1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài giảng Kinh tế quốc tế: Phần 1 ĐH Phạm Văn Đồng

63 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Bài giảng Kinh tế quốc tế: Phần 1 của ThS. Nguyễn Mạnh Hiếu sẽ cung cấp về nội dung như Những vấn đề chung về Kinh tế quốc tế, Khái niệm, vai trò và các hình thái thương mại quốc tế, Nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế, Lý thuyết thương mại quốc tế,...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

K​HOA KINH T​Ế

BÀI GIẢNG MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ

(Dùng cho đào tạo tín chỉ bậc đại học)

Người biên soạn: ThS Nguyễn Mạnh Hiếu

Lưu hành nội bộ - Năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

Đối tượng nghiên cứu của học phần kinh tế quốc tế 8 Nội dung nghiên cứu của học phần kinh tế quốc tế 9

Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế 10

Xu thế chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế tri thức 17

Biểu hiện của xu thế phát triển kinh tế tri thức 17

Cơ cấu trao đổi trong thương mại quốc tế có sự thay đổi 18 Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức 18

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế 23

Trang 3

CHƯƠNG 2: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 25

Khái niệm, vai trò và các hình thái thương mại quốc tế 25

Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN) 28 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT) 28

Tỷ lệ trao đổi thương mại ToT (Terms of Trade, Điều kiện thương mại) 34 Phân tích lợi ích thu được từ trao đổi thương mại 35

Khái niệm và vai trò của chính sách thương mại quốc tế 43

Trang 4

Chính sách tự do thương mại 43

Các biện pháp cơ bản thực hiện trong thương mại quốc tế 44

Rào cản kỹ thuật trong hoạt động thương mại quốc tế 52

Trang 5

Đối với nước tiếp nhận đầu tư: 67

Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA - Official Development Assistance) 67

Hệ thống pháp luật và chính sách đầu tư quốc tế của Việt Nam 71 Định hướng phát triển đầu tư quốc tế của Việt Nam 72 Những giải pháp đẩy mạnh đầu tư quốc tế của Việt Nam 72

Liên minh thuế quan tạo lập mậu dịch (Trade Creation) 77 Liên minh thuế quan chuyển hướng mậu dịch (Trade diversion) 78

Sự hội nhập của Việt Nam vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực 79 Giới thiệu một số tổ chức kinh tế quốc tế tiêu biểu 79

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) 88

Sự hội nhập của Việt Nam vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực 89

Những cơ hội và thách thức đối các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế

Trang 6

Các giải pháp từ phía chính phủ 93 Thông tin, tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết 93 Xây dựng thể chế và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế 93

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh 96 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, dân tộc, giáo dục - đào tạo,

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BOT : Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao

BTO : Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh

BT : Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao

CEPT : Chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung

CPCH : Chi phí cơ hội

EU : Liên minh Châu Âu

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA : Khu vực mậu dịch tự do

H-O : Lý thuyết Heckscher – Ohlin

IBRD : Ngân hàng tái thiết và phát triển

ICSID : Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

IDA : Hiệp hội phát triển quốc tế

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

IFC : Công ty tài chính quốc tế

ISO : Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế

KTQT : Kinh tế quốc tế

M&A : Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập

MFN : Nguyên tắc tối huệ quốc

MIGA : Cơ quan bảo đảm đầu tư đa phương

NSLĐ : Năng suất lao động

NT : Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

PPF : Đường giới hạn khả năng sản xuất

Trang 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Đối tượng và nội dung học phần kinh tế quốc tế

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của học phần kinh tế quốc tế

Kinh tế học quốc tế là một bộ môn khoa học, một chuyên ngành của kinh tế học nghiên cứu sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia Kinh tế học quốc tế được phát triển suốt từ thế kỷ XVIII và đã quy tụ được nhiều học giả kinh tế học nổi tiếng như Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill, Alfred Marshall, JohnMaynard Keynes, và Paul A Samuelson Tuy nhiên, chỉ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với việc ứng dụng các công cụ kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô, kinh tế học quốc tế mới trở nên phát triển sâu và rộng

Kinh tế học quốc tế nghiên cứu sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia, phân tích dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và thanh toán giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới, chính sách định hướng cho các dòng chảy này ảnh hưởng của chúng đối vớiphúc lợi của quốc gia Sự phụ thuộc kinh tế của các quốc gia này ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các quan hệ chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh giữa các quốc gia

Kinh tế học quốc tế nghiên cứu học thuyết thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế, thị trường ngoại hối và cán cân thanh toán, kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Học thuyết thương mại quốc tế phân tích cơ sở và những thu nhập từ thương mại quốc tế Chính sách thương mại quốc tế phân tích nguyên nhân ảnh hưởng của các trở ngại thương mại và chủ nghĩa bảo hộ mới Nghiên cứu thị trường ngoại hối trên khía cạnh là hệ thống cho sự trao đổi đồng tiền một quốc gia này cho một quốc gia khác Trong khi đó, cán cân thanh toán đo lường phần nhận được và chi trả của một quốc gia với phần còn lại của thế giới Cuối cùng, kinh tế vĩ mô trong kinh tế mở phân tích cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán trong sự tác động sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia với sự khác nhau của các hệ thống tiền tệ và ảnh hưởng của chúng lên phúc lợi của quốc gia

Học thuyết và các chính sách thương mại quốc tế là khía cạnh kinh tế vi mô của Kinh tế học quốc tế, vì chúng phân tích với các quốc gia cụ thể, được xem xét như một đơn vị riêng và với giá cả của hàng hóa cụ thể Trên phương diện khác, cán cân thanh toán nghiên cứu phần nhận được và chi trả trong khi các chính sách điều chỉnh ảnh hưởng mức thu nhập và chỉ số giá chung, chúng mô tả các khía cạnh kinh tế vĩ mô của Kinh tế học quốc tế, đó là nói kinh tế vĩ mô trong kinh tế mở hay tài chính quốc tế

