1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giup hoc sinh lam TN co hieu qua

18 265 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giúp học sinh làm TN có hiệu quả
Tác giả Phan Thị Thanh Xuân
Trường học Trường THCS Nguyễn Du
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 5,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm vật lý được thực hiện ở trường phổ thông với những mục đích khác nhau: Giáo viên trình bày thí nghiệm nhằm để chứng minh hay minh họa một định luật, một quy tắc vật lý nào đó

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Vật lý học là một ngành khoa học tự nhiên Nhiệm vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìm ra những nguyên nhân, khám phá những định luật vật lý, nhằm phục vụ lợi ích của con người Mọi hiện tượng vật lý đều diễn ra theo một định luật xác định Mục đích của các nhà vật lý là khám phá nó Để khám phá hoặc kiểm tra các hiện tượng, quy luật vật lý, người ta phải làm các thí nghiệm vật lý Khi làm thí nghiệm nhà vật lý phải quan sát và đo đạc Quan sát để biết đại lượng nào thay đổi ( tăng hoặc giảm) hay không thay đổi Đo đạc để biết đại lượng nào thay đổi nhiều ít bao nhiêu, nhanh, chậm thế nào Vì vậy việc quan sát và đo đạc rất quan trọng, đòi hỏi độ chính xác cao để đi đến thành công một thí nghiệm vật lý

Trong dạy học bộ môn vật lý ở trường trung học cơ sở hiện nay, hầu như mỗi tiết dạy đều có thí nghiệm, thậm chí một tiết phải tiến hành nhiều thí nghiệm Để đảm bảo thời lượng một tiết cho thầy và trò hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà vẫn kết hợp tốt phương pháp tích cực “ thầy chủ đạo, trò chủ động” thật không đơn giản Tiết học có thành công hay không phụ thuộc vào kết quả thí nghiệm thu được qua quá trình nghiên cứu, sự phối hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò Thầy bao quát, hướng dẫn; trò nghiêm túc thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Ngoài ra việc sử dụng thí nghiệm cũng là trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực hóa trong hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh phát triển năng lực và quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học

Không phải thí nghiệm nào khi thực hiện đều thành công, do nhiều nguyên nhân khác nhau ( do dụng cụ thí nghiệm, do sự sơ ý làm đổ bể khi thực hiện ) Thì giáo viên lại là người xử lí tình huống, đó cũng là một điểm khó không những cho tôi mà cho nhiều đồng nghiệp khác đang trực tiếp giảng dạy bộ môn này

Xuất phát từ đó tôi đã quan tâm đến vấn đề nghiên cứu “ làm thế nào để giúp cho học sinh thực hiện thí nghiệm vật lý hiệu quả” là đề tài thảo luận trong tổ, để áp dụng trong trường và cũng là đề tài mà tôi tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm

Trang 2

PHẦN II : NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:

Việc áp dụng rộng rãi các thí nghiệm vật lý ở nhà trường là một trong các biện pháp rất quan trọng, để nâng cao chất lượng dạy và học, nhằm cho học sinh hiểu sâu hơn giữa lý thuyết và thực tế để áp dụng vào thực tiễn Thí nghiệm vật lý có tác dụng rất to lớn trong việc phát triển năng lực và nhận thức khoa học cho học sinh Thí nghiệm vật lý được thực hiện ở trường phổ thông với những mục đích khác nhau: Giáo viên trình bày thí nghiệm nhằm để chứng minh hay minh họa một định luật, một quy tắc vật lý nào đó hoặc học sinh tự tay làm các thí nghiệm để tìm hiểu các hiện tượng vật lý thường xảy ra trong tự nhiên, nhằm đào sâu, củng cố kiến thức đã học Đề tài đưa ra đòi hỏi các thầy cô dạy bộ môn này phải đổi mới, cải tiến phương pháp dạy và học sao cho phù hợp với yêu cầu mới hiện nay

II THỰC TRẠNG VẤÄN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU.

