Các hợp chất dễ bay hơi được phân lập từ lá dứa bằng cách chiết lỏng-lỏng, sử dụng dung dịch cloromethane làm dung môi và đượcphân tích bằng GC-MS.. Jaafar đã xác định đượ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯƠC
-
-TIỂU LUẬN
LÁ DỨA THƠM
VÀ TIỀM NĂNG ĐIỀU TRỊ TIỂU ĐƯỜNG
MÔN HỌC: Dược học cổ truyền
NHÓM 3
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS VŨ ĐỨC LỢI
Trang 2LÁ DỨA THƠM
VÀ TIỀM NĂNG ĐIỀU TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
MÔN HỌC: Dược học cổ truyền
Nguyễn Thùy DungNguyễn Khánh HồngNguyễn Thị HiềnNguyễn Thanh Tùng
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS VŨ ĐỨC LỢI
Trang 3Hà Nội_2020
Mục lục
I Đặt vấn đê 1
II Nội dung 3
1 Lá dứa thơm (Pandanus amaryllifolius) 3
1.1 Đặc điểm chung 3
1.2 Hóa học 5
1.3 Công dụng, tác dụng 21
1.4 Bài thuốc và sản phẩm chứa dược liệu 24
2 Chi Pandanus 28
2.1 Đặc điểm chung 28
2.2 Hóa học 29
2.3 Công dụng, tác dụng 31
2.4 Bài thuốc và sản phẩm chứa dược liệu 32
III Kết luận 34
Tài liệu tham khảo 37
Trang 4I Đặt vấn đê
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc sử dụng nguồn dượcliệu từ thiên nhiên đang ngày càng phát triển và trở thành xu hướng mới Theo tổchức y tế thế giới (WHO) thì có tới 80% dân số thế giới hiện nay dựa vào thuốccó nguồn gốc tự nhiên, cho thấy tầm quan trọng của tài nguyên cây thuốc là rấtlớn Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nên hệ thực vật rất phong phú và đadạng, nhiều loại cây quý, có giá trị trong ngành thực phẩm, hương liệu, myphẩm và dược liệu Trong số đó có loài lá dứa mà miền Trung và miền Namthường gọi, còn miền Bắc gọi lá cơm nếp Khi ta nấu cơm, nếu hấp thêm vài ládứa thì tạo mùi hương rất thơm, lá có màu xanh rất đẹp Lá dứa có tên khoa học
là Pandanus amaryllifolius, thuộc họ dứa dại (pandanceae), một loại cây được
trồng và mọc hoang phổ biến ở nước ta Theo dân gian, lá dứa là một loại dượcliệu, hương liệu có mặt chính trong nhiều bài thuốc hỗ trợ và điều trị đái tháođường, huyết áp, giảm căng thẳng,…Đây là một gợi ý cho nền y học hiện đạitiếp tục đi sâu và nghiên cứu Đặc biệt, tiềm năng hỗ trợ điều trị căn bệnh tiểuđường nên được lưu tâm nhiều hơn
Về căn bệnh tiểu đường, trong số các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa
Trang 5tại các nước phát triển và đang phát triển trên toàn thế giới Đái tháo đường, còngọi là bệnh tiểu đường, thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa, gây ra dohormone insulin của tuyến tụy bị thiếu hay bị giảm tác dụng trong cơ thể, biểuhiện bằng mức đường trong máu cao hơn ngưỡng bình thường Bệnh tiểu đườnglà một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình làbệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, Thực trạngbệnh tiểu đường hiện nay trên thế giới được Hiệp hội đái tháo đường thế giới(IDF) năm 2017 thống kê với con số hơn 425 triệu người, nghĩa là cứ 11 ngườithì có 1 người mắc bệnh tiểu đường Trong đó, cứ 2 người mắc bệnh tiểu đườngthì 1 người không biết