vật
Để so sánh độ độc của các loại thuốc, người ta còn dùng các chỉ tiêu khác như:
Nồng độ gây chết trung bình (medium lethal concentrate - LC50): là nồng độ gâychết cho một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, trong một thời gian xác định.LC50 được tính bằng mg/l, g/m3 hay ppm Đại lượng này thường dùng khi không thể xácđịnh được liều lượng chính xác và thường được thử với các động vật sống trong nước
Thời gian gây chết trung bình (medium lethal time - LT50): là thời gian gây chết chomột nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, tại nồng độ hay liều lượng nhất định LT50được tính bằng giây, phút, giờ Trị số này thường được dùng thử nghiệm với động vật thuỷsinh hay khử trùng
Thời gian quật ngã trung bình (medium knock - out time - KT50): là thời gianquật ngã cho một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, tại nồng độ hay liều lượng nhấtđịnh LT50 được tính bằng giây, phút, giờ
Liều quật ngã trung bình (medium knock-out dose - KD50): là liều lượng chất độc quậtngã một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm Được tính bằng µg/g hay mg/kg Cụm
từ “quật ngã” ở đây được hiểu là số cá thể bị ngất hay bị chết
Liều hiệu quả trung bình (effective dose - ED50): Dùng đánh giá các thuốc không trực
Trang 8tiếp giết sinh vật (điều hoà sinh trưởng hay triệt sản), nhưng tác động đến giai đoạn pháttriển kế tiếp, sự mắn đẻ, tỷ lệ (%) trứng nở
2.1.4 Cách đọc nhãn thuốc
a Định nghĩa nhãn thuốc: Nhãn thuốc là bản viết, bản in, hình vẽ, ảnh, dấu hiệu được in
chìm, nổi trực tiếp hay được dán, đính, cài chắc chắn trên bao bì để cung cấp các thông tincần thiết chủ yếu về hàng hoá đó
Nội dung và hình thức của các nhãn thuốc bảo vệ thực vật đều phải tuân theo nhữngquy định cụ thể của cơ quan chức năng có thẩm quyền
Mục đích của việc đọc kỹ nhãn thuốc trước khi dùng: Để người tiêu dùng hiểu biết kỹ
về loại thuốc mình định sử dụng, biết cách dùng thuốc sao cho hiệu quả và an toàn
b Nội dung của nhãn thuốc (có 1 - 2 hay 3 cột ): gồm những phần chính sau:
- Phần giới thiệu chung gồm:
+ Phân loại và ký hiệu độ độc:
Độ độc của thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam được qui định bằng các chữ và ký hiệusau:
Nhóm I: Chữ “Rất độc” màu đen, phía trên, vạch màu đỏ, biểu tượng “đầu lâuxương chéo” trong hình thoi vuông (đen trên nền trắng)
Nhóm II: Chữ “độc cao” màu đen, phía trên, vạch màu vàng, biểu tượng Chữ thậpchéo đen trong hình thoi vuông (đen trên nền trắng)
Nhóm III: Chữ “Nguy hiểm” màu đen, phía trên.Vạch xanh nước biển, biểu tượng
là đường chéo hình thoi vuông không liền nét
Nhóm IV: Chữ “Cẩn thận” màu đen, vạch màu xanh lá cây, không có biểu tượng Giữa hai nhóm III và IV nhiều khi không có sự phân biệt Trong trường hợp này,người ta lấy những ký hiệu của nhóm III thay cho cả 2 nhóm
Để dễ ước lượng khả năng gây độc của mỗi nhóm thuốc ta hình dung như sau:
Rất độc: nuốt nhầm vài giọt, hay ăn một nhúm nhỏ (5ml hay 5g)
Độc cao: nuốt 1-2 thìa cà phê( 5-10ml hay 5-10g thuốc bột)
Độc trung bình: > 2 thìa cà phê hay 2 thìa canh
Độc nhẹ: ăn với lượng lớn ( 30-500g hay ml)
- Tên thuốc: Gồm 3 phần: Tên hoá học hay tên thông dụng của hoạt chất; hàm lượng
chất độc biểu thị bằng con số (một hay 2 con số: tính tỷ lệ % trọng lượng/trọng lượng và theo
3 con số: tính theo trọng lượng hoạt chất/ thể tích (w/v) và dạng thuốc (biểu thị bằng chữ cái
đi kèm, sau các chữ số)
Trang 9Tên hoá học (Chemical name): Là tên gọi theo qui tắc cấu trúc hoá học của các phân
tử hoạt chất được sử dụng làm thuốc bảo vệ thực vật Có thể có nhiều tên hoá học, tuỳ theo
cơ quan đặt tên và người ta thường ghi cơ quan đặt tên gọi đó Tên hoá học thường dài, khónhớ, ít được người bán và người sử dụng quan tâm
Tên thông dụng (Common name): Do tên hoá học thường dài, khó nhớ, nên nhàsáng chế thường đề nghị một tên ngắn gọn, dễ nhớ để gọi hoạt chất đó Tên này phải được một
tổ chức tiêu chuẩn quốc tế hay quốc gia công nhận để sử dụng trên toàn thế giới Mỗi hoạtchất có thể có 1 hay vài tên thông dụng tuỳ theo tổ chức tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế đặttên
Tên thương mại (Trade name) = Tên thương phẩm (Product name) = Tên riêng(Private name) = Tên nhãn (/Labele name): Tên của các nhà sản xuất, công ty kinh doanhthuốc bảo vệ thực vật đặt ra nhằm phân biệt sản phẩm của các cơ sở với nhau Đây là điềubắt buộc Một tên thông dụng có nhiều tên thương mại Do mỗi công ty có cách gia côngriêng, thành phần phụ gia khác nhau, nên cùng hàm lượng hoạt chất, cùng dạng, nhưng chấtlượng của thuốc có không như nhau Gọi một tên thương mại, người ta hiểu ngay đó là sảnphẩm của công ty nào
Trên nhãn thuốc thường có Tên thông dụng và Tên thương mại để giúp người đọcnhận biết thuốc đó là gì, do ai sản xuất
- Dạng thuốc:
- Thành phần và Hàm lượng: hàm lượng của hoạt chất và phụ gia Nếu chỉ là các phụgia thông dụng thì không cần ghi cụ thể Hàm lượng hoạt chất và phụ gia được tính theo tỷ lệphần trăm trọng lượng hay trọng lượng hoạt chất (g) trên một đơn vị thể tích
- Công dụng: Giới thiệu khái quát những công dụng của thuốc
- Định lượng hàng hoá: được ghi bằng trọng lượng tịnh và thể tích thực của bao gói
- Nguồn gốc: Tên địa chỉ nơi sản xuất, gia công, nhà phân phối
- Thời hạn: Ngày tháng sản xuất và thời hạn sử dụng
- Các hình vẽ biểu thị đặc tính hoá lý dễ gây nguy hiểm cần lưu ý trong vận chuyển,cất giữ, sử dụng (nếu có)
- Phần hướng dẫn sử dụng: Thuốc phòng trừ được loại dịch bệnh hại nào: Nồng độ, lượng dùng cho một đơn vị diện tích, thời điểm dùng, cách pha thuốc, lượng nước, cách bảo quản thuốc
Lưu ý: Trong phần này chỉ được ghi cách hướng dẫn phòng trừ những đối tượng đã được đăng ký với nhà nước Với những đối tượng khác, tuy thuốc có khả năng phòng trừ, nhưng nếu chưa đăng ký, cũng không được ghi vào
Trang 10Thời gian cách ly (Pre-havest interval-PHI): Chỉ số ngày tối thiểu kể từ lần phuncuối cùng đến khi thu sản phẩm đặc biệt có ý nghĩa trên rau, quả ăn tươi, chè
Lưu ý: căn dặn những điều nên tránh và những điểm cần chú ý khi sử dụng
- Phần hướng dẫn các biện pháp an toàn trong và sau khi sử dụng thuốc
- Chỉ dẫn cách phòng tránh nhiễm độc; các hình tượng cảnh báo; chỉ dẫn sơ cấp cứukhi ngộ độc, các công cụ bảo hộ cần có khi tiếp xúc với thuốc
- Các hình vẽ yêu cầu khi tiếp xúc với thuốc: Chia làm 2 nhóm:
Bảng 2.4: Yêu cầu khi tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật
2.2 Xác định tính độc của thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm
Trang 11kích thước, tuổi, thời gian sinh trưởng Thường để đảm bảo yêu cầu này, người ta phảinhân giống sâu, bệnh, cỏ dại trong phòng thí nghiệm.
- Dụng cụ thí nghiệm: phải đảm bảo độ chính xác, các dụng cụ phun thuốc phải cókhả năng trải một lượng thuốc đã định đều khắp trên bề mặt vật phun
- Điều kiện môi trường phải đồng nhất và ổn định trong suốt quá trình thí nghiệm
- Bố trí thí nghiệm: phải có đối chứng để so sánh kết quả với các nghiệm thức dùngthuốc Có trường hợp còn so sánh tính độc của một loại thuốc mới với những loại thuốcthông dụng hay một thuốc chuẩn Các nghiệm thức phải có ít nhất 3 lần lặp lại (thường từ3-5 lần lặp lại) Có thể quan sát và mô tả thêm triệu chứng ngộ độc của dịch hại
2.2.2 Phương pháp xác định tính độc của thuốc trừ sâu
a Phương pháp xác định tính độc vị độc:
Phương pháp làm khoanh lá tẩm thuốc
- Đối tượng thử nghiệm: các loại côn trùng nhai gặm
+ Cho vào các đĩa petri một số lượng nhất định sâu và khoanh lá đã tẩm thuốc, mỗiđĩa thường chứa khoảng 25 con sâu và vài chục khoanh lá, sắp xếp theo từng nghiệm thứcriêng biệt
+ Đưa tất cả các đĩa Petri trên vào phòng có nhiệt độ, ẩm độ ổn định
+ Quan sát số sâu sống, chết, lượng lá bị sâu ăn sau một thời gian nhất định Nếusâu không ăn hết các bánh lá, có thể đặt những mẫu bánh lá sâu ăn còn thừa lên một tờ