1 Về phía giáo viên :

Giảng dạy thí nghiệm còn tương đối mới đối với bản thân tôi cũng như nhiều đồng nghiệp Qua quá trình giảng dạy, cũng như qua nhiều lần dự giờ, tôi nhận thấy một số giáo viên thường mắc phải những vấn đề sau:

+ Không hướng dẫn cách sử dụng đồ dùng thí nghiệm cho hợp lí để không bị hỏng ( đặc biệt là đồ dùng thuộc phần Điện )

+ Khi sử dụng thí nghiệm trong dạy học, giáo viên mới chỉ chủ yếu quan tâm đến việc làm thế nào để tiến hành thí nghiệm thành công, chỉ ra cho học sinh thấy được kết quả của thí nghiệm phù hợp với kiến thức cần dạy trong bài

+ Khi tiến hành các thí nghiệm biểu diễn thì giáo viên là người tiến hành từ đầu đến cuối và nhiều khi ngay cả mục đích của thí nghiệm cũng không được phát hiện rõ ràng, nhất là đối với thí nghiệm định tính Giáo viên không bao quát được học sinh dưới lớp

+ Câu hỏi thường thấy ở giáo viên trước khi tiến hành mỗi thí nghiệm là

“Các em hãy quan sát thí nghiệm và cho biết hiện tượng xảy ra” xảy ra hay không thì giáo viên lại là người phân tích, giảng giải để đưa ra kết luận

+ Khi tiến hành thí nghiệm theo nhóm học sinh, nhiều giáo viên chưa hướng dẫn cụ thể các bước thí nghiệm đã cho học sinh làm Chính vì vậy mà học sinh không hiểu nhận dụng cụ song thì làm gì, gây sự ồn ào, bối rối, đặc biệt là sự mất thời gian cho tiết học Do đó việc bố trí học sinh làm việc theo nhóm không mang lại hiệu quả, chưa kích thích được sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhóm Với việc sử dụng các thí nghiệm trong quá trình dạy học như vậy thì hiệu quả đem lại sẽ hết sức hạn chế và không phát huy được tính tích cực,

tư duy của học sinh

Trang 3

+ Chưa có kế hoạch phân chia hợp lý: Thí nghiệm nào là giáo viên thực hiện, thí nghiệm nào là học sinh thực hiện Với những bài nhiều thí nghiệm, có khi giáo viên giao toàn bộ việc làm thí nghiệm cho học sinh, kết quả cho thấy vừa không đem lại hiệu quả, mất thời gian mà lại không hoàn thành bài dạy

2 Về phía học sinh :

Qua quá trình tìm hiểu tôi nhận thấy ở các em:

+ Hầu hết học sinh đều rất hứng thú khi được làm thí nghiệm Tuy nhiên, trong khi làm thí nghiệm, thì 1 số em lại coi đó là một trò chơi, không tham gia vào công việc được giao, không quan tâm đến kết quả đạt được của thí nghiệm Khi giáo viên yêu cầu rút ra kết luận từ việc làm thí nghiệm, thì lúc này hầu hết các em mới đọc kết luận từ sách giáo khoa

+ Thường thấy ở các hoạt độâng nhóm là các em chưa có sự phân công, công việc cụ thể cho các thành viên, chính vì vậy khi thực hiện nhiều em cùng tham gia vào 1 việc, mà việc kia thì lại chưa thực hiện, nhất là trong khâu lắp ráp thí nghiệm Đó là sự không nhịp nhàng trong công việc Do đó kết quả thí nghiệm thu được chậm trễ, mất nhiều thời gian cho bài

Vì vậy để đạt những kết quả như mong muốn trong qúa trình thực hành thí nghiệm thành công, tôi đã thực hiện các biện pháp dưới đây:

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.