mình bị bệnh (không đi kiểm tra chẩn đoán bệnh tiểuđường) Việc điều trị muộn sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm và ảnhhưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống và sức khỏe của bệnh nhân Theo dựđoán, số người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới sẽ tăng lên 522 triệu người vàonăm 2030, và con số này sẽ còn tăng nhanh hơn nữa nếu mọi người chủ quanđối với căn bệnh này Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường đang gia tăngnhanh chóng, số người mắc bệnh tăng gấp đôi trong 10 năm qua Năm 2017,thực trạng bệnh tiểu đường hiện nay ở Việt Nam với số bệnh nhân tiểu đường là3,54 triệu người (chiếm tỷ lệ 5,5% dân số) Nhóm bệnh nhân tiền tiểu đường (bịrối loạn dung nạp glucose) là 4,79 triệu người (chiếm 7,4% dân số) Như vậy, cứtrong 7,5 người thì có một người mắc bệnh tiểu đường hoặc tiền tiểu đường.Con số bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường ở Việt Nam dự đoán sẽ tăng lên chiếm7,7% dân số vào năm 2045 Như vậy, việc phòng và điều trị bệnh tiểu đường làvấn đề cấp bách không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Theo một vàinghiên cứu, lá dứa đã cho thấy tiềm năng trong việc điều trị bệnh tiểu đườngBài tiểu luận này nhằm giúp tìm hiểu về các đặc điểm thực vật, các thànhphần hóa học đã được nghiên cứu cũng như công dụng của lá dứa để chúng ta cóđược những hiểu biết cơ bản về loài này Đặc biệt, bài tiểu luận còn đi sâu vàovai trò của lá dứa trong hỗ trợ và điều trị bệnh tiểu đường
Trang 6II Nội dung
1 La d a th m ( ư ơ Pandanus amaryllifolius)
1.1 Đặc điểm chung
a Tên gọi:
Cây lá dứa có tên khoa học:Pandanus amaryllifolius, thuộc chi dứa dại
(Pandanus), họ Dứa dại (Pandanaceae) Hay còn có tên gọi khác: lá dứa thơm,
cây cơm nếp, cây lá nếp.
b Đặc điểm thực vật
- Là thực vật thân thảo, sinh sôi và phát triển ở miền nhiệt đới Cây lá dứathân dài khoảng 30 – 40 cm, hẹp khoảng 3 – 4 cm, thẳng giống như một lưỡigươm Ở giữa lá chụm lại theo một đường gân dọc theo thân lá Mép lá nếpthơm không có gai, mặt trên màu xanh sẫm, bóng Mặt dưới màu xanh hơn, đôikhi có thể phủ một lớp lông mịn bên ngoài
- Lá nếp thơm mọc thành bụi lùm cao đến 1m, thân rộng 1-3cm, chia nhánhtrên một thân và rễ
- Cây không có hoa
- Lá có mùi thơm đặc trưng tương tự như mùi cơm nếp, để càng khô lácàng thơm
Trang 7c Phân bố
- Lá dứa phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, nóng ẩm, dưới bóng râm.Tại Đông Nam Á, lá dứa thường được tìm thấy ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia,Việt Nam, Philippin…
- Ở Việt Nam, trước đây, lá dứa mọc hoang và được trồng ở khắp 3 miền.Nhưng hiện nay cây gần như không mọc hoang nữa mà phần lớn được trồng đểthu hoạch lá Lá dứa thơm thường phổ biến ở các tỉnh phía Nam để cho vào thức
ăn như bánh, kẹo hoặc pha trà
d Thời điểm thu hái, chế biến tạo dược liệu, vị thuốc
- Cây lá dứa có thể thu hái quanh năm Cả thân lá sau khi phơi khô hoặc tươiđược sử dụng làm nguyên dược liệu Cây có mùi thơm đặc trưng
