1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

28 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 6,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não 4 Tâm lý người mang tính chủ thể 5 Tâm lý người mang bản chất xã hội – lịch sử 6 Bản chất tâm lý của hoạt động dạy – học 9 Giáo dục hành vi đạo đức 10 Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức 18 Đặc điểm lao động sư phạm của giảng viên 21 Những phẩm chất cần thiết của giảng viên 23 Năng lực dạy học của giảng viên 25

Trang 1

Não bộ người

Lý tính( tư duy, tư tưởng,…) Mình có thể làm gì với nó?

Phản Ánh Cảm tính( cảm xúc, trạng thái,…)

Nó đem lại cho mình điều gì?

Tác động trở lại

KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não 4

Tâm lý người mang tính chủ thể 5

Tâm lý người mang bản chất xã hội – lịch sử 6

Bản chất tâm lý của hoạt động dạy – học 9

Giáo dục hành vi đạo đức 10

Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức 18

Đặc điểm lao động sư phạm của giảng viên 21

Những phẩm chất cần thiết của giảng viên 23

Năng lực dạy học của giảng viên 25

TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÂM LÝ NGƯỜI

Khái niệm tâm lý :

Là sự tổng hòa, thống nhất giữa những yếu tố tinh thần (cảm xúc, trạng thái, suy nghĩ,…), nảy sinh trong não bộ của con người từ quá trình tác động qua lại với thế giới khách quan

Trang 2

(ghi chú: bấm hiện chú thích( Comment) để hiện bảng giải thích quá trình)

Thế giới khách quan tác động lên não bộ hay não chúng ta thông qua quá trìnhquan sát đã phản ánh thế giới khách quan vào bên trong bằng cách tái tạo lại hìnhảnh của nó Sau đó não bộ tiến hành xử lý thông tin (đã được tái tạo), thông quađánh giá, nhận định về nó tạo ra trạng thái, cảm xúc,… và tư duy (yếu tố tâm lý) đểđưa ra những định hướng, điều khiển hay điều chỉnh hoạt động của bản thân

Thế giới khách quan là gì?

Thế giới khách quan bao gồm tất cả sựvật và hiện tượng trong giới tự nhiên vàquá trình vận động, biến đổi của chúng

mà không chịu sự lệ thuộc vào ý thức củacon người (dù muốn hay không thì nó cóthể xảy ra mà không cần tới sự can thiệp).Bản chất của thế giới khách quan là sựvận động, tác động qua lại giữa những sựvật, hiện tượng dẫn đến sự biến đổi vềmặt số lượng, chất lượng của từng sự vật,hiện tượng Điều đó tạo nên thuộc tínhchung cho mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là phản ánh (kết quảcủa quá trình tác động qua lại)

(ghi chú: bấm hiện chú thích( Comment) để hiện bảng giải thích )

Ta căn cứ vào các dạng tồn tại của vật chất để chia ra 3 dạng phản ánh:

QUÁ TRÌNH NẢY SINH TÂM LÝ NGƯỜI

Trang 3

Phản ánh vật lý: phản ánh của các sự vật không có quá trình trao đổi chất vớimôi trường Đây là dạng phản ánh cơ bản nhất, đơn giản nhất mà ở đó nó phảnánh nguyên si sự vật và hiện tượng

Ví dụ: chân ta (1 dạng hình thái vật chất

có cấu trúc các thuộc tính sự vật, là 1 bộ

phận trên cơ thể sinh học) đi trên bãi cát

=> bãi cát in dấu chân ta (phản ánh1) và

chân ta cũng dính cát (phản ánh2) Sự tác

động qua lại giữa hai hệ thống vật chất

với kết quả là để lại dấu vết tác động ở cả

hệ thống tác động (chủ động) và hệ thống chịu sự tác động (bị động)

Phán ánh sinh học: Phản ánh của các vật chất sống Dạng phản ánh này khôngcòn nguyên si như tác động ban đầu