Trong các bài học có sử dụng thí nghiệm, giải pháp được lựa chọn để giải quyết vấn đề đặt ra là tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu Việc sử dụng các thí nghiệm cần phải được thực hiện một cách đầy đủ theo các bước dưới đây:

1.Trước khi làm thí nghiệm:

* Nêu rõ mục đích thí nghiệm:

Mục đích thí nghiệm không phải do giáo viên đưa ra mà đòi hỏi phải được tiến hành thông qua trao đổi, đàm thoại với học sinh Qúa trình đàm thoại để nêu rõ mục đích của một thí nghiệm cụ thể, có thể được bắt đầu từ vấn đề đặt

ra của bài học, từ những hiện tượng quan sát được trong thực tế hay từ kết quả của một thí nghiệm trước đó

* Thiết kế phương án thí nghiệm:

Đây là giai đoạn có thể giao nhiệm vụ cho học sinh hoạt động độc lập hoặc trao đổi theo nhóm để đề xuất phương án thí nghiệm

Chú ý: chỉ cần yêu cầu học sinh đề xuất phương án thí nghiệm về mặt nguyên tắc chứ không thể yêu cầu đưa ra các dụng cụ thí nghiệm cụ thể

Giai đoạn này không phải học sinh nào cũng thiết kế được, tùy vào trình độ, sự hiểu biết của các em, đồng thời còn phụ thuộc vào thí nghiệm đơn giản hay phức tạp

Trang 4

* Lựa chọn dụng cụ thí nghiệm và bố trí thí nghiệm:

Các dụng cụ thí nghiệm được sử dụng trong bài phải được giáo viên lựa chọn chính xác và tốt nhất, trước khi chuẩn bị cho bài dạy

Sau khi học sinh đề xuất các phương án thí nghiệm thực hành, theo mục đích đã xác định, giáo viên nhận xét và dựa trên một phương án khả thi nào đó mà học sinh đề xuất để làm rõ hơn phương pháp tiến hành, đồng thời giới thiệu cụ thể về chức năng, cách sử dụng của từng thiết bị đo khi sử dụng làm thí nghiệm, cách bố trí thí nghiệm để tiến hành ( nếu là thí nghiệm biểu diễn của giáo viên ) hoặc giao cho học sinh tiến hành ( nếu là thí nghiệm nghiên cứu của học sinh )

2 Trong khi làm thí nghiệm:

Giai đoạn này là ta đi tiến hành thí nghiệm:

+ Nếu thí nghiệm do giáo viên thực hiện là những thí nghiệm khó làm, nguy hiểm, hoặc đòi hỏi những thiết bị đắt tiền khó kiếm, thì học sinh có nhiệm vụ quan sát và tham gia vào việc đo đạc hay đọc số chỉ của các dụng cụ đo + Nếu thí nghiệm của học sinh là những thí nghiệm dễ làm, không nguy hiểm, thì sau khi có dụng cụ mà mỗi nhóm đã nhận đủ từ giáo viên, các em phải tự lực tiến hành theo nhóm để quan sát, đo đạc theo phương án thí nghiệm đã xác định ở trên Lúc này giáo viên chỉ là người quan sát quá trình làm việc của các em và giúp đỡ khi cần thiết

3 Sau khi làm thí nghiệm:

Ở giai đoạn này là phải xử lí được kết quả thí nghiệm và rút ra được kết luận: + Dù thí nghiệm thực hành là của giáo viên hay của học sinh thì giáo viên cũng giao nhiệm vụ cho học sinh xử lí số liệu, thông qua sự trao đổi thảo luận để rút ra kết luận

+ Trong quá trình thực hiện phân tích, giáo viên cần nêu ra các câu hỏi để học sinh đưa ra những nhận xét, từ nhận xét sơ bộ rồi đến cụ thể hóa dần từng bước để cuối cùng rút ra được kết luận về vấn đề cần nghiên cứu, tức là trả lời được câu hỏi nêu vấn đề đặt ra ở đầu bài học

* Sau đây tôi xin trình bày 1 vài ví dụ mà tôi đã thực hiện được và đi tới thành công cho tiết dạy của mình:

Ví dụ 1: Vật lý 6 – Bài 14: Mặt phẳng nghiêng.