- Lá dứa thường được sử dụng trong công thức nấu ăn, ví dụ như cho vàocơm, các loại bánh, chè hoặc nhuộm màu tự nhiên cho các món ăn
- Ngoài ra, lá nếp thơm cũng được sử dụng với một số vị thuốc khác, nấunước dùng xông ở phụ nữ vừa sinh con, giúp da hồng hào và tăng cường sứckhỏe
- Lá nếp thơm có thể dùng tươi hoặc dùng khô đều được Nếu dùng tươi, thuhái lá sau đó rửa sạch và sử dụng theo nhu cầu Nếu dùng khô, người dùng cầnrửa sạch lá, phơi khô dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy khô, bảo quản dùng dần
Trang 81.2 Hóa học
a Thành phần hóa học
Theo các nghiên cứu trên thế giới, thành phần hóa học chủ yếu trong lá
dứa (P.amaryllifolius) là: Nước, chất xơ, 3-metyl-2(5H)-furanon,
2-axetyl-1-pyrrolin, flvonoid, Alkaloid, pectin và tinh dầu Các nhà khoa học đã xác địnhđược một số thành phần dễ bay hơi của cây dứa thơm chủ yếu là 3-metyl-2(5H)-furanon (trên 70%) và 2-axetyl-1-pyrrolin (khoảng 3%) là chất gây mùi thơmnếp đặc trưng
- Các chất dễ bay hơi
Năm 1983, Buttery và các cộng sự đã tìm thấy 2-acetyl-1-pyrroline lần đầu
tiên trong lá P.amaryllifolius[1] Đây là chất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên mùi thơm đặc trưng của lá Lá P.amaryllifolius là một trong những
nguồn tự nhiên tốt nhất để chiết xuất 2-acetyl-1-pyrroline [2]
Trang 9Năm 1999, J Jang từ Singapor đã nghiên cứu về các hợp chất dễ bay hơi từ
lá P.amaryllifolius [3] Các hợp chất dễ bay hơi được phân lập từ lá dứa bằng
cách chiết lỏng-lỏng, sử dụng dung dịch cloromethane làm dung môi và đượcphân tích bằng GC-MS Tổng cộng có 22 hợp chất đã được xác định, bao gồm 9rượu, 4 axit cacboxylic, 3 ketone, 2 este, 3 hydrocacbon và 1 furanone Trongđó, 3-Methyl-2- (5H) -furanone là thành phần chiếm ưu thế, chiếm hơn 70%tổng số chất bay hơi Các thành phần chính khác bao gồm 3-hexanol, 4-methylpentanol, 3-hexanone và 2-hexanone, chiếm từ 2.65-7.09% tổng số chấtbay hơi Về 3-Methyl-2- (5H) -furanone, chất này trước đây mới chỉ tìm thấytrong các thực phẩm đã qua chế biến, điển hình như phô mai, chưa từng đượctìm thấy trong thực phẩm tươi, thì nay, trong nghiên cứu này, nó đã được tìmthấy lần đầu tiên trong lá dứa
- Flavanoid và phenolic
Năm 2013, Ali Ghasemzadeh và Hawa Z E Jaafar đã xác định được năm
flavonoid và ba acid phenolic trong chiết xuất Pandanus amaryllifolius từ ba địa
điểm khác nhau của Malaysia bằng RP-HPLC [4] Tổng hàm lượng phenolic vàtổng flavonoid được xác định bằng cách sử dụng phương pháp xét nghiệm somàu Folin-Ciocalteau và nhôm clorua Hoạt tính chống oxy hóa của các chấtchiết xuất được kiểm tra bằng xét nghiệm khử oxy hóa (FRAP) và xét nghiệm1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) Ngoài ra, xét nghiệm MTT (3- (4,5-Dimethylthiazol-2-yl) -2,5-diphenyltetrazolium bromide) được sử dụng để sànglọc khả năng ngừa ung thư, chống lại dòng tế bào ung thư MCF-7