Trang 12giấy kẻ li, từ đó tính ra lượng thuốc sâu đã ăn Có thể cân trọng lượng từng con sâu riêng
rẽ trước và sau khi ăn bánh nhân độc để tính ra lượng thuốc gây chết sâu
Ngoài ra có thể sử dụng một số phương pháp khác như: nhỏ một lượng thuốc nhấtđịnh vào miệng sâu, cho sâu hút bả độc ở dạng lỏng (đối với sâu chích hút, liếm hút)
b Phương pháp xác định tính độc tiếp xúc của thuốc
Để xác định tính độc tiếp xúc của thuốc trừ sâu, có thể dùng các phương pháp sau:
- Phun bột, phun lỏng trực tiếp lên mình sâu
- Nhúng sâu vào dung dịch thuốc lỏng
- Cho sâu tiếp xúc với thuốc trên giấy lọc, trên kính, nhỏ thuốc lên cơ thể sâu
Phương pháp phun thuốc bột hay lỏng lên mình sâu: cho sâu thí nghiệm vào các
lồng hoặc chậu nhỏ có nắp lưới, đặt các lồng này vào thùng phun thuốc, phun cho thuốcbao phủ đều khắp cả lồng, chậu lẫn sâu hại Sau 1giờ, chuyển sâu sang lồng hoặc chậusạch, cho sâu ăn và ghi nhận số sâu sống, chết sau từng khoảng thời gian nhất định
Phương pháp ngâm: cho sâu vào những túi vải mùng, nhúng ngập vào dung dịch
thuốc trong 2-3 phút rồi nhấc lên, đặt lên giấy lọc để thấm bớt thuốc, sau đó chuyển sanghộp nuôi sâu có thức ăn và quan sát tình trạng ngộ độc của sâu Ở đối chứng thay dungdịch thuốc bằng nước lã Ở một số phòng thí nghiệm người ta dùng dụng cụ do Mc Intoshthiết kế để ngâm sâu được đều và nhanh
Phương pháp nhỏ thuốc lên cơ thể sâu: dùng thuốc ở dạng lỏng cho vào ống tiêm
có gắn với máy nhỏ giọt vi lượng rồi nhỏ thuốc lên mảnh lưng ngực hoặc vào bụng củatừng cá thể côn trùng Phương pháp này phải xử lý từng con một, tốn nhiều thời gian Nếuđối tượng thử thuốc là côn trùng hay bay nhảy, có thể đặt chúng vào tủ lạnh một thời giantrước khi thử thuốc
c Phương pháp xác định tính độc của thuốc trừ sâu nội hấp
Gieo hạt giống cây cần thử nghiệm (đậu, lúa…) trong những chậu nhỏ có kíchthước bằng nhau, chứa một lượng đất bằng nhau Khi cây có 2-3 lá thật thì có thể cấy rệphoặc nhện đỏ vào từng cây, vài ngày sau đã có rệp non trên cây, diệt những con quá lớnhoặc quá nhỏ, mỗi cây chỉ giữ lại khoảng 25-30 con tương đối đồng đều Pha thuốc theonồng độ đã định và tưới vào mỗi chậu một lượng nước thuốc bằng nhau
Trường hợp loại thuốc thử nghiệm ngoài tác động nội hấp còn có tác động xônghơi, nếu muốn loại trừ tác động xông hơi của thuốc, có thể đặt chậu thí nghiệm vào nhữngthùng gỗ che kín chậu đất, chỉ để hở cây ra ngoài, trong thùng gỗ có bố trí máy hút để hơithuốc độc không bốc lên phía trên Người ta có thể dùng phương pháp đổ thuốc vào dungdịch dinh dưỡng và trồng cây trên đó
Trang 13d Phương pháp xác định tính độc của tính xông hơi
Dùng một bình thủy tinh có dung tích khoảng 20 lít, miệng đậy nút cao su thật khítvới thành bình, giữa nút cao su có hai ống thủy tinh có khóa xuyên qua Cho sâu vào cácống nghiệm hai đầu bịt lưới thép, đặt vào trong bình rồi đậy nút cao su lại Mở khóa A vàdùng bơm hút bớt không khí trong bình ra Sau đó đóng khóa A lại và mở khóa B để đổthuốc vào trong bình Cuối cùng đóng khóa B lại để ngăn hơi độc thoát ra khỏi bình Nếuthuốc ở thể rắn, có thể mở nút cao su cho thuốc vào
2.2.3 Phương pháp xác định tính độc của thuốc trừ nấm
Tính độc của thuốc trừ nấm biểu hiện qua khả năng ức chế sự nẩy mầm của bào tử
và khả năng ức chế sự phát triển của khuẩn lạc Thí nghiệm của thuốc trừ nấm thườnggồm các bước: thu thập nguồn nấm, vi khuẩn đem về phòng thí nghiệm nuôi cấy, táchròng, nhân mật số và đem thử nghiệm Quá trình thử thuốc thường phải tiến hành trongphòng kín và vô trùng, sau đây là một số phương pháp thường dùng:
a Phương pháp thử khả năng ức chế sự nẩy mầm của bào tử
- Dùng kim khều để lấy bào tử nấm đem hòa vào nước cất đựng trong bình tamgiác, lấy một giọt dung dịch bào tử cho lên một lam kính để vào kính hiển vi và đếm mậtsố
- Pha thuốc ở những nồng độ khác nhau, cho vào mỗi ống nghiệm dung dịch bào tử
và dung dịch thuốc theo tỉ lệ thể tích là 1:1, khuấy thật đều rồi lấy từ hỗn hợp đó ra 1-2giọt nhỏ lên một tấm lam lõm Đặt lam vào một cốc thủy tinh, bên dưới có nước, bên trênđậy bằng một cốc thủy tinh nhỏ hơn, có lót giấy hút ẩm ở bên trong nhằm tạo môi trường
có ẩm độ cao Sau một thời gian nhất định (vài giờ đến vài ngày) lấy lam ra, nhỏ thêm vàomột giọt lactophenol rồi đưa lên kính hiển vi quan sát 100- 200 bào tử, ghi chép số nẩymầm và đo chiều dài mầm bào tử
b Phương pháp thử trên môi trường thạch agar
Nấm và vi khuẩn thử nghiệm được nuôi cấy trên môi trường thạch một thời giannhất định Khi đem thử thuốc, môi trường chứa nấm hoặc vi khuẩn được cắt thành nhữngkhoanh nhỏ đường kính 8cm để cấp lên môi trường có chứa thuốc ở nồng độ cần trắcnghiệm Đổ môi trường đã trộn thuốc vào các đĩa Petri, để nguội và cấy nấm hoặc vikhuẩn lên bề mặt môi trường, đem để các đĩa Petri này vào tủ úm hoặc trong phòng kín cónhiệt độ ổn định Quan sát sự phát triển của khuẩn ty, ghi nhận đường kính của khuẩn tysau một khoảng thời gian nhất định (24 giờ, 48 giờ, …) và so sánh với đối chứng
Cũng có thể thử nghiệm bằng cách cắt khoanh giấy lọc tẩm thuốc lên môi trườngthạch agar có chứa nấm và vi khuẩn Quan sát khả năng ức chế phát triển của vòng vô
Trang 14khuẩn, ghi nhận bán kính hình vành khăn vòng vô khuẩn sau một khoảng thời gian nhấtđịnh (24 giờ, 48 giờ, …) và so sánh với đối chứng.
2.2.4 Phương pháp xác định tính độc của thuốc trừ cỏ
Có nhiều phương pháp để đánh giá hoạt tính của thuốc trừ cỏ
a Trồng cỏ trong chậu đất, cho vào thùng phun thuốc bột hay thuốc lỏng, phunlượng thuốc qui định, hoặc tưới thuốc vào gốc như phương pháp trắc nghiệm thuốc nộihấp rồi quan sát tác dụng của thuốc đến sinh trưởng và phát triển của thực vật
b Lấy cát thạch anh, rửa sạch bằng axit HCl, trải một lớp đều trên đáy đĩa Petri(đường kính khoảng 10 cm), phía trên lớp cát đặt một miếng giấy lọc, sau đó tưới nướccất vào cho giấy lọc và cát ẩm đều Đặt đĩa Petri đó vào thùng phun thuốc lỏng và thuốctrừ cỏ lên mặt giấy Tiếp theo gieo hạt cỏ lên giấy lọc đã phun thuốc Nếu hạt nhỏ (đườngkính 1 – 1,5 mm), mỗi hộp gieo khoảng 30 – 40 hạt, hạt trung bình (đường kính 2 – 4mm), mỗi hộp gieo khoảng 20 – 25 hạt, hạt lớn (đường kính 5 – 6 mm), mỗi hộp gieokhoảng 10 hạt Đối chứng phun nước cất thay cho thuốc
Ngoài ra, còn có thể xác định hoạt tính diệt cỏ bằng cách dùng môi trường chứa:5g MgSO4; 5g K2HPO4; 1g Ca3(PO4)2; 0,2g FeSO4; 5 lít nước cất và 40g thạch agar Đổvào một hộp đĩa Petri 50ml môi trường trên và 2 – 3 ml nước thuốc trừ cỏ định thửnghiệm ở các nồng độ khác nhau và trộn đều vào môi trường thạch Khi môi trường thạch
đã đông lại thì gieo hạt lên trên Chỉ tiêu ghi nhận: tỉ lệ hạt mọc, tỉ lệ cây chết, chiều dài
rễ, mầm, trọng lượng cây con
2.3 Cách tính hiệu quả của thuốc bảo vệ thực vật
2.3.1 Xác định hiệu quả của việc dùng thuốc trừ dịch hại
Khi phân tích hiệu quả của việc dùng một loại thuốc trừ dịch hại nào đó, người tathường phân biệt: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và hiệu quả tăng sản của việc dùngthuốc
- Hiệu quả kỹ thuật thường được biểu thị bằng phần trăm dịch hại bị thuốc diệthoặc ức chế, thời gian có hiệu lực của thuốc, hoặc mức độ làm giảm thiệt hại do dịch gây
ra cho cây trồng Nói chung một loại thuốc có độ độc càng cao thì hiệu quả kỹ thuật càngcao Tuy nhiên hiệu quả của thuốc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (độ bám dính, tỷtrọng… của thuốc), điều kiện môi trường (gió, mưa…)
- Hiệu quả tăng sản được xác định bằng số lượng và chất lượng nông sản tăng lênkhi dùng thuốc so với đối chứng Hiệu quả tăng sản có liên quan mật thiết với hiệu quả kỹthuật theo tỷ lệ thuận Tuy nhiên nếu một loại thuốc có hiệu lực trừ dịch hại cao nhưng cóảnh hưởng xấu đến cây trồng hay côn trùng thụ phấn cho cây… thì không đem lại hiệu
Trang 15quả tăng sản Ngược lại, có thể có loại thuốc chỉ có hiệu quả kỹ thuật vừa phải nhưng cótác dụng kích thích cây trồng thì làm cho năng suất và phẩm chất nông sản tăng lên nhiều.