Với thí nghiệm bài này vì đơn giản dễ thực hiện, không gây nguy hiểm cho học sinh, tôi cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức là làm thí nghiệm theo nhóm dưới sự hướng dẫn của tôi

* Để tìm hiểu mục đích thí nghiệm:

-Tôi treo tranh hình vẽ 13.2 lên bảng, yêu cầu học sinh nêu những khó khăn trong cách kéo này

Trang 5

-Từ đó tiếp tục treo tranh hình vẽ 14.1, xem những người trong tranh 14.1 đã khắc phục những khó khăn trong cách kéo ở hình vẽ 13.2 như thế nào?

-Sau khi học sinh nêu được ở tranh hình vẽ 14.1 họ đã tạo 1 dốc nghiêng (mặt phẳng nghiêng) để kéo vật Đây chính là mục đích thí nghiệm cần làm và là nội dung kiến thức trọng tâm của bài

* Thiết kế phương án thí nghiệm:

Giao nhiệm vụ học sinh hoạt động độc lập dự đoán câu trả lời ở phần đặt vấn đề Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh để các em không thụ động khi làm thí nghiệm : Để làm thay đổi độ nghiêng của tấm ván ta làm như thế nào? Học sinh thảo luận theo nhóm đưa ra những phương án:

-Phương án 1: Sử dụng những tấm ván (mặt phẳng nghiêng) có độ dài ngắn khác nhau, khi giữ nguyên độ cao kê mặt phẳng nghiêng

-Phương án 2: Thay đổi độ cao kê mặt phẳng nghiêng, khi giữ nguyên độ dài của nó

Trang 6

* Lựa chọn dụng cụ thí nghiệm:

Vì điều kiện trong phòng thiết bị số lượng máng nghiêng không nhiều để cho

2 đến 3 giáo viên dạy cùng 1 khối, các máng nghiêng đều có độ dài bằng nhau, để tiện lợi phương án 2 là thích hợp nhất

Dụng cụ thí nghiệm được phát tới mỗi nhóm:

+ 1 lực kế 5N

+ 1 khối trụ kim loại nặng 2N có móc treo

+ 1 mặt phẳng nghiêng

+ 1 vật kê có thể thay đổi độ cao

* Bố trí thí nghiệm:

Yêu cầu học sinh quan sát hình vẽ 14.2, kết hợp quan sát cách bố trí trực tiếp trên bàn của giáo viên

Để thống nhất kết quả khi điền vào bảng 14.1 và để kiểm tra cách đo của học sinh có chính xác không Tôi yêu cầu các nhóm thực hiện kê vật ở những độ cao sau:

+ Độ nghiêng lớn: độ cao kê là 20cm

+ Độ nghiêng vừa: độ cao kê là 15cm

+ Độ nghiêng nhỏ: độ cao kê là 10cm

Cần lưu ý với học sinh cách kéo vật bằng lực kế lên mặt phẳng nghiêng: phải

đặt song song với mặt phẳng nghiêng trong suốt quá trình kéo

* Tiến hành thí nghiệm:

Để hoàn chỉnh bảng 14.1 kết quả thí nghiệm sách giáo khoa (thư kí các nhóm đã chuẩn bị từ trước), yêu cầu các em chuẩn bị kĩ càng các bước tiến hành đo ở mục 2b (câu C1) Sau đó tôi vừa hỏi học sinh vừa ghi tóm tắt các bước làm thí nghiệm lên bảng:

+ Bước 1 (làm gì): Đo trọng lượng của vật P =F1

+ Bước 2 (làm gì): Đo lực kéo F2 (ở độ nghiêng lớn)

+ Bước 3 (làm gì): Đo lực kéo F2 (ở độ nghiêng vừa)

+ Bước 4 (làm gì): Đo lực kéo F2 (ở độ nghiêng nhỏ)