Kinh tế học quốc tế lại chia thành hai mảng lớn là thương mại quốc tế và tài chính quốc tế

Trang 9

Thương mại quốc tế nghiên cứu các lý luận về thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế Các lý luận thương mại quốc tế quan trọng là thuyết về lợi thế so sánh, mô hình Heckscher-Ohlin (cùng với định lý Stolper-Samuelson), v.v

Còn tài chính quốc tế nghiên cứu về thị trường ngoại hối và cán cân thanh toán Các lý luận chính trong mảng tài chính quốc tế bao gồm từ thuyết sức mua tương đương của kinh tế học cổ điển đến thuyết lựa chọn động cơ tài sản của kinh tế học Keynes, rồi các định lý Balassa-Sammuelson Dựa trên các thuyết này, tài chính quốc

tế còn nghiên cứu về chính sách tài chính quốc tế thông qua các mô hìnhMundell-Flemming và mô hình AA-DD Tài chính quốc tế còn nghiên cứu cả nguyên nhân của khủng hoảng cán cân thanh toán và đề xuất các chính sách phòng ngừa

1.1.2 Nội dung nghiên cứu của học phần kinh tế quốc tế

Nội dung nghiên cứu của môn kinh tế quốc tế sẽ xoay quanh những vấn đề liên quan đến các quan hệ kinh tế quốc tế như:

- Nghiên cứu các hiện tượng, quá trình kinh tế diễn ra trong lĩnh vực trao đổi quốc tế hàng hóa, dịch vụ, vốn,

- Nghiên cứu xu hướng, đặc điểm phát triển và những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế thế giới và thị trường thế giới

- Nghiên cứu những chính sách và biện pháp kinh tế của các chủ thể tham gia

Nội dung cụ thể:

Như vậy nội dung môn Kinh tế quốc tế nghiên cứu lý luận mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ở cả khía cạnh vi mô và vĩ mô

1.2 Các hình thức kinh tế quốc tế

1.2.1 Thương mại quốc tế

1.2.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh

Trang 10

vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động

quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế

không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các

quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một

tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu

sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất

nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính đến

lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôn tính toán cái

có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao

động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu

quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ

thuộc lẫn nhau ngày càng lớn 1.2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã

hội, mà một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đó là sự phân

công lao động xã hội Theo học thuyết Mác - Lênin về phân công lao động xã hội thì

phân công lao động là sự tách biệt các loại hoạt động, lao động khác nhau trong nền

sản xuất xã hội Điều kiện ra đời của phân công lao động xã hội là sự phát triển của lực

lượng sản xuất xã hội và ngược lại, khi phân công lao động xã hội đạt đến sự hoàn

thiện nhất định , lại trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã

hội, vì nó tạo điều kiện cho người lao động tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất,

nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện

công cụ lao động Nói cách khác, phân công lao động xã hội góp phần thúc dẩy nhanh

sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mà tiến bộ khoa học công

nghệ lại chính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, do đó

phân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản

xuất xã hội Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người đã trải qua các giai đoạn phân

công lao động xã hội lớn : * Giai đoạn 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Các bộ lạc chăn nuôi mang thịt

sữa đổi ngũ cốc, rau quả của các bộ lạc trồng trọt Đó là mầm mống ra đời của quan hệ

sản xuất - trao đổi hàng hoá giản đơn * Giai đoạn 2: Nghề thủ công tách rời khỏi nghề nông Sản xuất chuyên môn

hoá bắt đầu phát triển, dẫn đến sự ra đời của ngành công nghiệp Đặc biệt, với sự xuất

hiện vai trò tiền tệ đã khiến cho quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá tiền tệ ra đời,

Trang 11

thay thế quan hệ sản xuất trao đổi hàng hoá giản đơn

* Giai đoạn 3: Tầng lớp thương nhân xuất hiện, lưu thông hàng hoá tách ra khỏi

lĩnh vực sản xuất, khiến cho các quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá - tiền tệ trở

nên phức tạp, ngày càng mở rộng, tạo điều kiện cho ngoại thương của từng quốc gia phát triển và thương mại quốc tế ra đời Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước

khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ

nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ

sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình

thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động

nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát

triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động

thương mại quốc tế Như vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triển cao

của phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cung cấp một

loại hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định, dựa trên cơ sở

những ưu thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học - kỹ thuật,

công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác, thông qua các hoạt

động kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò trọng tâm Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phân công

lao động quốc tế điển hình là : phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa, phân

công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toàn thế giới Do những

biến động phức tạp trong đời sống chính trị - xã hội thế giới, kể từ sau năm 1991 với

sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thế giới

đương đại chỉ còn tồn tại và phát triển hai kiểu là phân công lao động xã hội và phân

công lao động toàn thế giới Nếu gạt bỏ những sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay

ta dễ nhận thấy sự vận động, phát triển của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này