Ví dụ: Quá trình quang hợp ở thực vật Thực vật chịu

sự tác động của khí Các bô níc (CO2) và nước (H20),

dưới ánh nắng mặt trời sẽ giải phóng ra khí Ô xi (O2)

Ở đây ta thấy sự biến đổi về chất của phản ánh

(không còn nguyên si) qua quá trình tác động qua lại

giữa 2 hệ thống vật chất

Phản ánh tâm lý: Dạng phản ánh cao nhất, chỉ xuất hiện ở hình thái vật chất có

tổ chức đặc biệt là não người, sinh ra những yếu tố tinh thần phong phú làm thayđổi cả về chất và lượng

Trang 4

Ví dụ: Não bộ thuộc bộ phận trên cơ thể mà conngười là tổng thể của mặt tự nhiên và mặt xã hộinên não bộ cũng chịu sự ảnh hưởng từ nó Chính

vì lẽ đó, mà về mặt tự nhiên, chúng ta phải chịu

sự tác động của quy luật trao đổi chất trong cơthể, dẫn đến việc nảy sinh nhu cầu hấp thụ dinhdưỡng Ở đây, yếu tố quy luật trao đổi chất làhiện thực khách quan đã tác động lên bộ não conngười làm nảy sinh ra nhu cầu (yếu tố tâm lý)dẫn đến tái cơ cấu hệ thống tâm lý trong não

Điều kiện để có tâm lý người:

Điều kiện cần và đủ để có được tâm lý là hiện thực khách quan (cần) và bộ não(đủ), xuất phát từ quá trình nảy sinh tâm lý

Đặc điểm của tâm lý người:

 Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não

Khi một sự vật, hiện tượng nào đó trong hiện thực khách quan tác động đến ta,một phản ánh tâm lý diễn ra Kết quả là trên não ta có hình ảnh sự vật, hiện tượng

đó và được gọi là hình ảnh tâm lý Mác nói: “Tinh thân, tư tưởng, tâm lý chẳng qua

là vật chất được chuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có” Rõ ràng, tâm

lý không phải do thượng để sinh ra, cũng không phải do não tiết ra như gan tiết ramật Tâm lý có nguồn gốc từ hiện thực khách quan Hiện thực khách quan chính lànội dung của phản ánh tâm lý

Tâm lý là hình ảnh của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Sự vật,hiện tượng tác động vào giác quan và não đã để lại dấu vết trong não Cơ chế hìnhthành và diễn biến của tâm lý ta có chia ra 3 giai đoạn cơ bản:

Trang 5

Muốn hình thành và phát triển tâm lý, mỗi chúng ta cần làm phong phú hiệnthực khách quan và biết bảo vệ, giữ gìn bộ não

 Tâm lý người mang tính chủ thể:

Chủ thể trong phản ánh tâm lý chính là con người

Phản ánh tâm lý giống như các loại phản ánh khác ở chỗ

chúng đều tạo ra những hình ảnh của các sự vật, hiện

tượng Tuy nhiên, hình ảnh tâm lý khác các loại hình ảnh

khác ở chỗ bao giờ nó cũng mang “dấu ấn” riêng của chủ

thể Chính vì vậy, phản ánh tâm lý mang tính cá nhân,

sinh động, sáng tạo, không khô cứng, thụ động như phản

ánh vật lý (phản ánh nguyên si)

Não bộ trả lời kích thích đi theo dây ly tâm truyền từ trung ương thần kinh gây nên

phản ứng cơ thể

Tiếp nhận kích thích từ thế giới bên ngoài,

hình thành xung động thần kinh theo dây

hướng tâm vào não

não bộ xử lý thông tin tạo ra hình ảnh tâm lý

Trang 6

Hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Hình ảnh tâm lýphụ thuộc vào hai yếu tố: thế giới khách quan và chủ thể (người) đang phản ánhthế giới khách quan