Bây giờ các nhóm đã nắm rõ được cách thực hiện thí nghiệm, tôi giao việc làm thí nghiệm, hoàn chỉnh bảng 14.1 cho các em, có giới hạn thời gian làm để các em chủ động, tích cực, làm việc nhanh Lúc này tôi tham gia vào hoạt động bao quát, quan sát cách thực hiện thí nghiệm của mỗi nhóm, nhắc nhở và giúp đỡ nếu cần

Trang 7

Hết thời gian, yêu cầu đại diện các nhóm lên ghi kết quả lên bảng phụ mà giáo viên đã chuẩn bị:

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 Nhóm 6

Trọng lượng F1= N F1= N F1= N F1= N F1= N F1= N

Độ nghiêng lớn F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N

Độ nghiêng vừa F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N

Độ nghiêng nhỏ F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N F2= N

* Xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận:

Yêu cầu các nhóm quan sát kĩ bảng kết quả, đối chiếu kết quả thu được của nhóm mình với các nhóm khác, nhận xét nếu thấy kết quả chưa hợp lí

Để cho thuyết phục với kết quả có được trên bảng, tôi tiến hành thí nghiệm kiểm tra, dưới sự quan sát của cả lớp Thống nhất kết quả đúng Nếu có 1 hoặc

2 nhóm sai, tôi phân tích rõ nguyên nhân là do cách đo hay do sai số của dụng cụ đo để đưa ra số liệu chính xác Từ bảng kết quả, yêu cầu học sinh so sánh: + Trọng lượng P (F1) của vật với lực kéo vật lên F2 và rút ra kết luận (trả lời câu hỏi thứ 1 ở mục đặt vấn đề) Vậy dự đoán ban đầu có đúng không?

+ Lực kéo vật F2 ở những độ nghiêng khác nhau và rút ra kết luận (trả lời câu hỏi thứ 2 ở mục đặt vấn đề) Đối chiếu dự đoán thấy sao?

Từ thí nghiệm yêu cầu học sinh đưa ra kiến thức thu thập được cho bài học và ghi nhớ

Liên hệ thực tế qua bài học: Khi đi xe đạp trên 1 đoạn đường dốc:

+ Độ nghiêng đoạn đường dốc càng nghiêng ít thì ta đỡ tốn sức để đạp xe và dễ dàng vượt qua

+ Độ nghiêng đoạn đường dốc càng nghiêng nhiều thì ta phải bỏ sức lực nhiều hơn, thấy mệt hơn và khó có thể vượt qua

Ví dụ 2: Vật Lý 7 – Bài 24: Cường độ dòng điện (TN: Hình vẽ 24.3 SGK).

Sau khi học sinh đã rõ để đo cường độ dòng điện thì phải dùng ampe kế, cách

kí hiệu ampe kế trong sơ đồ mạch điện

* Mục đích thí nghiệm: Tìm mối quan hệ giữa độ sáng của đèn và cường độ dòng điện qua đèn

* Thiết kế phương án thí nghiệm:

Học sinh dự đoán: + Khi đèn sáng mạnh

+ Khi đèn sáng yếu

Thì cường độ dòng điện như thế nào?

Để thực hiện thí nghiệm cần có những dụng cụ gì ? Học sinh phải đưa ra được những dụng cụ cần cho việc làm thí nghiệm

* Dụng cụ thí nghiệm:

+ 2 pin (mỗi pin 1,5V) + 1 công tắc, 1 ampe kế

+ 1 bóng đèn pin + 5 dây nối có vỏ bọc cách điện

Trang 8

Chú ý: Cho học sinh khi lựa chọn ampe kế phải ước lượng I cần đo Chọn ampe kế thích hợp có GHĐ lớn hơn, phù hợp I cần đo Nếu I cần đo vượt quá GHĐ của ampe kế, kim sẽ vượt quá vạch chia độ Tình trạng này kéo dài cũng có thể làm giảm độ chính xác của ampe kế, hoặc cháy ampe kế

* Thực hiện bố trí thí nghiệm:

Mắc sơ đồ mạch điện như hình 24.3 SGK theo 6 nhóm :

Lưu ý:

- Trước khi tiến hành thí nghiệm, khi mắc công tắc phải mở Kim của ampe kế phải điều chỉnh về vạch số 0 trên bảng chia độ

- Cần hướng dẫn học sinh cách sử dụng ampe kế Vì ampe kế là 1 dụng cụ đo dễ bị hỏng nếu ta sử dụng nó không đúng quy cách Khi sử dụng ampe kế phải theo đúng những chỉ dẫn sau:

+ Chỉ được mắc trực tiếp tối đa 1 chốt của ampe kế với nguồn điện Nếu là chốt (+) thì nối với cực (+) của nguồn, nếu là chốt (-) thì nối với cực (-) của nguồn Nếu mắc ampe kế không đúng chiều thì kim của ampe kế sẽ quay ngược, không đo được I, nếu để tình trạng kéo dài, nó có thể làm giảm độ chính xác của ampe kế

+ Nếu 1 chốt của ampe kế đã nối trực tiếp với nguồn điện thì chốt thứ 2 của ampe kế phải được nối với nguồn điện qua 1 dụng cụ dùng điện ( bóng đèn, quạt điện, bàn là )

Chú y ù :

công tắc điện không phải là dụng cụ dùng điện Một chốt của ampe kế nối vối nguồn điện qua một công tắc điện cũng giống như nó được nối trực tiếp với nguồn điện

+ Có thể mắc ampe kế bất kì chỗ nào trên mạch điện, nhưng phải chú ý sao cho dòng điện đi vào ampe kế qua chốt (+) và đi ra khỏi ampe kế qua chốt (-)

- Yêu cầu các nhóm tiến hành thí nghiệm: Đóng công tắc, đợi cho kim của ampe kế đứng yên Đặt mắt để kim che khuất ảnh của nó trong gương và ghi giá trị I và quan sát độ sáng của bóng đèn, trong 2 trường hợp:

+ Sử dụng 1 pin: Đo I1= A và quan sát độ sáng bóng đèn

+ Sử dụng 2 pin: Đo I2= A và quan sát độ sáng bóng đèn

Trang 9

* Yêu cầu các nhóm xử lí kết quả thí nghiệm thu được:

- So sánh: I1 với I2 ?

- Độ sáng của bóng đèn trong 2 trường hợp?

Đại diện 1 đến 2 nhóm trình bày sau khi xử lí xong kết quả thí nghiệm: I2 > I1

(khi sử dụng nguồn điện gồm 2 pin mắc liên tiếp thì đèn sáng mạnh hơn so với khi sử dụng nguồn điện 1 pin)

Từ đó học sinh đưa ra nhận xét về mối quan hệ giữa độ sáng của đèn và I qua đèn ở câu C2 Đối chiếu với dự đoán ban đầu

Chú ý:

Khi tiến hành thí nghiệm, kết quả thí nghiệm 1 số nhóm có thể không đồng nhất, mặc dù bóng đèn giống nhau, các ampe kế có GHĐ và ĐCNN như nhau Giáo viên cần giải thích nguyên nhân dẫn đến sai số là do cách đọc hay do cách điều chỉnh kim của ampe kế về vạch số 0 chưa chuẩn để tránh sự thắc mắc của học sinh

Liên hệ thực tế qua bài học:

Trong một số gia đình có bộ ổn áp trên đó có 1 ampe kế, chúng ta có thể kiểm tra khi dụng cụ trong nhà hoạt động mạnh, yếu thì số chỉ của ampe kế trên bộ ổn áp sẽ như thế nào? Có đúng với kiến thức vừa thu được không?

Lưu ý: ampe kế đó để đo I xoay chiều (mạng điện dân dụng), còn ampe kế vừa sử dụng trong bài dùng để đo I với dòng điện 1 chiều (nguồn là pin hay acquy), nhưng chức năng của chúng đều giống nhau Phân biệt chúng thông qua kí hiệu trên mỗi ampe kế

Ví dụ 3: Vật Lý 7 – Bài 28: Thực hành : Đo hiệu điện thế và cường độ dòng điện đối với đoạn mạch song song.

Ở đây tôi xin trình bày cách hướng dẫn học sinh thực hành: đo hiệu điện thế đối với đoạn mạch song song ( mục 2- phần nội dung thực hành trang 79)

Để cho sự hướng dẫn của giáo viên thêm sinh động, ngoài những dụng cụ đã chuẩn bị cho mỗi nhóm, tôi chuẩn bị thêm:

+ Hình vẽ 28.1a SGK trên giấy rôki

+ Kệ bậc thang để kê các dụng cụ điện (để học sinh dưới lớp dễ quan sát khi giáo viên hướng dẫn thao tác trên bàn giáo viên)

+ Bảng kết quả đo U của mỗi nhóm:

Trang 10

VT mắc vôn kế

Nhóm

Hai điểm 1 và 2 Hai điểm 3 và 4 Hai điểm M

và N

Thông qua mục 1, quan sát hình vẽ 28.1a, học sinh đã biết được:

- Mắc song song 2 bóng đèn

- M và N là 2 điểm nối chung của 2 đèn

- Đoạn mạch nối mỗi đèn với 2 điểm chung là mạch rẽ (cụ thể trong hình 28.1a có 2 mạch rẽ là M12N và M34N)

- Đoạn mạch nối 2 điểm chung M,N với nguồn là mạch chính

Hình 28.1a

Để sang mục 2, giáo viên yêu cầu học sinh nêu dụng cụ dùng để đo U là gì? Và đã bố trí sẵn mô hình thí nghiệm đã lắp ráp sẵn trên kệ bậc thang theo hình 28.1a SGK (khi công tắc mở)

Ngày đăng: 09/10/2013, 09:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-Từ đó tiếp tục treo tranh hình vẽ 14.1, xem những người trong tranh 14.1 đã khắc phục những khó khăn trong cách kéo ở hình vẽ 13.2 như thế nào? - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
ti ếp tục treo tranh hình vẽ 14.1, xem những người trong tranh 14.1 đã khắc phục những khó khăn trong cách kéo ở hình vẽ 13.2 như thế nào? (Trang 5)
-Sau khi học sinh nêu được ở tranh hình vẽ 14.1 họ đã tạo 1 dốc nghiêng (mặt phẳng  nghiêng) để kéo vật - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
au khi học sinh nêu được ở tranh hình vẽ 14.1 họ đã tạo 1 dốc nghiêng (mặt phẳng nghiêng) để kéo vật (Trang 5)
Mắc sơ đồ mạch điện như hình 24.3 SGK theo 6 nhóm: - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
c sơ đồ mạch điện như hình 24.3 SGK theo 6 nhóm: (Trang 8)
- Đoạn mạch nối mỗi đèn với 2 điểm chung là mạch rẽ (cụ thể trong hình 28.1a có 2 mạch rẽ là M12N và M34N). - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
o ạn mạch nối mỗi đèn với 2 điểm chung là mạch rẽ (cụ thể trong hình 28.1a có 2 mạch rẽ là M12N và M34N) (Trang 10)
Hình 28.1a - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
Hình 28.1a (Trang 10)
Mô hình kệ bậc thang: - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
h ình kệ bậc thang: (Trang 11)
* Sau đó yêu cầu học sinh quan sát cách bố trí thí nghiệm trên bảng của giáo viên, đặc biệt chú ý cách gắn đinh lên 3 thanh ( khoảng cách từ mỗi đinh ghim  tới nguồn nhiệt phải bằng nhau). - giup hoc sinh lam TN co hieu qua
au đó yêu cầu học sinh quan sát cách bố trí thí nghiệm trên bảng của giáo viên, đặc biệt chú ý cách gắn đinh lên 3 thanh ( khoảng cách từ mỗi đinh ghim tới nguồn nhiệt phải bằng nhau) (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w