Năm loại flavonoid được tìm thấy là Rinin, Epicatechin, Catechin,Kaempferol, Naringin Người ta chiết flavonoid bằng metanol, dung dịch chiếtđược xử lí bằng HCl 6M và được hồi lưu Xác định tổng hàm lượng flavonoidbằng phương pháp quang phổ rồi tách, phân tích bằng HPLC
Trang 10Với acid phenolic, người ta cũng xác định tổng hàm lượng bằng phươngpháp quang phổ rồi phân tích HPLC Ba loại acid phenolic được xác định là acidgalic, acid cinamic, acid ferulic Thông thường, các phenolic có hoạt tính chốngoxy hóa được biết đến chủ yếu là flavonoid và acid phenolic Acid phenolic làmột nhóm chính của các hợp chất phenolic, xuất hiện rộng rãi trong giới thựcvật, đặc biệt là trong các loại thảo mộc và rau quả Qua nghiên cứu, chiết xuấtPandan từ Bachok có hàm lượng tổng cao nhất (6,72 ± 0,355 mg / g DW), tiếptheo là Klang (5,07 ± 0,406 mg / g DW) và Pontian (4,88 ± 0,477 mg / g DW).Acid Ferulic đã được chứng minh là có tác dụng ức chế quá trình peroxy hóaaxit linoleic là axit béo mạnh để giảm nguy cơ ung thư, cải thiện chức năngmiễn dịch, tiểu đường và phòng chống bệnh tim [ 4]
Tóm lại, tất cả những chất trên đây đều cho thấy tiềm năng chống oxi hóavà chống ung thư
- Alkaloid
Năm 1992, Byrne đã tìm thấy một loại alkaloid có chứa vòng lactam,
(+)-Pandamarine, từ lá P.amaryllifolius ở Isabela, Philippines, bằng phương pháp
nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction) [5]
Năm 1993, bằng cách sử dụng các ky thuật NMR, Nonato và các cộng sự
đã xác định ba loại alcaloid piperidine trong lá P.amaryllifolius ở Manila,
Philippines: pandamarilactone-l, pandamarilactone-32, pandamarilactone-31 [5]Tất cả các alcaloid piperidine này đều có bộ khung C9-N-C9 và có thể có nguồngốc sinh học từ axit 4-hydroxy-4-methylglutamic
Năm 1996, Sjaifullah và Garson đã xác định được Pandamarilactam-3x,and Pandamarilactam -3y được tìm thấy ở Jambi, Indonesia [7]
Có sự khác biệt trong các alcaloid phân lập từ cây Pandanus amaryllifolius
được thu thập ở Philippines, Thái Lan và Indonesia Piperidin alkaloids vớinhóm chức lactam [5] hoặc lactone [6] đã được phân lập từ các mẫu của
Trang 11Philippines Các alcaloid loại pyrrolidinone,[8] và pyrrolidine [9, 10] đã đượcphân lập từ thực vật mẫu được thu thập lần lượt ở Indonesia và Thái Lan
Năm 2002, Takayama đã tách được hai loại Alkaloidnorpandamarilactonine-A và -B, có một nhóm chức pyrrolidinyl-,-chưa bão hòa-g-lactone, trong nhóm chất pandamarilactonine alkaloids đã biết đến [10] Cấutrúc của chúng được xác định thông qua phương pháp quang phổ hoặc tổng hợphòa toàn
Năm 2004, Salim và các cộng sự đã phân lập được 3 alkaloid mới [8] (hailoại ancaloit pyrrolidine và 6E pandanamine), cùng 5 alkaloid đã biết (6Z-Pandanamine, 6Z-Pandamarilactonine-A, 6Z-Pandamarilactonine-B, 6E-Pandamarilactonine-C, 6E-Pandamarilactonine-D) từ lá Pandanus amaryllifolius thu thập ở West Java, Indonesia [8] Tất cả các alkaloid mới này
đều có hai nhóm chức a-methyl, -không bão hòa - g-lactone Ngoài ra còn cómột alkaloid pyrrolidine có chứa vòng bảy cạnh, chưa từng thấy trong các
alkaloid khác ở Pandanu.