- Hiệu quả kinh tế được tính bằng cách so sánh chi phí dùng thuốc (tiền thuốc, tiềncông phun thuốc, tiền khấu hao thiết bị…) với sự tăng thu nhập do hiệu quả tăng sản đemlại Hiệu quả tăng sản càng cao, chi phí dùng thuốc càng thấp (thuốc rẽ, máy móc tốt, cócông suất cao…) thì hiệu quả kinh tế càng cao
Hiệu quả kinh tế được biểu thị bằng hiệu quả biên tế (MRR = Marginal Rate ofReturn)
Mức tăng trọng lợi nhuận
Mức tăng chi phíMức tăng trọng lợi nhuận: Tổng thu ở lô có xử lý thuốc – Tổng thu ở lô kiểmchứng
Mức tăng chi phí: Tổng chi phí ở lô có xử lý thuốc - Tổng chi phí ở lô kiểm chứng
2.3.2 Các phương pháp tính toán tính hiệu quả dùng thuốc
Trong các thí nghiệm xác định và hiệu lực của thuốc trừ dịch hại trong phòng thínghiệm cũng như trên đồng ruộng, ở thí nghiệm đối chứng một số dịch hại vẫn bị chếtmặc dù không tiếp xúc với thuốc Hiện tượng này có thể do sâu hại bị bệnh, bị ký sinh, dođiều kiện ngoại cảnh không phù hợp Từ đó ta có thể thấy rằng số dịch hại bị chết ởnghiệm thức có xử lý thuốc không phải hoàn toàn chỉ do tác dụng của thuốc mà còn donhiều yếu tố khác Số lượng dịch hại ở các lô đối chứng đôi khi không giảm mà lại còntăng lên do dịch hại ở nơi khác đến, dịch hại sinh sôi phát triển thêm…
Do những hiện tượng trên, phải chỉnh lý lại kết quả thí nghiệm khảo sát thuốc trừdịch hại, cả trong phòng thí nghiệm lẫn ngoài đồng để có được những đánh giá đúng đắnhơn về hiệu quả của thuốc đối với dịch hại Hiệu quả kỹ thuật của thuốc thường đượcđánh giá qua độ hữu hiệu:
a Độ hữu hiệu của thuốc trừ sâu:
- Công thức Abbott
C - T
Độ hữu hiệu (%) = x 100
CC: tỷ lệ % sâu sống ở nghiệm thức đối chứng
Trang 16T: tỷ lệ % sâu sống ở nghiệm thức có xử lý thuốc
Ngoài ra còn có một số công thức khác cũng có thể dùng để tính độ hữu hiệu c ủathuốc, các công thức này nhìn chung đều thu được kết quả tính toán tương tự như côngthức Abbott
- Công thức Schneider – Orelli
Độ hữu hiệu (%) = x 100
100 - Kb: tỷ lệ % sâu chết ở công thức xử lý thuốc
K: tỷ lệ % sâu chết ở công thức đối chứng
Các công thức trên cũng được dùng cho thí nghiệm trên đồng ruộng dưới dạng:
% bị hại ở ĐC - % bị hại NT xử lý thuốc
% bị hại ở đối chứngKhi áp dụng công thức Abbott hay công thức Schneider – Orelli chỉ cần lấy chỉtiêu một lần sau khi xử lý thuốc, và trong lần quan sát này phải quan sát được cả số sâuhay cỏ dại sống lẫn với số sâu, cỏ chết, hoặc một số lá bị hại lẫn không bị hại Trongnhững thí nghiệm nếu chỉ quan sát được số cá thể sống và có thể quan sát được hai lần:trước và sau khi làm thí nghiệm, có thể áp dụng một trong ba công thức sau đây để tính
độ hữu hiệu của thuốc:
(Ab – Ba)
Độ hữu hiệu (%) = x 100
AbA: số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc trước khi thí nghiệm
b: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng sau khi thí nghiệm
B: số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc sau khi thí nghiệm
a: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng trước khi thí nghiệm
- Công thức Henderson – Tilton
Ta x Cb
Độ hữu hiệu (%) = (1 - ) x 100
Trang 17Tb x CaTa: số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc sau khi thí nghiệm
Tb: số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc trước khi thí nghiệm
Ca: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng sau khi thí nghiệm
Cb: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng trước khi thí nghiệm
- Công thức Sun – Shepard
m2: số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc sau khi thí nghiệm
n1: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng trước khi thí nghiệm
n2: số cá thể sống ở nghiệm thức đối chứng sau khi thí nghiệm
Ba công thức trên đưa lại những kết quả tính toán giống nhau vì thực ra đó là badạng khác nhau của một công thức
Ngoài ra các công thức trên, Swingle và Snapp còn đưa ra một công thức áp dụngtrong những thí nghiệm quan sát được cả số cá thể sống và số cá thể chết trước và sau khithí nghiệm
(ax – z)
Độ hữu hiệu (%) = x 100
Ax % cá thể sống ở đối chứng sau khi thí nghiệm
a =
% cá thể sống ở đối chứng trước khi thí nghiệm
x: % số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc trước khi thí nghiệm
z: % số cá thể sống ở nghiệm thức phun thuốc sau khi thí nghiệm
Trang 18b Chỉ tiêu đánh giá thuốc trừ nấm
Đối với thuốc trừ nấm, có hai chỉ tiêu thường được áp dụng để biểu thị hiệu lựccủa thuốc là: tỷ lệ bệnh (tiêu biểu cho mức độ phổ biến của bệnh) và chỉ số bệnh (tiêubiểu cho mức độ bệnh nặng hay nhẹ)
c Chỉ tiêu đánh giá thuốc trừ cỏ
Để đánh giá hiệu lực của thuốc trừ cỏ, thường dựa trên hai chỉ tiêu là số cây cỏ vàtrọng lượng cỏ dại các điểm lấy chỉ tiêu trong lô thí nghiệm
2.4 Cách phối hợp thuốc bảo vệ thực vật
Là pha chung 2 hoặc nhiều loại thuốc trong một bình phun Mục đích và lợi íchcủa việc dùng hỗn hợp thuốc là:
- Để tăng hiệu lực phòng trừ: mỗi loại thuốc có đặc tính riêng, do đó có ưu, nhược
điểm riêng Khi pha chung, tác dụng của các loại thuốc sẽ bổ sung cho nhau để có mộthỗn hợp thuốc mang nhiều ưu điểm hơn, hiệu quả phòng trừ sẽ cao hơn khi dùng riêng lẻ
Trang 19Pha chung một thuốc tiếp xúc với thuốc nội hấp sẽ có một hỗn hợp thuốc vừa có tác độngtiếp xúc, vừa có tác động nội hấp (thuốc trừ sâu nhóm pyrethroid có tác động tiếp xúcmạnh thường pha chung với thuốc nhóm lân hữu cơ có tác động vị độc, nội hấp mạnh).Pha chung thuốc có hiệu lực nhanh nhưng mau giảm với thuốc có hiệu lực chậm nhưngkéo dài để có một hỗn hợp thuốc hiệu lực vừa nhanh vừa kéo dài (pha chung thuốc trừ rầyApplaud với thuốc Bassa).
- Để mở rộng phổ tác dụng: pha chung thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh để có một
hỗn hợp thuốc phun 1 lần diệt được cả sâu và bệnh Pha chung thuốc trừ cỏ hòa bản vớithuốc trừ cỏ lá rộng để diệt được nhiều loại cỏ cùng một lúc
- Giảm được số lần phun thuốc
Để đạt mục đích trên, khi pha thuốc hỗn hợp cần chú y:
- Chỉ nên pha chung những loại thuốc có thể bổ sung hiệu lực cho nhau và mở rộngđược phổ tác dụng
- Hiện tại hầu hết các loại thuốc bảo vệ thực vật đều có thể pha chung được vớinhau nhưng cũng có một số thuốc không pha chung được như thuốc trừ bệnh câyBordeaux có tính kiềm cao, không pha chung với các thuốc trừ sâu bệnh khác Thuốc trừsâu vi sinh như thuốc Bt không pha chung với thuốc kháng sinh trừ bệnh như Kasumin
- Về nồng độ các thuốc pha chung: nếu pha chung 2 loại thuốc để trừ 2 nhóm đốitượng khác nhau (thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh) thì phải đảm bảo nồng độ mỗi loạithuốc như khi dùng riêng Thí dụ thuốc trừ sâu Fenbis 25EC dùng riêng phải pha20ml/bình 8 lít, thuốc trừ bệnh Bumper 25EC dùng riêng phải pha 8ml/8 lít Muốn phachung Fenbis với Bumper để vừa trừ bọ xít dài, vừa trừ bệnh lem lép hạt cho lúa thì trongmột bình 8 lít nước phải pha đủ 20ml Fenbis và 8ml Bumper
Nếu pha chung 2 loại thuốc để cùng trừ một đối tượng là sâu hoặc bệnh thì có thểgiảm nồng độ 1 hoặc cả 2 loại thuốc (tối đa có thể giảm 50% mỗi loại) Lượng nước phunphải đủ yêu cầu
- Thuốc sau khi pha chung xong phải dùng ngay để tránh gây phản ứng phân hủynhau
- Hầu hết thuốc bảo vệ thực vật hiện nay đều có thể pha chung với phân bón cho lá
và cũng phải phun ngay
- Riêng thuốc trừ cỏ (nhất là các thuốc trừ cỏ cho ruộng lúa hiện nay) không đượcpha chung với nhau hoặc với thuốc trừ sâu bệnh nếu không được hướng dẫn trên nhãnthuốc
Trang 20Các nhà sản xuất đã nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều loại thuốc đã hỗn hợpsẳn Ngoài việc đạt yêu cầu bổ sung hiệu lực và mở rộng phổ tác dụng, còn phải xem xétkhả năng phản ứng của các hoạt chất ít nhất sau 2 năm hỗn hợp, nếu không xảy ra phảnứng gì và vẫn đảm bảo hiệu quả trừ dịch hại thì mới được phép đăng ký sử dụng.
2.5 Các dạng chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật
Các chế phẩm dùng trong bảo vệ thực vật chứa 2 thành phần chủ yếu là hoạt chất
và chất phụ gia Thành phần chủ yếu của thuốc là hoạt chất (chất hoạt động) đó là thành
phần mang hoạt tính trừ dịch hại Trong sản xuất công nghiệp, các hoạt chất thường có lẫnmột ít tạp chất, được gọi là thuốc kỹ thuật hay thuốc ở dạng kỹ nghệ Người ta ít khi sửdụng hoạt chất ở dạng nguyên chất mà thường gia công để tạo thành các chế phẩm khácnhau bằng cách trộn thêm vào các chất phụ gia như chất độn, chất nhũ hóa Các chấtphụ gia sẽ giúp cho việc pha chế, chuyên chở, bảo quản và sử dụng được thuận tiện hơn,hữu hiệu hơn
Dạng bột, bột thấm nước, hạt, dung dịch nước hoà tan và sữa dầu khoáng hoà tantrong nước là các dạng thuốc bảo vệ thực vật được gia công sớm nhất Hiện nay, sự phát triểncác thuốc bảo vệ thực vật cần nhiều dạng gia công, chất phù trợ và quá trình kỹ thuật để cảithiện đặc tính lý hoá của các hoạt chất Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, nhiều dạng gia côngphức tạp trên cơ sở có nhiều chất hoạt động bề mặt hơn và các chất phù trợ khác; sự hiểu biếttốt hơn về nguyên tắc của chất keo và hoá học bề mặt đã cải thiện tốt hơn độ bền của các dạnggia công và hoạt tính sinh học đã được phát triển Trình độ kỹ thuật phát triển đã cho phéptạo ra các sản phẩm mới của các hoạt chất không tan trong nước và dung môi có kích thướchạt nhỏ hơn, có độ bền và phạm vi hoạt động rộng hơn Nhiều dạng sản phẩm lý tưởng rađời: hầu như là không có dung môi dễ bay hơi, không gây độc cho người sử dụng, có hoạttính sinh học tối đa ở liều thấp nhất và đơn giản nhất trong quá trình đóng gói Các dạng sảnphẩm sau đây đang được quan tâm đặc biệt:
Dạng huyền phù đậm đặc Suspension concentrates
Dạng hỗn hợp sữa - huyền phù Suspoemusions
Phát triển các dạng thuốc sữa đặc biệt: Sữa dầu trong nước Emulsion oil in water(EW); sữa nước trong dầu Emulsion water in oil (EO); vi sữa Microemulsion (ME) Dạngviên nang nhỏ Microencapsulations Các khả năng khác như đóng gói đặc biệt là gel và cácviên sủi bọt
2.5.1 Các dạng thuốc bảo vệ thực vật thông dụng
a Những dạng thuốc dùng ngay không cần hoà với nước
Dạng bột (Dust -D, DP):
Trang 21Dạng rắn, không tan trong nước, kích thước hạt < 44 µm, chứa hàm lượng hoạt chấtthấp (5-10%), có tỷ trọng 0.3 - 0.8 là tốt ( tỷ trọng thuốc < 0.3, thuốc quá nhẹ, dễ bị giócuốn đi xa; tỷ trọng thuốc > 0.8 hạt thuốc dễ rơi xuống đất khi phun lên cây) Thuốc thườngđược dùng để phun lên cây, bón vào đất hoặc xử lý giống