đang có xu hướng tiến tới một thể thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu

thuẫn phức tạp do tính đa dạng của nền kinh tế thế giới tạo ra Cùng với quá trình toàn

cầu hoá, khu vực hoá kinh tế thế giới, là những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng

khoa học công nghệ đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ

sâu rộng chưa từng thấy Chuyên môn hoá càng phát triển thì quan hệ hiệp tác càng

bền chặt, đó là đặc trưng cơ bản của phân công lao động quốc tế ngày nay Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội

hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào

nhau Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong phú Sự phát triển

của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự phát triển

Trang 12

của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế ngày càng phát

triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc

Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống

nhất của nền sản xuất thế giới Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế Sự phát triển

của khoa học - công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các nước công

nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển đã giúp cho nhiều nước trở thành nước

công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với các nước công

nghiệp phát triển Sự ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế Nhà nước ở các khu

vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũng như sự hiệp tác và liên minh kinh

tế dưới nhiều hình thức khác đã đánh dấu sự phân công lao động sâu sắc và mở rộng

quy mô phát triển chưa từng có Hệ quả trực tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thương,

đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các nước tham gia vào phân công lao động và thương

mại quốc tế đều đã tăng mạnh và liên tục trong các thập niên gần đây và hiện nay.Năm

1950, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm

1990 nghĩa là sau 4 thập niên đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân

hàng năm tăng 10,5 % Điều lưu ý là suốt thời kỳ dài, từ sau thế chiến thứ hai đến nay,

nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, mặc dù đã trải qua

những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung tốc độ tăng của thương

mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiều nguyên

nhân khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt được hiệu quả

kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại Thực tế cho thấy những lợi

nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh lệch về giá cả tương đối

giữa các nước, tuy rất quan trọng nhưng còn ít hơn nhiều so với lợi nhuận thu được

nhờ tăng cường tính đa dạng và chuyên môn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra

các khả năng mở rộng tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành

yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các

nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới Thương mại trong

ngành là biểu hiện phát triển cao độ của sản xuất chuyên môn hóa trong giai đoạn hiện

nay Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu xe hơi sang Hồng-Kông nhưng lại

có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã không làm

được là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars ) sang Đức, nhưng lại nhập

xe hơi (như Mercedes, Andis ) từ Đức Điều dễ hiểu là mặc dù đều là xe hơi nhưng

tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so với tất cả các

loại xe hơi do Đức sản xuất Tương tự như vậy, Nhật là cường quốc về sản xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, JVC, Sanyo nhưng vẫn không

Trang 13

ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nước ngoài như Philip của Hà

Lan, SamSung, Daewoo của Hàn Quốc Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương

mại giữa các nước về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác

nhau về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu

dùng, do có sự khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả Đối với cả người sản xuất với

người tiêu dùng đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ bản sau đây của việc phát triển

thương mại trong ngành * Thứ nhất, người tiêu dùng thỏa mãn được nhu cầu lựa chọn trong số nhiều

nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành * Thứ hai, thương mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ mức độ

mở rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia về một loại nhãn hiệu sản

phẩm trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi với nhau qua thương mại quốc tế, thay

cho tình trạng trước đây, mỗi quốc gia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của

tất cả các nhãn hiệu trong ngành Trên đây, chúng ta đã thấy lợi ích của phát triển thương mại trong ngành là

mang lại hiệu quả kinh tế nhờ quy mô mở rộng của chuyên môn hoá sản xuất về một

loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành Đối với các nước có nền kinh tế mở, quy mô nhỏ

(như Việt Nam), vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng Thông thường, ở các nước

này, phạm vi hàng hoá, mà theo đó họ có thể có được quy mô hiệu quả trong sản xuất

bị giới hạn nhiều so với các nước có nền kinh tế quy mô lớn Do đó, các nước này bao

giờ cũng có thể mang lại lợi ích kinh tế tương đối nhiều hơn so với việc chỉ lo tự cung

tự cấp bằng cách sản xuất tất cả các loại sản phẩm, mỗi thứ một ít với chi phí cao 1.2.2 Đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế (xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế

đối ngoại Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng

góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi Đầu tư quốc tế có tính chất hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Nó làm tăng

thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm

việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng

hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới Mặt khác, đầu tư quốc tế

cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng

lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng tính lệ thuộc

vào bên ngoài Những điều bất lợi trên đây cần được tính toán và cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng, thẩm định ký kết và triển khai dự án được ký kết trong thực tế

Có hai loại đầu tư quốc tế là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Trang 14

● Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý

vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp

tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về

kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ

yếu là của doanh nghiệp và tư nhân ● Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn

đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành

dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức

cổ phần (nếu là vốn cổ phần), hoặc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu

đãi) Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức 1.2.3 Trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ Trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức

như trao đổi những tài liệu - kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh

nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn chi cho nghiên cứu khoa học kỹ

thuật còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chưa nhiều, phương tiện vật chất còn

thiếu thốn như nước ta thì việc tham gia hợp tác khoa học kỹ thuật với nước ngoài là

vô cùng quan trọng Đó là một điều kiện thiết yếu để rút ngắn khoảng cách với các

nước tiên tiến 1.2.4 Trao đổi quốc tế về sức lao động Trao đổi quốc tế về sức lao động là hình thức quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó

người lao động di chuyển từ nước này sang nước khác nhằm mục đích lao động kiếm

sống Khi người lao động ra khỏi một nước gọi là người xuất cư, sức lao động của

người đó gọi là sức lao động xuất khẩu Khi người lao động đến một nước khác gọi là

người nhập cư, sức lao động của người đó gọi là sức lao động nhập khẩu Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ yếu

dựa vào quan hệ cung - cầu lao động Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật

kinh tế thị trường Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động từ

đó cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động hợp lý Mặt khác,

bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt Do vậy, muốn cho

loại hàng hoá đặc biệt này chiếm được ưu thế trên thị trường lao động, bên cung phải

có sự chuẩn bị và đầu tư để được thị trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu

cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động cao Thị trường lao động nước ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi còn nhỏ