Biểu hiện của tính chủ thể:

1) Một sự vật, hiện tượng nhưng ở những chủ thể

khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lý với những mức

độ sắc thái khác nhau, từ đó các chủ thể có thái độ và

hành vi khác nhau đối với sự vật, hiện tượng đó

2) Một sự vật hiện tượng tác độngđến một chủ thể duy nhất vào những thờiđiểm khác nhau, vào những hoàn cảnhkhác nhau với trạng thái cơ thể, tinh thầnkhác nhau có thể cho ta những hình ảnhtâm lý khác nhau (khi yêu thì cảnh vậtxung quanh đẹp khác thường)

3) Chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người hiểu rõ nhất, thể nghiệm sâu sắc nhất

về hình ảnh tâm lý đó (bởi vì là người trực tiếp nhận sự phản ánh mà không thôngqua chủ thể khác (kể lại) )

Lý do: Mỗi con người có những đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hoạt độngcủa hệ thần kinh Đặc biệt hơn nữa là sự khác biệt về hoàn cảnh sống, điều kiệngiáo dục, tính tích cực hoạt động, giao tiếp khác nhau Như vậy, mỗi chủ thể trongkhi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa cái riêng của mình (khi phản ánh chủthể luôn đánh giá, nhận định sự vật, hiện tượng) vào trong đó, làm cho nó mangđậm màu sắc chủ quan

(ghi chú: bấm hiện chú thích( Comment) để hiện bảng giải thích )

Do tính chủ thể nên tâm lý của con người luôn mang những nét riêng giúp taphân biệt được người này với người khác Trong đời sống và hoạt động, chúng ta

Trang 7

cần biết tôn trọng cái riêng của người khác, không thể đòi hỏi họ suy nghĩ, mongmuốn, hành động như mình Mặt khác, chúng ta cần có cách ứng xử, tiếp cận phùhợp với đối tượng, không nên cứng nhắc, máy móc.

 Tâm lý người mang bản chất xã hội – lịch sử

Bản chất xã hội: Tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan bao gồm cảthế giới tự nhiên và xã hội, trong đó cuộc sống xã hội đóng vai trò quan trọng hơn

cả Các mối quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ đạo đức, quan hệ phápluật , quy định bản chất con người (để đánh giá nhân cách của 1 người, ta phải đặt

họ vào một mối quan hệ nhất định, dựa trên hành động của chủ thể với đối tượngtrong mối quan hệ đó), ví dụ:

Con (chủ thể) yêu thương, chăm sóc (hànhđộng) bố mẹ (đối tượng)

 Đánh giá con hiếu thảo (trong mốiquan hệ gia đình)

Bản thân (chủ thể) đến lớp, tích

cực chơi (hành động) với bạn bè

(đối tượng)

 Đánh giá bản thân là người

hòa đồng (trong mối quan

hệ với bạn bè)

Trang 8

Sự tồn tại và phát triển của con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển củacộng đồng, xã hội Không ai có thể sống ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, dântộc Trên thế giới, có những trẻ em sống với động vật và được chúng nuôi Mặc

dù có cấu tạo sinh lý của con người, do sống

tách biệt với xã hội loài người nên chúng

không có tâm lý như người bình thường Như

vậy, những gì con người có được khi mới

sinh ra chỉ là những điều kiện cần nhưng

chưa đủ Điều kiện tiên quyết để trở thành

người là phải sống và hoạt động theo kiểu

người trong cộng đồng Bởi vậy, tâm lý người chỉ hình thành trong môi trường xãhội, nơi con người sống và làm việc với tư cách là một thành viên của xã hội Bằngcon đường di truyền sinh học, cá nhân tiếp nhận từ thế hệ trước những đặc điểm vềgiải phẫu sinh lý cơ thể và hệ thần kinh Tuy nhiên để trở thành người, cá nhân cầnphải lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, các chuẩn mực cần thiết bằng conđường xã hội thông qua hoạt động, giao tiếp Như vậy, trong cuộc sống xã hội,thông qua hoạt động và giao tiếp, con người đã biến kinh nghiệm xã hội - lịch sửthành kinh nghiệm của cá nhân, hình thành nên tâm lý Với tư cách là chủ thể xãhội, con người càng tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động cá nhân thì tâm lýcàng phát triển Tâm lý con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội

Tính lịch sử: Theo sự vận động và phát triển của xã hội, tâm lý con người cũngkhông ngừng biến đổi và phát triển Khi chuyển sang một thời kỳ lịch sử khác,những biến đổi trong xã hội sớm muộn cũng dẫn tới những thay đổi trong nhậnthức, tình cảm, nếp nghĩ, thế giới quan của con người Tuy vậy, những nét tâm lý

đã hình thành không hoàn toàn mất đi mà còn để lại những dấu ấn nhất định trong

Trang 9

mỗi người và mỗi thế hệ khi thời kỳ lịch sử cũ đã qua đi (ngày nay, vẫn có một sốgia đình sinh sống theo nề nếp phong kiến (phong cách sống thời đại cũ) ) Tâm lý

của mỗi người được hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển củalịch sử cá nhân, lịch sử cộng đồng, lịch sử dân tộc

Vì tâm lý người mang bản chất xã hội - lịch sử, khi đánh giá con người cần xemxét môi trường xã hội, các quan hệ xã hội mà trong đó họ sống và hoạt động Mặtkhác, ta có thể hình thành hoặc cải tạo con người theo mẫu nhân cách nhất địnhbằng cách tạo ra cho họ các điều kiện xã hội thuận lợi như tổ chức các hoạt độngphù hợp

Tóm lại, hiểu bản chất hiện tượng tâm lý giúp ta nhìn nhận về con người mộtcách đúng đắn, có niềm tin và có phương thức trong việc cải tạo con người

BẢN CHẤT TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC

Khái niệm quá trình dạy học:

Hoạt động tương tác có tính phối hợp giữa người dạy và người học nhằm phát triển

kĩ năng, tri thức, nhân cách của người học

Vai trò của người dạy trong quá trình dạy học:

Là những người có trình độ chuyên môn sư phạm, người dạy có vai trò điều hành,

tổ chức lớp học thông qua việc thực hiện các kế hoạch bài giảng đã được thiết kế

để định hướng, tạo cảm hứng, khơi dậy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học nhằm đạt được mục đích bài giảng đã đề ra

Vai trò của người học trong quá trình dạy học:

Dưới sự điều hành, tổ chức của người dạy, người học trong quá trình dạy học đại học được kích thích nảy sinh ra động cơ, cảm hứng, tạo tính tích cực, chủ động

Trang 10

sáng tạo tương tác với người dạy, với môi trường nhằm tiếp nhận tri thức để phát triển bản thân với sự định hướng đúng đắn

Sự tương tác giữa người dạy và người học:

Người dạy tổ chức, điều hành

Người học chủ động, tích cực nắm bắt tri thức dưới sự dẫn dắt của người dạy

=> Người học được khơi gợi sự hứng thú, động cơ, mục đích học tập -> Tích cực, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức

Bản chất tâm lý của quá trình dạy học đại học: (lĩnh hội tri thức của nhân loại)

Là quá trình nhận thức của người học từ đơn giản đến phức tạp, trừu tượng có tính

hệ thống khoa học, logic, phù hợp với thực tiễn với tâm thể chủ động, sáng tạo, tích cực để hoàn thiện tri thức và nhân cách, dưới sự tổ chức, điều hành của người dạy

GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN

Khái niệm đạo đức:

Những biểu hiện của con người trong

xã hội (mối quan hệ cá nhân – cá nhân, cá

nhân – xã hội) được quy định thành một

hệ thống bởi những người đứng đầu thông

qua hệ thống pháp luật, giáo dục, truyền

bá hệ tư tưởng Nhằm bảo vệ lợi ích

chung (hiểu là ai cũng có lợi, nhưng mỗi

người khác nhau về lợi ít, nhiều) Lợi ích

mà đạo đức bảo vệ là đối tượng có khả

năng phát triển bản thân

Khái niệm hành vi đạo đức:

Trang 11

Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy

bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức (được quy ước

như một hành động có ích cho nhiều người trong xã hội) Nó

được biểu hiện trong các mối quan hệ xã hội của chủ thể

(ghi chú: bấm hiện chú thích( Comment) để hiện bảng giải thích )

Tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức:

 Tính tự giác của hành vi đạo đức:

Là cá nhân có ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa

hành vi của mình và tự nguyện thực hiện theo động

cơ của chính nội tâm mình Điều này đòi hỏi ta phải

có hiểu biết để trả lời câu hỏi: Tại sao, ta phải làm

điều đó? Hành động của ta sẽ ảnh hưởng thế nào đối

với đối tượng và với chính bản thân mình? (Nếu

không có hiểu biết nhận thức về điều đó, ta sẽ cảm

thấy nó vô nghĩa, triệt tiêu động lực thúc đẩy để ta năng nổ, hết mình về hành động

đó Tệ hơn, khi bị lên án về lý do ta không hành động, có thể ta sẽ cảm thấy bị épbuộc nếu bản thân không cảm thấy thuyết phục, dẫn đến việc tâm trí ta sinh ratrạng thái tiêu cực, có thể chống trả lại để bảo vệ sự tự do cho cá nhân)

 Tính có ích của hành vi đạo đức:

Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hành vi và để đánh giá đượctính có ích của nó phải dựa trên hai phương diện: lợi ích của hành động và phạm viảnh hưởng của hành động Trên phương diện lợi ích của hành động, ta đánh giátheo hai tiêu chí là hình dạng vật thể của vật chất (tài sản, đồ vật kỉ niệm, sức khỏe,

…) và tinh thần (cảm xúc mà nó đem lại) Hành động chỉ coi là có ích khi hai tiêuchí trên song hành với nhau, nếu như hai tiêu chí đi ngược nhau sẽ để lại hậu quảkhông như mình mong muốn

Trang 12

Ví dụ1: Cho tiền( hình dạng vật thể của vật chất)

người bạn( đối tượng) khi gặp khó khăn với thái độ

khó chịu (tinh thần) sẽ khiến cho người bạn cảm thấy

bị xúc phạm dù cho lúc trước còn giúp đỡ khi mình

gặp hoạn nạn

Ví dụ2: Thấy bạn gặp chuyện buồn, ta an ủi

bằng lời nói (tuy được coi là hành động thể

hiện hình thái vật chất dưới hình thức âm

thanh, câu từ Nhưng kết quả của nó chỉ là giá

trị về mặt tinh thần, ngoài mục đích ban đầu,

ta phải chú ý đến cả kết quả của hành động để

đánh giá), có thể người bạn bớt cảm giác

buồn, nhưng nếu không có hành động cụ thể

thì vấn đề vẫn không được giải quyết được

chuyện buồn

Để đánh giá được toàn diện tính có ích của hành vi đạo đức phụ thuộc vào khảnăng hiểu biết, nhìn nhận trên nhiều góc độ và phương diện, qua từng mối quan hệkhác nhau của đối tượng mà mình thực hiện hành vi đạo đức

Ví dụ: Khi gặp bạn bè trốn đi chơi điện tử (mốiquan hệ đối tượng – sở thích), ta có thể ủng hộ họ(tăng cường mức độ trong mối quan hệ với sởthích của đối tượng), tuy nhiên nó dẫn đến xungđột với mối quan hệ khác (mối quan hệ đối tượng– gia đình) bởi bố mẹ của bạn bè không thích điều