Kích thước hạt được qui định bởi lỗ sàng/inch Kích thước một loại thuốc được đánhgiá khi >90% số hạt đi qua lỗ sàng và <10% số hạt nằm lại trên sàng
Dạng bột có ưu điểm: Thuốc dễ dùng, hiệu quả cao
Nhưng thuốc bột có nhiều nhược điểm: Hiệu quả của thuốc phụ thuộc nhiều vào điềukiện thời tiết (gió to, thuốc bị gió cuốn đi xa; mưa dễ làm trôi mất thuốc) và dễ gây ônhiễm môi trường, nên ngày nay, thuốc này ít được dùng để phun trên ruộng
Lưu ý: Các thuốc trừ cỏ không được gia công ở dạng này (do dễ gây hại cho các câytrồng xung quanh)
Thuốc hạt an toàn, sử dụng đơn giản, hiệu lực dài, hiệu quả lao động cao và ít gây hạicho sinh vật có ích và cây trồng, ít gây ô nhiễm môi trường
Nhược điểm chính làm cho thuốc hạt khó được người tiêu dùng và mạng lưới cungứng Việt Nam chấp nhận là mức tiêu dùng của hoạt chất/đơn vị diện tích cao, phải chuyênchở với lượng lớn, dễ bốc mùi khi bảo quản và lưu thông, lãi ít
Dạng bột - hạt ( Dust-granule): Là dạng trung gian của dạng thuốc bột và hạt Kích
thước hạt 44-297µm Được chia làm 2 loại: bột thô (coarse dust) có cỡ hạt 44-105µm;
Trang 22bột hạt min có cỡ hạt 105 - 297µm Thuốc bột hạt cũng dùng để phun lên cây hay rắc vàođất Thuốc bột hạt có tác dụng giảm lượng thuốc bị gió cuốn, ít gây ô nhiễm môi trường, bámdính tốt trên lá và cơ thể dịch hại
Dạng bột cải tiến = Thuốc bột dễ bay hơi ( Flo-dust- GP): Thuốc bột rất mịn, là
dạng thuốc chuyên dùng để xông hơi trong nhà kính Đây là dạng sol bột, dùng silicagel làmchất làm loãng dễ bay hơi làm chất đẩy Chúng được bán dưới dạng các bình nhỏ để diệt côntrùng trong nhà kính và trong kẽ nứt Dạng thuốc này có hàm lượng hoạt chất thấp, kỹ thuậtbảo quản và giá thành vận chuyển cao Mặc dù dạng bột cải tiến sử dụng rất dễ dàng, nhưngphạm vi sử dụng thuốc này cũng rất hẹp
Dạng bình xịt phun mù (Aerosol): Thuốc ở dạng lỏng, được nén trong các bình kim
loại Hoạt chất được hoà trong một dung môi dễ bay hơi Dung môi này có tác dụng là chấtmang và chất đẩy Khi mở khoá, thuốc được đẩy ra ngoài với tốc độ nhanh Dung môi bayhơi, để lại các hạt thuốc lơ lửng trong không khí, thường dùng để diệt trừ côn trùng trongnhà
Dạng phun với thể tích nhỏ hay cực nhỏ (Ultra Low Volume - ULV hay Ultra
Ultra Low Volume - UULV): Thuốc dạng lỏng, hỗn hợp với các dung môi dễ bay hơi, dùng
để phun mù Chế phẩm có hàm lượng chất độc cao
Thuốc xông hơi, khử trùng: Thuốc có thể ở thể rắn, lỏng hay khí Trong không
khí, thuốc bị bốc hơi, làm cho môi trường sinh sống bị nhiễm độc, gây độc cho dịch hại.Ngoài các thành phần thông dụng, còn có các chất phụ gia đặc biệt (chất chống cháy nổ chonhững thuốc dễ cháy nổ); chất báo hiệu (đối với những chất độc không có mùi vị đặc trưng) đểgiúp người sử dụng dễ nhận biết
b Những dạng thuốc khi dùng phải hoà với nước
* Dạng bột thấm nước (Wettable powder - WP):
Thuốc ở dạng bột, khi hoà vào nước, tạo nên một huyền phù
Thuốc bột thấm nước được dùng từ lâu, để gia công các hoạt chất ở dạng rắn, cóđiểm nóng chảy cao, thích hợp với việc xay khô bằng các máy xay cơ khí (máy xaybúa, máy xay nghiền, hay bằng máy xay khí) Bột thấm nước thường chứa 25-80% hoạtchất Phần còn lại là chất mang trơ (đất sét, cao lin, silica ); các chất hoạt động bề mặt (cácbột thấm ướt và các chất phân tán) khô để làm tăng tính thấm ướt và độ bền của huyền phù
Thuốc bột thấm nước cũng có thể được sản xuất với chất hoạt động dạng lỏng bằngcách sử dụng các chất độn hấp thụ như diatomic hoặc các chất silicat tổng hợp có diện tích bềmặt lớn Trong trường hợp này nồng độ hoạt chất tối đa chỉ đến 40%
Thuốc bột thấm nước tốt cần có kích thước hạt nhỏ hơn 44µm, tơi xốp, không vón
Trang 23cục, có độ thấm nước nhanh, nhưng lượng chất hoạt động bề mặt cần đủ để các giọt phun cóthể thấm ướt và loang dính trên bề mặt đối tượng xử lý
Cần pha với nước ngay trước khi phun Cách pha thuốc để có dịch phun tốt như sau:
đổ một ít nước vào lượng thuốc nhất định, cho thuốc thấm đều và quấy, đổ dần nước cho đủlượng để tạo dung dịch mẹ Cuối cùng, từ dung dịch mẹ mới pha thành dịch phun Hoặc đổlượng thuốc cho đủ một bình bơm vào nắp bình bình bơm, đổ tiếp một lượng nước nhỏ, vừa
đổ vừa quấy, để thuốc và nước phân tán đều Đổ hỗn hợp thuốc đã chuẩn bị vào bình bơm
đã có sẵn một ít nước, quấy đều và đổ nốt lượng nước còn lại cho đủ
Trong một số trường hợp đặc biệt, thuốc bột thấm nước, được trộn với đất bột, với trohay cát để phun hay rắc lên cây hay xử lý đất
Nhiều thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là các thuốc trừ cỏ và thuốc trừ bệnh được giacông dưới dạng bột thấm nước Nhưng do trình độ gia công thấp, nên tạo nhiều bụi, dễ gâyđộc cho người sử dụng Hiện nay, đang có xu hướng chuyển thuốc dạng bột thấm nướcsang dạng huyền phù đậm đặc hay viên phân tán trong nước
* Dạng bột tan (Soluble powder -SP) và Dạng hạt tan trong nước (Water soluble granule - SG):
Thuốc ở dạng bột tơi mịn (dạng bột tan) hay dạng hạt (dạng hạt tan), khi hoà vớinước, chúng tan hoàn toàn trong nước, thành dung dịch thật của hoạt chất, mà không cần sự
hỗ trợ nào Một số thành phẩm, có thể chứa một lượng nhỏ phụ gia không tan trong nước.Chúng dễ vận chuyển, bảo quản và có hàm lượng chất độc cao
Dạng thuốc này thường dùng gia công các loại thuốc kỹ thuật dạng rắn, tan hoàntoàn trong nước Thành phần phụ gia của hai dạng thuốc này giống nhau (có thể có một
số phụ gia không tan trong nước); có khác chăng, thuốc hạt tan trong nước, có một lượngchất dính nhất định để tạo hạt Số hoạt chất có thể gia công ở dạng thuốc này không nhiều
Sự ra đời các bao bì làm bằng chất dẻo hoà tan trong nước, cho phép đóng thuốc bột
và hạt tan trong nước thành những gói nhỏ, bỏ trực tiếp vào bình phun mà không cần mở gói,
vỏ gói sẽ tự tan trong nước Nhờ đó việc phân phối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toànhơn
* Dạng hạt phân tán trong nước (Water dispersible granule - WG): Thành phẩm ở
dạng hạt được phân rã và khuyếch tán nhanh trong nước Trước khi dùng phải hoà với nước.Dạng hạt phân tán trong nước hay bột chảy khô, được xem như một dạng khá mới và pháttriển như những sản phẩm an toàn, được chú ý hơn các dạng bột thấm nước và huyền phùđậm đặc Dễ dàng đóng gói, không bụi, các hạt tách nhau, phân tán nhanh trong bình phunnên rất tiện lợi và ngày càng phổ biến
Kỹ thuật gia công dạng hạt phân tán trong nước khá phức tạp, qua nhiều qui trình
kỹ thuật khác nhau, để tạo các phần tử có kích thước như trong dạng bột hay huyền phù, dễ
Trang 24phân tán lại trong bình phun
Thời gian phân tán trong nước là đặc tính rất quan trọng để đảm bảo không gây sự cốtrong bình phun Các hạt phải phân tán hoàn toàn trong 2 phút ở các nhiệt độ và nước cứngkhác nhau
* Dạng viên nang (Encapsulated Granule- CG): Thành phẩm là dạng hạt rất nhỏ,
mịn Kích thước hạt thuốc phụ thuộc vào kỹ thuật tạo viên và mục đích sử dụng, nhưngthường có kích thước 20-30μm Nhân là hoạt chất, được bọc một lớp chất nhựa mỏng, cótác dụng giải phóng hoạt chất từ từ Khi hoà vào nước sẽ tạo nên huyền phù bền Sau khi
xử lý, các hạt sẽ dính trên bề mặt đối tượng xử lý, nước bao quanh viên hạt bốc hơi, hoạt chấttrong viên hạt sẽ được giải phóng
Ưu điểm chủ yếu là hiệu lực của thuốc dài gấp 2-3 lần so với các dạng khác có cùngnồng độ; giảm nguy cơ gây độc của thuốc với môi trường; đồng thời giảm sự không tươnghợp thường thấy ở các dạng thông dụng khác
* Dạng thuốc đậm đặc tan trong nước (Soluble concentrate- SL): Dung dịch các
hoạt chất (trong suốt hay đục), khi hoà vào nước có thể phân tán lập tức thành dung dịchthật, dù thuốc kỹ thuật có thể tan hay không tan trong nước hoặc cồn Đây là dạng thuốc đơngiản nhất của các dạng gia công
Chúng có ưu điểm: dạng dung dịch rất bền, ít bị hỏng khi bảo quản Rất hiếm trườnghợp xảy ra sự kết tủa và ăn mòn thùng kim loại hay bình phun
Dung môi của dạng thuốc đậm đặc tan trong nước có thể hoà tan trong nước vớilượng lớn, mà không tạo dạng sữa hay huyền phù Trong thành phẩm còn chứa phụ giakhông tan trong nước Cũng cần chất thấm ướt để tăng tính thấm ướt của dịch phun
Số thuốc bảo vệ thực vật có thể gia công ở dạng này là ít Một số nhỏ hoạt chất thuốcbảo vệ thực vật có thể tan trong nước với lượng lớn, được bán trên thị trường như là dạngthương phẩm Đây là dạng sản phẩm rất dễ gia công, sử dụng thuận tiện, an toàn với môitrường
Dạng thuốc này còn được đặt theo nhiều tên khác nhau, như: Liquid concentrate dung dịch đậm đặc (LC); Aqueous concentrate - dịch đậm đặc tan trong nước (AS); Liquid
dạng lỏng (SL) hay dung dịch (DD)
* Dạng phân tán đậm đặc (Dispersible concentrate - DC): Thành phẩm ở dạng
lỏng đồng nhất, khi dùng phải hoà loãng vào nước để tạo một hệ phân tán chất rắn trongnước Một số thành phẩm có đặc tính trung gian giữa dạng DC và EC
Trang 25* Dạng thuốc nhão (Past- PA): Một hợp phần nền nước, có thể tạo ra các lớp phim Tuỳ
theo cách gia công khác nhau, mà có thể tạo nên dung dịch thật, dung dịch keo, sữa hay nhũ tương.Dạng thuốc này thường chứa hàm lượng chất độc cao, dễ vận chuyển, bảo quản và sử dụng
* Dạng thuốc sữa đậm đặc (Emulsifiable concentrate- EC): Thành phẩm ở dạng
lỏng đồng nhất của hoạt chất, dung môi và phụ gia, được pha với nước thành một nhũ tương
để phun Đây là dạng thuốc rất phổ biến và dùng với lượng với lớn nhất trong các dạng thuốcbảo vệ thực vật trong hơn 20 năm qua Dạng sữa dùng gia công các hoạt chất ở dạng dàu,các hoạt chất có độ nóng chảy thấp, sáp hay các hoạt chất có khả năng hoà tan trong cácdung môi hữu cơ không phân cực Do dung dịch trên không tan trong nước, nên khi giacông phải cho thêm chất hoá sữa nhằm đảm bảo sự hoá sữa tốt và bền trong bình phun Cácgiọt sữa trong dung dịch phun thường có kích thước 0,1-5 µm Để thuốc phân tán đều, khipha thuốc, cần quấy đều và đủ lượng nước cần Kỹ thuật gia công phụ thuộc vào tính phâncực của hoạt chất, dung môi và phụ gia
Thuốc có ưu điểm: Có hàm lượng chất độc cao, dễ chuyên chở; hoạt tính sinh họccủa thuốc sữa đậm đặc thường cao hơn các dạng khác do có các dung môi và các chất hoásữa, thuốc dễ trang trải đều và bám dính tốt trên bề mặt vật phun Những nhược điểm củathuốc là: thuốc dễ gây cháy lá, nếu dùng quá liều, có thể bị phân lớp, nếu bảo quản trongđiều kiện không thuận lợi và các dung môi dễ gây độc cho người sử dụng và ô nhiễm môitrường
Dưới áp lực bảo vệ môi trường, hiện có một xu thế chung, đòi hỏi thay thế các dungmôi hữu cơ bằng các dạng dung môi khác, an toàn hơn với môi trường Các dung môi mới
có thể thay thế toàn bộ dung môi cũ trong một số sản phẩm và an toàn cho người sử dụng vàmôi trường
Các thuốc dạng sữa sử dụng rất tiện lợi, dễ dùng và vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trongcác dạng thuốc bảo vệ thực vật Trong nhiều trường hợp, hoạt tính sinh học được nâng caonhờ sự có mặt của các dung môi, do tăng khả năng thẩm thấu và vận chuyển
* Dạng sữa dầu trong nước (Emulsion oil in water - EW): Thành phẩm ở dạng lỏng
không đồng nhất, gồm dung dịch hoạt chất hoà loãng trong dung môi hữu cơ, được phân tánthành giọt nhỏ khi pha với nước Đây là dạng thuốc đang được chú ý vì chúng rất an toàntrong sử dụng do giảm hay hạn chế sự bay hơi của các dung môi hữu cơ Dung môi cơ bảncủa dạng thuốc này là nước, nên ưu điểm hơn dạng sữa: an toàn trong sản xuất và giá hạ.Nhưng dạng này dễ bị phân lớp, đông kết, tạo kem và keo tụ trong bảo quản Cần lắc đều trướckhi dùng Kích thước hạt là chỉ số đánh giá độ bền và kích thước hạt sữa dầu trong nước là2µm
* Dạng sữa nước trong dầu (Emulsion water in oil - EO): Dạng lỏng, không đồng
nhất, gồm một dung dịch thuốc trừ dịch hại trong nước, được phân tán thành những giọt
Trang 26rất nhỏ trong một dung môi hữu cơ, khi dùng cần hoà với nước
* Dạng vi sữa (Micro emulsion- ME): Thành phẩm ở dạng lỏng trong suốt hay trắng
sữa, chứa dầu và nước, có thể dùng trực tiếp hoặc sau khi hoà loãng với nước thành một vinhũ tương hay một nhũ tương bình thường Vi sữa trong suốt và bền trong phạm vi nhiệt độkhá rộng Chúng có kích thước hạt rất nhỏ dưới 0.1µm, gồm 3 cấu tử: Dạng dung dịch dầuhay dạng rắn được hoà tan trong dung môi hữu cơ; nước và chất hoạt động bề mặt hay đồnghoạt động bề mặt Các cấu tử tạo thành pha đơn chứa tương đối nhiều “micell trương”, trong
đó hoà tan pha không nước của chất hoạt động và dung môi Tuy vi sữa có nồng độ hoạtchất tương đối thấp, nhưng có hoạt tính sinh học rất cao
Không có sự khác biệt rõ giữa dạng hoà tan và siêu sữa Có thông tin cho rằng siêusữa (microemulsion) là các micell bị trương khi nồng độ chất hoạt động bề mặt đạt ≥30%tổng dạng gia công Thêm các chất đồng hoạt động bề mặt như octanol, có thể tăng đượckích thước của micell và làm tăng khả năng hoà tan Phải thử nghiệm độ bền trong bảo quản,nếu sản phẩm được lưu giữ trong thời gian dài để tránh hiện tượng kết tinh các hoạt chất từmicel
* Dạng huyền phù đậm đặc cải tiến (Suppension/flowable concentrate - SC):
Thành phẩm ở dạng huyền phù ổn định của một hay nhiều hoạt chất trong một chất lỏng;trong chất lỏng đó có thể chứa thêm nhiều chất hoà tan khác Phải hoà loãng với nước trướckhi dùng
Từ đầu những năm 70 của thế kỷ 20, kỹ thuật huyền phù đậm đặc được sử dụngngày càng nhiều để gia công các thuốc bảo vệ thực vật ở dạng kết tinh rắn Các phần tửthuốc bảo vệ thực vật được huyền phù hoá trong dầu, nhưng phần lớn, được dùng để tạodạng huyền phù đậm đặc
Để gia công dạng huyền phù đậm đặc phân tán trong nước, trong những năm gần đây,
sử dụng quá trình nghiền lỏng; sử dụng các chất hoạt động bề mặt mới tạo dạng phân tán rắn
- lỏng bền vững
Ưu điểm của dạng huyền phù đậm đặc phân tán trong nước là hàm lượng hoạt chấtkhông tan trong nước cao, an toàn đối với người dùng và môi trường, giá thành tương đốithấp, kích thước hạt rất nhỏ (0.1-5µm) nên lượng thuốc dùng thấp Do trong thành phần cócác chất phù trợ tan trong nước nên có hoạt tính sinh học cao Nông dân thường thíchdùng dạng huyền phù đậm đặc hơn dạng bột thấm nước, bởi không gây bụi, dễ đong đo
và rót vào bình phun Tuy nhiên dạng này cũng có nhược điểm như dễ bị tách lớp khi bảoquản
* Dạng nhũ tương-huyền phù (Suspo-emulsion - SE): Thành phẩm ở thể lỏng không
đồng nhất, gồm một hệ phân tán bền của các hoạt chất ở dạng hạt rắn và những giọt nhỏ trong
Trang 27pha nước liên tục
Các dạng gia công hỗn hợp đang trở nên ngày càng phổ biến vì rất tiện lợi, nôngdân dùng đúng liều lượng của mỗi thành phần và không sử dụng quá liều Nếu một hoạt chất ởthể rắn và chất kia ở thể lỏng thì cần sản xuất hỗn hợp nhũ tương huyền phù bao gồm 3pha: giọt dầu lỏng, các phần tử chất rắn phân tán và pha tiếp theo thường là nước
Hỗn hợp sữa huyền phù là hỗn hợp huyền phù đậm đặc với sữa nước trong dầu chothêm chất họat động bề mặt để tránh sự keo tụ và chất làm đặc để tránh sự phân lớp của cácpha phân tán Các chất phân tán và chất hoá sữa được dùng như những chất phân tán dùng
để gia công dạng huyền phù đậm đặc và chất hoá sữa như những chất sử dụng trong dạngsữa dầu trong nước
c Thuốc đậm đặc phải hoà loãng với dung môi
Các sản phẩm dầu đậm đặc chứa thuốc kỹ thuật hoà tan trong các dung môi hữu cơ,trước khi dùng phải hoà loãng với dầu Chúng được bán dưới dạng hoà tan để dùng ngay Một
số hoạt chất tan trong dầu, được xử lý như một loại dầu phun, không có chất bám dính và chấtthấm ướt Dưới đây là một số dạng thông dụng:
* Dạng lỏng trộn dầu (Oil miscible liquid - OL): Dạng lỏng đồng nhất, được hoà loãng
với một chất lỏng hữu cơ thành dạng lỏng đồng nhất khi sử dụng
* Dạng huyền phù cải tiến đậm đặc trộn với dầu (Oil miscible flowable concentrate hay Oil miscible suspension - OF): Dạng huyền phù bền của một hay nhiều hoạt chất trong
một chất lỏng, được hoà loãng trong một chất lỏng hữu cơ trước khi dùng
* Dạng bột khuyếch tán trong dầu (Oil dispersible powder - OP): Dạng bột, được
dùng như một huyền phù, sau khi khuyếch tán đều trong một chất lỏng hữu cơ
d Dạng xử lý hạt giống (DS, WS, LS, FS)
Một lượng đáng kể thuốc BVTV được dùng để xử lý hạt giống để chống sâu, bệnh.Các sản phẩm xử lý hạt giống được phân thành 4 nhóm:
- Bột xử lý khô hạt giống ( DS = Powder for dry seed treatment)
- Bột nhão hoà nước xử lý hạt (WS=Water-slurryable powder for seed treatment)
- Dung dịch không nước xử lý hạt (LS=Non-aqueous solution forseed treatment)
- Huyền phù cải tiến xử lý hạt (FS=Flowable suspension for seed treatment)
Lựa chọn dạng sử dụng phụ thuộc vào đặc tính của hoạt chất, công cụ xử lý và sự
ưa thích của thị trường Các dạng bột (DS) có khả năng lưu lại trên hạt kém Các dạng bộtnhão (WS) được dùng chủ yếu ở Pháp Các dạng dung dịch không nước xử lý hạt (LS) đang
bị thay thế dần vì kém an toàn trong sử dụng Dạng huyền phù chảy (FS) an toàn cho môitrường hơn dạng bột và dạng lỏng, tồn lưu lâu hơn trên hạt, đang được sử dụng rộng rãi Các
Trang 28hạt có giá trị cao như hạt rau và hoa còn có thể được bao với polymer để tránh sự gây hại củacác hoá chất xử lý hạt Chúng cũng có thể được tạo thành viên với đất sét và polymer để sảnxuất những viên hạt giống dễ gieo
Vì thuốc được xử lý trực tiếp lên hạt nên lượng hao hụt rất ít Xử lý hạt giống đượcxem như là biện pháp có hiệu quả đối với cây trồng và rất an toàn cho môi trường Biện phápnày càng trở nên quan trọng trong tương lai bởi lượng các giống chuyển đổi gen ngày càngnhiều và nhu cầu để bảo vệ hạt giống có giá trị kinh tế cao ngày càng tăng
e Một số kỹ thuật và dạng sản phẩm mới cần lưu ý
Kỹ thuật giải phóng dần hoạt chất (Controlled - release formulations): Mặc dù đượcnhiều công ty thuốc bảo vệ thực vật quan tâm nghiên cứu và phát triển trong nhiều năm,nhưng việc sử dụng kỹ thuật giải phóng dần hoạt chất để sản xuất hàng hoá vẫn diễn ra rấtchậm Các dạng gia công sử dụng kỹ thuật này có nhiều ưu điểm hơn các dạng gia côngthông thường như:
- Kiểm soát hay làm giảm độ bay hơi của thuốc bảo vệ thực vật
- Độ bền sinh học dài hơn
- Cải thiện sự pha trong bình phun
- Giảm lượng thuốc khi sử dụng
- Giảm dung môi khi gia công
- It độ độc với động vật máu nóng, với cá và cây trồng
- Giảm sự rửa trôi trong đất ngập nước
Có 4 phương pháp chính để gia công các dạng giải phóng dần hoạt chất gồm: Hạtđược bao thuốc bảo vệ thực vật; Hệ thống bẫy vật lý chứa thuốc bảo vệ thực vật; Hệ thốngpolymer chứa thuốc bảo vệ thực vật cộng hoá trị và Màng polymer - hệ thống màng chứathuốc bảo vệ thực vật như dạng viên vi hạt
Kỹ thuật màng polymer hay viên vi hạt rất phổ biến trong những năm gần đây.Lượng hoạt chất giải phóng (sự khuyếch tán) được kiểm soát thông qua kích thước hạt, cácchất làm đặc của màng polymer và độ liên kết ngang hoặc độ xốp của polymer
Một số sản phẩm vi hạt được bán trên thị trường gồm các thuốc trừ cỏ chọn lọc đểgiảm sự bay hơi và hoà tan, các thuốc trừ sâu để giảm độ độc và kéo dài thời gian hữuhiệu và các pheromon để duy trì nồng độ bay hơi trong 10-14 ngày
Những dạng sử dụng được tạo thành trong điều kiện ẩm (Formulations using abuiltin water): Trong thực tế, có nhiều dạng gia công, trong quá trình bảo quản hay sử dụng,nếu gặp ẩm, sẽ tăng hiệu lực Trong các dạng này, các phụ gia cần thiết được bổ sung để tạocác dạng thuốc có hoạt tính sinh học tối ưu và giảm lượng hoạt chất khi dùng Để bảo vệ môi
Trang 29trường, nhiều nước đã đề ra các điều luật đòi hỏi các nhà sản xuất phải công bố những sốliệu cần thiết để chứng minh các vấn đề này
Tiềm năng tăng hiệu của các dạng tạo thành trong điều kiện ẩm là bổ sung cácchất:
- Có độ thấm ướt, loang dính và bám dính của các giọt thuốc trên lá tốt hơn
- Giảm kích thước hạt phun
- Kéo dài thời gian khô và tăng sự giữ nước
- Tăng sự xâm nhập và vận chuyển cục bộ trong cây
Các chất hoạt động bề mặt không ion hoá (non-ionic) được dùng như chất tạo độ ẩm,làm tăng khả năng hoà tan của thuốc bảo vệ thực vật trong các giọt (do sự micell hoá), hoạtchất thâm nhập dễ dàng hơn vào bên trong vật phun
Cơ chế tác động của các chất hoạt động bề mặt bổ trợ trong việc tiếp xúc với các đốitượng sinh vật còn chưa được biết đầy đủ , nhưng giảm sức căng bề mặt, giảm góc tiếp xúc vàtăng cường sự xâm nhập của thuốc bảo vệ thực vật qua bề mặt lá là các quá trình quan trọng
2.5.2 Các chất phụ gia
Là những chất được trộn với hoạt chất nhằm cải thiện tính chất lý, hóa học của thuốc,tạo điều kiện cho việc pha chế, chuyên chở, bảo quản và sử dụng được dễ dàng, tiện lợi hơn.Các chất phụ gia thường được dùng là:
a Chất làm loãng (diluent)
Là các chất trơ, ở thể lỏng hay thể rắn có tác dụng làm loãng hoạt chất, nhưng khônglàm giảm hoạt tính sinh học của hoạt chất, giúp chất độc trang trải trên cây Chất làm loãngthể rắn thường được gọi là chất mang; chất làm loãng thể lỏng là dung môi Căn cứ vàodạng vật lý, người ta chia chất mang thành:
- Dung môi (solvelts): Là các chất ở dạng lỏng, hoà tan dạng rắn và khí; thường cótrong các dạng gia công sữa đậm đặc, dạng phun thể tích cực nhỏ (hàm lượng thường >50%)
và dạng hạt (khoảng 10%)
- Tiêu chuẩn một dung môi tốt là: hoà tan mạnh hoạt chất; có độ độc thấp với thựcvật, động vật máu nóng và không kích thích da; không phản ứng với hoạt chất hay chất hoásữa; bền với nhiệt; độ bốc cháy thấp; phù hợp với các vật liệu được dùng để đóng gói và bìnhphun; có sẵn và giá hạ Không một dung môi nào đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn này
Phân loại: Các dung môi được chia thành 4 nhóm chính:
- Nhóm 1: dầu aliphatic, parafin được lọc sạch, tan rất ít trong nước, tan ít trong cácdung môi hữu cơ, có độ độc thấp đối với động vật máu nóng và thực vật
Trang 30- Nhóm 2: (được cân nhắc nhiều nhất): các dung môi thơm như xylen, có điểm bốccháy thấp, hoà tan rất tốt với hầu hết các hoạt chất và tạo dạng sữa bền, nhưng độc cho cây
và làm tăng độc tính vị độc của hoạt chất Đang được thay thế dần bằng các dung môithơm có trọng lượng phân tử cao hơn (C9 và C10)
- Nhóm 3: các loại rượu, là các chất phân cực được dùng như các đồng dung môi làmtăng độ hoà tan và cải thiện độ hoá sữa Một số ít trong chúng có điểm cháy thấp và nhiềuchất có độ độc với cây cao
- Nhóm 4: các loại ester cũng là một nhóm dung môi phân cực có độ độc thấp vớithực vật và đôi lúc được dùng như đồng dung môi
Căn cứ vào khả năng hoà tan trong nước của các dung môi, người ta lại chia chúngthành 2 nhóm:
- Dung môi không hoà tan trong nước: gia công dạng sữa đậm đặc
- Dung môi hoà tan trong nước: gia công dạng dung dịch đậm đặc Chất mang (carriers): Là chất trơ, thể rắn trộn với chất độc, để hoà loãng chất độc trongchế phẩm, giúp rải đều lượng thuốc nhỏ trên diện tích lớn và dễ trộn trên máy trộn đơn giản
Để gia công thuốc bột thấm nước, thuốc bột đậm đặc và thuốc hạt cần quan tâm đếntính tương hợp với hoạt chất và phụ gia, tính hấp phụ/thụ tốt, có độ bám dính cao, không ănmòn kim loại và bình phun, kích thước hạt đồng đều và sắc, có thể tự chảy, tỷ trọng đốngthích hợp (0,3-0,8), độ ẩm thấp và giá cả vừa phải Riêng với thuốc bột thấm nước còn phảitính đến độ phân tán trong nước và độ huyền phù cao
b Chất hoạt động bề mặt: (surfactant = surface active agent)
Chất hoạt động bề mặt có tác dụng giữ độ bền các dạng thuốc và tuổi thọ của sảnphẩm, mang các chức năng hoạt hoá, phù trợ, khử keo tụ, phân tán, hoá sữa, khử bọt, tạo bọt,loang, dính, làm ướt, làm tăng hoạt tính sinh học
Phân loại chất hoạt động bề mặt: Dựa vào khả năng phân ly của các chất hạt động bềmặt, người ta chia chúng thành:
Anion hoạt tính: là các chất hoạt động bề mặt, khi phân ly đầu ghét nước mang điệntích âm Các chất này chủ yếu do hydroxyl và sulfo hoá rượu tạo thành Được dùng nhiềutrong gia công thuốc bảo vệ thực vật (50% tổng số lượng)
Cation hoạt tính: là các chất hoạt động bề mặt, khi phân ly đầu ghét nước mang điệntích dương; còn được gọi là xà phòng ngược Igepon T Chúng rất độc, ít dùng Các phân tửlưỡng cực (amphoteric): là các chất hoạt động bề mặt, khi phân ly đầu ghét nước mang cảđiện tích dương và âm - Được phát hiện vào nửa cuối của thế kỷ 20 Chỉ dùng trong cácpha chuyên dụng đặc biệt (gia công thuốc bảo vệ thực vật trong trường hợp có nhiều độ pH
để ngăn sự đông tụ khi bổ sung các chất anionic khác)
Trang 31Không ion hoạt tính: là các chất hoạt động bề mặt, có đầu ghét nước không phân ly.Tính chất phần ưa nước phụ thuộc vào chiều dài chuỗi ethylen oxid Được dùng rất nhiềutrong gia công thuốc bảo vệ thực vật và chiếm 75% tổng lượng bổ sung khi phun
Trong những năm gần đây, do hiểu biết ngày càng tốt hơn về sự keo hoá và bề mặt,các nguyên tắc hoá học cơ bản liên quan đến tính thấm ướt, tính phân tán, tính hoá sữa và khảnăng hoà tan của các dạng thuốc bảo vệ thực vật cho phép phát triển các chất hoạt động
bề mặt ngày càng mạnh Hiện nay đã có các chất hoạt động bề mặt đáp ứng được mọi nhucầu của việc gia công thuốc bảo vệ thực vật đòi hỏi Chất hoạt động bề mặt đã tạo điều kiệnquyết định cho sự hình thành các dạng thuốc mới, tăng khả năng hoà tan của hoạt chất vàkích thứơc giọt, thời gian bền vững và thậm chí hoạt tính sinh học của dạng gia công Ngoài
ra, trong tương lai gần, các chất hoạt động bề mặt bị sinh vật phân huỷ hoàn toàn và có độđộc thấp đối với động vật máu nóng và cá, rất an toàn trong môi trường được sử dụng ngàycàng nhiều hơn
Hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong gia công khoảng 1 - 10%; để cho thêm vàobình phun với nồng độ 0.01-0.1%; để làm tăng hoạt tính sinh học: 1-2% (tăng xâm nhập
và vận chuyển thuốc trong cây)
Trị số HLB:
Định nghĩa: Là trị số mà ở đó, trong khoảng thời gian nhất định sự phá và tạo micellcân bằng (có bao nhiêu phân tử dầu ra nhũ dịch, cũng có ngần ấy nguyên tử dầu từ môitrường chạy vào micell)
Trị số HLB Ưng dụng chất hoạt động bề mặt
3 - 6 Nước tan trong dầu W/O
7 - 9 Tác dụng thấm ướt
8 - 18 Dầu tan trong nước O/W
Đối với thuốc BVTV HLB = 10
13 - 15 Tác dụng tẩy rửa
15 - 18 Tác dụng tan dầu
c Chất thấm ướt (wetting argent):
Chất thấm ướt đưa vào chất lỏng để làm giảm sức căng bề mặt giữa chất lỏng và bềmặt vật phun, tăng cường sức thâm nhập của chất lỏng, khiến cho giọt thuốc loang dễ dànghơn Hàm lượng chất thấm ướt trong sản phẩm thường chứa 2-10%
Các chất làm ướt được dùng với 2 chức năng chính:
- Trong gia công thuốc bảo vệ thực vật để tăng tính thấm ướt của bột trong nước, tạo
Trang 32nồng độ dung dịch hoà tan hay huyền phù đậm đặc theo ý muốn
- Bổ sung thêm vào bình phun trước khi phun thuốc để giảm thời gian thấm ướt củabột thấm nước và cải thiện khả năng thấm sâu của nước vào trong các hạt phân tán trong nước
Các chất hoạt động bề mặt có trọng lượng phân tử nhỏ, thường có tính làm ướt tốt hơncác chất hoạt động bề mặt có trọng lượng phân tử cao
d Chất phân tán (disperser, dispersant = suspending agent)
Định nghĩa: là các chất hấp phụ trên bề mặt phần tử và giúp các phần tử phân tán tốt
và ngăn cản chúng tái hợp
Các chất phân tán được dùng trong các dạng thuốc phân tán và huyền phù hoá sảnphẩm, đảm bảo các phần tử phân tán vào nước trong bình phun Hàm lượng của chúng trongcác dạng bột thấm nước, huyền phù đậm đặc và hạt phân tán trong nước chiếm 1-6%
Tính hệ số phân tán phụ thuộc vào bản tính phân cực của chất rắn được phân tán Các chất phân tán là các phân tử lớn, có nhiều điểm giữ trên bề mặt các phần tử, tráingược với chất thấm ướt (là các phân tử nhỏ, phân tán mau lẹ trong quá trình thấm ướt).Gần đây, nhiều chất phân tán mới có trọng lượng phân tử polymer rất lớn Những chất này
có các chuỗi xương sống ghét nước dài và lượng lớn các chuỗi ethylen oxid tạo thành cái răngcủa chiếc lược chất hoạt động bề mặt Phân tử polymer có trọng lượng phân tử cao, tạo độbền cho dạng huyền phù đậm đặc Các chất phân tán dùng cho dạng hạt phân tán được lựachọn tuỳ theo kỹ thuật sử dụng Các chất phân tán dạng rắn, không dính thích hợp để tạocác hạt có độ xốp tốt, phân tán nhanh và hoà tan trong bình phun
f Chất hợp lực (synergist):
Định nghĩa: là những chất cùng tác động với chất khác Khi hỗn hợp với chất hợp lực
độ độc của hoạt chất sẽ tăng
Nghiên cứu các chất hợp lực rất có ý nghĩa trong việc lựa chọn nguyên liệu để giacông thuốc bảo vệ thực vật và hỗn hợp các thuốc với nhau
Điều kiện để tạo ra các hỗn hợp thuốc có tác dụng hợp lực là bản thân chúng phải
Trang 33là những chất có các trung tâm hoạt động, trong cấu trúc phân tử có nhiều nối đôi, nối bahay bản thân là những chất có tác động độc lý
h Chất ổn định (stabilizer):
Là các chất ngăn ngừa những phản ứng phụ có thể giảm hiệu lực của hoạt chất tronggia công, sử dụng và bảo quản (dùng chất làm bền hay chất phản tác động để gia công thuốcdạng rắn; dùng phức để loại ion kim loại trong thuốc dạng lỏng)
i Chất hoá sữa (emulsifier):
Là chất tạo độ bền các giọt huyền phù của một pha lỏng này trong một pha lỏngkhác Nếu không có chất hoá sữa, hai pha lỏng không trộn được với nhau Chất hoá sữa làthành phần cơ bản của dạng gia công các hoạt chất dạng dầu và dung môi; được dùng nhiềunhất để gia công dạng sữa đậm đặc Hàm lượng chất hoá sữa tối đa 10% trong dạng sữa đậmđặc Gần đây, có xu hướng dùng các chất hoá sữa, trực tiếp hoá sữa các hoạt chất vào nước Giá trị HLB từ 8-18 sẽ cho độ hoá sữa bền vững Độ bền chất hoá sữa có thể được cải thiện nếu thêm một lượng nhỏ chất hoạt động bề mặt đồng polymer (copolymer) EO-PO
Chất hoạt động bề mặt tạo dạng sữa bền dầu trong nước (EW) rất khác dạng sữa đậm đặc (EC) Trong trường hợp sữa O/W, chất hoạt động bề mặt cần hấp thụ mạnh vào bề mặt giọt dầu để tạo dạng sữa bền lâu Các chất hoạt động bề mặt polymer có trọng lượng phân tử cao đôi khi được dùng cho mục đích này
j Chất hoà tan (solutes)
Là các chất tạo micell trong nước ở nồng độ vượt nồng độ micell giới hạn Các micell
có thể bị tan hay hoà tan các chất không tan trong nước ở phần ưa nước của micell
k Những chất nâng cao hoạt tính sinh học
Chất giảm sức căng bề mặt, được dùng riêng hay cùng các chất khác như dầu khoánghay dầu thảo mộc, thêm vào bình phun để nâng cao hoạt tính sinh học của hoạt chất với đốitượng phòng trừ Ngày càng sử dụng nhiều các tổ hợp chế sẵn để nâng cao hoạt tính sinh họccủa hoạt chất Các dạng gia công này thường có trong dạng sử dụng được tạo thành trongđiều kiện ẩm (built-in-water) Khi dùng, sản phẩm phải đáp ứng được đòi hỏi của luật pháp
về độ độc, hiệu quả, an toàn và môi trường
Các chất hoạt động bề mặt dùng để nâng cao hiệu quả sinh học phụ thuộc vào bản chất
và phương thức tác động của hoạt chất Chúng thường là các chất non-ionic như: cácalkylphenol ethoxylat, các rượu aliphatic mạch thẳng ethoxylat, các aliphatic aminethoxylat Dầu đôi khi cũng được cho thêm vào dung dịch phun để tăng hoạt tính sinh họccủa thuốc trừ sâu Trong thuốc, dầu làm giảm khả năng bay hơi, giảm sự rửa trôi của thuốc vàtăng khả năng xâm nhập của thuốc vào côn trùng hay bao vây một số trung tâm sống của côn
Trang 34trùng Nhưng dầu cũng dễ gây độc với thực vật Độ độc của dầu phụ thuộc vào dạng dầu, nồng
độ cũng như điều kiện thời tiết
l Các chất chống lắng (anti - deposit)
Là các chất làm đặc (tăng độ nhớt, giảm lượng hạt thuốc quá nhỏ, giảm khả năng bayhơi và kìm hãm sự rửa trôi của dung dịch phun) và các chất tạo gel có tác dụng tăng độbền của huyền phù đậm đặc, sữa và hỗn hợp huyền phù nhũ tương hay độ chảy của chất lỏng,ngăn cản tách lớp và lắng đọng của các phần tử và giọt Chúng được dùng trong các dạnggia công có nước, giữ sản phẩm bảo quản lâu và dễ phân tán trong bình phun
Không hỗn hợp chất chống lắng với chất điện phân Chất chống lắng bị biến chất khi
độ pH, nhiệt độ thay đổi và chịu tác động của các thành phần khác của dạng gia công
Các chất chống lắng thường dùng là dạng hồ tinh bột biến thể, polyacryl hoá,rượu polyvinyl và polyethylen oxid
Gôm xanthan, chất chống lắng quan trọng cho các dạng huyền phù và nhũ tươngđậm đặc, là chuỗi polysaccarid phân nhánh rất dài, phân tử lượng khoảng 2 triệu, do quá trìnhlên men bán tổng hợp vi sinh Là chất dẻo giả trương, nở nhiều trong nước ở nồng độ thấphơn các polysaccarid thông thường Gôm tan thành dung dịch thật trong nước với biên độ
pH, nhiệt độ và nồng độ chất điện giải rộng Gôm xanthan có thể dùng đơn ở nồng độ 0.5%dạng gia công hay tạo liên kết ngang ở nồng độ 0,2% khi hỗn hợp với đất sét hay silicahoặc các vật liệu hoà tan khác
Sử dụng hỗn hợp các pha phân tán và polymer hoà tan trong nước có ưu điểm: Itphụ thuộc nhiệt độ; tan tốt trong nước; dễ rót và cải thiện tính vật lý, đặc biệt khi nhiệt độcao
m Các chất chống đóng vón (anti-curdling adjusvant)
Là các chất bổ sung trong thuốc bột và hạt để chống đóng vón và tạo tính chảy tốt củabột Hàm lượng chất chống đóng vón trong thuốc bột và hạt khoảng 2% Chất chống đóng vónthường dùng là silica
n Các chất chống đông (anti-cogulant)
Là các chất bổ sung vào dung dịch nước/huyền phù đậm đặc để giảm điểm đông < 0oC(-5 hay -10oC) Chất chống đông thường dùng là propylen glycol Hàm lượng: 5-10% Ureacũng dùng để chống đông cho các hoạt chất tan trong glycol
o Các chất tạo bọt (foaming adjuvant) và chất chống bọt (anti- foaming adjuvant)
Chất tạo bọt có tác dụng giảm sức căng bề mặt của dịch phun, giúp giọt thuốc loangdính nhanh, bám tốt hơn và ít rửa trôi Nhưng nếu thuốc tạo quá nhiều bọt sẽ khó đóng gói vàgiảm tốc độ khi phun Trong trường hợp này, phải cho thêm chất chống tạo bọt khi gia
Trang 35công Hàm lượng tối đa chống tạo bọt là 0.2%
p Chất bảo quản (preservative)
Là các chất ngăn chặn sự vi sinh vật phá huỷ một số thành phần trong dạng gia côngthuốc Một số dạng gia công dùng nhiều nguồn carbon hợp với vi sinh vật nhưpolysaccharid (dung dịch đậm đặc, huyền phù đậm đặc và sữa O/W), dễ bị vi sinh vật phânhuỷ, khiến cho thuốc sinh khí, đổi màu, độ nhớt và độ pH thay đổi, thuốc bị phân lớp lắngđọng Trong tương lai, các dạng gia công có cơ sở là nước và các chất bổ sung dễ bị VSVphân huỷ được dùng nhiều, nên lượng chất bảo quản sẽ tăng thêm
Tiêu chuẩn của một chất bảo quản là: có thể chống được nhiều vi sinh vật ở nồng độrất thấp; an toàn Chất bảo quản có thể làm mất tính ổn định của các chất hoạt động bềmặt cationic anionic hoặc chất làm đặc anionic- polysacchorid Những năm gần đây, nhiềuchất bảo quản mới phổ rộng, có hiệu lực với biên độ pH rộng và không phản ứng với chấthoạt động bề mặt khác xuất hiện, như: 1,2 benzissothiazalin-3-one (BIT) rất bền, diệt khuẩntốt, hỗn hợp được với hầu hết các chất hoạt động bề mặt anionic và non-ionic, với cácpolymeric và các chất làm đặc dạng sét, chống lắng dùng trong huyền phù nước và các dạngsữa Nồng độ 0.03-0.06%
q Các hợp chất màu (colour adjuvant)
Là các chất cho thêm vào sản phẩm để cảnh báo, ngăn ngừa khả năng ngộ độc vàkiểm tra độ đồng đều của thuốc khi xử lý Cần chọn chất nhuộm thích hợp với các thành phầnkhác, để tránh ảnh hưởng đến độ bền của thuốc
2.6 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
2.6.1 Sử dụng thuốc trừ sâu
2.6.1.1 Các thuốc có nguồn gốc tự nhiên
Từ xa xưa, nông dân ở nhiều nước trên thế giới đã biết sử dụng một số loài thực vậtchứa chất độc để trừ một số loại côn trùng gây hại trên cây trồng và gia súc bằng cáchphun lên cây hay dùng nước chiết để tắm cho gia súc Trên thế giới có khoảng 2000 loài cây
có chất độc, trong đó có 10-12 loài cây được dùng phổ biến Ơ Việt Nam, đã phát hiện khoảng 335loài cây độc, gần 40 loài cây độc có khả năng trừ sâu (trong đó có 10 loài có khả năng diệt sâu tốt)(Nguyễn Duy Trang, 1998)
Những hợp chất trừ sâu thảo mộc thông dụng như rotenon và rotenoit,arteminisinin, azadirachtin, cnidiadin, matrine, pyrethrin và nicotin đều là những loạiancaloit, este, glucozit v.v có trong một số bộ phận của một số loài cây Hàm lượng chấtđộc phụ thuộc loài cây, bộ phận cây, điều kiện sống và thời gian thu hái chúng Nói chung,các chất này rất dễ bị phân huỷ dưới tác động của oxy hoá, ánh sáng (đặc biệt các tia cực
Trang 36tím), ẩm độ, nhiệt độ và pH môi trường, nên chúng ít gây độc cho môi sinh môi trường.Nhưng cũng vì đặc tính này, nên điều kiện thu hái, bảo quản và kỹ thuật chế biến ảnh hưởngnhiều đến chất lượng của sản phẩm Trừ nicotin, còn các thuốc thảo mộc khác đang được nghiêncứu sử dụng
Thuốc trừ sâu thảo mộc diệt côn trùng bằng con đường tiếp xúc, vị độc hoặc xônghơi Phổ tác động thường không rộng Một số loại còn có khả năng diệt cả nhện hại cây Saukhi xâm nhập, thuốc nhanh chóng tác động đến hệ thần kinh, gây tê liệt và làm chết côntrùng
Trừ nicotin (thuốc rất độc với động vật máu nóng, có thể gây ung thư, nên đã bị cấm
ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam), Ryania và Sabadilla, các thuốc thảo mộc nói chung ítđộc đối với người và động vật máu nóng, các sinh vật có ích và động vật hoang dã Do thuốctrừ sâu thảo mộc nhanh bị phân huỷ, nên chúng không tích luỹ trong cơ thể sinh vật, trongmôi trường và không gây hiện tượng sâu chống thuốc
Thuốc thảo mộc rất an toàn đối với thực vật, thậm chí trong một số trường hợp chúngcòn kích thích cây phát triển
Do việc thu hái bảo quản khó khăn, giá thành đắt, nên trong một thời gian dài, cácthuốc trừ sâu thảo mộc đã bị các thuốc trừ sâu hoá học lấn át Ngày nay, với yêu cầu bảo vệmôi trường ngày càng được nâng cao, cộng với kỹ thuật gia công được phát triển, nên nhiềuthuốc trừ sâu thảo mộc được dùng trở lại, đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần bảo vệ môitrường Nhiều chất mới được phát hiện dùng làm thuốc trừ sâu như tinh dàu chàm, tinh dàu bạch đàn,tinh dầu tỏi v.v
Một số hoạt chất thảo mộc được dùng làm thuốc trừ sâu có mặt ở Việt Nam:
- Pyrethrin: có trong hoa cây cúc sát trùng Chrysanthemun leucanthemun và
các cây Chrysanthemun khác Tác động mạnh đến côn trùng bằng con đường tiếp xúc; tácđộng yếu hơn đến các loài nhện, bằng cách bịt kênh vận chuyển ion Na+, kéo dài giai đoạn
mở, vì thế, côn trùng bị quật ngã và chết nhanh Thuốc được dùng trừ côn trùng và nhện trênrau, chè, nhiều cây trồng, cây cảnh; côn trùng ký sinh trên gia súc và động vật trong nhà
Có độ độc rất thấp với người, động vật máu nóng và môi trường
Ngày nay, bắt chước các pyrethrin tự nhiên, người ta đã tổng hợp ra vài chục hợpchất pyrethroid khác, trở thành một nhóm thuốc trừ sâu lớn, có nhiều ưu điểm hơnpyrethrin tự nhiên
- Rotenon và các rotenoit: là các alkaloid có trong rễ, thân lá, hạt của một số loài
cây thuộc họ Papilionaceae (đặc biệt có nhiều trong rễ cây Derris spp., nhất là Derris eleptica) Gây độc bằng cách ức chế sự chuyển hoá trong hô hấp, gây rối chuyển hoá điện
tử của NADH và dehydrogenaza, tách và vận chuyển hydro từ cơ chất đến ubiquinon; men
Trang 37citorom b, CX1, C và men oxydaza có tác dụng xúc tác vận chuyển điện tử đến oxy, hoạthoá oxy phân tử và coenzym Q, làm giảm nghiêm trọng tiêu thụ oxi, ức chế hô hấp trong tythể
Rotenon và các rotenoit tác động đến côn trùng (rệp muội, bọ trĩ, ngài, các bọ cánhcứng) và nhện bằng con đường tiếp xúc mạnh và vị độc Ngoài ra còn dùng để trừ kiến lửa,muỗi ở đầm lầy; trừ ve bét, dòi ký sinh trên động vật; trừ côn trùng trong nhà và trừ cá dữtrong ruộng nuôi tôm Triệu chứng trúng độc thể hiện nhanh Thuốc ít độc với động vật có vúngoại trừ thuốc xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp và nhiễm độc máu Rotenon và cácrotenoit ít độc với các động vật khác, nhưng rất độc với cá Ở Đồng bằng sông CửuLong rễ cây Derris elleptica được băm nhỏ rải xuống ruộng để trừ cá dữ trong ruộngnuôi tôm rất hiệu quả và an toàn
- Azadirachtin: là một trong 4 chất chính có tác dụng diệt sâu của dịch chiết hạt
(chủ yếu) và lá cây neem, một loài cây có nguồn gốc ở Ân Độ, Myanma, sau được trồng ởTây Phi Ơ Việt Nam, cây neem cũng mọc rải rác trong toàn quốc; đặc biệt mọc thành rừnghàng trăm ha ở Nam Trung bộ Dịch chiết cây neem được dùng rộng rãi ở Ấn Độ, TrungQuốc và nhiều quốc gia khác
Cấu trúc của Azadirachtin tương tự ecdyson (một homon lột xác của côn trùng); cóthể là chất đối kháng của ecdyson, ngăn cản quá trình lột xác của côn trùng qua các tácđộng: làm giảm hay ức chế hoàn toàn khả năng sinh sản, hoặc làm giảm khả năng trứng nở;rút ngắn thời gian sống của trưởng thành, ngăn con cái đẻ trứng, trực tiếp diệt trứng; gâyngán cho ấu trùng, trưởng thành; làm sâu non không biến thái, tác động tới sự lột xác giữacác tuổi sâu, tiền nhộng và gây tê liệt ấu trùng - nhộng, ấu trùng - trưởng thành, nhộng -trưởng thành và trưởng thành Ngoài ra Azadirachtin còn có tác dụng gây ngán và xua đuổi.Bên cạnh tác dụng diệt côn trùng, Azadirachtin còn diệt được cả tuyến trùng và trừ nấm.Thuốc hầu như không độc với cá, động vật thuỷ sinh; ong mật, chim và động vật hoang dãkhác
- Matrine: hoạt chất có hiệu lực diệt sâu mạnh nhất trong dịch chiết cây khổ sâm.
Matrine có phổ tác động rộng, diệt được nhiều loài côn trùng chích hút và miệng nhai;ngòai ra còn diệt được cả nhện hại cây Matrine gây độc bằng cách làm tê liệt hệ thần kinhtrung ương, bịt lỗ thở côn trùng làm cho côn trùng không hô hấp được và bị chết nhanh chóng.Ngoài ra, nhờ tác động gây ngán và xua đuổi, nên thuốc có hiệu lực dài Matrine không có tác dụng nộihấp và xông hơi Thuốc ít gây độc với người, động vật máu nóng và các loài sinh vật khác Bị phân huỷnhanh trong môi trường
- Arteminisinin: Có khoảng 0.3 - 0.5% trong thân lá khô của cây thanh hao hoa
vàng (Artemisia annua L.) Arteminisinin được dùng chủ yếu trừ bệnh sốt rét cho người.
Gần đây Arteminisinin được dùng để trừ sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang hại rau; rầy xanh hại
Trang 38chè; rệp muội , bọ trĩ hại cam chanh Thuốc hầu như không ảnh hưởng đến cá và động vậtthuỷ sinh; ong mật, chim và động vật hoang dã Không gây độc cho cây
- Cnidiadin: Thuốc có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu hại thuộc bộ cánh
phấn và nhện đỏ Triệu chứng ngộ độc thể hiện nhanh Thuốc ít độc với người và động vật máu nóngcũng như các loài sinh vật khác
- Eucalyptol: Có trong cây bạch đàn Phổ tác động rất rộng; trừ được nhiều loài sâu
và nhện Thuốc ít gây độc với người, động vật máu nóng và các loài sinh vật khác Bịphân huỷ nhanh trong môi trường
- Các thuốc thảo mộc khác dùng để trừ sâu:
Anabazin: có trong cây Anabasis aphylla ở hàm lượng 0.11-0.50%; tác động đến côn
trùng như nicotin Được dùng trừ sâu dưới dạng muối sulfat
Helebo trắng (protoveratin): có trong cây Veratrum album với hàm lượng 0.5 - 1%,
để trừ sâu ở Pháp, Ý, Bỉ
Helebo đen (heleborin): có trong cây Heleborus niger
Ryani (rianodin): có trong cây Ryana speciosa có hiệu lực trừ sâu cao, bằng con
đường tiếp xúc và vị độc Được dùng nhiều ở Mỹ
Sabadilla: là các chất cevadine, veratridine và các alcaloid có quan hệ với
cevadine, có trong hạt cây Schoeocaulon officinaleo được dùng nhiều để trừ bọ trĩ ở Ấn
Độ, Trung và Nam Mỹ Cơ chế tác động tương tự pyrethrin, hoạt hoá độ mẫn cảm điện ápcủa kênh truyền dẫn ion Na+ trong hệ thần kinh và màng tế bào cơ xương và cơ giữa
Pellitorin: có trong rễ cây Pellitory anacylus
Spilanthol: có trong hoa cây Spilanthes oleraceae và Spilanthes aceneila
2.6.1.2 Các thuốc có nguồn gốc hóa học
a Thuốc trừ sâu vô cơ
Từ cuối thế kỷ 19 đến khoảng 40 năm đầu của thế kỷ 20, thuốc trừ sâu vô cơ (hợpchất Asen, Flo, Bari clorua ) giữ vai trò quan trọng trong phòng trừ sâu hại Thuốc trừ sâu
vô cơ còn được dùng trừ chuột, hoặc diệt cỏ dại Đặc tính chung của các thuốc trong nhómlà:
- Là thuốc trừ sâu và trừ chuột vị độc, một số khác còn là thuốc tiếp xúc; tác độngnhanh đến sinh vật
- Rất độc với người, động vật máu nóng; tồn lưu lâu và tích luỹ trong môi trường; dễgây hại cho thực vật và quần thể vi sinh vật trong đất Do đặc tính này, ngày nay các thuốctrừ sâu vô cơ hầu như không còn được sử dụng trong sản xuất (chỉ còn sử dụng với lượng rất ít
Trang 39dưới dạng bả để trừ sâu và chuột) Các thuốc trong nhóm có:
- Các hợp chất chứa asen dễ tan (asen trắng As203 asen trắng As203, các asenit natri
và canxi) và khó tan (asenat chì, asenat canxi, chất lục pari) Trong cơ thể sinh vật các asenatchuyển thành asenit rồi tác động đến sinh vật Muối asenit ức chế hoạt động của mencholinesterase, men oxidase, làm tê liệt thần kinh và ức chế hô hấp của côn trùng
- Các hợp chất chứa flo như các florua (natriflorua, aluminium florua, bariflorua) vàsilicofluorua Chúng là những chất có tác dụng vị độc Tác động đến sinh vật chậm hơn cáchợp chất asen Flo có thể gây chứng loãng xương cho động vật, nếu tiếp xúc với lượng lớn
- Các thuốc chứa cyanit, thuỷ ngân: rất độc với động vật máu nóng và môi trường
b Thuốc trừ sâu clo hữu cơ
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, DDT và sau đó là một loạt thuốc trừ sâu hữu cơ khác
ra đời Do có hiệu lực trừ sâu lớn chưa từng có so với các thuốc trừ sâu vơ cơ và thảo mộctrước đó, các thuốc trừ sâu clo hữu cơ đã được sản xuất và sử dụng với qui mô lớn, đánh dấumột bước phát triển mạnh mẽ của ngành hóa bảo vệ thực vật Các thuốc trừ sâu thuộc nhóm clohữu cơ có những đặc điểm chính như sau:
* Ưu điểm:
- Qui trình sản xuất tương đối đơn giản, giá thành của chế phẩm thấp, dễ chế biến hoạtchất thành nhiều dạng chế phẩm khác nhau (BTN, ND, BR, H…) Do đó dễ sử dụng trên nhiềuloại cây trồng và những điều kiện đồng ruộng khác nhau
- Các thuốc này thường có phổ tác động rộng, hiệu lực khá cao, thời gian hiệu lực dàithích hợp cho việc phòng trị ngoài đồng, nhất là đối với các loại cây công nghiệp Độ bền hóahọc lớn trong những điều kiện thông thường nên dễ bảo quản tồn trữ
* Nhược điểm:
- Do độ bền hóa học lớn nên thuốc dễ lưu bả trong đất đai, cây trồng, nông sản, thựcphẩm Chúng làm cho môi trường bị ô nhiễm trong một thời gian dài Thời gian phân giải 95%hoạt chất trong điều kiện tự nhiên của DDT là 10 năm; Lindane là 6,5 năm; Diendrin là 8 năm;Clodan là 3,5 năm Bả thuốc lưu tồn không những làm cho phẩm chất, hình thức của nông sản
bị xấu đi mà còn gây độc cho người hay gia súc sử dụng nông sản đó, như BHC thường để lạimùi khó chịu trên nông sản như khoai tây, rau đậu…
- Có khả năng gây trúng độc tích lũy mạnh Qua sự tiếp xúc với thuốc nhiều lần hay quachuỗi thức ăn hàm lượng thuốc trong cơ thể, chủ yếu trong mô mỡ tăng lên rất nhiều, đến mộtlượng nào đó nó biểu hiện các triệu chứng ngộ độc rất hiểm nghèo như ung thư, quái thai…
- Độ độc đối với cá và thiên địch
- Khi sử dụng một loại thuốc clo hữu cơ ở tại một địa phương trong nhiều năm dễ gây
Trang 40ra hiện tượng côn trùng kháng thuốc Do những nhược điểm trên, ngày nay nhiều thuốc trừ sâugốc clo hữu cơ đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng ở nhiều nước.
- Dạng chế phẩm thường gặp là ND, BTN, H, bột phun ở các hàm lượng khác nhau
- Tính chất hóa học: các thuốc clo hữu cơ thường có độ bền hóa học lớn, tồn tại lâu dàingay cả điều kiện ngoài đồng, phần lớn đều bị phân hủy trong môi trường kiềm
- Tính độc: độ độc thuốc đối với động vật máu nóng đều từ trung bình đến cao, trong đócác hợp chất nhóm DDT, BHC, nhóm Cyclodien có khả năng tích lũy trong cơ thể người vàđộng vật (trừ thiodan) Các thuốc clo hữu cơ thường có tác dụng vị độc và tiếp xúc lên côntrùng, một số còn có đặc tính xông hơi Các thuốc này thường tác động lên hệ thần kinh bằngcách ức chế men chilinesteraza và tác động lên một số cơ quan khác làm rối loạn hoạt động của
* Một số thuốc trừ sâu clo hữu cơ thông dụng trước đây: DDT (Dichlodiphenyl
trichloetan), Metoxi DDT, BHC, Thuốc trừ sâu Tecpen clo hóa, Thuốc trừ sâu Cyclodien
c Thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ
Một số tính chất chung
- Phổ rộng, diệt được nhiều loài sâu hại thuộc các bộ chính như: Coleopterra,Lepidoptera, Hemynoptera, Hemiptera
- Tác động rất nhanh: tiếp xúc, vị độc, xông hơi (rất mạnh)
- Không tồn tại lâu trong môi trường, hiệu lực diệt sâu nhanh
- Gây độc cấp tính rất cao do tác động hệ thần kinh rất mạnh, tích lũy nhanh
- Thải ra ngoài qua đường nước tiểu, chất giải độc là Atropine
- Rất độc đối với động vật máu nóng và thiên địch