Trang 15

hẹp Để phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn lao động trước hết thị trường

lao động phải được mở rộng cả trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện cho người

lao động có quyền bình đẳng, tự do tìm việc làm, thuê mướn lao động theo pháp luật - Di dân quốc tế: Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao động từ

nước này sang nước khác để tìm việc làm Nếu xét theo khía cạnh dân số học thì xuất

khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế Do đó,việc đưa người lao động đi

làm việc ở nước ngoài chính là tham gia vào quá trình di dân quốc tế, nó không nằm

ngoài những quy luật chung Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tuân

theo những hiệp định giữa hai quốc gia, đa quốc gia hoặc theo công ước quốc tế, tùy

từng trường hợp khác nhau mà nó được xếp nằm trong giới hạn nào - Xuất khẩu lao động: Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩu lao

động Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua khái niệm của tổ chức

lao động quốc tế ( ILO) như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một

quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp

định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc

gia đưa và nhận người lao động Phân loại xuất khẩu lao động: Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi: Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được

đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngoài làm việc

có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để tiến

hành đào tạo nữa Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc chưa

được đào tạo một loại nghề nào cả Loại lao động này thích hợp với những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải tiến hành đào

tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động: Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ Trường hợp này không phải là chảy máu chất

xám mà là đầu tư chất xám có mục đích Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh phí

đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là phát huy

năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao ở nước ngoài v.v

để thu ngoại tệ Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc bậc

Trang 16

thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước

1.2.5 Các dịch vụ thu ngoại tệ

Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc tế Xu thế hiện nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với các hàng hoá khác trên thị trường thế giới Với Việt Nam việc đẩy mạnh hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ là giải pháp cần thiết, thiết thực để phát huy lợi thế của đất nước

Các hình thức thu ngoại tệ chủ yếu:

● Du lịch quốc tế

Kinh tế càng phát triển, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du lịch - nhất

là du lịch quốc tế càng tăng vì thu nhập của con người tăng lên, thời gian nhàn rỗi, nghỉ ngơi cũng nhiều hơn Do đó ngành kinh tế du lịch nảy sinh trên cơ sở nhu cầu khách quan, đó là sản phẩm và là một bộ phận trong hệ thống phân công lao động xã hội Phát triển ngành du lịch quốc tế sẽ phát huy lợi thế của Việt Nam về cảnh quan thiên nhiên, về nhiều loại lao động đặc thù mang tính dân tộc, truyền thống của Việt Nam

● Vận tải quốc tế

Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách giữa hai nước hoặc nhiều nước Sự phát triển của vận tải quốc tế có tác dụng tăng nguồn thu ngoại tệ thông qua vận tải và tiết kiệm chi ngoại tệ do phải thuê vận chuyển khi nhập khẩu hàng hoá

Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt, đường

bộ, đường hàng không trong các phương thức đó, vận tải đường biển có vai trò quan trọng nhất.Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, lại có nhiều hải cảng thuận tiện cho vận tải đường biển nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy mạnh vận tải quốc tế

● Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ

Việt Nam với số dân gần 80 triệu người, kinh tế chưa phát triển, là một nước có thương mại lao động lớn Việc xuất khẩu lao động mang lại nhiều lợi ích trước mắt và lâu dài đó là: Thu được lượng ngoại tệ đáng kể cho người trực tiếp lao động và cho ngân sách nhà nước; người lao động được rèn luyện tay nghề và thói quen hoạt động công nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển Khi hết hạn hợp đồng về nước, sẽ trở thành lực lượng lao động có chất lượng; giải quyết việc làm, giảm được tỷ lệ thất nghiệp

Trang 17

● Các hoạt động thu ngoại tệ khác

Ngoài những hoạt động nêu trên, lĩnh vực kinh tế đối ngoại còn có nhiều hoạt

động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thông tin bưu điện,

dịch vụ kiều hối, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn

Nhìn chung các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ ở nước ta mới đang ở giai đoạn

hình thành và phát triển bước đầu Những hoạt động này có triển vọng to lớn Tuy

nhiên muốn đưa các hoạt động này thành một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, cần

phải có cách nhìn đúng đắn về vai trò của chúng, cần đầu tư thỏa đáng và có các chính

sách thích hợp tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm,

cải thiện đời sống của nhân dân

1.3 Xu thế phát triển kinh tế thế giới 1.3.1 Xu thế chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế tri thức 1.3.1.1 Kinh tế vật chất và kinh tế tri thức a Kinh tế vật chất Kinh tế vật chất là nền kinh tế dựa trên cơ sở khai thác, sản xuất, phân phối và

sử dụng những tài nguyên hữu hình và hữu hạn b Kinh tế tri thức “Kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối

và sử dụng tri thức, thông tin” ​( báo cáo “nền kinh tế lấy cơ sở là tri thức” của tổ chức

hợp tác và phát triển kinh tế - Organization of Economic Co-operation and

Development- OECD) Từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến

nay xu thế phát triển kinh tế tri thức diễn ra nhanh Nền kinh tế thế giới tất yếu phải phát triển theo hướng kinh tế tri thức, có như

vậy mới khắc phục được hạn chế của kinh tế vật chất và đảm bảo sự phát triển lâu dài

của xã hội loài người và đây cũng chính là một trong những xu thế phát triển kinh tế

thế giới hiện nay 1.3.1.2.Biểu hiện của xu thế phát triển kinh tế tri thức * Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế dịch vụ Đối với các nước phát triển, xuất hiện xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ

sản xuất vật chất sang kinh tế dịch vụ Tỷ trọng thu nhập từ kinh tế dịch vụ trong

GDP đã vượt trội so với thu nhập từ sản xuất vật chất và thu hút nguồn lao động lớn

của xã hội Xu thế này xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, gắn liền với những