đó (ta phải xác định rõ những mối quan hệ trọngtâm của đối tượng và đánh giá nó sao cho tránh sựxung đột các mối quan hệ ở mức tốt nhất có thể)

 Tính không vụ lợi của hành vi đạo đức:

Trang 13

Là yếu tố xuất phát từ mục đích của hành vi đạo đức, để hiểu cặn kẽ ta phải làm

rõ định nghĩa vụ lợi trong đạo đức là gì? Khi mà cái đích cuối cùng của hành viđạo đức không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ đối tượng Ở đây, hành vi đạo đức giúp

đỡ đối tượng chỉ là phương thức mà qua đó ta thu về giá trị vật chất và tinh thầncho chính bản thân (nó khác biệt với việc “có đi có lại”, khi mà đối tượng sẽ giúp

đỡ lại ta hay nói cách khác là ta giúp đỡ bản thân 1 cách gián tiếp, còn vụ lợi là tatrực tiếp giúp đỡ bản thân mình trên danh nghĩa giúp đỡ người khác)

Ví dụ: Trước mặt mọi người, ta tạo lớp ngụy trang là người giúp

đỡ người khác, mục đích thực sự là để lấy được cảm tình của

đối tượng và người xung quanh, qua đó tạo giá trị ảo cho bản

thân

Đây là yếu tố nhạy cảm khi xem xét một hành vi có phải là hành vi đạo đức haykhông? Nhưng nó lại là một yếu tố vô cùng quan trọng để đánh giá sự lừa gạt ẩndưới lớp ngụy trang hào nhoáng là hành vi đạo đức Tuy hành vi đó có thể thỏamãn yếu tố tự nguyện, yếu tố có lợi, nhưng đó không thể được coi là hành vi đạođức (phân biệt sự khác biệt giữa giúp đỡ bản thân gián tiếp và giúp đỡ bản thântrực tiếp)

Nội dung hành vi đạo đức của học sinh, sinh viên:

Định hướng giá trị đạo đức cho học sinh, sinh viên: Sống có mục đích, sống cótình nghĩa, thủy chung, được mọi người xung quanh tôn trọng, có ích cho ngườikhác, hướng về cái thiện, có trình độ học vấn, có nghề nghiệp thích hợp, cống hiếncho xã hội Ta phải cân bằng yếu tố đạo đức bên trong (tinh thần) và bên ngoài(các mối quan hệ xã hội) để thúc đẩy toàn diện con người của học sinh, sinh viên

Cụ thể đối với học sinh, sinh viên:

 Thói quen tốt trong học tập: Chăm chỉ học tập và rèn luyện nghiệp vụ, có thái độtrung thực, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và rèn luyện, coi trọng việc tự học, tự

Trang 14

rèn luyện, ý thức về tương lai nên chịu khó học, ý thức

về nghề nghiệp nên chịu khó rèn luyện

 Thói quen tốt trong quan hệ, sinh hoạt: Giao tiếp ứng

xử có văn hóa, kính trọng thầy cô, quan hệ bạn bè

lành mạnh, tình yêu trong sáng, quan tâm đến tập

thể, chấp hành tốt nội quy tập thể

 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp: Để đáp ứng được

yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai, sinh viên cần được rèn luyện các phẩmchất và đạo đức nghề nghiệp Để hiểu rõ yêu cầu của nghề, phải phân tích cácyếu tố của nghề theo họa đồ nghề nghiệp (bản mô tả nội dung, tính chất, phươngpháp, đặc điểm tâm sinh lý cần phải có, những điều cần tránh khi lao động trongnghề), từ đó xác định các phẩm chất và các nội dung cần giáo dục cho sinh viên.Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên không tách rời các hoạt độnggiáo dục đạo đức nói chung

Ngày đăng: 08/06/2020, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w