Alkaloid (+)-Pandamarine pandamarilactone-l pandamarilactone-32Cấu trúc
Trang 12Alkaloid pandamarilactone-31 Pandamarilactam-3x,
Pandamarilactam -3y
norpandamarilactonine-A và -B
Cấu trúc
- Pectin:
Năm 2004, Ooi và các cộng sự đã tìm được một Pectin, được đặt là
Pandanin, trong nước muối sinh lí chiết xuất từ lá Pandanus amaryllifolius, sử
dụng kết tủa amonium sulfate, sắc kí ái lực trên manarose agarose và loại trừ
kích thước phân tử qua sắc kí gel [11] Pandanin là một protein không bị
glycosyl hóa với khối lượng phân tử là 8.0 kilo Dalton (kDa) Sau khi sắc kí gel
và điện di trên sodium dodecyl sulfate-polyacrylamide gel thì nhận thấy rằng,
đây là một chuỗi polipeptied mạch đơn
Năm 2006, Ooi và các cộng sự tiếp tục phân lập được hai protein khác từ
dịch chiết nước muối sinh lí của lá Pandanus amaryllifolius đã già, bằng phương
pháp sắc kí ái lực, sắc kí trao đổi ion và sắc kí gel [12] Hai loại protein này là
nonglycoprotein, với khối lượng phân tử là 18 và 13 kDa, lần lượt có các tiểu
đơn từ 6.5 đến 9 kDa ở dạng heterodimer và homodimer Theo nghiên cứu,
những protein này có tiềm năng chống ung thư do có khả năng ngăn chặn sự
phát triển của các tế bào ung thư HL-60 (Human promyelocytic leukemia cells)
và ức chế sự phát triển của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa
Trang 13- Vê tinh dầu
Để phân tích thành phần hóa học của Pandanus amaryllifolius, tinh dầu được chiết xuất bằng phương pháp chưng cất hơi nước [13] Các thiết yếu dầu của lá amaryllifolius Pandanus được phân tích bằng
quang phổ sắc ký khí khối lượng và nội dung tương đối của mỗi thànhphần được xác định bằng phương pháp diện tích bình thường 128 đỉnh đượctách ra và 95 hợp chất được xác định, nặng 97,75% Các thành phần hóa họcchính của tinh dầu là phytol (42,15%), squalene (16,81%), pentadecanal(6,17%), axit pentadecanoic (4,49%), 3, 7, 11, 15-tetramethyl-2-hexadecen- 1-ol(3,83%), phytone (2,05%) và 74 thành phần hóa học khác được xác định trước
đó từ tinh dầu của lá Pandanus amaryllifolius Thành phần hóa học của tinh dầu lá Pandanus amaryllifolius lần đầu tiên được hệ thống, phân lập và
xác định rõ ràng Thí nghiệm này đã cung cấp nền tảng khoa học để tiếp tục sử
dụng lá Pandanus amaryllifolius.
Ngoài ra, bằng các phương pháp thử, năm 2009, Resmi Aini*1 và AnaMardiyaningsih, hai nhà khoa học đến từ Indonesia đã xác định được sự có mặtcủa tanin và saponin [14]
Ở Việt Nam, năm 2010, hai nhà khoa học Đào Phạm Hùng và Nguyễn
Thanh Tú đã công bố kết quả nghiên cứu về các thành phần hóa học trên lá dứathơm ở huyện Đại Lộc - Quảng Nam [40] Thành phần dễ bay hơi của lá dứa
thơm (Pandanus amaryllia Roxb) được chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn
hơi nước và được phân tích bằng GC/MS Thành phần chính trong phần hơinước là 2- acetyl-1-pyrrolin (17.7%), Limone (5.5%); 3-methyl-2(5H)-furanone(4.83%); 2,4,4 trimethylbut-2-enolide (1.28%) Đặc biệt trên phổ đồ cho thấy sovới trong thành phần dễ bay hơi trong hương nếp của Indonesia và Malaysia,ngoài các thành phần giống nhau: 2,4,4 trimethylbut-2-enolide (1.28%) , 3-methyl-2(5H)-furanone(4.83%) và các alcol, thì thành phần dễ bay hơi của
Trang 14hương nếp của Đại Lộc-Quảng Nam còn có thêm các cấu tử pyrroline với thời gian lưu 8.03 phút chiếm 17.7 %, Limone (5.5%) Đây chínhlà những cấu tử tạo mùi hương thơm đặc trưng của lá dứa ở Đại Lộc-QuảngNam
2-Acetyl-1-Ngoài ra, còn có ba hợp chất được chiết tách với các dung môi:Ethanol, n- Hexan, Cloroform từ lá dứa thơm
Từ dịch chiết Ethanol, tìm thấy một hợp chất Alkaloid có tên gọiPadamarilactonine-A Đây là chất có tác dụng kháng oxi hóa cao
Kết quả được search trên phần mêm ACD/HNMR DB (v.6.12), ACD/CNMR DB(v.6.12)
Với dịch chiết n- Hexan, Bốn cấu tử được định danh: decadiyne(9.97%), 3-Ethyl-2-Methylhexan(1.05%), Docosan (7.18%);Tricosane,2-Methyl-(15.83%)
1,9-Với dịch chiết cloroform, sau khi tiến hành sắc ký cột với dung môi rửagiải CHCl3, phân tích định danh trên máy GC/MS và tra cứu trong thư viện phổNIST Kết quả có 9 cấu tử, trong đó có 2 cấu tử được được định danh còn lại 7cấu tử chưa được định (hình 3) Hai cấu tử được định danh : 9-Octadecen-12-Ynoic Acid, Methyl Ester (10%) và Bicyclo[3.3.1]Nonan-2-one, 9-isopropylidene(4,48%) Đây là hai chất mới, chưa từng được công bố
Trang 15Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học không thấy có sự xuất hiện củatinh dầu
b Chiết xuất, định lượng, định tính
b.1) Chiết xuất [40]
Các phương pháp chiết xuất chính để xác định thành phần hóa học của ládứa
- Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
Mẫu lá dứa sau khi được xử lý cho vào bình cầu của bộ chưng cất lôi cuốnhơi nước để tách các cấu tử dễ bay hơi Dùng dung môi ether dầu hỏa chiết cáccấu tử dễ bay hơi hòa tan trong nước, được dịch chiết ether dầu Loại nước cótrong dịch chiết ether dầu bằng Na2SO4
Thành phần hóa học của các cấu tử dễ bay hơi có trong dịch chiết ether dầuđược định danh trên máy GC-MS
- Phương pháp chiết soxhlet bằng các dung môi n-Hexan, Cloroform
Cho một lượng xác định lá dứa đã được xử lí vào thiết bị chiết soxhlet, tiếnhành chiết bằng dung môi n -Hexan và Cloroform, thu dịch chiết, đuổi dung môibằng cất quay chân không trên thiết bị Buchi -Vacuum Controller V-800 Tiếnhành tách các cấu tử trên cột Silicagel Merk, các dung môi rửa giải tương ứng: n-Hexan, Cloroform
Thành phần của các cấu tử rửa giải được định danh trên máy GC/MS kèmtheo ngân hàng dữ liệu DATABASE/WILEY 275L và NIST
- Phân lập chất từ dịch chiết Ethanol
Lấy mẫu lá dứa đã được phơi héo và xay nhỏ, ngâm ngấm kiệt bằngEthanol 96% trong 8 giờ, thu dịch chiết cất đuổi dung môi Ethanol ở áp suấtthấp thu cặn xanh đen Xử lí cặn trong điều kiện trung tính Cho dung môi vàochiết nhiều lần, thu dịch chiết Đuổi dung môi chiết dưới điều kiện thích hợp thuđược cặn
Trang 16Tiến hành tách các cấu tử trên cột Silicagel Merk, mẫu được phân lập bằngsắc ký cột, thu được dạng hình tinh thể màu vàng chanh ( ký hiệu SON-1)
Đem mẫu SON-1 đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H, phổ 13C-NMR, phổkhối EIMS (70eV) , phổ IR,…
Có bọt nước
Đỏ
Xanh nhạt
b.3) Đinh lượng
- Phenolic và Flavonoid [39]
● Khảo sát sự ảnh hưởng của các loại dung môi đến hàm lượng phenolics
và flavonoid của dịch chiết lá dứa
Lựa lá dứa không quá già và được cắt bỏ phần gốc Sau đó, nguyên liệuđược xử lí, làm sạch và xay (nghiền) mịn cùng với ba loại dung môi hữu cơ khácnhau (nước cất, ethanol 70% và acetone 70%) Tỉ lệ nguyên liệu : dung môi là1:1 (w/v) Hỗn hợp được tiến hành ngâm trong 2 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó,
Trang 17đem đi lọc thu dịch chiết Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhântố (dung môi chiết) với 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Tổng số đơn vị thínghiệm là 9 Khối lượng mẫu cho mỗi bố trí thí nghiệm là 50 g.
● Phương pháp phân tích:
Việc phân tích hàm lượng polyphenol trong dịch chiết lá dứa được thựchiện theo phương pháp của Singleton et al (1999)[15]: cho 0,02 mL dịch chiếtvào 10 mL nước cất, khuấy 15 phút, sau đó li tâm 10.000 vòng/phút trong 10phút ở 20°C Hút 0,5 mL dung dịch sau li tâm cho vào ống nghiệm sau đó chothêm 0,1 mL Folin (pha loãng 2 lần trong nước cất) lắc 3 phút; sau đó thêm 1,5
mL Na2CO3 2% giữ ở nhiệt độ phòng trong 30 phút và đi so màu quang phổ vớibước sóng 760 nm Hàm lượng polyphenol có đơn vị (mgGAE/g) và được tínhtheo công thức:
Abs 760 = 18,339 x mg Gallic + 0,0355
Việc xác định hàm lượng flavonoid được thực hiện theo phương pháp đượcmiêu tả bởi Chang et al (2002)[16]: lấy 0,5 mL dịch chiết cho vào 1,5 mLethanol 95%, 0,1 mL AlCl3; sau đó, cho thêm vào dung dịch trên 0,1 mLCH3COOK và 2,8 mL nước cất; tiếp đó, hỗn hợp được lắc đều và để yên ở nhiệtđộ phòng trong vòng 30 phút Tiến hành so màu hỗn hợp dung dịch ở bước sóng
415 nm Mẫu trắng sử dụng là nước cất Hàm lượng flavonoid được xác địnhtheo công thức
F (%) = (A x V/m) x N x 10-6 x 100
Trong đó:
A: hàm lượng quercetin (μg/mL) được xác định từ phương trình đườngchuẩn
V: tổng thể tích dịch chiết (mL)
m: khối lượng mẫu (g)
N: hệ số pha loãng
Trang 18Phương trình đường chuẩn: cân 10 mg Quercetin hòa tan trong ethanol80%; sau đó, pha loãng dung dịch ra các nồng độ 25, 50 và 100 μg/mL Cácbước phân tích tương tự như phân tích mẫu
Việc phân tích chỉ số Peroxyde (PV) được thực hiện bằng phương phápchuẩn độ Iod và so màu quang phổ của Cox và Pearson (1962)[17]: cân khoảng
1 g mẫu tôm cho vào ống li tâm 50 mL, thêm 5 mL chloroform và 10 mL aceticacid tiến hành lắc đều trên máy lắc sau đó thêm 1 mL dung dịch KI bão hòa; đểyên trong bóng tối 5 phút cho phản ứng xảy ra hoàn toàn; tiếp theo, cho thêm 75
mL nước cất và vài giọt chất chỉ thị hồ tinh bột, lắc đều Dung dịch Na2S2O3được sử dụng để tiến hành chuẩn độ cho đến khi màu xanh tím hay tím nhạt mấtmàu thì dừng lại, ghi kết quả thể tích dung dịch Na2S2O3 Chỉ số PV có đơn vị làmeq/kg và được tính theo công thức:
532 nm Việc xây dựng đường chuẩn được thực hiện bằng dung dịch
Trang 19Malondyaldehyde (MDA) ở các nồng độ từ 0, 2, 4, 6, 8, 10 ppm Đơn vị củaTBARS là mgMDA/kg
● Ảnh hưởng của dung môi đến hàm lượng polyphenol và flavonoid của dịch lá dứa
Kết quả phân tích hàm lượng polyphenol và tổng lượng flavonoid có trongdịch chiết lá dứa thu nhận được khi sử dụng ba loại dung môi chiết khác nhauđược trình bày trong bảng dưới đây
Số liệu thu được từ bảng trên cho thấy dung môi chiết ethanol 70% chohiệu quả chiết cao nhất, tiếp đến là dung môi acetone 70% và cuối cùng lànước cất Hàm lượng polyphenol của mẫu dịch chiết lá dứa được rút chiết từdung môi ethanol là 163±4,50 (mgGAE/g), còn đối với dịch lá dứa được chiếttrong dung môi nước cất và dung môi acetone 70% có hàm lượng polyphenollần lượt là 146±1,52 (mgGAE/g) và 160±4,47 (mgGAE/g) Dựa vào các kếtquả đạt được, dung môi ethanol 70% là dung môi thích hợp nhất cho dịchchiết lá dứa có hàm lượng polyphenol và hàm lượng flavonoid cao nhất
Trang 20Các alcaloid từ Pandanus amaryllifolius được thu thập từ các địa điểm khác nhau vào các thời điểm khác nhau 1992-2004
Khai thác, cô lập và xác định các alcaloid
Bảy alkaloid được phân lập trong điều kiện trung tính từ lá trưởng thành( 690g) của P amaryllifolius Dung dịch nước cô đặc từ dung dịch hydro-alcoholic của chiết xuất EtOH được khử chất hexane, sau đó được phân chiabằng CH2 Cl2 để tạo ra chiết xuất kiềm thô Chiết xuất này được sắc ký để cungcấp cho các alcaloid 2(5.1+3.1mg); 7 (8.1+2.6 mg); 8(6.5mg); 13(14.5mg) ; hỗnhợp 5, 6 và 7(1.2mg); và hỗn hợp 7 và 9 (1.2mg)
Trang 21Sơ đồ phác thảo việc chiết, cô lập và tinh chế các alcaloid TLTK
- 2 ACETYL 1 PYRROLINE (2AP)
Về chiết xuất đối với hợp chất 2AP, hiện nay được nghiên cứu với rất nhiềuphương pháp
● Phương pháp chiết bằng dung môi [20]
Chiết xuất dung môi 2AP từ lá dứa đã được thực hiện Ảnh hưởng củadung môi được sử dụng trong quá trình chiết xuất (ví dụ metanol, ethanol,propanol) đối với sản lượng 2AP là điều tra Sự hiện diện của 2AP được xác
Trang 22định bằng cách sử dụng GCMS Kết quả thu được cho thấy ethanol là dungmôi tốt nhất để chiết xuất 2AP từ lá dứa so với metanol khi phát sinh đỉnh2AP cao hơn từ sắc ký ethanol Tuy nhiên, không có 2AP được phát hiện khipropanol được sử dụng làm dung môi Kết quả cho thấy sự phân cực của dungmôi đóng vai trò quan trọng trong việc chiết xuất 2AP
● Phương pháp carbon dioxide lỏng siêu tới hạn -SFE
Nguyên tắc[42]: Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất nhất định, một số chất lỏngtới hạn đạt đến trạng thái siêu tới hạn Nhiệt độ tới hạn là nhiệt độ mà một chấtkhí biến thành chất lỏng Áp suất tới hạn là áp suất mà một chất lỏng biến thànhchất khí Tỷ trọng, sự khuếch tán và độ nhớt của chất lỏng siêu tới hạn là trạngthái trung gian của chất lỏng và khí Khí CO2 là một chất thích hợp và có độ tinhkhiết cao, rất dễ đạt đến điểm tới hạn (310oC và 1070 psi), khó cháy và tính độchại thấp Ngoài ra, CO2 lỏng siêu tới hạn cho phép hòa tan với cả dung môi phâncực và không phân cực Quá trình chiết xuất bằng CO2 lỏng siêu tới hạn có bảnchất của dạng chiết bằng dung môi với sự biến tính của CO2 lỏng ở điều kiện tớihạn
Quy trình[21]: sử dụng một trong hai dung môi chiết xuất (cloroform:metanol 3: 1), SDE hay chiết xuất chất lỏng siêu tới hạn (SFE) bằng carbondioxide đã được thực hiện SFE ở áp suất 450 bar trong 3 giờ ở 60oC, với tốc độdòng không đổi 0.11 min-1 CO 2 , có thể trích xuất 2-AP từ P.amaryllifolius Roxb trong sản lượng lớn hơn sản lượng thu được từ chiết dungmôi hoặc chiết xuất SDE Chiết xuất này có thể tìm thấy các ứng dụng mới tronghương liệu thực phẩm
● Phương pháp chiết xuất SDE (Simultaneous Distillation Extraction) [43]