điều kiện của nền kinh tế phát triển cao và chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật

Trang 18

Đối với các nước đang phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, gia tăng sản xuất công nghiệp so với sản xuất nông nghiệp Quá trình chuyển dịch này chịu ảnh hưởng rất lớn của xu thế toàn cầu hóa và sự tác động mạnh

mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại Vì thế ở các nước đang phát triển xuất hiện khả năng và điều kiện thực hiện đồng thời hai xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ các ngành sản xuất vật chất và chuyển dịch từ sản xuất vật chất sang kinh tế dịch vụ

Đối với toàn cầu, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi một cách cơ bản theo hướng tỷ trọng nông nghiệp giảm nhanh, tỷ trọng công nghiệp giảm chậm, tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng nhanh trong GDP của thế giới

Nông nghiệp và công nghiệp vẫn tăng trưởng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong GDP thì giảm xuống Tỷ trọng các ngành dịch vụ và các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng nhanh, nhiều ngành công nghiệp mới ra đời và phát triển với tốc độ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học,…

* Cơ cấu đầu tư có sự thay đổi

Đầu tư cho công nghiệp khai khoáng và một số ngành công nghiệp truyền thống giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối Tăng tỷ trọng đầu tư về khoa học – công nghệ

và giáo dục – đào tạo là những ngành tạo ra sản phẩm tri thức, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức Các ngành công nghệ cao: tin học, thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ vũ trụ,…là trụ cột của nền kinh tế tri thức, được các nước đầu tư phát triển nhanh Ở nhiều nước, ngành giáo dục được cải cách, thực hiện chế độ giáo dục suốt đời, đa dạng các hình thức giáo dục đào tạo nhằm giúp người lao động theo kịp đà tiến của khoa học – công nghệ hiện đại

* Cơ cấu trao đổi trong thương mại quốc tế có sự thay đổi

Nếu so sánh tổng trao đổi thương mại quốc tế: tỷ trọng trao đổi hàng hóa giảm,

tỷ trọng trao đổi dịch vụ tăng Nếu chỉ xem xét trao đổi hàng hóa hữu hình: tỷ trọng trao đổi nguyên liệu thô và nông sản giảm đáng kể, tỷ trọng trao đổi sản phẩm chế biến tăng nhanh; tỷ trọng trao đổi sản phẩm có hàm lượng lao động cao giảm nhiều, tỷ trọng trao đổi sản phẩm có hàm lượng vốn, tri thức cao tăng nhanh

1.3.1.3 Tác động của xu thế phát triển kinh tế tri thức

a Tác động tích cực

Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ở các quốc gia đến trình độ cao, đưa lại sự tăng trưởng sản xuất và lưu thông quốc tế, làm chuyển biến cơ cấu kinh tế các nước theo hướng có hiệu quả

Làm tăng nhanh tỷ trọng các ngành kinh tế tri thức, các ngành dịch vụ, các

Trang 19

ngành có hàm lượng khoa học – công nghệ cao

Tạo điều kiện thuận lợi để truyền bá và chuyển giao ngày càng nhiều những

thành tựu về khoa học – công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh

Các nước có cơ hội đón nhận những thành tựu phát triển khoa học – công nghệ, khoa

học kinh tế và quản lý của thế giới Các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận những nguồn

lực quan trọng và cần thiết như nguồn vốn, nguồn tri thức và những kinh nghiệm về

quản lý kinh tế Tạo điều kiện cho những nước này có khả năng phát triển, rút ngắn

khoảng cách với các nước khác trên thế giới b Tác động tiêu cực - Xu thế phát triển kinh tế tri thức có thể làm gia tăng rất lớn khoảng cách giàu

nghèo - Xu thế này cũng có thể làm cho các nước đang phát triển trình độ công nghệ

thấp có nguy cơ bị tụt hậu nếu không có chính sách phát triển khoa học – công

nghệ hợp lý 1.3.2 Xu thế toàn cầu, khu vực hóa 1.3.2.1 Quốc tế hóa và toàn cầu hóa Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết về

quá trình quốc tế hóa tư bản chủ nghĩa: ​“Quốc tế hóa kinh tế là sự phát triển kinh tế

không chỉ trong một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn thế giới” Thời kỳ này, nói

đến quốc tế hóa tức là quốc tế hóa kinh tế, bởi vì khi đó chỉ có kinh tế mang tính quốc

tế còn các vấn đề khác chưa mang tính quốc tế “Toàn cầu hóa là quá trình hình thành thị trường thế giới thống nhất, hệ thống

tài chính – tín dụng toàn cầu, mở rộng giao lưu kinh tế - khoa học – công nghệ giữa

các nước và giải quyết các vấn đề về chính trị, xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Quá trình toàn cầu hóa diễn ra trên các lĩnh vực: kinh tế (nhất là thương mại,

đầu tư, tài chính,…), khoa học – công nghệ, văn hóa, thông tin, bảo vệ môi trường và

lĩnh vực chính trị (bao gồm cả ngoại giao và quân sự) Mức độ toàn cầu hóa các lĩnh

vực trên không giống nhau, mạnh mẽ nhất là lĩnh vực kinh tế, chậm nhất là lĩnh vực

chính trị 1.3.2.2 Biểu hiện của xu thế toàn cầu hóa kinh tế Quá trình quốc tế hoá diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao

trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, thương mại, đầu tư, tài chính, dịch vụ…thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Biểu hiện:

Trong lĩnh vực sản xuất :

Trang 20

Những thập kỷ gần đây, phân công lao động quốc tế phát triển nhanh và có những biểu hiện mới:

- Có sự thay đổi sâu sắc về cơ sở của phân công lao động quốc tế

- Có sự thay đổi về cơ chế hình thành phân công lao động quốc tế

● Trong lĩnh vực đầu tư:

- Những năm gần đây, đầu tư quốc tế trở thành trọng điểm mới cho sự tăng

trưởng kinh tế Hiện tượng đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển, giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển, giữacác nước đang phát triển với nhau ngày càng tăng

- Đầu tư trực tiếp

- Đầu tư gián tiếp (thông qua thị trường chứng khoán)

● Trong lĩnh vực thương mại:

- Thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh

tế thế giới Sự đồng nhất thương mại quốc tế bằng sự ra đời hệ thống tiêu chuẩn của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Organization – ISO) trở thành tiêu chuẩn chung hàng hóa thương mại quốc tế

- Sự phát triển của các liên minh kinh tế

- Hình thành và phát triển thị trường thế giới bao gồm: thị trường hàng hóa, dịch

vụ, vốn, tiền tệ, bất động sản, sức lao động, khoa học – công nghệ, thông tin,…Quá trình toàn cầu hóa thúc đẩy tất cả các loại thị trường phát triển nhanh, đặc biệt là thị trường tiền tệ

- Vai trò ngày càng lớn của các hoạt động tài chính - tiền tệ, các công ty xuyên

quốc gia, các tổ chức quốc tế…

1.3.2.3 Tác động của xu thế toàn cầu hóa

a Tác động tích cực

- Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao

động quốc tế ở các quốc gia đến trình độ cao, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước theo hướng hợp lý, có hiệu quả hơn Các nước dễ dàng hơn trong việc tận dụng lợi thế của nhau để phát triển kinh tế của nước mình

- Quá trình hình thành thị trường thế giới thống nhất cả về hàng hóa dịch vụ,

vốn, sức lao động, khoa học – công nghệ….làm cho các nước rất thuận lợi trong việc bổ sung các nguồn lực từ nước ngoài, khắc phục những khó khăn bên trong

Trang 21

b Tác động tiêu cực

- Làm trầm trọng hơn những bất công trong xã hội, làm gia tăng khoảng cách

giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước

- Làm thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của Nhà nước dân tộc

đến sự phát triển của quốc gia

- Làm cho mọi mặt của đời sống con người trở nên kém an toàn hơn, từ an toàn

kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, môi trường đến an toàn chính trị, an ninh; từ

an toàn của từng con người, từng gia đình đến an toàn của quốc gia

- Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, xu thế toàn cầu hóa đang đặt ra

những thách thức rất lớn, nếu vượt qua được và thắng lợi thì cái được rất lớn, nếu không vượt qua được thì cái mất cũng không nhỏ, khi đó ảnh hưởng tiêu cực sẽ lấn át làm cho các nước này khó khai thác được những tác động tích cực ở trên

1.3.3 Xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

1.3.3.1 Đóng cửa và mở cửa kinh tế quốc gia

Thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX, nhiều nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh mới giành được độc lập đều phát triển nền kinh tế theo hướng “đóng cửa kinh

tế quốc gia”

Đóng cửa kinh tế quốc gia là việc phát triển nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nước (nội lực), sử dụng không đáng kể nguồn lực nước ngoài (ngoại lực), nền kinh tế trong nước ít có mối liên hệ với thế giới bên ngoài

Từ cuối những năm 60, hàng loạt các nước đang phát triển đã nhận thấy chính sách đóng cửa kinh tế quốc gia không còn phù hợp và chuyển sang phát triển theo xu thế mới – xu thế mở cửa kinh tế quốc gia Đến cuối những năm 80, đầu những năm 90, các nước xã hội chủ nghĩa cũng đã chuyển đổi theo xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

Mở cửa kinh tế quốc gia là các nước phát triển kinh tế trong nước gắn liền với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới bằng việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại

Phát triển kinh tế quốc gia, các nước không chỉ dựa vào nguồn lực trong nước mà còn dựa vào nguồn lực ngoài nước Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, các nước lựa chọn ưu tiên hàng đầu là mở rộng hoạt động ngoại thương và hợp tác đầu tư với nước ngoài

1.3.3.2 Mục tiêu mở cửa kinh tế quốc gia

Ngày nay, trên thế giới tất cả các nước đều thực hiện chính sách “mở cửa kinh tế” Tuy nhiên, do những điều kiện phát triển kinh tế có khác nhau, mục tiêu mở cửa kinh tế của mỗi nước có khác nhau

Trang 22

Đối với các nước phát triển, nền kinh tế có lợi thế về vốn và khoa học – công nghệ, các yếu tố điều kiện tự nhiên và lao động đã được khai thác có hiệu quả Mục tiêu mở cửa kinh tế của các nước phát triển là khai thác lợi thế bên ngoài để phát triển kinh tế theo chiều sâu Mở cửa với các nước đang phát triển để tận dụng các yếu tố chiều rộng (tài nguyên, sức lao động) và mở cửa với các nước phát triển khác nhằm tìm kiếm yếu tố chiều sâu (công nghệ, vốn)

Đối với các nước đang phát triển, nền kinh tế có lợi thế tiềm năng về điều kiện

tự nhiên và lao động, hạn chế về vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học – công nghệ Các nước này mở cửa kinh tế nhằm khai thác lợi thế bên ngoài về vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học – công nghệ để phát huy những lợi thế tiềm năng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước

1.3.3.3 Biểu hiện của xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

Một là, hiện nay các nước đều thực hiện chiến lược kinh tế mở, phát triển nền kinh tế quốc gia gắn với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa (nhất là những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh), ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong nước và tăng cường hợp tác đầu tư với nước ngoài

