1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mạng Lan và thiết kế mạng LAN

35 436 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mạng Lan Và Thiết Kế Mạng Lan
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Công Nghệ
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 103,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình kết nối dạng sao này đã trở lên hết sức phổ biến, với việc sử dụng các bộ tập trung hoặc chuyển mạch, cấu trúc sao có thể đợc mở rộng bằng cách tổ chức nhiều mức phân cấp, do đó

Trang 1

Mạng Lan và thiết kế mạng LAN

Trong chơng này giới thiệu về mạng LAN và thiết kế mạng LAN Qua đó trình bày các kiến thức cơ bản về cấu trúc Tôpô của mạng cục bộ, phơng thức truy cập đ-ờng truyền, các thiết bị dùng để kết nối mạng LAN và các bớc thiết kế mạng LAN

Đồng thời cũng trình bày các kiến thức về mạng Ethernet và cách cài đặt mạng Ethernet là một trong những mạng phổ biến nhất trong mô hình mạng LAN.

3.1 Kiến thức cơ bản về mạng LAN

3.1.1 Cấu trúc tôpô của mạng cục bộ

Cấu trúc tôpô (Network Topology) của LAN là kiến trúc hình học thể hiện cách bố trí các đờng cáp, xắp xếp các máy tính để kết nối thành mạng hoàn chỉnh Hầu hết các mạng LAN ngày nay đều đợc thiết kế để hoạt động dựa trên một cấu trúc mạng định trớc

Điển hình và sử dụng nhiều nhất là cấu trúc: dạng sao, dạng tuyến tính, dạng vòng cùng với những cấu trúc kết hợp của chúng

3.1.1.1 Mạng dạng sao (Star Topology)

Mạng sao bao gồm một bộ kết nối trung tâm và các nút, các nút này là các trạm

đầu cuối, các máy tính và các thiết bị khác của mạng Bộ kết nối trung tâm của mạng điều phối mọi hoạt động trong mạng (hình 2)

Hình 3.1: Cấu trúc mạng sao

Mạng dạng sao cho phép nối các máy tính vào một bộ tập trung bằng cáp, giải pháp này cho phép nối trực tiếp máy tính với bộ tập trung không cần thông qua trục Bus, nên tránh đợc các yếu tố gây ngng trệ mạng

Mô hình kết nối dạng sao này đã trở lên hết sức phổ biến, với việc sử dụng các bộ tập trung hoặc chuyển mạch, cấu trúc sao có thể đợc mở rộng bằng cách tổ chức nhiều mức phân cấp, do đó dễ dàng trong việc quản lý và vận hành

Trang 2

Ưu điểm:

- Hoạt động theo nguyên lý nối song song nên nếu có một thiết bị nào đó ở một nút thông tin bị hỏng thì mạng vẫn hoạt động bình thờng

- Cấu trúc mạng đơn giản và các giải thuật toán ổn định

- Mạng có thể dễ dạng mở rộng hoặc thu hẹp

- Dễ dàng kiểm soát nỗi, khắc phục sự cố Đặc biệt do sử dụng kêt nối điểm - điểm nên tận dụng đợc tối đa tốc độ của đờng truyền vật lý

Nhợc điểm:

- Khả năng mở rộng của toàn mạng, phục thuộc vào khả năng của trung tâm

- Khi trung tâm có sự cố thì toàn mạng ngừng hoạt động

- Mạng yêu cầu nối độc lập riêng rẽ từng thiết bị ở các út thông tin đến trung tâm

- Độ dài đờng truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (trong vòng 100m với công nghệ hiện tại)

3.1.1.2 Mạng dạng tuyến (Bus Topology)

Thực hiện theo cách bố trí ngang hàng, các máy tính và các thiết bị khác Các nút

đều đợc nối về với nhau trên một trục đờng dây cáp chính để chuyển tải tín hiệu Tất cả các nút đều sử dụng chung đờng dây cáp chính này

ở hai đầu dây cáp đợc bịt bởi một thiết bị gọi là Terminator Các tín hiệu và dữ liệu khi truyền đi đều mang theo địa chỉ nơi đến

Hình 3.2: Cấu trúc mạng hình tuyến

Terminator

Trang 3

Ưu điểm:

- Loại cấu trúc mạng này dùng dây cáp ít nhất

- Lắp đặt đơn giản và giá thành rẻ

Nhợc điểm:

- Sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lu lợng lớn

- Khi có sự cố hỏng hóc ở đoạn nào đó thì rất khó phát hiện, lỗi trên đờng dây cũng làm cho toàn bộ hệ thống ngừng hoạt động Cấu trúc này ngày nay ít đợc sử dụng

3.1.1.3 Mạng dạng vòng (Ring Topology)

Mạng dạng này bố trí theo dạng xoay vòng, đờng dây cáp đợc thiết kế làm thành một vòng tròn khép kín, tín hiệu chạy quanh theo một vòng nào đó Các nút truyền tín hiệu cho nhau mỗi thời điểm chỉ đợc một nút mà thôi, dữ liệu truyền đi phải có kèm theo

địa chỉ cụ thể của mỗi trạm tiếp nhận

Ưu điểm:

- Mạng dạng vòng có thuận lợi có thể mở rộng ra xa, tổng đờng dây cần thiết ít hơn so với hai kiểu trên

- Mỗi trạm có thể đạt đợc tốc độ tối đa khi truy nhập

Nhợc điểm: Đờng dây phải khép kín, nếu bị ngắt ở một nơi nào đó thì toàn bộ hệ

Là mạng kết hợp dạng sao và tuyến (Star/Bus Topology): Cấu hình mạng dạng này

có bộ phận tách tín hiệu (Spitter) giữ vai trò thiết bị trung tâm, hệ thống dây cáp mạng có thể chọn hoặc Ring Topology hoặc Linear Bus Topology Ưu điểm của cấu hình này là mạng có thể gồm nhiều nhóm làm việc ở cách xa nhau, ARCNET là mạng dạng kết hợp

Trang 4

Star/Bus Topology Cấu hình dạng này đa lại sự uyển chuyển trong việc bố trí đờng dây

t-ơng thích dễ dàng đối với bất kỳ toà nhà nào Kết hợp cấu hình sao và vòng (Start/Ring Topology) Cấu hình dạng kết hợp Start/Ring Topology, có một thẻ bài liên lạc đợc chuyển vòng quanh một cái bộ tập trung

3.1.2 Các phơng thức truy cập đờng truyền

Trong mạng cục bộ, tất cả các trạm kết nối trực tiếp vào đờng truyền chung Vì vậy tín hiệu từ một trạm đa lên đờng truyền sẽ đợc các trạm khác “nghe thấy” Một vấn đề khác là, nếu nhiều trạm cùng gửi tín hiệu lên đờng truyền đồng thời thì tín hiệu sẽ chồng lên nhau và bị hỏng Vì vậy cần phải có một phơng pháp tổ chức chia sẻ đờng truyền để việc truyền thông đợc đúng đắn

Có hai phơng pháp chia sẻ đờng truyền chung thờng đợc dùng trong các mạng cục bộ:

- Truy nhập đờng truyền một cách ngẫu nhiên, theo yêu cầu Đơng nhiên phải có tính đến việc sử dụng luân phiên và nếu trong trờng hợp do có nhiều trạm cùng truyền tin dẫn đến tín hiệu bị trùm lên nhau thì phải truyền lại

- Có cơ chế trọng tài để cấp quyền truy nhập đờng truyền sao cho không xảy ra xung đột

3.1.2.1 Phơng pháp đa truy nhập sử dụng sóng mang có pháp hiện xung đột CSMA/CD (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detection)

Giao thức CSMA (Carrier Sense Multiple Access) - Đa truy nhập có cảm nhận sóng mang đợc sử dụng rất phổ biến trong các mạng cục bộ Giao thức này sử dụng phơng pháp thời gian chia ngăn theo đó thời gian đợc chia thành các khoảng thời gian đều đặn và các trạm chỉ phát lên đờng truyền tại thời điểm đầu ngăn

Mỗi trạm có thiết bị nghe tín hiệu trên đờng truyền (tức là cảm nhận sóng mang) Trớc khi truyền cần phải biết đờng truyền có rỗi không, nếu rỗi thì mới đợc truyền Phơng pháp này gọi là LBT (Listening Before Talking) Khi phát hiện xung đột, các trạm sẽ phải phát lại Có một số chiến lợc phát lại nh sau:

- Giao thức CSMA 1- kiên trì: Khi trạm phát hiện kênh rỗi trạm truyền ngay Nhng nếu có xung đột, trạm đợi khoảng thời gian ngẫu nhiên rồi truyền lại Do vậy xác suất truyền khi kênh rỗi là 1 Chính vì thế mà giao thức có tên là CSMA 1-kiên trì (1)

- Giao thức CSMA không kiên trì khác một chút: Trạm nghe đờng, nếu kênh rỗi thì truyền, nếu không thì ngừng nghe, khoảng thời gian ngẫu nhiên rồi mới thực hiện lại thủ tục Cách này có hiệu suất dùng kênh cao hơn (2)

Trang 5

- Giao thức CSMA p-kiên trì: Khi đã sẵn sàng truyền, trạm cảm nhận đờng, nếu ờng rỗi thì thực hiện việc truyền với xác suất là p < 1 (tức là ngay cả khi đờng rỗi cũng không hẳn đã truyền mà đợi khoảng thời gian tiếp theo lại tiếp tục thực hiện việc truyền với xác suất còn lại q=1-p (3)

đ-Ta thấy giải thuật (1) có hiệu quả trong việc tránh xung đột vì hai trạm cần truyền thấy đờng truyền bận sẽ cùng rút lui chờ trong những khoảng thời gian ngẫu nhiên khác nhau sẽ quay lại tiếp tục nghe đờng truyền Nhợc điểm của nó là có thể

có thời gian không sử dụng đờng truyền sau mỗi cuộc gọi.

Giải thuật (2) cố gắng làm giảm thời gian "chết" bằng cách cho phép một trạm

có thể đợc truyền dữ liệu ngay sau khi một cuộc truyền kết thúc Tuy nhiên nếu lúc

đó lại có nhiều trạm đang đợi để truyền dữ liệu thì khả năng xẩy ra xung đột sẽ rất lớn.

Giải thuật (3) với giá trị p đợc chọn hợp lý, có thể tối thiểu hoá đợc cả khả năng xung đột lẫn thời gian "chết" của đờng truyền.

Xẩy ra xung đột thờng là do độ trễ truyền dẫn, mấu chốt của vấn đề là: Các trạm chỉ "nghe" trớc khi truyền dữ liệu mà không "nghe" trong khi truyền, cho nên thực tế có xung đột thế nhng các trạm không biết do đó vẫn truyền dữ liệu.

Để có thể phát hiện xung đột, CSMA/CD đã bổ xung thêm các quy tắc sau

đây:

- Khi một trạm truyền dữ liệu, nó vẫn tiếp tục "nghe" đờng truyền Nếu phát hiện xung đột thì nó ngừng ngay việc truyền, nhờ đó mà tiết kiệm đợc thời gian và giải thông, nhng nó vẫn tiếp tục gửi tín hiệu thêm một thời gian nữa để đảm bảo rằng tất cả các trạm trên mạng đều "nghe" đợc sự kiện này.(nh vậy phải tiếp tục nghe đờng truyền trong khi truyền để phát hiện đụng độ (Listening While Talking).

- Sau đó trạm sẽ chờ trong một khoảng thời gian ngẫu nhiên nào đó rồi thử truyền lại theo quy tắc CSMA.

Giao thức này gọi là CSMA có phát hiện xung đột (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detection viết tắt là CSMA/CD), dùng rộng rãi trong LAN và MAN

3.1.2.2 Phơng pháp Token Bus

Nguyên lý chung của phơng pháp này là để cấp phát quyền truy nhập đờng truyền cho các trạm đang có nhu cầu truyền dữ liệu, một thẻ bài đợc lu chuyển trên một vòng

Trang 6

Logic đợc thiết lập bởi các trạm đó Khi một trạm nhận đợc thẻ bài thì sẽ đợc phép sử dụng đờng truyền trong một thời gian nhất định Trong khoảng thời gian đó nó có thể truyền một hay nhiều đơn vị dữ liệu.

Khi đã truyền xong dữ liệu hoặc thời gian đã hết thì trạm đó phải chuyển thẻ bài cho trạm tiếp theo Nh vậy, công việc đầu tiên là thiết lập vòng Logic (hay còn gọi là vòng

ảo) bao gồm các trạm đang có nhu cầu truyền dữ liệu đợc xác định vị trí theo một chuỗi thứ tự mà trạm cuối cuối cùng của chuỗi sẽ tiếp liền sau bởi trạm đầu tiên Mỗi trạm sẽ biết địa chỉ của trạm liền trớc và kề sau nó

Thứ tự của các trạm trên vòng Logic có thể độc lập với thứ tự vật lý Các trạm không hoặc cha có nhu cầu truyền dữ liệu không đợc vào trong vòng Logic

AB C D H G F EHình 3.4: Mô tả về vòng logic

Trang 7

- Loại bỏ một vòng khỏi vòng Logic: Khi một trạm không có nhu cầu truyền dữ liệu thì cần loại bỏ nó ra khỏi vòng Logic để tối u hoá việc truyền dữ liệu bằng thẻ bài.

- Quản lý lỗi: một số lỗi có thể xẩy ra nh trùng hợp địa, hoặc đứt vòng Logic

- Khởi tạo vòng Logic: khi khởi tạo mạng hoặc khi đứt vòng Logic cần phải khởi tạo lại vòng Logic

3.1.2.3 Phơng pháp Token Ring

Phơng pháp này cũng dựa trên nguyên tắc dùng thẻ bài để cấp phát quyền truy nhập đờng truyền Nhng ở đây thẻ bài lu chuyển theo theo vòng vật lý chứ không theo vòng Logic nh dối với phơng pháp Token Bus

Thẻ bài là một đơn vị truyền dữ liệu đặc biệt trong đó có một bit biểu diễn trạng thái của thẻ (bận hay rỗi) Một trạm muốn truyền dữ liệu phải chờ cho tới khi nhận đợc thẻ bài "rỗi" Khi đó trạm sẽ đổi bit trạng thái thành "bận" và truyền một đơn vị dữ liệu đi cùng với thẻ bài đi theo chiều của vòng Lúc này không còn thẻ bài "rỗi" nữa do đó các trạm muốn truyền dữ liệu phải đợi Dữ liệu tới trạm đích đợc sao chép lại, sau đó cùng với thẻ bài trở về trạm nguồn Trạm nguồn sẽ xoá bỏ dữ liệu đổi bit trạng thái thành "rỗi" và cho lu chuyển thẻ trên vòng để các trạm khác có nhu cầu truyền dữ liệu đợc phép truyền

D

AB

C

Hình 3.5: Thẻ bài trong mạng Ring

Sự quay trở lại trạm nguồn của dữ liệu và thẻ bài nhằm tạo khả năng báo nhận tự nhiên: trạm đích có thể gửi vào đơn vị dữ liệu (phần Header) các thông tin về kết quả tiếp nhận dữ liệu của mình Chẳng hạn các thông tin đó có thể là: trạm đích không tồn tại hoặc không hoạt động, trạm đích tồn tại nhng dữ liệu không đợc sao chép, dữ liệu đã đợc tiếp nhận, có lỗi

Trang 8

Trong phơng pháp này cần giả quyết hai vấn đề có thể dẫn đến phá vỡ hệ thống đó

là mất thẻ bài và thẻ bài "bận" lu chuyển không dừng trên vòng Có nhiều phơng pháp giải quyết các vấn đề trên, dới đây là một phơng pháp đợc khuyến nghị:

Đối với vấn đề mất thẻ bài có thể quy định trớc một trạm điều khiển chủ động Trạm này sẽ theo dõi, phát hiện tình trạng mất thẻ bài bằng cách dùng cơ chế ngỡng thời gian (Time - Out) và phục hồi bằng cách phát đi một thẻ bài "rỗi" mới

Đới với vấn đề thẻ bài bận lu chuyển không dừng, trạm điều khiển sử dụng một bit trên thẻ bài để đánh dấu khi gặp một thẻ bài "bận" đi qua nó Nếu nó gặp lại thẻ bài bạn với bit đã đánh dấu đó có nghĩa là trạm nguồn đã không nhận lại đợc đơn vị dữ liệu của mình do đó thẻ bài "bận" cứ quay vòng mãi Lúc đó trạm điều khiển sẽ chủ động đổi bit trạng thái "bận" thành "rỗi" và cho thẻ bài chuyển tiếp trên vòng Trong phơng pháp này các trạm còn lại trên mạng sẽ đóng vai trò bị động, chúng theo dõi phát hiện tình trạng sự

Hình 3.6: Cấu trúc mạng dạng vòng của FDDI

FDDI thờng đợc dùng với mạng trục trên đó những mạng LAN công xuất thấp có thể nối vào Các mạng LAN đò hỏi tốc độ truyền dữ liệu cao dải thông lớn có thể sử dụng FDDI

Đây là loại cáp gồm 2 đờng dây bằng đồng đợc xoắn vào nhau làm giảm nhiễu

điện từ gây ra bởi môi trờng xung quanh và giữa chúng với nhau Hiện nay có 2 loại cáp xoắn là cáp có bọc kim loại (STP-Shield Twisted Pair) và cáp không bọc kim loại (UTP-Unshield Twisted Pair)

Trang 9

Cáp có bọc kim loại (STP): Lớp bọc bên ngoài có tác dụng chống nhiễu điện từ, có loại có một đôi dây xoắn vào nhau và có loại có nhiều đôi dây xoắn vào nhau.

Cáp không bọc kim loại (UTP): Tính tơng tự nh STP nhng kém hơn về khả năng chống nhiễm từ và suy hao vì không có vỏ bọc

STP và UTP có 2 loại (Category-Cat) thờng dùng:

- Loại 1 và 2 (Cat1 & Cat2): Thờng ding cho truyền thoại và những đờng truyền tốc độ thấp (nhỏ hơn 4Mb/s)

- Loại 3 (Cat3): Tốc độ truyền dữ liệu khoảng 16Mb/s, nó là chuẩn hầu hết cho các mạng điện thoại

- Loại 4 (Cat4): Thích hợp cho đờng truyền 20Mb/s

- Loại 5 (Cat5): Thích hợp cho đờng truyền 100Mb/s

- Loại 6 (Cat6): Thích hợp cho đờng truyền 300Mb/s

Đây là loại cáp rẻ, dễ lắp đặt tuy nhiên nó dễ bị ảnh hởng của môi trờng

Trang 10

3.1.3.2 Cáp đồng trục

Cáp đồng trục có 2 đờng dây dẫn và chúng có cùng 1 trục chung, 1 dây dẫn trung tâm (thờng là dây đồng cứng) đờng dây còn lại tạo thành đờng ống bao xung quanh dây dẫn trung tâm (dây dẫn này có thể là dây bện kim loại và vì nó có chức năng chống nhiễm

từ nên còn gọi là lớp bọc kim) Giữa 2 dây dẫn trên có 1 lớp cách ly, và bên ngoài cùng là lớp vỏ Plastic để bảo vệ cáp

Cáp đồng trục có độ suy hao ít hơn so với các loại cáp đồng khác (nh cáp xoắn đôi) do ít

bị ảnh hởng của môi trờng Các mạng cục bộ sử dụng cáp đồng trục có thể có kích thớc trong phạm vi vài ngàn mét, cáp đồng trục đợc sử dụng nhiều trong các mạng dạng đờng thẳng

Hai loại cáp thờng đợc sử dụng là cáp đồng trục mỏng và cáp đồng trục dày Đờng kính cáp đồng trục mỏng là 0,25 Inch và dày là 0,5 Inch Cả hai loại cáp đều làm việc ở cùng tốc độ nhng cáp đồng trục mỏng có độ hao suy tín hiệu lớn hơn

Hiện nay có cáp đồng trục sau:

- RG -58, 50 ôm: Dùng cho mạng Ethernet

- RG - 59, 75 ôm: Dùng cho truyền hình cáp

Các mạng cục bộ sử dụng cáp đồng trục có dải thông từ 2,5 - 10Mbps, cáp đồng trục có độ suy hao ít hơn so với các loại cáp đồng khác vì nó có lớp vỏ bọc bên ngoài, độ dài thông thờng của một đoạn cáp nối trong mạng là 200 m, thờng sử dụng cho dạng Bus

3.1.3.3 Cáp sợi quang

Cáp sợi quang bao gồm một dây dẫn trung tâm (là một hoặc một bó sợi thuỷ tinh

có thể truyền dẫn tín hiệu quang) đợc bọc một lớp vỏ bọc có tác dụng phản xạ các tín hiệu trở lại để giảm sự mất mát tín hiệu Bên ngoài cùng là lớp vở Plastic để bảo vệ cáp Cáp sợi quang không truyền dẫn đợc các tin hiệu điện mà chỉ truyền các tín hiệu quang và khi nhận chúng sẽ lại chuyển đổi trở lại thành các tín hiệu điện Cáp quang có đờng kính từ 8.3-100 micron, do đờng kính lõi thuỷ tinh có kích thớc rất nhỏ nên rất khó khăn cho việc

đấu nối, nó cần công nghệ đặc biết với kĩ thuật cao và chi phí cao

Dải thông của cáp quang có thể lên tới hàng Gbps và cho phép khoảng cách đi cáp khá xa do độ suy hao tín hiệu trên cáp rất thấp Ngoài ra vì cáp sợi quang không dùng tín hiệu điện từ để truyền dữ liệu nên nó hoàn toàn không bị ảnh hởng của nhiễu điện từ và tín hiệu truyền không bị phát hiện và thu trộn bằng các thiết bị điện tử của ngời khác

Nhợc điểm của cáp quang là khó lắp đặt và giá thanh cao, nhng nhìn chung cáp quang thích hợp cho mọi mạng hiện nay và sau này

Các loại cáp Cáp xoắn

cặp

Cáp đồng trục mỏng

Cáp đồng trục dầy

Cáp quang

Trang 11

Chi tiết Bằng đồng,

có 4 cặp dây(loại 3,4,5)

Bằng đồng, 2 dây, đờng kính 5mm

Bằng đồng, 2 dây, đờng kình 10mm

Bảo mật Trung bình Trung bình Trung bình Hoàn toàn

Chi phí cho

một trạm

3.1.4 Các thiết bị dùng để nối mạng LAN

3.1.4.1 Hub - Bộ tập trung

Hub là 1 trong những yếu tố quan trọng nhất của LAN, đây là điểm kết nối dây trung tâm của mạng, tất cả các trạm trên mạng LAN đợc kết nối thông qua Hub Hub thờng đợc dùng để nối mạng, thông qua những đầu cắm của nó ngời ta liên kết với các máy tính dới dạng hình sao

Một Hub thông thờng có nhiều cổng nối với ngời sử dụng để gắn máy tính và các thiết bị ngoại vi Mỗi cổng hỗ trợ 1 bộ kết nối dùng cặp dây xoắn 10BASET từ mỗi trạm của mạng

Trang 12

Khi tín hiệu đợc truyền từ một trạm tới Hub, nó đợc lặp lại trên khắp các cổng khác của Hub Các Hub thông minh có thể định dạng, kiểm tra, cho phép hoặc không cho phép bởi ngời điều hành mạng từ trung tâm quản lý Hub.

Nếu phân loại theo phần cứng thì có 3 loại Hub:

- Hub đơn (Stand Alone Hub)

- Hub modul (Modular Hub) Rất phổ biến cho các hệ thống mạng vì nó có thể dễ dàng

mở rộng và luôn có chức năng quản lý, modular có từ 4 tới 14 khe cắm, có thể lắp thêm các Modul Ethernet 10BASET

- Hub phân tầng (Stackable Hub) là lý tởng cho những cơ quan muốn đầu t tối thiểu ban đầu nhng lại có kế hoạch phát triển sau này

Phân loại theo khả năng ta có 2 loại:

- Hub bị động (Passive Hub): Hub bị động không chứa các linh kiện điện tử và cũng không sử lý các tín hiệu dữ liệu, nó có chức năng duy nhất là tổ hợp tín hiệu từ 1 số

đoạn cáp mạng

- Hub chủ động (Active Hub): có các linh kiện điện tử có thể khuyếch đại và xử lý các tín hiệu điện tử truyền giữa các thiết bị mạng Quá trình sử lý dữ liệu đợc gọi là tái sinh tín hiệu, nó làm cho tín hiệu trở nên tốt hơn, ít nhạy cảm với lỗi do vậy khoảng cách giữa các thiết bị có thể tăng lên Ưu điểm của Hub chủ động cũng kéo theo giá thành của

nó cao hơn so với Hub bị động, các mạng Tokenring có su hớng dùng Hub chủ động

3.1.4.2 Bridge Cầu

Bridge là một thiết bị có sử lý dùng để nối 2 mạng giống hoặc khác nhau, nó có thể dùng đợc với các mạng có các giao thức khác nhau Cầu nối hoạt động trên tầng liên kết dữ liệu nên không nh bộ tiếp sức phải phát lại tất cả những gì nó nhận đợc thì cầu nối đọc các gói tin của tầng liên kết dữ liệu trong mô hình OSI và xử lý chúng trớc khi quyết định có chuyển đi hay không

Khi nhận đợc các gói tin Bridge chọn lọc và chỉ chuyển những gói tin mà nó thấy cần thiết Điều này cho phép Bridge trở nên có ích khi nối một vài mạng với nhau và cho phép nó hoạt động một cách mềm dẻo

Để thực hiện điều này trong Bridge ở mỗi đầu kết nối có 1 bảng các địa chỉ các trạm đợc kết nối vào với nó, khi hoạt động cầu nối xem xét mỗi gói tin nó nhận đợc bằng cách đọc địa chỉ của nơi gửi và nơi nhận và dựa trên bảng địa chỉ phía nhận đợc gói tin nó quyết định gửi gói tin hay không và bổ xung vào bảng địa chỉ

Trang 13

Khi đọc địa chỉ nơi gửi Bridge kiểm tra xem trong bảng địa chỉ của phần mạng nhận đợc gói tin có địa chỉ đó hay không, nếu không có thì Bridge tự động bổ xung bảng

địa chỉ (cơ chế đó đợc gọi là tự học của cầu nối)

BridgeABCABCHình 3.7: Hoạt động của cầu nối

Khi đọc địa chỉ nơi gửi Bridge kiểm tra xem trong bảng địa chỉ của phần mạng nhận

đ-ợc gói tin có địa chỉ đó hay không, nếu có thì Bridge sẽ cho rằng đó là gói tin nội bộ thuộc phần mạng mà gói tin đến nên không chuyển gói tin đó đi, nếu ngợc lại thì Bridge mới chuyển sang phải bên kia

Trang 14

Hình 3.8: Hoạt động của Bridge trong mô hình OSI

Để tránh một Bridge ngời ta đa ra 2 khái niệm lọc và vận chuyển

- Quá trình sử lý mỗi gói tin đợc gọi là quá trình lọc thể hiện trực tiếp khả năng hoạt động của Bridge

- Tốc độ chuyển vận đợc thể hiện số gói tin trên giây trong đó thể hiện khả năng của Bridge chuyển các gói tin từ mạng này sang mạng khác

Hiện nay có 2 loại Bridge đang đợc sử dụng là Bridge vận chuyển và Bridge biên dịch Bridge vận chuyển dùng để nối 2 mạng cục bộ cùng sử dụng 1 giao thức truyền thông của tầng liên kết dữ liệu, tuy nhiên mỗi mạng có thể sử dụng loại dây nối khác nhau Bridge vận chuyển không có khả năng thay đổi cấu trúc các gói tin mà nó nhận đợc,

nó chỉ quan tâm tới việc xem xét và vận chuyển gói tin đó đi

Bridge biên dịch dùng để nối 2 mạng cục bộ có giao thức khác nhau có khả năng chuyển

1 gói tin thuộc mạng này sang mạng khác trớc khi chuyển qua

Ngời ta sử dụng Bridge trong các trờng hợp sau:

Trang 15

- Mở rộng mạng hiện tại khi đã đạt tới khoảng cách tối đa do Bridge sau khi sử lý gói tin đã phát lại gói tin trên phần mạng còn lại nên tín hiệu tốt hơn bộ tiếp sức.

- Giảm bớt tắc nghẽn mạng khi có quá nhiều trạm bằng cách sử dung Bridge, khi

đó chúng ta chia mạng thành nhiều phần bằng các Bridge, các gói tin trong nội bộ trong phần mạng sẽ không đợc phép qua phần mạng khác

Để nối các mạng có giao thức khác nhau Một vài Bridge có khả năng lựa chọn đối tợng vận chuyển Nó có thể chỉ vận chuyển các gói tin của những địa chỉ xác định

3.1.4.4 Router - Bộ định tuyến

Router là 1 thiết bị hoạt động trên tầng mạng, nó có thể tìm đợc đờng đi tốt nhất cho các gói tin qua nhiều kết nối để đi từ trạm gửi thuộc mạng đầu đến trạm nhận thuộc mạng cuối Router có thể đợc sử dụng trong việc nối nhiều mạng với nhau và cho phép các gói tin có thể đi theo nhiều đờng khác nhau về tới đích

Khác với Bridge hoạt động trên tầng liên kết dữ liệu nên Bridge phải xử lý mọi gói tin trên đờng truyền thì Router có địa chỉ riêng biệt và nó chỉ tiếp nhận và xử lý các gói tin gửi đến nó mà thôi Khi một trạm muốn gửi gói tin qua Router thì nó phải gửi gói tin với địa chỉ trực tiếp của Router (trong gói tin đó phải chứa các thông tin khác về đích đến)

và khi gói tin đến Router thì Router mới xử lý và gửi tiếp

Khi xử lý 1 gói tin Router phải tìm đợc đờng đi của gói tin qua mạng, để làm đợc điều

đó Router phải tìm đợc đờng đi tốt nhất trong mạng dựa trên các thông tin mà nó có về mạng, thông thờng trên mỗi Router có 1 bảng chỉ đờng (Router Table) Dựa trên dữ liệu về Router gần

đó và các mạng trong liên mạng, Router tính đợc bảng chỉ đờng tối u dựa trên 1 thuật toán xác

định trớc

Ngời ta phân chia Router thành 2 loại là Router có phụ thuộc giao thức (The Protocol Dependent Router) và Router không phụ thuộc giao thức (The Protocol Independent Router) dựa vào phơng thức sử lý các gói tin Router có phụ thuộc giao thức:

Trang 16

chỉ thực hiện tìm đờng và truyền gói tin từ mạng này sang mạng khác chứ không chuyển

đổi phơng cách đóng gói của gói tin cho nên cả hai mạng phải dùng chung 1 giao thức truyền thông

Router không phụ thuộc vào giao thức: Có thể liên kết các mạng dùng giao thức truyền thông khác và có thể chuyển đổi gói tin của giao thức này sang gói tin của giao thức kia, nó cũng chấp nhận kích thớc các gói tin khác nhau Để ngăn chặn việc mất mát

số liệu Router còn có thể nhận biết đờng nào có thể chuyển vận và ngừng chuyển vận khi

Trang 17

- Phơng thức vector khoảng cách: Mỗi Router luôn luôn truyền đi thông tin về bảng chỉ đờng của mình trên mạng, thông qua đó các Router khác sẽ cập nhật bảng chỉ đ-ờng cho mình.

- Phơng thức trạng thái tĩnh: Router chỉ truyền các thông báo khi có phát hiện có

sự thay đổi trong mạng và chỉ khi đó các Router khác cập nhật lại bảng chỉ đờng, thông tin truyền đi khi đó thờng là thông tin về đờng truyền

Network 2 Router 2 Router 1 Network 1 Router 3 Network 4 Network 3 Network Distance Port Next Router Dury Stare

Ngày đăng: 07/10/2013, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Cấu trúc mạng sao - Mạng Lan và thiết kế mạng LAN
Hình 3.1 Cấu trúc mạng sao (Trang 1)
Hình 3.12: Hai trạm hai phía xa nhất trong mạng Ethernet 10 Mb/s - Mạng Lan và thiết kế mạng LAN
Hình 3.12 Hai trạm hai phía xa nhất trong mạng Ethernet 10 Mb/s (Trang 24)
Hình dới là hình ví dụ của một mạng Ethernet theo chuẩn 10BaseT. Mỗi máy tính đợc  nối với một bộ chuyển tiếp hay Hub - Mạng Lan và thiết kế mạng LAN
Hình d ới là hình ví dụ của một mạng Ethernet theo chuẩn 10BaseT. Mỗi máy tính đợc nối với một bộ chuyển tiếp hay Hub (Trang 26)
Bảng tổng kết thực hiện phân đoạn mạng bằng các thiết bị kêt nối khác nhau: - Mạng Lan và thiết kế mạng LAN
Bảng t ổng kết thực hiện phân đoạn mạng bằng các thiết bị kêt nối khác nhau: (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w