Hai là, các nước kết hợp hội nhập kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế khu vực thì mức độ cạnh tranh chưa cao, rủi ro không lớn, nhưng lợi ích thu được không nhiều Ngược lại, hội nhập kinh tế thế giới có phạm vi rộng hơn, mức độ cạnh tranh quyết liệt hơn, rủi ro có thể lớn hơn nhưng cơ hội mang lại lợi ích lớn hơn Các nước đều có mục tiêu là hội nhập vững chắc vào kinh tế khu vực, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm, tranh thủ thời cơ để hội nhập kinh tế thế giới một cách hiệu quả

1.3.3.4 Tác động của xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

a Tác động tích cực

- Tạo ra sức ép làm cho các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng cải

tiến, nâng cao sức cạnh tranh, làm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ở các quốc gia, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước theo hướng hợp lý, có hiệu quả hơn

- Xóa bỏ dần sự ngăn cách giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực

và thế giới; thúc đẩy trao đổi với các nước, tận dụng lợi thế ở trong nước và tranh thủ được các yếu tố thuận lợi bên ngoài

- Đối với các nước đang phát triển, có thể đi tắt đón đầu trong quá trình thực

hiện công nghiệp hóa thông qua việc mở cửa kinh tế với bên ngoài, đón nhận

Trang 23

vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, phát triển ngoại thương và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác

- Thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các dân tộc, làm cho con người ở các nước

khác nhau ngày càng hiểu nhau, có thiện chí với nhau, cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển

b Tác động tiêu cực

- Do các nước đều tăng cường các quan hệ kinh tế với nhau nên mức độ phụ

thuộc vào nền kinh tế các nước khác, phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới ngày càng tăng

- Áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp trong nước có sức

cạnh tranh yếu khó tồn tại được ở thị trường trong nước chứ chưa nói đến thị trường nước ngoài, dẫn đến nguy cơ phá sản nhiều doanh nghiệp

1.4 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; quán triệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớnđược tổng kết trong Cương lĩnh; đồng thời chú trọng một số quan điểm sau:

● Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

● Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Mọi cơ chế, chính sách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân, bao gồm

cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

● Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đạihóa kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn kết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vựctrong nước

● Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện

Trang 24

đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước

● Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia

● Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Kinh tế quốc tế là gì? Tại sao phải nghiên cứu Kinh tế quốc tế?

2 Kinh tế quốc tế nghiên cứu những vấn đề gì?

3 Phân tích xu thế kinh tế quốc tế hiện nay?

Trang 25

CHƯƠNG 2: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2.1 Khái niệm, vai trò và các hình thái thương mại quốc tế

2.1.1 Khái niệm và vai trò của thương mại quốc tế

2.1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao độngquốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu

sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôn tính toán cái

có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn

2.1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế

● Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân

Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước đưa thị trường nước ta hội nhập với thị trường thế giới, biến nước ta thành bộ phận của phân công lao động quốc tế Đó cũng là con đường để đưa kinh tế nước ta có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

● Vai trò của thương mại quốc tế ở doanh nghiệp

Thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại cho nên trước hết nó là

Trang 26

mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua thương mại quốc tế các doanh nghiệp

có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình

Thương mại quốc tế giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp diễn ra bình thường và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế mà cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hoá ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan

hệ bạn hàng

Thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.2 Các hình thức thương mại quốc tế

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị,lương thực thực phẩm, các loại hàng hóa tiêu dùng…)

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng sáng chế, phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp thiết bị, máy móc, dịch vụ du lịch, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, độcquyền nhãn hiệu, thương hiệu…)

- Chuyển khẩu

Chuyển khẩu được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu Hợp đồng mua hàng có thể ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng

Phương thức chuyển khẩu được thực hiện dưới các hình thức:

không qua cửa khẩu Việt Nam

+ Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có quan

thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

+ Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

- Tạm nhập tái xuất

Tạm nhập tái xuất được quy định trong Quy chế này là việc thương nhân Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho một nước khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam

Trang 27

Tạm nhập tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu Hợp đồngmua hàng có thể ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng

- Gia công quốc tế

Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên đặt gia công) giao (hoặc bán) nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho một bên khác (gọi là bên nhận gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại (hoặc bán lại) cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) Như vậy trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất

Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng được phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore…

- Xuất khẩu tại chỗ

Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được Do vậy nhà xuất khẩu không cầnphải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu

Mặt khác doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tụchải quan, mua bảo hiểm hàng hoá …do đó giảm được chi phí khá lớn

Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay xu hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên phổ biến mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng nên nhanh chóng Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các tổ chức du lịch

để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá để thu ngoại tệ Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể tận dụng cơ hội này để khuếch trương sản phẩm của mình thông qua những du khách

Mặt khác với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước thì đây cũng là một hình thức xuất khẩu có hiệu quả được các nước chú trọng hơn nữa Việc thanh toán này cũng nhanh chóng và thuận tiện

Trang 28

2.2 Nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế

2.2.1 Nguyên tắc tương hỗ (Reciprocity)

Theo nguyên tắc này, việc dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng giữa các bên trong quan hệ kinh tế buôn bán trên cơ sở tương xứng nhau

Mức độ ưu đãi và đãi ngộ của các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia Việc áp dụng nguyên tắc này thường gây bất lợi cho bên yếu hơn và mang tính phân biệt đối xử với nước thứ ba

2.2.2 Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN)

Theo nguyên tắc này, các bên tham gia buôn bán với nhau sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã, đang và sẽ dành cho nước thứ ba

Nguyên tắc này được hiểu theo 2 cách:

Cách một : tất cả những ưu đãi và miễn giảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện

Cách hai​: hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia khia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơn, không bị chịu những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu

từ nước thứ 3 khác

2.2.3 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT)

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là nguyên tắc yêu cầu các quốc gia thực hiện những biện pháp nhằm đảm bảo cho sản phẩm nước ngoài và cả nhà cung cấp những sản phẩm đó của nước ngoài được đối xử trên thị trường nội địa không kém ưu đãihơn (ngang bằng) so với sản phẩm nội địa cùng loại và các nhà cung cấp nội địa

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia thường áp dụng theo nhiều cấp độ: đơn giản nhất

là trong các lĩnh vực thuế, cước phí, điều kiện giao nhận,…; phức tạp hơn là áp dụng

mở rộng sang các lĩnh vực khác như thương mại hàng hóa vô hình, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và bất động sản,…

Mục đích của nguyên tắc này nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội cạnh tranh giữa các nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài với nhà sản xuất kinh doanh trong nước

2.2.4 Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập - GSP

Nguyên tắc này tạo ra chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho các nước đang và chậm phát triển trong quan hệ ngoại thương với các nước phát triển, tức là hàng hóa của các

Trang 29

nước đang và chậm phát triển vào thị trường các nước phát triển được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu mà không buộc các nước này phải giảm thuế cho hàng hóa của cácnước phát triển

2.3 Lý thuyết thương mại quốc tế

2.3.1 Chủ nghĩa trọng thương

Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện và phát triển ở Châu Âu, mạnh mẽ nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ 15, 16 Chủ nghĩa Trọng thương kết thúc thời kỳ hoàng kim của mình vào giữa thế kỷ 18 Các tác giả tiêu biểu: Melon, Colbert, Jean Bodin; James Stewart; Thomas Mum

2.3.1.1 Cơ sở ra đời

- Vàng và bạc được sử dụng làm tiền tệ trong thanh toán giữa các quốc gia

- Vàng và bạc được coi là của cải, thể hiện sự giàu có của quốc gia

- Tích lũy được nhiều vàng và bạc giúp cho quốc gia có được các nguồn lực cần

thiết để tiến hành chiến tranh

2.3.1.2 Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương

- Vàng bạc được coi trọng quá mức Chỉ có vàng, bạc và các kim loại quý mới tạo ra sự giàu có của các quốc gia

- Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương Nhưng thuyết Trọng thương cũng nhấn mạnh trong hoạtđộng ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu

- Đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều khiển kinh tế

- Quan niệm về thương mại: Việc buôn bán với nước ngoài không phải xuất phát

từ lợi ích chung của 2 phía mà chỉ có lợi ích của quốc gia mình Cho rằng mậu dịch quốc tế là 1 trò chơi có tổng bằng 0

2.3.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith đưa ra trong tác phẩm “Sự thịnh vượng của các quốc gia” (The wealth of Nation) năm 1776

Trang 30

- Mậu dịch từ nội bộ địa phương được mở rộng ra toàn quốc và toàn cầu

- Hệ thống ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và bắt đầu phát hành tiền tệ

- Vai trò doanh nghiệp được đề cao

- Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh Chính phủ không

cần can thiệp vào các hoạt động mậu dịch quốc tế → Quan niệm bàn tay vô hình (The invisible hand)

- Tính ưu việt của chuyên môn hoá

- Cơ sở mậu dịch giữa 2 quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở

đây là chi phí sản xuất thấp hơn (nhưng chỉ có chi phí lao động mà thôi) Chẳng hạn, QG I có lợi thế tuyệt đối về 1 sản phẩm A nào đó và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B Trong khi đó QG II có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B và không có lợi thế về sản phẩm A Khi đó, cả 2 QG đều có lợi nếu QG

I chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm A, QG II chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm B và trao đổi cho nhau

- Hai quốc gia – 2 sản phẩm

- Một yếu tố sản xuất (lao động)

- Giá trị hàng hóa tính theo lao động

- Chi phí sản xuất không đổi

- Thị trường hàng hóa và yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo

- Chi phí vận chuyển bằng 0

- Lao động có thể di chuyển tự do trong 1 quốc gia nhưng không thể di chuyển

giữa các quốc gia

- Mậu dịch tự do, không có thuế quan, và các rào cản mậu dịch

Giả sử 1 giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6 giạ lúa mì (1 giạ là 36 lít), ở Anh trong 1 giờ sản xuất được 1 giạ Trong khi đó 1 giờ lao động ở Anh sản xuất được 5m vải, còn ở Mỹ chỉ được 4m Các số liệu trên được biểu thị qua bảng sau:

Trang 31

2.3.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

David Ricardo đưa ra Lý thuyết lợi thế so sánh trong cuốn “Những nguyên tắc kinh tế chính trị và thuế” vào năm 1817

Cơ sở các quốc gia giao thương với nhau là lợi thế so sánh hay còn gọi là lợi thế tương đối

2.3.3.1 Giả thiết

- Chỉ có hai quốc gia và 2 loại sản phẩm

- Một yếu tố sản xuất (lao động)

- Chi phí sản xuất là cố định

- Thị trường hàng hóa và yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo

- Không có chi phí vận chuyển

- Lao động có thể di chuyển tự do trong 1 quốc gia nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

- Mậu dịch tự do, không có thuế quan, và các rào cản mậu dịch

2.3.3.2 Nội dung lý thuyết

Theo quy luật này, ngay cả 1 quốc gia là “kém nhất” (tức là không có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả 2 sản phẩm) vẫn có lợi khi giao thương với 1 quốc gia khác được coi là “tốt nhất” (tức là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả 2 sản phẩm)

Ngày đăng: 08/06/2020, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm