1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỀM NĂNG CHÙA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH sóc TRĂNG

86 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 8,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về vai trò và sự ảnh hưởng của các ngôi chùa của người Khmer - chùa “Phật giáo Nam Tông” một tên gọi khác của Phật giáo Tiểu thừa trong đời sống c

Trang 1

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 5

********

Luận văn tốt nghiệp có thể được xem là một công trình nghiên cứu đầu tiên của

cá nhân tôi, đối với tôi đó là một công việc khá mới mẻ Do đó, trong quá trình thực hiện tôi đã không tránh khỏi những khó khăn và lo lắng Tuy nhiên, nhờ sự giúp đỡ, động viên của gia đình, thầy cô, bạn bè và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Huỳnh Tương Ái đã giúp tôi hoàn thành đề tài luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi người trong gia đình, thầy cô và bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn quy định

Do kiến thức còn hạn hẹp nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong nhận được sự cảm thông, cũng như những ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu “Tiềm năng chùa Phật giáo Nam Tông Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng” của tôi được hoàn thiện hơn

Thái Võ Bảo Quyên

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN (TNDLNV) 6

1.1.1 Quan niệm 6

1.1.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn 7

1.1.2.1 Các di tích lịch sử văn hóa 7

1.1.2.2 Các lễ hội 7

1.1.2.3 Các đối tượng du lịch gắn liền với dân tộc học 8

1.1.2.4 Các hoạt động văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác 8

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO TIỂU THỪA 9

1.2.1 Khái niệm Phật giáo Tiểu thừa và tên gọi 9

1.2.1.1 Khái niệm 9

1.2.1.2 Phật giáo Nam Tông và những tên gọi khác nhau 9

1.2.2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo Tiểu thừa 10

1.2.3 Sự khác nhau giữa Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa 11

Chương 2: NGƯỜI KHMER VÀ CHÙA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG 13

2.1 KHÁI QUÁT VỀ SÓC TRĂNG 13

2.1.1 Vị trí địa lý 13

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư 15

2.1.2.1 Địa hình 15

2.1.2.2 Sông ngòi 15

2.1.2.3 Khí hậu 15

2.1.2.4 Dân cư 15

2.1.3 Tên gọi Sóc Trăng 15

2.1.4 Kinh tế 16

2.2 NGƯỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG 16

2.2.1 Qúa trình hình thành cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng 16

2.2.2 Đặc điểm về văn hóa 18

2.2.2.1 Trang phục 18

2.2.2.2 Nhà ở 19

2.2.2.3 Ẩm thực 19

2.2.2.4 Lễ hội 20

2.2.2.5 Nghệ thuật 23

2.2.3 Đặc điểm về kinh tế 24

2.3 ĐẶC ĐIỂM CHÙA NAM TÔNG KHMER 24

Trang 7

2.3.1 Khái quát 24

2.3.2 Đặc trưng về kiến trúc và nghệ thuật trang trí chùa Nam Tông Khmer 25

2.3.2.1 Kiến trúc 25

2.3.2.2 Trang trí 29

2.3.3 Chức năng và ý nghĩa của chùa Phật giáo Nam Tông trong đời sống của người Khmer 32

2.3.3.1 Tôn giáo 33

2.3.3.2 Văn hóa 34

2.3.3.3 Giáo dục 35

2.4 CHÙA NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG 35

2.4.1 Hệ thống tổ chức 35

2.4.2 Các ngôi chùa Nam Tông Khmer tiêu biểu ở Sóc Trăng 36

2.4.2.1 Chùa Khleang 36

2.4.2.2 Chùa Dơi 39

2.4.2.3 Chùa Chén Kiểu 41

Chương 3: KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH CHÙA NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG 43

3.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN TOÀN TỈNH SÓC TRĂNG 43

3.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH THAM QUAN CHÙA NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG 47

3.2.1 Đánh giá tiềm năng của tỉnh Sóc Trăng trong phát triển du lịch tham quan chùa Nam Tông Khmer 47

3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tham quan chùa Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng 48

3.2.3 Thực trạng hoạt động du lịch tham quan chùa Nam Tông Khmer tại Sóc Trăng 50

3.3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THAM QUAN CHÙA NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG 56

3.3.1 Định hướng 56

3.3.2 Giải pháp 58

PHẦN KẾT LUẬN 60

1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 60

2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 61

3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 64

Phụ lục 1: Thông tin về các chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng 64

Phụ lục 2: Hình ảnh 66

Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát và mô tả hình thức khảo sát 77

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sóc Trăng, quê hương tôi, là nơi có sự gắn bó của ba dân tộc anh em Kinh - Hoa - Khmer Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc sắc, đặc trưng riêng Trong đó, đối với tôi, nghệ thuật kiến trúc, văn hóa “chùa chiềng” của người Khmer là nổi bật và đáng chú ý hơn cả Chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về vai trò và sự ảnh hưởng của các ngôi chùa của người Khmer - chùa “Phật giáo Nam Tông” (một tên gọi khác của Phật giáo Tiểu thừa) trong đời sống cộng đồng dân tộc, cũng như trong du lịch tại Sóc Trăng

Việc tìm hiểu các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer Sóc Trăng giúp tôi hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, đồng thời để bổ sung vào nguồn tri thức hỗ trợ nghề nghiệp hướng dẫn của mình trong tương lai

Đồng thời, tôi nhận thấy rằng du lịch Sóc Trăng vẫn còn chưa thật sự phát triển đúng với những gì đang có, đặc biệt là loại hình du lịch tham quan các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer Do đó, tôi hy vọng có thể góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho sự phát triển du lịch trên mảnh đất mà tôi đã được sinh ra và lớn lên

Đó là tất cả những lý do mà tôi đã chọn “Tiềm năng chùa Phật giáo Nam Tông Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng” để làm đề tài luận văn của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của tôi đối với đề tài này là tìm hiểu những đặc trưng của ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng về văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật kiến trúc, những đóng góp của ngôi chùa trong đời sống của người dân địa phương cũng như trong lĩnh vực hoạt động du lịch của tỉnh nhà Từ đó có được cái nhìn tổng quát về vai trò, tiềm năng của các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông đối với sự phát triển

du lịch tỉnh Sóc Trăng, nhằm đạt được kết quả cuối cùng đó là đề ra được những định hướng phát triển đúng mức và những giải pháp tối ưu cho hoạt động du lịch tham quan chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng được diễn ra một cách mạnh mẽ, trọn vẹn hơn

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của tôi đó là những nét đặc trưng, giá trị của ngôi chùa Phật giáo Nam Tông trong đời sống người dân Khmer Các tiềm năng

du lịch gắn liền với ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Song, bên cạnh đó, tôi còn tìm hiểu thêm về thực trạng hoạt động du lịch nói chung và tình hình khai thác du lịch chùa Phật giáo Nam Tông Khmer nói riêng trên địa bàn tỉnh

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là một đề tài không mới Từ trước đến nay đã

có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này Chủ yếu người ta nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc của ngôi chùa và những ý nghĩa của nó trong đời sống của người dân Khmer Chẳng hạn như trong “Văn hóa của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long” của nhà xuất bản Văn hóa dân tộc có đề cập đến mảng đề tài kiến trúc và nghệ thuật trang trí của chùa Phật giáo Nam Tông Khmer; trong “Nam Bộ Đất và Người” của nhà xuất bản trẻ đã có nói về Phật giáo của người Khmer, nội dung chủ yếu là khái quát về những kiến trúc đặc trưng của chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, các tượng thờ và việc khất thực của các nhà sư; hay trong quyển “Tôn giáo – tín ngưỡng của các dân cư

Trang 9

vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đã đề cập đến vấn đề vai trò của Phật giáo trong đời sống tâm linh người Khmer và đời sống tu tập của các sư sãi trong chùa

Lượng sách viết về chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là rất lớn, tài liệu tham khảo khá phong phú nhưng do hoạt động du lịch tại các chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng vẫn chưa thật sự được quan tâm và phát triển vì vậy trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài “Tiềm năng chùa Phật giáo Nam Tông Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng” tôi đã gặp không ít khó khăn trong vấn đề tìm tài liệu, số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch tại các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng Cho đến nay, tôi chỉ mới tham khảo được hai tài liệu có liên quan đến việc phát triển du lịch chùa của Sóc Trăng, đó là: Tiểu luận của anh Trương Minh Tuấn với đề tài “Tìm hiểu về chùa Phật giáo Nam Tông Khmer Sóc Trăng” và Luận văn của anh Lâm Minh Thiện với đề tài nghiên cứu về “Du lịch tôn giáo Sóc Trăng” Phần lớn nội dung tôi có được là từ việc khảo sát thực tế, lấy thông tin từ khách du lịch

và người dân địa phương

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Bất cứ một sự vật hiện tượng nào từ lúc sinh ra, phát triển rồi lụi tàn đều có một nguồn gốc và quá khứ cụ thể Các sự vật hiện tượng luôn biến đổi không ngừng, vì vậy

ta cần hoạch định một phạm vi và dự báo tương lai cho việc nó bị biến đổi hay bị thay thế bằng một hình thức khác Quan điểm này giúp tôi có cái nhìn chính xác và gần hơn với hiện tại của vấn đề đặt ra để làm nền tảng cho phát triển tương lai, góp phần đưa ra hướng sử dụng hợp lý tiềm năng du lịch tham quan chùa Phật giáo Nam Tông Khmer một cách có hiệu quả và bền vững cho mai sau

5.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Vận dụng quan điểm này trong quá trình nghiên cứu để thấy được rằng, trên cùng một lãnh thổ, các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và các thành phần tự nhiên xã hội

có sự liên kết chặt chẽ, bổ trợ cho nhau

Hơn thế nữa, quan điểm này còn giúp ta có được cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu để đưa ra những giải pháp cho việc quy hoạch và sử dụng tiềm năng của loại hình du lịch trên một cách có hiệu quả

5.3 Quan điểm thực tiễn

Khi nghiên cứu một vấn đề, bất kỳ ai cũng mong muốn tính chính xác và đạt được hiệu quả của vấn đề, vì thế tôi tìm thấy lợi ích từ quan điểm thực tiễn cho đề tài đang nghiên cứu Lấy thực tiễn làm tính chuẩn xác và tin cậy cho việc nghiên cứu Thực tiễn thông qua khảo sát, chọn lọc, tổng hợp và đánh giá nhìn nhận khách quan thực tế của sự vật đang diễn ra để so sánh, làm nền tảng và mang tính khoa học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu

Đây là việc tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhằm làm phong phú và sâu sắc hơn cho bài viết Các nguồn tài liệu được tổng hợp chủ yếu từ: sách, báo, tài liệu trên Internet, để lựa chọn và khái quát hóa thông tin cần thiết để phục vụ cho việc nghiên cứu

6.2 Phương pháp thống kê

Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu thì việc tiếp theo là thống kê chính xác các kênh số và dữ liệu để phân tích khi nghiên cứu, khi đó ta sẽ thấy rõ được tổng quan của vấn đề và có thể thâu tóm vấn đề một cách nhanh gọn và linh động

Trang 10

6.3 Phương pháp khảo sát thực tế

Đây là phương pháp đòi hỏi người làm nghiên cứu phải đến trực tiếp địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin chính xác nhất, sinh động nhất và tổng quan thực trạng vấn đề thông qua cái nhìn cụ thể bao quát

6.4 Phương pháp xã hội học:

Có ý nghĩa không kém phần quan trọng, đây là phương pháp sử dụng phương pháp hỏi ý kiến (trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phiếu điều tra), phương pháp quan sát cá nhân, nghiên cứu tài liệu (sổ thống kê số liệu, sổ điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, )

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN (TNDLNV)

Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân tạo thường có văn hóa cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn

Tài nguyên du lịch nhân tạo thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn Chúng ta đều biết các thành phố lớn lại là đầu mối giao thông nên rõ ràng việc tiếp cận với nguồn tài nguyên này dễ dàng hơn nhiều Khi đến thăm nguồn tài nguyên nhân tạo có thể sử dụng cơ sở vật chất của du lịch đã được xây dựng trong các điểm quần cư mà không cần xây thêm cơ sở riêng

Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân tạo là đại bộ phận không có tính mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và các điều kiện tự nhiên khác Vì thế tạo nên khả năng sử dụng tài nguyên du lịch nhân tạo ngoài giới hạn các mùa chính do các tài nguyên tự nhiên gây ra và giảm nhẹ tính mùa nói chung của các dòng du lịch Trong mùa hoạt động du lịch tự nhiên cũng có những thời kỳ, có những ngày không thích hợp cho giải trí ngoài trời Ở những trường hợp như thế, việc đi thăm tài nguyên

du lịch nhân tạo là một giải pháp lý tưởng

Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân tạo rất phức tạp và rất khác nhau Nó gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân tạo Khác với tài nguyên tự nhiên có một số phương pháp đánh giá định lượng tài nguyên Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên du lịch nhân tạo chủ yếu dựa vào cơ sở định tính xúc cảm và trực cảm Việc tìm tòi tài nguyên du lịch nhân tạo chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, thế giới quan, vốn tri thức… Ví dụ như đối với người có quan tâm đặc biệt tới toàn thế giới thì các kim tự tháp Ai Cập là đối tượng mong muốn đầu tiên; nhưng những người dân địa phương thì lại ưu tiên các đối tượng khác

Tài nguyên du lịch nhân tạo tác động theo từng giai đoạn Các giai đoạn được phân chia như sau: a) Thông tin, ở giai đoạn này khách du lịch nhận được những tin tức chung nhất, thậm chí có thể nói là mờ nhạt về đối tượng nhân tạo, và thường thông qua thông tin miệng hay các phương tiện thông tin đại chúng; b) Tiếp xúc, là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp xúc bằng mắt thường với đối tượng, tuy chỉ là lướt qua nhưng là quan sát bằng mắt thực; c) Nhận thức, trong giai đoạn này khách du lịch làm quen với đối tượng một cách cơ bản hơn, đi sâu vào nội dung của nó, thời gian tiếp xúc lâu hơn; d) Đánh giá nhận xét, ở giai đoạn này, bằng kinh nghiệm sống của bản

Trang 12

thân về mặt nhận thức, khách du lịch so sánh đối tượng này với đối tượng khác gần với

nó Thường thì việc làm quen với tài nguyên du lịch nhân tạo dừng lại ở hai giai đoạn đầu, còn giai đoạn nhận thức và đánh giá nhận xét dành cho khách du lịch có trình độ văn hóa nói chung và chuyên môn cao

Nói tóm lại, tài nguyên du lịch nhân văn đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của con người, nó có tác dụng hướng con người trở về với những cội nguồn của dân tộc Nó thu hút con người bởi những tinh tế của cái đẹp, mức chính xác của chân thiện mỹ, cũng như khối kiến trúc đồ sộ mà con người có được từ việc tiếp cận những giá trị văn hóa do chính con người tạo ra

1.1.2 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn

sử Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nước

Di tích lịch sử - văn hóa chứa đựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau Mỗi di tích

có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia được phân chia thành các loại:

- Di tích văn hóa khảo cổ

- Di tích lịch sử

- Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị do đó còn được gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật

- Các loại danh lam thắng cảnh

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng được xếp vào loại hình di tích lịch

sử văn hóa nghệ thuật vì những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần

1.1.2.2 Các lễ hội

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được

Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu, giúp cho người tham dự

có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi mọi sinh vật sống Lễ hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội rễ, bản thể của mình Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là một trong những thứ quý giá nhất Và vì thế các lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung Các lễ hội có sức hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sử - văn hóa

Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội

- Phần nghi lễ: các lễ hội dù lớn hay nhỏ, đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian

Trang 13

- Phần hội: diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội

và thiên nhiên Trong hội thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn, mang lại niềm vui cho mọi người

Các lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử - văn hóa Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch Di tích và lễ hội là hai loại hình hoạt động văn hóa sóng đôi và đan xen ở nước ta Lễ hội gắn với di tích, lễ hội không tách rời di tích Có thể nói, di tích là dấu hiệu truyền thống được đọng lại, kết tinh lại ở dạng cứng, còn lễ hội là cái hồn và nó chuyển tải truyền thống đến cuộc đời ở dạng mềm, phần mềm

Ở người Việt, từ rất lâu, những ngôi đình đã dựng mốc cho chuẩn mực văn hóa

và định hình cho đời sống tâm linh, đạo đức cho từng thành viên trong làng Còn đối với người Khmer, ngôi chùa chính là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa lễ hội của tôn giáo và của cả dân tộc Như lễ hội Ok-oom-bok của người Khmer cũng có hai phần lễ

và hội, phần lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với vị thần Mặt Trăng, cầu mong được sức khỏe, hạnh phúc và mùa màng bội thu; phần hội gồm có các hoạt động sân khấu truyền thống Khmer như đoàn Dù kê, Rô băm, và hội đua ghe ngo

1.1.2.3 Các đối tượng du lịch gắn liền với dân tộc học

Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch

Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ

về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong qui hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…

Việt Nam với 54 dân tộc còn giữ gìn nguyên vẹn những phong tục tập quán, hoạt động văn hóa - văn nghệ đặc sắc, nhiều kỹ năng độc đáo Ở Việt Nam còn có hàng trăm làng nghề truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng mang tính nghệ thuật cao, đặc biệt các nghề chạm khắc, đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm sứ, Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật chế biến và nấu nướng cao

Ngoài ra, nước ta còn có một nền kiến trúc có giá trị và được bố cục theo thuyết phong thủy của triết học phương Đông, nhiều kiến trúc tôn giáo có giá trị hấp dẫn khách du lịch như: tháp Chăm, chùa Phật giáo Nam Tông Khmer

1.1.2.4 Các đối tượng văn hóa thể thao

Các đối tượng văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu Đó là các trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu quốc tế

Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô và thành phố lớn Các đối tượng văn hóa – thể thao thu hút không chỉ khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu, mà còn thu hút đa số khách du lịch với mục đích khác nhau, ở các lĩnh vực

và đến từ các nơi khác nhau Tất cả các khách du lịch có trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến thăm Do vậy, tất cả các thành phố có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức những hoạt động văn

Trang 14

hóa – thể thao đều được nhiều khách tới thăm và đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO TIỂU THỪA

1.2.1 Khái niệm Phật giáo Tiểu thừa và tên gọi

1.2.1.1 Khái niệm

“Tiểu thừa” (Hinayana; hina: tiểu, yana là thặng thừa) phạm trù Phật giáo chỉ rằng, người ta có thể thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử nếu người ta thi hành những chân lý mà Phật dạy Là một tông phái được hợp thành do các vị sư đã giữ gìn, bảo tồn trật tự và truyền ra bên ngoài những giáo lý của Phật dạy và những điều luật mà Phật ban hành Tiểu – là nhỏ, thừa – là cổ xe, Tiểu thừa là cổ xe nhỏ, nên mỗi lúc chỉ có thể chở vài người

Tiểu thừa trong Phật giáo có nghĩa là cổ xe nhỏ, nguyên danh từ của một số đại biểu bên phái Đại thừa thường dùng để chỉ những người theo Phật giáo Tiểu thừa Thuật ngữ, hàm ý lăng mạ chỉ trích Ngày nay, ý nghĩa chê bai của danh từ đó không còn nữa, nhưng nó vẫn tồn tại tên gọi của một tông phái Phật giáo Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của Phật giáo

1.2.1.2 Phật giáo Tiểu thừa và các tên gọi khác

Phật giáo Tiểu thừa có nhiều tên gọi khác nhau theo khuynh hướng, sự hình thành và danh từ địa lý Phật giáo Tiểu thừa có những tên gọi như sau: Phật giáo Nguyên thủy, Thượng tọa bộ (Theravada) và Phật giáo Nam Tông

- Phật giáo Nguyên thủy

Là tên gọi của vị lãnh đạo Phật giáo thay thế danh từ Tiểu thừa, trong thời kì hội nghị Phật giáo Thế giới họp tại That Mandu (Nepal) năm 1956 để tránh ngộ nhận danh

từ “Tiểu” làm cho nhiều người hiểu lầm hàm ý chê bai không đúng

Đại biểu phái này cho rằng mình theo sát những lời dạy nguyên thủy của đức Phật nói ra Và đây là tên được hiểu theo nghĩa của từ nguyên thủy; đó là các nhà sư, tăng đồ bên Tiểu thừa vẫn hành đạo theo lối cổ, cố gắng giữ lấy và làm theo những gì Phật truyền dạy, không thay đổi hay đổi mới vẫn luôn tồn tại trật tự cũ, chủ trương bảo thủ Kinh – Luật – Luận như mới ra đời

- Thượng Tọa bộ

Là hệ phái thứ 15 trong tổng số 18 hệ phái của Phật giáo Tiểu thừa Song vì hiện nay, Tiểu thừa chỉ còn duy nhất 1 hệ phái đó là Thượng tọa bộ hay còn gọi là Theravada, nên từ một nghĩa nào đó Theravada cũng chính là Phật giáo Tiểu thừa

Là phái được hình thành từ 100 năm sau khi Phật viên tịch, tăng chúng họp lại với nhau để đọc kinh điển Phật giáo Nhưng vì có sự bất đồng ý kiến với nhau sâu sắc nên hàng ngũ Phật giáo chia ra làm hai phái: Thượng tọa và Đại chúng Thượng tọa (Theravada) chủ trương nghiêm túc là phải chính thống phái bảo thủ Phái bảo thủ Thượng tọa tự cho mình là chính thống và chỉ nhận cho vào tăng già những vị Tỳ kheo

mà thôi (nghĩa là chỉ nhận Nam chứ không nhận Nữ vào chùa tu)

- Phật giáo Nam Tông

Danh từ Nam Tông là danh từ địa lý, Tiểu thừa được gọi là Nam Tông Phật giáo

vì được hình thành ở các nước Nam Á và Đông Nam Á như: Srilanca, Thái Lan, Mianma, Campuchia, Lào… và Nam Bộ Việt Nam Danh từ Nam Tông được hình thành từ khi Phật giáo chia thành hai phái Đại thừa, Tiểu thừa, phân chia nhau vùng truyền giáo, mỗi bên thịnh hành ở một hướng Đại thừa theo hướng Bắc, phát triển ở

Trang 15

các nước Trung Quốc, Nhật Bản,… nên còn được gọi là Bắc Tông Tiểu thừa phát triển ở phía Nam và truyền giáo qua các nước Lào, Thái Lan, Campuchia… nên còn gọi là Phật giáo Nam Tông Phật giáo Nam Tông truyền qua phương Nam bằng hệ thống chữ Pali

1.2.2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo Tiểu thừa

Đại biểu của phái Tiểu thừa cho rằng mình theo sát những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, do chính Đức Phật nói ra và do đó có những giáo lý, giáo luật còn được giữ nguyên như ban đầu, ít có sự thay đổi

Giới luật của Tiểu thừa hoàn toàn dựa vào Luật Tạng Trong A – tỳ - đạt – ma, Tiểu thừa dựa trên Kinh Tạng để phân tích và hệ thống hóa giáo lý Phật giáo

Tiểu thừa tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến sự tự giải thoát Các lý luận triết học không đóng vai trò quan trọng, chúng thậm chí còn được xem là trở ngại trên con đường giải thoát Tiểu thừa phân tích rõ trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu chấp ngã và chỉ ra phương pháp giải thoát khỏi sự khổ

Tất cả các trường phái của Tiểu thừa đều có một quan điểm chung về sự vật, về dòng hiện hữu, khổ có thật, phải giải thoát khỏi cái khổ Giải thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết bàn, đó chính là mục đích cao nhất của Tiểu thừa Muốn đạt được mục đích này, người tu hành phải tự dựa vào sức mình, xa lánh thế gian Vì vậy, Tiểu thừa quan niệm phải sống viễn ly, sống cuộc đời của kẻ tu hành Đối với Tiểu thừa, cuộc sống tại gia không thể nào đưa đến sự giải thoát Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là A – la – hán, là người dựa vào tự lực để giải thoát Do đó, phái Tiểu thừa chỉ quan tâm đến sự giác ngộ của chính bản thân

Tiểu thừa tránh không đưa lý thuyết gì về Niết bàn, mục đích cuối cùng là kinh nghiệm của sự tự giác ngộ, trong đó người tu hành chứng được vô ngã và từ bỏ tham

ái Đối với Tiểu thừa, Phật là một nhân vật lịch sử, được xem là một con người và không phải là hóa thân của một nhân vật siêu phàm nào cả

Những đại ý trong giáo lý của Tiểu thừa:

Phải thoát khỏi cảnh trần, vì ở đó người ta bị khổ não, nguy hại và chết đi sống lại mãi Người ta chết đi và sinh ra trở lại là do Bốn chân lý (hay còn gọi là Tứ Diệu đế): Khổ đế - nguyên nhân tạo ra cái khổ là do con người rơi vào tám cái khổ ở đời; Tập đế - nguyên nhân tạo ra cái khổ là do con người tham, sân, si; Diệt đế - sự khẳng định tiêu diệt cái khổ; Đạo đế - con đường tiêu diệt cái khổ mà cũng do nơi Thập nhị nhân duyên ((pratity - Samutpanda) – mười hai mối liên hệ nguyên nhân) Hiểu được

Tứ Diệu đế và diệt được những điều trong Thập nhị nhân duyên thì con người không còn luân hồi nữa

Trong các kinh sách, Tiểu thừa thường khuyên dạy con người nên cắt bỏ những dây luyến ái; nó làm cho con người liên hệ với trần gian chẳng những ở đời này mà qua các đời sau nữa Tiểu thừa cũng dạy rằng nên làm nhiều công đức mở mang những đức hạnh của mình, nhất là phải bố thí và không được lấy của người khác, trừ của ấy

do chính tay người ta cho mình Tiểu thừa lại dạy rằng, muốn giải thoát trọn vẹn, muốn giác ngộ phải tham thiền nhất định, tức là làm phước, bố đức không phải là sức mạnh cho mình tỉnh ngộ, sự suy nghĩ chính chắn trong tâm mới thật sự làm cho mình

tự giác ngộ

1.2.3 Sự khác nhau giữa Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa

Danh từ Tiểu thừa và Đại thừa là danh từ chỉ phần tư tưởng và giáo lý dị biệt giữa các môn phái Phật giáo Trước đây, sau khi Phật nhập niết bàn 100 năm Phật giáo

Trang 16

được chia làm hai bổn phái Thượng tọa và Đại chúng Nhưng dần dần cả Thượng tọa lẫn Đại chúng đều chia ra làm nhiều bộ phái khác nhau nữa Tuy nhiên, dù cho phân phái ra nhiều nhưng cũng không ngoài hai khuynh hướng Bảo thủ (là Tiểu thừa) và Cấp tiến (Đại thừa)

Tiểu thừa là cổ xe nhỏ (tiểu thăng) Đại thừa là cổ xe lớn (đại thăng) Hai danh từ này khi Phật sinh thời chưa có, chỉ đến khi Phật viên tịch Phật giáo mới được truyền

bá ra ngoài theo hai con đường Bắc tông – Nam tông thì danh từ Đại thừa và Tiểu thừa mới xuất hiện Vào 500 năm sau khi Phật viên tịch, Mã minh (Asvaghoha) ra đời, viết

ra bộ “Đại thừa khởi tính luận” Từ đây, Phật giáo mới có sự phân chia Đại thừa và Tiểu thừa

Nhưng phải đến 100 năm sau, Long Thọ (Nagarivna) ra đời, viết ra bộ “Trung quan luận”, thì Đại thừa Phật giáo mới hưng thịnh hoàn toàn, lập thành hệ thống Đại thừa càng mạnh mẽ thì sự phân chia Đại và Tiểu lại càng thêm rõ ràng Phái Tiểu thừa

vì thế cho rằng những phái Đại thừa là những “đứa con hoang” (mà “đứa con hoang” nhất là Thiền Tông) của Phật giáo vì họ đã quên mất và vượt quá xa lời Phật thuyết pháp Đại thừa lại cho rằng Tiểu thừa bảo thủ và không biểu thị được cả tinh hoa của Phật giáo

Đại thừa và Tiểu thừa về cơ bản có những nét khác nhau như sau:

- Tư tưởng: Tiểu thừa chủ trương bảo thủ, Đại thừa chủ trương cấp tiến

- Về giới, luật: phái bảo thủ (Tiểu thừa) chủ trương giữ gìn nghiêm ngặt giáo điều, còn phái cấp tiến (Đại thừa) thì chủ trương tự do và khoan đại Mỗi khi giải thích kinh điển thì phái bảo thủ giữ theo giáo điều; còn phái cấp tiến theo về phương diện Triết học và khảo cứu tự do, không câu chấp và phụ thuộc giáo điều

- Kinh điển Phật giáo:

+ Tiểu thừa: thường viết bằng tiếng Pali , là tiếng bình luận và Đại chúng thường dùng, nó là thứ tiếng thiếu văn phạm, hệ thống kinh điển Tiểu thừa không hệ thống có lẫn lộn kinh điển Đại thừa Bởi vậy, kinh điển (Bắc tông) Tiểu thừa chỉ có bộ A Hàm, trong đó gồm có Trường A Hàm (Digha Nikaya), Trung A Hàm (Majjhima Nikaya), tăng I A Hàm (Anguttara Nikaya), Tạp A Hàm (Samyutta) và Tiểu A Hàm (Khuddhka Nikaya)

+ Đại thừa: hệ thống kinh điển Đại thừa lại viết bằng chữ Sanscrit là thứ tiếng có văn phạm, rất tế nhị và có giá trị về mặt văn học, nên được giới trí thức và các học giả hâm mộ Hệ thống kinh điển Đại thừa rất dồi dào và phong phú hơn hệ thống Tiểu thừa cả về kinh và luận Trong kinh điển Đại thừa có rất nhiều kinh điển Tiểu thừa, do ngoại bộ A Hàm của Y Tông, còn có các kinh khác như Hoa Nghiêm, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Bát Nhã Ba La Mật Đa, Lăng Nghiêm, Duy Ma La Cật, Viên Giáp, Kim Cang, Di Đà… mà Tiểu thừa không chấp nhận

- Giáo lý cơ bản: khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa có thể quy vào các điểm chính sau:

+ Tiểu thừa thì lo tự độ (độ lấy chính mình ra khỏi luân hồi sinh tử): tâm lượng khiêm tốn chỉ lo về tự giác mà thôi, chỉ tu cho mình mà không tu cho người khác Đại thừa: chẳng những lo tự độ mà còn phổ độ chúng sinh (giác tha); tâm lượng quảng đại, thể hiện trong câu “tự giác nhi giác tha”, tu cho mình và cho người khác

+ Tiểu thừa: giải thoát bằng cách thoát ly thế gian tướng, thể hiện đi tu tại chùa tách ly khỏi gia đình Đại thừa thì giải thoát nhưng không thoát ly thế gian tướng nên những người đi tu bên Đại thừa có thể tu tại gia và có thể sử dụng nhà làm chùa

Trang 17

- Quan niệm về Niết bàn: Tiểu thừa thì phủ nhận hiện hữu, còn Đại thừa không phủ nhận hiện hữu, tìm lối giải thoát trong hiện hữu

+ Tiểu thừa: chỉ có Nam tu, tùy theo độ tuổi mà có tên gọi khác nhau (từ 20 tuổi trở xuống gọi là Sadi, trên 20 tuổi gọi là Tỳ Kheo) Tiểu thừa, đi tu mang ý nghĩa trả hiếu cho cha mẹ, sau một thời gian sư sãi có thể trở về gia đình sống cuộc sống bình thường, người đi tu ở Phật giáo Tiểu thừa ăn mặn, chỉ kiêng ăn mười thứ thịt: chó, rắn, voi, ngựa, thỏ, người, rùa, hổ, báo, sư tử Các thứ thịt cá khác đều dùng được, những phải do người khác giết và các tín đồ bố thí, tín đồ bố thí thức ăn gì thì dùng vậy Và chỉ được ăn một buổi trong ngày vào giờ ngọ Thức ăn hàng ngày là do các sư đi khất thực

- Sự khác nhau thể hiện qua y phục:

+ Đại thừa: có nhiều loại, tùy vào cấp bậc, chức sắc, trang phục cho ngày thường hay đại lễ mà khác biệt về cách may và màu sắc Đề cập đến trang phục gồm các loại:

Y (cà sa), áo hậu,… và một số vật dụng tùy thân như: bát, đồ lược nước, tạo cụ, đồ đội, đồ đeo

+ Tiểu thừa: trang phục không may thành quần áo, mà chỉ dùng vải vàng nghệ hoặc nâu quấn, vắt lên người với các kiểu khác nhau

Trang 18

Chương 2 NGƯỜI KHMER VÀ CHÙA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở

SÓC TRĂNG 2.1 KHÁI QUÁT VỀ SÓC TRĂNG

Sóc Trăng là tỉnh ven biển ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, nằm ở hạ nguồn của Sông Hậu – nơi sông Hậu đổ ra biển Đông tại hai cửa Định An và Trần Đề Tỉnh có diện tích đứng thứ 6 và dân số đứng thứ 7 trong khu vực Sóc Trăng là một vùng đất mới, được các cư dân người Việt đến khai khẩn trong khoảng hơn 200 năm nay Vào thế kỷ XVII, Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc của Chân Lạp Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Thuận cắt đất Ba Thắc dâng cho chúa Nguyễn Chúa Nguyễn đặt Ba Thắc thuộc dinh Long Hồ và vận động người Việt vào khai hoang, lập làng Năm

1900, Pháp lập tỉnh Sóc Trăng Năm 1956, tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Bạc Liêu thành tỉnh Ba Xuyên Sau 30-04-1975, tỉnh Ba Xuyên giải thể, địa bàn Sóc Trăng thuộc tỉnh Hậu Giang Tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ Nghị quyết tách tỉnh Hậu Giang

ở kỳ họp Quốc hội lần X, khóa VII, ngày 10-12-1991, và chính thức được phân vạch địa giới hành chính vào năm 1992

Sóc Trăng là địa bàn cư trú của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng với nguời Chăm bản địa Trong quá trình cộng cư, cộng đồng các dân tộc ở đây đã hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc và khá riêng biệt có thể gọi là “văn hóa xứ giồng” Đặc trưng “văn hóa xứ giồng” được thể hiện qua các mặt trong đời sống hằng ngày của người Sóc Trăng, từ ngôn ngữ, mối quan hệ xã hội, tên đất, tên làng đến tín ngưỡng tôn giáo, ẩm thực và lễ hội Nói đến Sóc Trăng, nhiều người thường nghĩ ngay đến chùa Chén Kiểu, chùa Dơi, chùa Đất Sét, Công viên văn hóa Hồ Nước Ngọt, lễ hội đua ghe ngo, bún nước lèo, bánh pía…

Sóc Trăng nằm trên quốc lộ 1A nối liền Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh: Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang

Tỉnh lỵ hiện nay của Sóc Trăng là thành phố Sóc Trăng, cách thành phố Hồ Chí Minh 231 km, cách thành phố Cần Thơ 62 km theo quốc lộ 1A

Đơn vị hành chính Sóc Trăng gồm có 10 huyện, đó là: Mỹ Xuyên, Kế Sách, Mỹ

Tú, Long Phú, Thạnh Trị, Ngã Năm, Cù Lao Dung, Vĩnh Châu, Trần Đề và Châu Thành

Trang 19

Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng (nguồn: http://soctrang.gov.vn Ngày 19 – 04 - 2011)

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư

Trang 20

những giồng cát tương đối cao và những vùng trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biển tiến và lùi tạo nên các giồng cát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thành phố Sóc Trăng

2.1.2.4 Dân cư

Sóc Trăng có diện tích tự nhiên 3.223,3 km2, dân số là 1.289,441 người (theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009) Trên địa bàn tỉnh có 26 dân tộc, nhưng chủ yếu là người Kinh, Hoa và Khmer Sóc Trăng có khoảng 350.000 người Khmer, đông nhất trong số các địa phương có người Khmer sinh sống, chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh và chiếm 32,1% tổng số người Khmer của cả nước Người Khmer tập trung ở các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Mỹ Tú và Long Phú

2.1.3 Tên gọi Sóc Trăng

Hiện chưa có tài liệu nào cho biết cụ thể tên gọi Sóc Trăng có từ khi nào Theo một số sách sử như: Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Địa Bạ Nam Kỳ Lục Tỉnh hay những quyển sách khảo cứu của Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Hứa Hoành,… trước khi có tên Sóc Trăng thì “xứ Sóc Trăng” ngày xưa có tên là xứ Ba Thắc tức ông

“Bassac” (tên của một vị thần người Khmer) Người ta cũng dùng tên này để nói về nhiều địa danh, thổ sản khác của Đồng bằng Sông Cửu Long như cửa Ba Thắc, gạo Ba Thắc… Sau đó, Sóc Trăng còn có tên là Ba Xuyên do vua Minh Mạng đặt, nhưng lúc

đó người địa phương vẫn gọi là Sóc Trăng

Có nhiều cách giải thích khác nhau về tên gọi Sóc Trăng:

Học giả Lê Hương giải thích tên gọi Sóc Trăng theo 3 kiểu:

- Sóc Trăng là do tiếng Khmer đọc trại ra từ chữ “Srok Tréang” có nghĩa là “Bãi Sậy”, vì Sóc Trăng ngày xưa có nhiều bãi sậy hoang vu

- Sóc Trăng do từ “Srok Kh’leang” tiếng Khmer mà ra Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh’leang là “kho’, “vựa”, “chỗ chứa bạc” Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua Tiếng Việt phiên âm là “Sóc-Kha-Lang” rồi sau đó thành Sóc Trăng

- Sóc Trăng là kho chứa bạc nhưng không phải là kho bạc của vua mà là kho bạc, kho chứa vũ khí, kho chứa lương thực của giặc Xà Na Téa và Xà Na Tua, đóng quân ở

Trang 21

Sóc Trăng dưới triều Nguyễn, tại ấp “Sóc Vồ” ngày nay Do đó, Sóc Trăng là do chữ

“Srok Kh’leang” đọc trại mà ra

Theo quyển Petit Cours de Gesographie de la Basse Cochinchine par Trương Vĩnh Ký thì “Sốc Trăng” (Sóc Trăng) là tên dân gian của một tỉnh hạt ở Nam Việt gọi

là Nguyệt Giang (Sông Trăng) Tên này có nguồn gốc Khmer là Péam Prêk Sròk Khlẵn (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac) Vương Hồng Sển giải thích:

“Péam” là vàm, “prêk” là sông, “sròk” là sốc, “khlẵn” (kh’leang) là kho bạc Nguyên đời vua Khmer có đặt một kho chứa bạc nơi đây Đến đời vua Minh Mạng, đổi tên chữ

ra Nguyệt Giang tỉnh vì triều đình đã ép chữ “sốc” biến ra chữ “sông”, chữ “kh’leang”

ra “trăng” và đổi thành “nguyệt”

2.1.4 Kinh tế

Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển tổng hợp Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu du lịch sinh thái phong phú

Ngoài ra, Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 12.172 ha với các loại cây chính : tràm, bần, giá, vẹt, dừa nước phân bố ở 2 huyện Vĩnh Châu và Long Phú Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn

Những kết quả thăm dò bước đầu cho thấy có triển vọng về khai thác dầu và khí đốt tại vùng thềm lục địa ngoài khơi gần Sóc Trăng

Với vị trí địa lý khá thuận lợi và phong cảnh thiên nhiên mang nét đặc trưng của vùng sông nước; Sóc Trăng có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp nhiều thành phần, trong đó du lịch là một trong những ngành kinh tế có khả năng phát triển

và góp phần cải thiện cơ cấu GDP của tỉnh

2.2 NGƯỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG

2.2.1 Quá trình hình thành cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng

Sóc Trăng có khoảng 350.000 người Khmer sinh sống (với trên 68.000 hộ), chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh (theo thống kê năm 2009) Bà con Khmer sống chủ yếu

ở nông thôn vùng sâu, vùng đất giồng, ven biển, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản ven biển

Người Khmer là dân tộc có mặt rất sớm ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng, nhưng người Khmer có mặt ở Sóc Trăng chính xác vào thời gian nào thì vẫn chưa thể xác định được một cách chắc chắn Theo nhiều nhà nghiên cứu thì người Khmer có lẽ đã xuất hiện ở Sóc Trăng và Đồng Bằng Sông Cửu Long từ khoảng đầu thế kỉ XII – XIII, XIV thậm chí còn muộn hơn nữa Căn cứ vào những ghi chép trên bia kí viết bằng chữ Khmer cổ thì người Khmer với hình thức cư trú với tên gọi là phum, sóc đến Đồng Bằng Sông Cửu Long khá muộn khoảng từ cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV Điều này có thể sẽ phù hợp với việc giám định niên đại của các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Sóc Trăng có niên đại khoảng từ thế kỉ

Trang 22

XIV – XV trở lại đây Hơn nữa Phật giáo Theravada (Phật giáo Nam Tông) cũng chỉ mới được du nhập vào người Khmer từ thế kỉ XIII

Nhìn lại lịch sử, cách đây trên mười thế kỷ vùng Sóc Trăng và các tỉnh khác thuộc châu thổ sông Cửu Long vẫn còn là một vùng đất sình lầy, hoang vu và ngập mặn Sau thế kỷ thứ X trở đi do mực nước biển rút dần, những vùng đất lớn tại Sóc Trăng và phụ cận dần dần nổi lên, tuy hoang vu nhưng lại rất màu mở bởi được phù sa bồi đắp trong nhiều thập niên, nhiều thế kỷ Chính vì thế vùng đất này có sức thu hút đối với người dân nghèo, người Việt, người Khmer, người Hoa cùng đến đây khai phá, tạo lập một vùng đất phục vụ cho đời sống của mình Đối với những người nông dân nghèo người Khmer là những người chống nạn lao dịch nặng nề và sự bốc lột thậm tệ của giai cấp phong kiến Khmer (thời đế chế Ăngkor và thời gian tiếp theo), đã làm nẩy sinh một làn sóng di dân tự do, chậm rải của người Khmer nghèo khổ từ Campuchia tới những giồng đất hoang vu nhưng màu mỡ ở Sóc Trăng và các tỉnh khác để sinh cơ lập nghiệp Nhất là từ thế kỷ XV trở đi khi đế chế Ăngkor bị sụp đổ dưới sự tấn công của các thế lực thống trị phong kiến Xiêm La (Thái Lan) Những người Khmer càng bị đẩy vào nghèo đói và cùng cực bởi bọn phong kiến ngoại tộc Do vậy, từ đấy trở đi, làn sóng di cư của những người nông dân Khmer chống phong kiến ngoại tộc, đã xuôi theo dòng Cửu Long về Sóc Trăng và các tỉnh khác thuộc ĐBSCL ngày càng đông đúc hơn Cho đến thế kỷ thứ XVI trên địa bàn Sóc Trăng và các vùng phụ cận đã bắt đầu

có người dân Khmer sinh sống Họ là những người lưu dân đến đây khai phá đất hoang

và sống tự do chưa chịu sự quản lý của Quốc gia nào Ngày nay, người Khmer ở Sóc Trăng vẫn còn lưu giữ nhiều câu chuyện truyền miệng liên quan đến sự kiện di dân này Ví dụ ở xã Tham Đôn huyện Mỹ Xuyên có ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer gọi là chùa “Tắc Giồng”, tiếng Khmer gọi là “Pra Xa Thkong” được xây dựng cách nay 976 năm ( theo lời kể của đại đức Thạch Sách, sư cả trụ trì chùa ) Người Khmer trong vùng gọi là chùa Vua Theo lời kể của các cụ già và sư cả trụ trì chùa, một ông vua Khmer nào đó đã từng chạy loạn và dừng chân ở đây Vùng đất nơi vua ở gọi là “ đất vua ”, sau đó người Khmer chọn đây làm đất dựng chùa nên bà con gọi là:

“ chùa vua ” Hay ở xã Phú Tân huyện Mỹ Tú có Sóc (Sok) người Khmer gọi là “Som

pu thlây” nghĩa là “thuyền vỡ” Người dân cho biết rằng theo lời ông bà kể lại, xa xưa khi ấy sông nước còn mênh mông, có một chiếc thuyền lớn của một hoàng thân hay hoàng tử Khmer nào đó chở hàng trăm người chạy loạn về vùng này, chẳng may chiếc thuyền bị thủng và chìm dần Những người trên thuyền phải vứt dần đồ đạc đi kể cả những vật quí báo như chuông vàng, lu bằng đồng đen dùng để đựng “nước dược” Khi đến vùng giữa xã An Hiệp và Phú Tân ngày nay chiếc thuyền bị vỡ và chìm hẳn Sau đó nơi này nổi lên thành giồng cát người Khmer gọi là giồng Som pu thlây và sóc trên giồng gọi là “Sóc Som pu thlây”

Trên địa bàn Sóc Trăng, người Khmer xây dựng phum, sóc của mình quanh các giồng đất thành từng lớp như hình “vành khăn” từ các giồng, tiến dần theo hướng ra ruộng đồng và những con mương xunh quanh Tại đây, từ trên ba thế kỷ qua, đã cùng với người Việt, người Hoa chung sống hòa thuận bên nhau Qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với nhau tạo nên một sắc thái văn hóa đặc trưng cho vùng Sóc Trăng

2.2.2 Đặc điểm về văn hóa

2.2.2.1 Trang phục

Đối với người Khmer, trang phục không chỉ để mặc mà còn phải thỏa mãn cả về

mỹ thuật, tín ngưỡng và tâm linh Tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà người

Trang 23

Khmer lựa chọn cho mình những bộ trang phục truyền thống khác nhau Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác, trang phục truyền thống của người Khmer, đặc biệt là người phụ nữ khá cầu kỳ và màu sắc rực rỡ

Trang phục truyền thống ngày thường của người phụ nữ Khmer là áo dài vông, hay còn gọi là áo Cổ Bồng) và vận Xà-rông Xà-rông là một mảnh vải thổ cẩm rực rỡ, được trang trí bằng nhiều hoa văn họa tiết, nhưng chủ đạo vẫn là hình trái chám, kích thước rộng khoảng 1 mét, dài 3,5 mét, khi mặc thì cuộn lại che nửa người phía dưới

(Tầm-Vào mỗi dịp lễ tết, hay lên chùa lễ Phật, vẻ đẹp của trang phục (lễ phục) càng thêm phần rực rỡ hơn vì có sự kết hợp với đồ trang sức Trong dịp này, họ mặc những chiếc Xà-rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp Áo Tầm-vông dệt bằng tơ tằm, sợi bông, hay chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau Ngoài ra, trong bộ lễ phục của người Khmer không thể thiếu “Sbay”, một loại khăn lụa mềm màu xanh, cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải, để tôn lên nét đẹp dịu dàng uyển chuyển của người phụ

nữ

Trong đám cưới, trang phục cô dâu Khmer rất đẹp Cô dâu thường mặc váy, gọi

là “Săm-pool-hoil” màu tím sẫm; áo dài tăm ong màu đỏ thẩm hoặc vàng thêu kim tuyến, đính hạt cườm, kim sa rực rỡ ở phía trước Độc đáo hơn, trên đầu còn đội chiếc mão “Kha-ba-lòn-cốt” như một chiếc vương miện nhỏ xinh xắn được làm từ hạt cườm

và hàng trăm chiếc cánh cứng màu xanh biếc của loài bọ cánh cam (người Khmer gọi

là con Chil-vít) Nếu khăn “Sbay” trong bộ lễ phục màu xanh thì “Sbay” của cô dâu được làm bằng vải dệt kim màu vàng và được đính hàng ngàn hạt kim sa nhỏ lấp lánh tạo nên nhiều họa tiết hoa văn vui mắt hình cánh Đồ trang sức cổ truyền của phụ nữ Khmer chủ yếu làm bằng hạt cườm, đồng,… Những đồ trang sức này không thể tách rời khỏi trang phục mà nó luôn hài hòa với trang phục

Trang phục truyền thống của người Nam có phần đơn giản hơn Hàng ngày, họ mặc chiếc áo bà ba đen, quấn khăn rằn Vào dịp lễ tết, họ mặc áo bà ba trắng, quần đen, quàng khăn trắng vắt chéo lên vai trái

Trang phục chú rễ trong ngày cưới là chiếc Xà-rông, áo ngắn màu đỏ, quàng khăn trắng vắt qua vai trái và mang theo con dao tượng trưng, ngụ ý để bảo vệ cô dâu Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, trang phục truyền thống của người Khmer đã được cách tân, biến tấu theo nhiều kiểu mới lạ, đẹp mắt với nhiều màu sắc khác nhau theo hướng phù hợp với thời đại nhưng hầu hết vẫn giữ được nét đặc trưng, mức độ dung hòa giữa hiện đại và truyền thống

Những trang phục mang tính truyền thống thường được dùng trong những dịp lễ tết, những ngày quan trọng của cộng đồng người Khmer Còn hàng ngày, để thuận tiện cho việc sinh hoạt và lao động, người Khmer cũng ăn mặc như người Kinh

2.2.2.2 Nhà ở

Nhà ở của người Khmer gọi là Peteah, mỗi người khi làm nhà phải tìm đến Kruteay (thầy bói, thầy địa lý) nhờ định ngày, giờ tốt, xem đất và hướng nhà, tránh ngày xấu, giờ xấu và tránh động tới thần linh Vì người chết quay đầu theo hướng Tây

và tất cả những vật như: vải liệm, áo quan, cờ phướn, khăn xô,… dùng cho tang ma đều lấy số chẵn, cho nên khi làm nhà tất cả sẽ ngược lại Cửa ngôi nhà sẽ quay ra hướng Đông hoặc nếu không được thì cũng tránh của chính quay ra hướng Tây Cột nhà dùng số lẻ và cột cao đến đâu thì cũng phải đúng vào số lẻ (Ví dụ: cột cao 2,5 mét,

3 mét hay 5 mét…), nén hương thắp, lá trầu cúng lễ nhà mới cũng phải là số lẻ

Trang 24

Phum, Sóc là điểm định cư truyền thống của người Khmer Những nơi đó, dưới tán dừa và thốt nốt, chúng ta thấy từ vài ba, đến vài chục ngôi nhà quần tụ quanh mái chùa Cũng giống như người Việt láng giềng, nhà người Khmer là nền đất, mái lá, tầm

cỡ nhỏ, sơ sài Những gia đình khá giả thì làm nhà lớn hơn, ngoài hai mái chính còn kéo thêm hai mái phụ Ven các thị trấn, thị xã, người Khmer đã xây cất nhà gạch theo kiểu mới, giống như nhà người Việt trong vùng

2.2.2.3 Ẩm thực

Bữa ăn hàng ngày của người Khmer thường đơn giản, họ ưa dùng các loại gia vị

để nấu như: cari, dừa, nước cốt dừa, thốt nốt…

Ngoài việc chế biến thức ăn tươi, họ còn luộc chín, phơi khô hoặc làm mắm để

dự trữ lâu ngày Đặc biệt, với người Khmer, mắm vừa là thức ăn vừa là gia vị chính trong chế biến món ăn Việc làm mắm cũng có nhiều loại, mỗi loại đều có kỹ thuật rất công phu Nổi tiếng nhất có thể kể đến mắm "prôchôc", một loại mắm được người Khmer ưa dùng và gần như được dùng hằng ngày trong bữa ăn

Cách làm loại mắm này là cá lóc tươi, sau khi đánh vẩy, mổ bụng lấy ruột ra, rửa sạch nhớt, nhưng phải đem ngâm nước lạnh một đêm cho cá sình lên, biến chất không

có máu, rồi vớt ra, đem phơi nắng cho ráo nước; lúc bấy giờ mới ướp muối, trộn với cơm nguội, cho vào hũ, khạp, đổ nước muối nấu để nguội cho ngập cá rồi dằn mo cau lên trên và lấy thanh tre xiềng thật chặt đừng cho cá nổi lên và đem phơi nắng khoảng nửa tháng Sau 6 tháng thì dùng được, nhưng để càng lâu càng ngon Trước khi đem ra dùng, người ta mang thính trộn vào Mắm màu tái, mùi khẳng, vị mặn gấp Mắm prôhôc để lâu (một năm trở lên) ăn sống, kèm với khế, chuối chát, rau sống; hoặc bầm với xả ớt, ăn với cơm nguội; rất ngon Loại mắm này, nếu được làm bằng cá trê vàng, gọi là "Prôchôc ôp", đây được xem là món ăn nổi tiếng của Sóc Trăng Ngoài ra, người Khmer còn chế biến một loại mắm chua gọi "prôot", làm bằng tép mồng, một loại tép rất dễ kiếm ở đồng ruộng, khi trộn với đu đủ, riềng hoặc gừng non sau vài ngày thì ăn được

Bên cạnh đó, người Khmer còn có các loại bánh được làm từ gạo nếp như: bánh tét, bánh ít, bánh tổ chim…đặc biệt là loại bánh mang tính đặc thù của văn hóa dân tộc như bánh gừng, cốm dẹp

Bánh gừng là loại bánh được chế biến từ bột nếp với hột gà, có hình dáng giống như củ gừng, nên người ta gọi đó là bánh gừng (num kh’nhây) Sau khi được chiên với

mỡ đã chín, người ta rắc thêm lên bánh một lớp đường cát trắng lấp lánh, trông rất đẹp Bánh này là lễ vật không thể thiếu trong các lễ cưới truyền thống Khmer, biểu trưng cho hạnh phúc lứa đôi

Cốm đẹp được làm từ nếp rang, đâm dẹp, nhưng phải là nếp mới nghĩa là nếp mới chín đỏ đuôi, mới cắt từ cánh đồng mang về Dụng cụ chính là một nồi đất to, miệng rộng, một chiếc cối bồng Cối này có dáng thon đứng, được khoét lồng từ một khúc gỗ, chiều cao khoảng 1m và đâm bằng chày đứng Khi nếp được rang chín đều,

có tiếng nổ lách tách, tức là ruột nếp đã chín, nổ tung vỏ ra, người ta bưng nguyên mẻ

đổ vào cối để giã, thường là giã đôi: một người, một tay cầm chảy, một tay cầm cây gạt, trộn cho nếp nổi lên đều Do nếp còn tươi nên thoạt đầu bị giã, hạt nếp bẹp ra dính từng đề Và cứ như thế, người ta giã cho đến khi hạt nếp khô lên, rời rã; họ sẽ đổ ra nia, dùng sàng sẩy bỏ trấu trắng đục, điểm lác đác những hạt màu xanh Cốm dẹp trộn với đường, dừa ăn thơm ngon, hoặc ăn với chuối chín muồi Nó là lễ vật không thể thiếu trên mâm cỗ cúng trăng, trong lễ hội Ok-oom-bok

Trang 25

Đặc biệt khi đến với Sóc Trăng, mọi người còn có dịp thưởng thức những món ăn đặc sản của người dân Khmer sinh sống tại nơi đây như: bún nước lèo, bánh cống… Thức uống của người Khmer Sóc Trăng phổ biến là nước mưa chứa vào lu, tích lại trong mùa mưa, dùng để uống cả năm; hoặc nước trà dùng cho người già và để tiếp khách Trong các dịp lễ tết, tiệc tùng, đãi khách, người Khmer thường dùng rựu trắng hoặc rượu ngâm thuốc, được nấu từ gạo; nhưng rượu không được dùng trong chùa, vì đây là điều giới cấm

2.2.2.4 Lễ hội

Người Khmer có rất nhiều lễ hội, hầu như diễn ra quanh năm, nhưng quan trọng nhất đó là: lễ hội vào năm mới (Chol-Chnam-Thmay), lễ hội chào mặt trăng (Ok-oom-bok) và lễ cúng tổ tiên (Donta) Hầu hết các lễ hội của người Khmer đều được tổ chức tại chùa

Từ xa xưa, Chol-Chnam-Thmay đã trở thành ngày hội truyền thống của người Khmer Trong ba ngày lễ Chol-Thnam-Thmay, bà con Khmer còn đi thăm hỏi, mừng tuổi nhau, chúc nhau năm mới sức khỏe, cuộc sống yên vui, phát đạt

Vào đêm giao thừa, nhà nào cũng làm cỗ, dâng lên bàn thờ tổ tiên và đây cũng là dịp cúng đưa tiễn vị Têvôđa cũ, đón rước vị Têvôđa mới, họ mong và tin rằng vị thần này sẽ ban phước lành đến cho bản thân và gia đình của mình

Ngày thứ nhất của lễ gọi là Thngay Chol Chnam Thmay (ngày vào năm mới, lễ rước “Mâh Sangkran mới”) Lễ này có thể tổ chức sớm hay muộn trong ngày, miễn là chọn đúng giờ tốt, theo quan niệm của người Khmer Mọi người được tắm gội, mặc quần áo đẹp, mang nhang đèn, lễ vật đến chùa dâng lên các vị sư và được nghe các vị chúc tụng năm mới Dưới sự điều hành của ông Acha, mọi người xếp hàng đi vòng quanh chánh điện 3 lần để làm lễ chào mừng năm mới Đêm lại, nghe các vị sư tụng kinh cầu an năm mới, cầu cho “Quốc thái dân an” và hưởng được bốn pháp của đức Phật (sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh), rồi được nghe các vị thuyết pháp về ý nghĩa của lễ Chol-Chnam-Thmay và sau đó nam nữ thanh niên cùng nhau múa hát trước sân chùa

Ngày thứ hai gọi là Thngay Von-boch, vào ngày này mỗi gia đình làm lễ dâng cơm buổi sớm và buổi trưa cho các vị sư sãi Buổi chiều, người ta làm lễ “đắp núi cát” (Puôn phnôm khsach) ngay tại khuôn viên chùa, để mong gặp được điều lành

Ngày thứ ba gọi là Thngay Lơn-săk (ngày thêm tuổi), đây mới là ngày chánh và cũng là ngày cuối tết Tương tự như hai ngày đầu, sau khi đã dâng cơm sáng cho các vị

sư ở chùa, người ta làm lễ tắm tượng Phật bằng nước có ướp hương thơm, rồi sau đó tắm cho các vị sư cao niên ở chùa, nhằm rửa sạch hết cái cũ, những bụi bặm của trần thế trong năm cũ, để bước sang năm mới với một thân thể sạch sẽ và hoàn toàn mới Tiếp theo đó là lễ cầu siêu (Băng Skôl), các vị sư được mời đến tháp lưu giữ hài cốt của những người quá cố để cầu kinh, mong vong linh của họ sớm được siêu thoát Đến

Trang 26

trưa, mọi người về nhà để làm lễ tắm tượng Phật thờ trong từng gia đình, để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đức Phật, rồi chúc mừng cha mẹ, ông bà, dâng bánh trái để tạ ơn, đồng thời cũng để rửa những điều không may của năm cũ để sang năm mới vạn sự như

ý Tết Chol-Chnam-Thmay được kết thúc

Cùng với Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Tết Chol-Chnam Thmay của cộng đồng Khmer vẫn còn lưu giữ những phong tục lễ, Tết rất độc đáo Với họ, tấm lòng kính Phật là một đức tin bất di bất dịch, bởi trong tư duy đơn giản của mọi người, đức Phật từ bi là trên hết

- Lễ Ok-oom-bok

Lễ hội Ok-oom-bok (lễ cúng trăng) là lễ hội truyền thống của người Khmer Thời điểm tổ chức lễ hội Ok-Oom-Bok hàng năm là vào ngày rằm Cađấc theo Phật lịch (rằm tháng 10 âm lịch), lúc thời tiết bắt đầu sang mùa khô, lúa ngoài đồng chớm chín

Lễ hội có ý nghĩa tạ ơn Thần Mặt Trăng và cầu mong điều lành, may mắn; cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhà nhà ấm no hạnh phúc Vì theo quan niệm tín ngưỡng của người Khmer thì Mặt Trăng là vị thần cai quản thời tiết và mùa màng trong năm

Theo Trần Văn Bổn, trong sách “Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long” thì Lễ cúng trăng được xem là lễ chính trong lễ hội Ok-oom-bok cổ truyền của người Khmer ở Nam bộ Lễ cúng trăng được tổ chức vào tối ngày 14 tháng

10 (âm lịch), thời gian hành lễ trước khi mặt trăng lên đến đỉnh đầu Vị trí hành lễ đặt tại sân của từng nhà, sân chùa hay nơi rộng rãi không bị che khuất ánh trăng Tại đây người ta chôn hai cây tre (hoặc tầm vông) làm trụ Phía trên buộc một cây xà ngang dài chừng 3m, trang trí hoa lá (giống như một cổng chào) Trên cổng người ta còn giăng một dây trầu gồm 12 lá trầu được cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng trong năm

và một dây cau gồm 7 trái được chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, nhằm tượng trưng cho

7 ngày trong tuần Phía dưới kê bàn đặt lễ vật Lễ vật gồm có cốm nếp; các loại sản vật nông nghiệp có tinh bột (khoai lang, khoai môn, sắn); hoa trái (dừa, chuối, bưởi, cam ), bánh kẹo Với lòng thành kính, mọi người ngồi chắp tay trước ban thờ, mặt hướng lên mặt trăng, một cụ già làm chủ lễ đọc lời khấn Thần Mặt Trăng, sự biết ơn của con người đối với thần, xin thần tiếp nhận lễ vật và ban phước lành cho họ

Sau khi cháy hết tuần hương, người già gọi trẻ con đến ngồi xếp bằng trước ban thờ Cũng động tác chắp tay thành kính trước ban thờ Mặt Trăng, sau đó một cụ già dùng tay nhúm một ít cốm và lễ vật khác, đút vào mồm từng đứa trẻ, tay kia vỗ lưng

và hỏi ước muốn của chúng năm nay là gì? Năm nào câu trả lời của các em suôn sẻ, lễ

độ, rành rọt thì người lớn tin rằng năm đó mọi điều tốt lành sẽ đến với họ Cuối cùng mọi người hạ cỗ cùng nhau hưởng lễ vật; trẻ nhỏ nô đùa, múa hát dưới trăng Nếu có khách đến vào ngày này thì họ sẽ có quà bằng cốm dẹp

Tại các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer đêm 14 tháng 10 còn có tục thả đèn nước trên sông và thả đèn gió bay lên trời Theo quan niệm của người Khmer, tục thả đèn nước sẽ xua tan bóng tối, sự ô uế và buồn bã, giữ lại sự bình yên trong phum, sóc Nhiều hoạt động sân khấu truyền thống Khmer như đoàn Dù kê, Rô băm được biểu diễn vào tối 14 này

Theo phong tục cổ truyền của người Khmer, ngày hôm sau lễ cúng trăng (15/10)

là tục đua ghe ngo Trước khi đi dự thi, cộng đồng thường làm lễ tạ thần và tổ chức chiêu đãi những người tham gia cuộc thi Đội đua gồm những trai tráng khoẻ mạnh, có kinh nghiệm, được lựa chọn rất kỹ từ trước Mỗi đội có trang phục đẹp, mũ cùng màu

Trang 27

Tham gia cuộc đua có hàng chục chiếc ghe đại diện cho các chùa hay cộng đồng

ở nhiều địa phương Ban tổ chức chia các đội ghe tham dự thành hai nhóm A và B Thông thường nhóm A là các ghe đã được xếp hạng trong mùa giải trước Nhóm B là tất cả các ghe ngo còn lại

Nhạc ngũ âm, tiếng trống, tiếng cồng và tiếng hò - hụi của các đội đua đang khởi động làm sôi động cả khúc sông Trong đua ghe ngo, việc cầm lái, giữ lái để chiếc ghe

đi đúng hướng, nhịp bơi của những mái dầm phải thật nhịp nhàng là những yếu tố quyết định đến tốc độ của chiếc ghe

đã đưa ông bà của mình về vui chơi trong ba ngày lễ rồi lại đưa ông bà về nơi trú ngụ (Theo quan niệm của người Khmer thì những người khuất mặt này không dám lên mâm ăn chung với ông bà mình, nên phải cho họ ăn riêng) Đến đây, bữa cúng cơm đầu xem như hoàn tất Tiếp theo, khi chiều đến diễn ra buổi lễ cúng linh hồn ông bà Cúng xong, mọi người trong nhà đều tắm rửa sạch sẽ, mặc những bộ đồ đẹp nhất để tiếp tục hành lễ Họ mời linh hồn ông bà cùng đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh lấy phước còn họ thì đi xem múa hát, tham gia các cuộc sinh hoạt văn hoá thể thao được

tổ chức trong khuôn viên chùa Lúc này bao nhọc nhằn, vất vả, lo toan cuộc sống hàng ngày đi qua Mọi người cùng nhau thưởng thức những bài ca, điệu múa trên sân chùa Đến ngày thứ hai: Sau một đêm và một ngày ở chùa, đến chiều họ lại đưa linh hồn ông bà về nhà Họ làm cơm cúng mời ông bà và xin ông bà ở chơi với con cháu thêm một đêm nữa

Đến ngày thứ ba, nhà nhà lại sắp xếp, dọn thức ăn, bánh trái như ngày đầu, bới bốn chén cơm rồi mời bà con, lối xóm lại cùng cúng Buổi cúng này gọi là "cúng đưa" Khi khấn xong ba lần, họ cùng bới cơm, gắp thức ăn vào chén, nhưng lần này, họ đổ vào thuyền hoặc tàu buồm mà họ đã làm bằng bẹ chuối đó, họ có treo cờ phướn hình tam giác, và khắc hình cá sấu, tắc kè Trong thuyền người ta còn gói thêm các gói đậu, lúa, muối, mè cùng bánh trái để ông bà và những người khuất mặt ăn đi theo cùng ăn được lâu Lúc thuyền đã dọn xong, họ đem thuyền này thả trên sông hoặc mương rạch gần nhà Lúc đó, họ nghĩ rằng ông bà đã lên thuyền ra đi Sau đó họ mời bà con, lối xóm dùng cơm Bữa cơm vui tươi, đầm ấm kéo dài cho đến chiều, đến tối Những người thích văn nghệ nhân lúc này rủ nhau diễn lâm thôn Trong lễ "cúng đưa" này, nhiều nhà còn mời ông lục đến tụng kinh cho thêm phần long trọng

Đonta là một lễ hội truyền thống thể hiện tấm chân tình của con cháu đối với tổ tiên, ông bà Đó cũng là dịp thể hiện tình đoàn kết keo sơn gắn bó giữa những người cùng sống trong phum sóc với nhau Nó nhắc nhở mọi người sống phải luôn nhớ về

Trang 28

nguồn cội, phải biết tri ân những người đã khuất và phải biết gắn bó với cộng đồng, với những người hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau

2.2.2.5 Nghệ thuật

Trong các dịp hội hè của người Khmer, múa hát là một trong những hoạt động tinh thần điển hình Hầu như không một người Khmer nào là không biết múa các điệu múa dân gian như: Vom rông, Rom Khach, Rom Sarawăn, lăm lâu, múa trống Xà đăm, múa chim công, múa gáo dừa, múa nhập đồng hay múa đám cưới… Bên cạnh múa dân gian còn có sân khấu cổ điển như: tiếp morun, chao duông, kailơxếch… theo quy cách nghệ thuật riêng như xướng đám cưới và đến các thể loại phức tạp hơn như

dì kê, rô băm, dù kê Trong múa hát, âm nhạc giữ vai trò quan trọng Nhạc Khmer ở đây phát triển trên cơ sở hai dòng: nhạc theo âm giai bảy cung của dàn nhạc Pinpêk cổ điển, có nguồn gốc Ấn Độ và có hệ thống ngũ cung trong nhạc truyền thống Đông Nam Á Nhạc cụ có trống, sáo, đàn dây, đàn thuyền gỗ…

Người Khmer là chủ nhân của di sản văn học hết sức phong phú và đa dạng gồm tục ngữ, dân ca, truyện cổ… Hình thức xoophia xát là lối nói nhận xét răn dạy, truyền đạt kinh nghiệm sống Dân ca gồm các hình thức: hát ru, hát trong lao động, hát đối đáp ngẫu hứng… Truyện kể có các loại gần gũi với các truyện kể của người Việt như: Chao Thanh - Chao Thong (Thạch Sanh – Lý Thông), Niêng Mô-rơ-nác-mô-da (Tấm Cám)… Còn có các truyện kể khác như: sự tích núi Bà Đen, Ao Bà Om… Truyện cười

và ngụ ngôn của người Khmer khá phong phú, trong đó điển hình là Thơ Manh Chây Văn học viết trên lá, gọi là Xatstra, ghi chép các truyện dân gian, hội hè, trò chơi, huấn

ca, Phật thoại…

2.2.3 Đặc điểm về kinh tế

Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước Người Khmer đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời, giỏi về thủy lợi, biết chọn giống lúa và lợi dụng thủy triều để thau chua, xổ phèn, cải tạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa hấu và hẹ Họ cũng phát triển kinh tế toàn diện như: chăn nuôi trâu bò để kéo cày, nuôi gà vịt, nuôi lợn, thả cá

và phát triển các nghề thủ công như dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt Kỹ thuật làm gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (k’leng), bàn dập (chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu, với độ nung thấp Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (cà ràng) và nồi (cà om) rất được người Việt, người Hoa ở Đồng bằng Sông Cửu Long ưa dùng

2.3 CHÙA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER

2.3.1 Khái quát

Trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, người Khmer được xem là một tộc người

có óc thẩm mỹ và năng lực sáng tạo nghệ thuật ở trình độ cao Họ đã thành công khi đưa cái đẹp vào cuộc sống thường ngày cũng như đã sáng tạo được những tác phẩm đạt đến trình độ cổ điển của nghệ thuật, mà nổi bật nhất có thể nói đến đó là nghệ thuật trang trí trong các ngôi chùa

Mỗi phum, sóc của người Khmer đều có ít nhất một ngôi chùa, đây là nơi trang nghiêm, lộng lẫy nhất của phum, sóc Người Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa, triết lý đạo Phật đã ăn sâu vào cuộc sống của họ, đã trở thành ý thức, đạo lý của con người

Do có sự sùng kính đó nên có nơi mặc cho cuộc sống có nghèo khổ nhưng ngôi chùa vẫn phải là công trình nghệ thuật kiến trúc khang trang lộng lẫy Người Khmer xem việc đóng góp vào chùa là một khoán ước đảm bảo cho cuộc sống ở hiện tại được hạnh phúc và sự giải thoát ở thế giới vĩnh hằng trên cõi Niết Bàn Họ đua nhau đem tài

Trang 29

năng, sức người, sức của cống hiến trước bàn thờ Phật Tất cả mọi năng lực sáng tạo nghệ thuật, tất cả nguyên vật liệu tốt nhất như gỗ, sắt, xi măng…đều được tập trung vào việc xây dựng chùa

Mỗi ngôi chùa người Khmer trong vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói riêng đều có một giá trị cao về giá trị mỹ thuật Phật giáo Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là sự tổng hợp hài hòa về những yếu tố tạo hình, tạo dáng, điêu khắc, kiến trúc, hội họa Chùa thường được kiến lập trên một khu đất khá rộng rãi trong mỗi địa phương Có nhiều khu vực rộng đến hàng chục mẫu tây Toàn cảnh chùa là một “không gian tâm linh”, chung quanh thường trồng nhiều loại cây to như thốt nốt, dầu, sao, những cây đặc sản miền Nam Cách bố trí cây xanh, tạo vườn hoa trong khuôn viên chùa một mặt nhằm tạo môi trường trong lành, thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên giúp cho phật tử khi đến đây có thể trút bỏ được hết những ưu phiền, lo lắng ở cuộc sống tất bật, bộn bề bên ngoài; mặt khác để lưu giữ lại cảnh xưa kia của đất Nam Bộ với cây cối hoang vu Đặc biệt là để tái hiện lại ba cảnh kỷ niệm của cuộc đời và thân thế của đức Phật Đó là cảnh Đản sanh, cảnh đức Phật thành đạo

và cảnh Ngài nhập Niết Bàn Mỗi ngôi chùa thường bao gồm nhiều khu vực kiến trúc như: khu chánh điện, sala, nhà tăng, nhà tu thiền định, nhà thiêu hương và những tháp thờ Trong đó toàn bộ giá trị của nghệ thuật kiến trúc tập trung chủ yếu ở ngôi chánh điện Chánh điện là nơi cúng bái, hành lễ nên được đặt ở vị trí trung tâm của ngôi chùa, có hành lang bao quanh và bao giờ cũng quay về hướng Đông, vì người Khmer quan niệm Đức Phật ở hướng Tây quay mặt về hướng Đông để cứu độ chúng sinh Nền chùa thì thường được xây cao hơn mặt đất khoảng một mét, nhằm tăng lên vẻ tôn nghiêm và cũng là để tránh lũ

Việc xây dựng chùa bao giờ cũng tuân theo những nguyên tắc và quy định cổ truyền, song nó không bị quá lệ thuộc vào thuyết phong thủy như các cư dân chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc

Đầu tiên là việc chọn địa điểm Đó phải là một khoảng đất thoáng mát, cao ráo, rộng rãi ở trung tâm phum, sóc và thường xa đường cái Vị sãi cả cắm đất cho ngôi chính điện Sau đó lần lượt dựng từng ngôi nhà khác của chùa

Ngôi nhà đầu tiên được dựng là nhà tăng trong đó có bàn thờ Phật Sau khi nhà tăng được xây xong, người ta liền xây tiếp một ngôi tháp Tháp là nơi cất giữ hài cốt những người đã mất, nên ngôi tháp sớm được dựng để thúc đẩy việc tích cực đóng góp cho chùa hoàn thành ngôi thượng điện

Khi mọi việc được chuẩn bị xong, ngôi chánh điện bắt đầu được xây dựng Dựng xong chánh điện, một lễ khánh thành (Bầy chôi xây ma) được tổ chức long trọng, với

sự tham gia của tất cả các sư sãi trong chùa, của nhiều sư sãi các chùa xung quanh và của toàn sân phum sóc đến tụng kinh Người ta đào 8 hố xung quanh nền chùa, có thể

ở nền trên hoặc giữa sân nền dưới, tại 8 hướng Những phiến đá bạt dùng để định địa giới, gọi là xây ma được chạm các vị bồ tát ngồi trên tòa sen được đem ra dựng trên các hố đó Điều này nghĩa là khu cấm địa của Phật đã được định xong, ma quỷ không thể bén mảng vào Đồng thời với việc dựng chùa, lỗ chân bia thường đào sát vách trong thượng điện ở phía chính đông Sau khi lễ Phật, dân chúng thường bỏ xuống đó những thứ đồ như giữ chặt lời cầu của tín đồ tới muôn đời

Và sau khi chánh điện được khánh thành thì các nhà khác trong chùa mới lần lượt được dựng tiếp

Trang 30

Ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ở riêng biệt một khu, ẩn hiện bên trong những hàng cây xanh cao vút, nó không chỉ đẹp vì phong cách độc đáo riêng mà tự nó

đã làm cho phong cảnh phum sóc trở nên có ý nghĩa hơn

2.3.2 Đặc trưng về kiến trúc và nghệ thuật trang trí

2.3.2.1 Kiến trúc

- Cổng chùa

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer Nam Bộ nói chung đều mang kiến trúc Angkor của người Campuchia Nó uy nghi, đồ sộ bởi những không gian kiến trúc rộng lớn và quy mô của các công trình được xếp đặt theo quy hoạch cụ thể Khi đến gần hoặc vào bên trong, chúng ta lần lượt được đắm mình trong sự uy nghi, trang nghiêm và thanh tịnh của ngôi chùa, trước tiên là những cổng chùa, hàng rào lồi lõm nhưng rất tráng lệ bởi những bức phù điêu trang trí: có chùa là những chuyện diễn ra trong cuộc sống thường ngày, có chùa là những chuyện kể về cuộc đời của đức Phật và cũng có chùa trang trí bằng hoa lá cây rừng… Hàng rào tuy dùng để che chở bảo toàn cũng như ngăn cách giữa đời với đạo, giữa người với trời, nhưng nhờ bàn tay khéo léo của các nghệ nhân cùng với cổng chùa luôn được mở rộng đã giúp cho ngôi chùa trở nên gần gũi hơn với con người, như sẵn sàng chuyên chở, cứu vãn tất cả mọi chúng sanh đi đến cõi an lạc, Niết Bàn Mỗi chùa thường thì có một hoặc hai cổng: cổng chính và cổng phụ Tùy theo từng chùa, từng địa phương, cổng chùa có thể có một, ba hoặc đến năm ngọn tháp

Đối với những cổng chùa chỉ có một ngọn tháp hoặc lợp mái chùa nhiều lớp chồng lên nhau, hai bên thường có hai vị thần bảo hộ (Tuya Rắbal) hoặc con sư tử hay xuất hiện trước đầu thần rắn Naga trong truyền thuyết “Biển sữa nổi sóng” uốn lượn trên tường rào đầu ngóc lên trời, tất cả nhằm canh giữ những báu vật quý giá ở bên trong Những ngôi tháp phía trên thường là hình búp sen hoặc hình chuông được cách điệu từ hình ảnh bát úp đặt trên bậc tam cấp tượng trưng cho tam cõi đức Phật từng thọ sanh trong suốt bốn A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp tạo duyên lành để thành đạo,

là hình ảnh bình bát cuối cùng gắn chặt với thân thế và sự nghiệp 45 năm hoằng dương chánh pháp của đức Phật, nói lên tinh thần giản dị, cuộc sống đơn sơ của bậc toàn giác, đặt lợi ích chung của nhân loại lên hàng đầu và cứu độ chúng sanh là trên hết Trên bát úp là cột trụ cao thẳng lên trời có gắn ba hoặc năm đĩa tròn tượng trưng cho Tam bảo hoặc năm vị Phật sẽ thành đạo trong kiếp trái đất này và trên cùng là cõi Niết Bàn

Đối với những chùa có ba ngôi tháp, phần dưới trang trí gần giống nhau, giống với cách trang trí cổng ở các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer khác, còn ba ngôi tháp tượng trưng cho Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), tháp giữa phải lớn hơn tượng trưng cho đức Phật Ba ngôi tháp hình búp sen cách điệu, là loài hoa gắn liền với đức Bồ tát đản sanh trong Lâm-tỳ-ni ngày Rằm tháng Vesak (tháng Tư) năm Tuất, ngôi tháp chia thành cấp bởi những hoa lá trang trí sống động tượng trưng cho Bát chánh đạo và đỉnh cuối cùng là Niết Bàn

Đối với những chùa có điều kiện hơn, cổng chùa được làm bằng năm ngôi tháp hình búp sen, phần dưới cũng có trang trí như ở các cổng có một hoặc ba ngôi tháp Ở đây, năm ngôi tháp được liên kết với nhau bởi một ngôi tháp lớn ở chính giữa, cao hơn hẳn bốn tháp còn lại Người ta cho rằng, sự xuất hiện cổng với năm ngọn tháp này được đồng hóa với núi Meru (núi Tudi) huyền thoại, theo học thuyết Bà la môn giáo thì đây là nơi ở của các vị thần Ngoài ra, theo Kappa katha (một phần trong bộ Thanh

Trang 31

tịnh đạo), thì năm ngọn tháp tượng trưng cho năm vị Phật sẽ thành đạo trong kiếp trái đất này, đỉnh cao nhất cũng là cõi Niết Bàn

- Chánh điện

Chánh điện chùa Phật giáo Nam Tông Khmer bao giờ cũng phải theo đúng quy cách, kích thước nhất định như: chiều dài phải bằng hai chiều ngang, chiều cao bằng hai chiều dài, kể cả trong các diện tích khung cửa, nhà ở và điện thờ Chóp nóc thường nhìn thấy rõ nhất là hình tam giác nhọn Chùa nào cũng có hành lang (chơn tiên) bao quanh chánh điện Chính diện có hai cửa chính quay sang hướng Đông, và hai cửa trông sang hướng Tây, cùng bảy cửa sổ hướng Nam, bảy cửa sổ hướng Bắc

Theo nguyên tắc, chánh điện bao giờ cũng phải xây trên nền cao hai hoặc ba cấp Cấp trên cùng là nền của ngôi chánh điện, có khi cao từ 1,5 – 3 mét như ở chùa Sà Lôn (xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) và chùa Chăm Pa (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng)

Chánh điện là ngôi nhà đồ sộ nhất của toàn bộ khu chùa, thường có ba cấp mái, mỗi cấp lại chia làm ba nếp, nếp bằng ở giữa được nâng cao hơn hai nếp bên Cấp mái thứ nhất dốc tới 600, hai cấp mái giữa và dưới thoải hơn nhiều Các mái vừa so le vừa

có độ dốc không đều nhau được trang trí thêm bằng những tượng rồng (Niêk), hoa lá cách điệu cùng với một tháp nóc nhọn, cao vút Chính những sự kết hợp đó đã tạo nên một nét đẹp hài hòa, độc đáo riêng của nghệ thuật kiến trúc Khmer Một dáng vẻ đồ

sộ, lộng lẫy, nhưng không nặng nề mà như một sự vươn cao, thanh thoát

Hai bên cổng chánh điện có hai con sư tử hoặc Asura, Tuya-ra-bal (Thần Gác Cửa) canh gác, cột cổng trang trí bằng hoa lá đắp chìm nổi hay cách điệu thêm Bát chánh đạo Cũng có một số chùa cách điệu tượng chư thiên chấp tay xá, hòa cùng với hoa lá thiên nhiên như chào đón tất cả những Phật tử và khách thập phương đến đây Chống đỡ mái cổng là tượng cây Nor đang khoe sắc Mái cổng có khi là tháp hình búp sen cách điệu, trang trí bằng hoa lá, có khi là thần Rắn Naga, thân uốn lượn chồng lên nhau tạo thành mái cong cho cổng, đầu quay xuống ngóc lên, đuôi quấn chặt vào nhau Đến chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, mỗi khi bước qua một cánh cửa ta như bước vào một thế giới khác, vừa gần gũi lại vừa cao quý, trang nghiêm Điều này được thể hiện rõ nhất khi bước vào ngôi chánh điện Nhờ bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, trên vách và trần của chánh điện được trang trí như một thư viện bách khoa toàn thư về thế giới Phật học, tất cả được thể hiện phong phú, sống động thông qua những hình ảnh trang trí đầy màu sắc của cỏ cây hoa lá, cảnh về cuộc đời của đức Phật cùng những nhân vật có liên quan từ kiếp quá khứ đến kiếp hiện tại, hình ảnh các vị thần, tiên nữ, chằn, cảnh tiên làm lễ, cảnh Aupusara dâng hoa… Khác với Phật giáo Đại thừa thờ nhiều Phật và các vị Bồ Tát khác nhau, Phật giáo Tiểu thừa chỉ thờ duy nhất một Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Vì vậy, trong gian chánh điện của chùa bài trí khá đơn giản Ở vị trí chính yếu là bệ thờ tượng Phật Thích Ca Bệ tượng là một tòa sen chia thành nhiều cấp, trang trí rất tỉ mỉ Trên tòa sen là tượng Phật đặt ở chính giữa Tượng Phật với gương mặt hồng hào, đôi mắt hiền từ, miệng lúc nào cũng như đang mỉm cười giúp cho Phật tử cũng như những du khách khi đến đây cảm nhận được sự

an nhàn, thanh bình thực tế trong cuộc sống

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer tuy chỉ thờ một tượng Phật Thích ca, song không phải là một loại tượng mà thường gồm năm hóa thân khác nhau của Phật trong kiếp tu hành của mình Phổ biến nhất là tượng Phật đắc đạo, rồi lần lượt đến tượng

Trang 32

Phật lúc còn đang tu hành, đi khuyến thiện, tượng Phật vào Niết Bàn và tượng Phật vào thiền định

Tượng Phật đắc đạo là pho tượng chính của ngôi chánh điện chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, bao giờ cũng lớn nhất, chiếm vị trí trung tâm, trọng yếu nhất nơi Phật điện Về hình thức, tất cả các pho tượng tượng trưng cho trí tuệ, quyền lực, cho sự vĩnh hằng cao cả Tượng Phật thường có hai lớp tóc, đôi khi xoắn vẩy ốc, mặt tượng

có trán rộng mắt nhìn thẳng, mũi thẳng, tai dài gần chấm vai Tượng có ức nở, bụng thon, áo cà sa kiểu phương Nam, màu vàng, vắt qua vai trái, vai phải để trần Hai tay Phật buông, tay trái duỗi thẳng các ngón xuống đất Theo các Phật thoại truyền lại, khi Phật vừa đắc đạo thì có nhiều lực lượng tà ma tới cám dỗ và phá hoại Ma vương đem binh tướng tới chống phá, đòi chỗ ngồi và chất vấn nhiều câu buộc Phật phải minh chứng Phật vẫn ngồi và chỉ tay xuống đất, lấy đất làm minh chứng cho mình Thần đất hưởng ứng, hiện hình, buông tóc tuôn thành dòng nước, xô đẩy ma vương cùng lực lượng tà ma chìm đắm trong cảnh lụt lội Ma vương đành xin quy y chánh quả Cảnh này thường được vẽ lên tường của ngôi chánh điện chùa

Tượng Phật đắc đạo được bố trí trong tư thế ngồi trên bệ Bàn chân phải để trên lòng bàn chân trái, không theo luật Âm dương như nhiều tượng của Phật giáo Đại thừa Bệ tượng của Phật đắc đạo rất cao, đưa tượng vượt hẳn lên phía trên so với các tượng khác trong chánh điện Bệ có dáng hình bán nguyệt tròn góc, được bố trí trên cùng là một tòa sen có hai hoặc ba lớp cánh Tòa sen này đặt trên ba lớp thân rắn uốn quanh, xen kẽ với lớp hoa dây hoặc cánh sen quanh thân bệ Đây là con rắn chín đầu làm tán che giông tố của Ma Vương cho Phật tu hành Dưới bệ đế có nhiều lớp hoa cách điệu, ở mặt trước có một dãy “khăn” được đắp phủ xuống gần tới đất, che một phần chính giữa bệ Trên dãy khăn này thường trang trí hoa dây cuốn đầu tròn, hoa văn Kỷ hà hay mặt Rea Hu cách điệu

Tượng Phật cứu vớt chúng sinh thường được làm bằng gỗ hoặc được tạo thành một đôi Có chùa thể hiện tượng Phật trong tư thế cả hai tay cùng xòe ngửa lên Lòng bàn tay Phật bao giờ cũng có một đường xoắn ốc, người ta cho đó là một tướng quý của Phật Tượng này thường đứng trên một tòa sen đặt trên chiếc bệ soi nhiều gờ vỏ măng có chạm hoa nổi hoặc chìm Cũng có chùa thể hiện tượng Phật cứu vớt chúng sinh dưới hình dáng một cơ thể nữ Tượng mặc chiếc áo cà sa với nhiều đường vằn chéo xuống từ dưới qua phải, hoặc áo có trang trí hoa lá cách điệu chạm nổi hoặc chạm chìm Tượng đứng với tư thế một tay xòe ngửa ra phía trước, các ngón thẳng lên trên, một tay buông xuống bên đùi

Tượng Phật đi khuyến thiện được tạc theo dáng của tượng Phật cứu vớt chúng sinh, tuy nhiên có chi tiết hơi khác đó là tượng đội mũ đen úp sát đầu không chỏm nhọn, hai tay ôm chiếc bát khất thực như một cái vò sơn đen

Tượng Phật ngồi thiền định, có dáng tương tự tượng Phật đắc đạo, nhưng hai tay không buông xuống mà chồng lên nhau, để trên lòng đùi, bệ tượng thường thấp hơn bệ của tượng Phật đắc đạo

Tượng Phật vào cõi Niết Bàn là pho tượng nằm, bao giờ cũng chống đầu trên tay phải để mặt quay về hướng Đông và đầu nằm ở hướng Nam Các tượng này hầu hết là tượng được đắp hay tạc theo kiểu cách phổ biến trong các chùa Campuchia

Những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ ranh, phía trên nơi tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với hai tay đỡ mái chùa, phù điêu các tiên nữ và những

Trang 33

Cô-quái vật Theo triết lý của người Khmer thì đó là những thử thách đối với Phật tử trên bước đường tu thành chánh quả

- Saladàna

Saladàna gọi tắt là Sala (Lễ đường), đây là nơi diễn ra các lễ cúng, trai tăng lớn nhỏ Sala được xây trên nền cao nhưng không cao hơn chánh điện và cũng không có hàng rào Tùy chùa, Sala được xây một tầng, hai tầng hay Sala đôi Trong Sala có một gian phòng rộng để cử hành lễ dâng cơm và là nơi tổ chức các sinh hoạt theo phong tục tập quán cổ truyền; một khu vực nhỏ để dàn nhạc Ngũ Âm Ở một số chùa như: chùa Munirangsay, hay chùa Pothi ở Sóc Trăng còn xây thêm một số gian phòng làm nơi ăn nghỉ cho học sinh, sinh viên người dân tộc ở đi học Cột trong, cột ngoài thường dùng nghệ thuật vẽ hay đắp chìm nổi hoa văn cây lá thiên nhiên, cách điệu ngọn lửa hay thêm đầu chim thần Garuda Gần đầu hàng cột ngoài có chim thần Garuda hay Kây No tựa lưng vào cột, tay giơ cao chống đỡ mái, miệng chim thần ngậm viên ngọc hoặc há miệng thật to, tạo sự uy nghi, hoành tráng cho Sala Khác với chánh điện, mái Sala chỉ có hai lớp biểu tượng cho hai cõi Dục giới và Sắc giới, vì công năng sử dụng trong đó chỉ cúng dường vật thí tứ sự, trai tăng chứ không thiền định, không làm tăng

sự, không tổ chức những lễ như lớn, quan trọng như chánh điện Bên trong, gian giữa

có bồ đoàn to, cao thờ kim thân đức Phật, gian bên phải (tính từ cửa đi vào) có đặt một bục dài, cao khoảng 0,3 – 0,4 mét là nơi để các chư tăng ngồi khi làm lễ, gọi là Tăng đoàn Vách và trần được trang trí bằng tranh vẽ hoặc tranh đắp, thuật lại theo Túc Sanh truyện hay Pháp Cú kinh giúp người Phật tử vào đó hiểu được nghiệp mình tạo ra, quả mình hưởng trong Tam thế: quá khứ, hiện tại và vị lai

- Tháp cốt

Trong khu vực chung quanh chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, thường có những ngôi tháp lớn nhỏ với nhiều kiểu dáng khác nhau Đây là những tháp để cốt Những tháp này thường được cấu trúc ba phần: chân tháp khá rộng, hình vuông, có một cửa nhỏ để cốt của người quá cố vào; thân tháp có nhiều tầng, nhỏ dần từ dưới lên; đỉnh tháp thường để tượng đầu thần Bốn Mặt MahaBrum Phía trên đầu tượng này là cột sắt nhỏ, nhọn, có nhiều lông nhỏ Những ngôi tháp lớn là để lưu lại cốt của các vị Sãi cả trong chùa, những người có công trong việc xây dựng, trùng tu chùa Những ngôi tháp nhỏ hơn dùng để cất giữ hài cốt của những người dân trong phum sóc

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer có lòng rộng, cột cao to bằng các loại gỗ quý, đồng thời với cấu trúc của bộ mái gấp nếp đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi không khí trong chùa Do đó, tuy mái chùa mỏng, không lợp dày như mái chùa, đình của người Việt nhưng trong chùa luôn luôn thông thoáng, mát mẻ

2.3.2.2 Trang trí

Một phần quan trọng của nghệ thuật trang trí các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là trang trí kiến trúc với những tượng rồng Niêk, Tiên nữ hình chim (Tếp Pro Nam), Chim thần (Garuda hay Na Ha Krut) và vũ nữ - chim (Kây No), Chằn (Yak), Thần đất (Heeng Prô Át Thô Ni), Rìa Hu, Linga, …

Các mô típ trang trí sử dụng các hình tượng và hoa văn liên quan tới giới thực vật cũng đáng được chú ý Đó là những mô típ hoa, lá, cành

Trong nghệ thuật trang trí chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, mô típ hoa sen là một hình tượng phổ biến nhất Đây là một loại hoa linh thiêng của đạo Phật và đạo Bà-la-môn, mang tính chất biểu trưng cho việc thờ cúng Hoa, lá, cánh sen là một hình tượng chủ thể tham gia vào tất cả các mô típ trang trí

Trang 34

Mô típ hoa sen được thay đổi thành muôn hình vạn dạng, rất phổ biến và đôi khi cũng rất phức tạp Khi thì chỉ là một hoa riêng lẻ, lúc lại nằm trong một bố cục dải dài trên các bậc thềm cửa bên cạnh các mô típ khác Hoặc có nơi hoa nở xòe ra ở mặt ngoài của các cột hành lang ngôi chánh điện; có nơi lại thấy cánh hoa, búp hoa nằm nghiêng bên chân các cột, trên các hẻm khám thờ, bệ thờ, trên đầu các cột, quanh rắn thần Naga hay trên đầu các vũ nữ Kây No, tiên nữ Tếp Pro Nam Nhưng cũng có khi ta lại thấy hình ảnh hoa sen trên đầu nhọn của các ngôi tháp Hoa sen đôi khi được tỉa tách thành từng chuỗi dài như hạt ngọc trên các đường gờ ở nhiều trụ cột quanh tường

và cửa sổ hay chỉ được thể hiện dưới dạng nụ, búp, gương sen trên các đường sóng lượn ở chân bệ tượng, đế tượng hoặc trên các đường sóng lượn ở chân bệ tượng minh họa cho các Phật thoại

Bên cạnh mô típ hoa sen, ta còn thấy có các dạng mô típ trang trí khác như cành,

lá, hoa Ph’nhi vo và Ph’nhi tês Hai loại hoa này cũng thuộc loại hoa linh thiêng khá phổ biến Trong cấu trúc bệ mái chùa Phật giáo Nam Tông Khmer có điểm độc đáo: đầu dốc các cấp mái dưới nối với mái trên, phần dốc này được bịt bằng gỗ hoặc chạm nổi hay khắc chìm mô típ cây Ph’nhi vo và Ph’nhi tês có sống lớn, chính giữa sống có hình tiên nữ Tếp Pro Nam chắp tay ngồi trên tòa sen

Dưới chân tảng hay các cột giả thường đắp nổi mặt Rìa hu theo hình chữ nhật nằm ngang hoặc hình vuông như các chân cột giả tại chánh điện chùa Kh’leang, chùa Mahatup (Sóc Trăng), hoặc Rìa hu được sắp đặt theo một khuôn mẫu trang trí trên chân, thân và các đầu cột

Ngoài mô típ hoa sen, hoa Ph’nhi vo, Ph’nhi tês trong nghệ thuật trang trí chùa Phật giáo Nam Tông Khmer còn có hình ảnh hoa quỳ mới chớm nở với bốn cánh đều nhau Ở phần cuối mái chùa người ta che phủ các đầu rui sát đòn tay bằng đường riềm

có trang trí hình ảnh chiếc lá bồ đề Mô típ lá Slếc Seima cũng được đưa vào trang trí ở sân chùa hay trong chánh điện, trên thân và lá lại trang trí thêm hình tượng tiên nữ hay thần Đất bảo vệ Phật pháp

Trên trần nhà của ngôi chánh điện còn được trang trí bằng mô típ bánh xe luân hồi sinh – tử, thiện – ác, khen – chê, cay đắng – ngọt bùi, âm – dương, trời – đất, cửa bát nhã ở giữa, chung quanh bánh xe có từ một đến bảy chữ pô

Về mô típ con người trong nghệ thuật trang trí chùa Phật giáo Nam Tông Khmer đáng chú ý là hình tượng thần Bốn Mặt Trên bốn bộ cánh cửa chính Đông Tây và mười bốn cửa sổ quanh tường ngôi chánh điện chùa Kh’leang (Sóc Trăng) được minh họa tích chuyện Ramayana – một thiên anh hùng ca của Ấn Độ mà người Khmer gọi là Riềm kê, với hình tượng người thiện Preh Ream và người ác Rep-Pa-Na-Xô Người ác thường được chạm khắc với bốn cánh tay cầm kiếm, búa, roi, đinh ba, áo quần nai nịt, mặt mày hung dữ, ngồi trên mình voi như muốn trút hết căm hờn lên ngôi chánh điện Còn người thiện thường được thể hiện dưới hình tượng nữ thần Ap-Xa-Ra, là tiên nữ của thần In Dra luôn luôn nhảy múa, bay lượn uyển chuyển, xinh đẹp trên cõi trời Ngoài Phật điện và bức màn gió Rô Neng thì trang trí bên trong ngôi chánh điện chùa còn có những bức vẽ và những đồ thờ Các bức tranh tường minh họa các Phật thoại được vẽ gần kín các mặt tường ở trong nội thất ngôi chánh điện, kể lại cuộc đời của đức Phật trải qua nhiều giai đoạn từ lúc sơ sinh đến lúc thành đạo, lúc nhập Niết Bàn, mỗi tranh gắn với một tích Cũng có chùa trang trí dựa vào các tích truyện dân gian, nhất là tích truyện anh hùng ca Riêm kê, những cảnh triết lý về cuộc đời, những

Trang 35

cảnh khuyến thiện răn ác Các tranh ấy hầu hết được lấy từ Ấn Độ nên những nhân vật được vẽ trên tranh hầu hết đều phảng phất bộ mặt của người Ấn Độ

Ở nội thất chánh điện một số chùa, trên trần cũng được vẽ kín, mỗi tranh được vẽ lớn cả một gian trần Ở đây thường tả lại cảnh đấu nhau giữa Tiên (Tếp Pro Nam), lực lượng bảo vệ Phật pháp và Chằn (Yak), lực lượng gian tà phi nghĩa, hoặc cảnh bốn tiên chắp tay làm lễ ở bốn góc hướng về đức Phật đắc đạo thờ ở vị trí trung tâm của Phật diện, hoặc nghệ nhân vẽ hẳn một loại hoa thiêng ở chính giữa trần chánh điện Cũng có chùa vẽ trên trần chánh điện những vũ nữ Kây No đang múa Mỗi vũ nữ cầm một loại hoa thiêng, tay múa các động tác khác nhau, quay mặt vào bàn thờ Phật Tất

cả đều mang đậm nét ảnh hưởng của hội họa tôn giáo Ấn Độ, của văn hóa Ấn Độ Tại các nhà hội, nhà tăng, các bức tranh vẽ cũng mang nội dung, tính chất như ở ngôi chánh điện, nhưng cái khác nhau là nội dung Phật thoại mở rộng hơn vào đời sống con người, để giáo dục dẫn dắt con người đi theo đạo Phật Để khẳng định hơn về con người chân lý và con đường Phật pháp, có nơi ngay trên cửa ra vào nghệ nhân thể hiện một bức vẽ nêu lên tính cách phù du của cuộc đời, bức vẽ phân tích cuộc đời qua các giai đoạn tất yếu: sinh ra, lớn lên, lấy nhau, già đi, bệnh tật rồi chết và luân hồi khổ

ải Ngoài ra, ở một số chùa còn có những hình vẽ thể hiện cảnh địa ngục với các cửa luận công định tội mà khi chết hồn người phải trải qua, với những hình thức trừng phạt rất ghê rợn, mức độ tùy theo tội của mỗi người mắc phải khi còn sống

Đồ thờ xen kẽ tượng Phật trong chùa Phật giáo Nam Tông Khmer không nhiều như trong các ngôi chùa của người Việt Ngoài hương nến, thường ở ngôi chánh điện chùa Phật giáo Nam Tông Khmer phải có đôi lọng nhỏ năm tầng, mang tính chất tượng trưng cho năm vị Phật trên cõi trời và cõi đất, đồng thời cũng biểu hiện cho uy quyền của Phật giáo Có nơi thờ lọng ba tầng tượng trưng cho tam bảo (Phật, pháp, tăng); cũng có nơi thờ lọng bảy tầng, biểu hiện cho bảy cửa phải qua kiếp người khi mới chết, bảy cửa ấy ứng với bảy tuần xét công tội để định kiếp đầu thai hay trầm luân

Màu ngoài cùng của cờ là màu xanh lam, nói về cuộc đời Phật khi còn là bồ tát

đã ra tay cứu độ chúng sinh

Màu vàng thể hiện một kiếp khác Ở kiếp này Phật đã lấy thịt mình đem dát thành vàng để cúng dường trong khi tu luyện

Màu đỏ là màu máu, kể lại trong một kiếp Phật đã mổ ngực mình lấy tim làm thuốc cứu mẹ bị rắn cắn Màu trắng, nói lên trong kiếp này Phật cưỡi con voi trắng đi làm phép gây mưa cứu hạn cho chúng sinh

Cuối cùng là sự kết hợp của các màu trên được xếp liền nhau theo hàng ngang Màu này gắn một kiếp của Phật là con thỏ đã hy sinh nhảy vào lửa dâng mình cho Đế Thích Màu này thể hiện sự bố thí tuyệt đối của Phật

Để trang trí ngôi chánh điện, xung quanh bàn thờ Phật ở nhiều chùa còn treo những lá phướn nhỏ làm bằng vải hoặc tết bằng sợi, bố cục cũng giống như phướn của người Việt nhằm để trừ ma, cầu phúc Phần trên phướn như hình ngôi nhà, có mái tam

Trang 36

giác, thân vuông vắn và như có lan can bao quanh Thân phướn không có chữ, phần dưới là một tua dài, nhọn về phía đuôi

Trong những ngày lễ hội, trên bàn thờ còn có một khay thờ riêng để cầu phúc cầu tài Trong tụng niệm người Khmer kêu gọi cả năm vị Phật ban ân huệ Khay được bố trí năm cây nến, bốn cây ở góc, dưới sát chân có bốn đồng tiền để cầu tài, cây nến thứ năm để chính giữa cắm trong một bát gạo với ý nghĩa cầu được mùa, thịnh vượng đồng thời thể hiện sự yên tĩnh không thay đổi, tượng trưng cho cõi Tịch Diệt, Niết Bàn Nến tượng trưng cho Phật, khi cúng lễ người ta đốt bốn cây ở góc tượng trưng cho bốn vị trí Phật đã tồn tại, cây ở giữa không bao giờ thắp tượng trưng cho vị Phật tương lai, phải 2000 năm nữa mới xuất hiện

Một yếu tố nghệ thuật trang trí khác đáng được chú ý ở ngôi chánh điện chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là bức màn gió Rô Neng bằng gỗ, người Việt gọi là cửa võng (tại các chùa miền Bắc) hoặc bao lâm (ở các chùa miền Nam)

Bức màn gió bằng gỗ này có nhiều mô típ tương tự với nghệ thuật trang trí và chạm trổ của người Việt, thể hiện khá sắc sảo, điêu luyện và gắn vào tổng thể kiến trúc – điêu khắc – trang trí chùa Phật giáo Nam Tông Khmer một cách hài hòa Trang trí cửa võng Rô Neng thường gắn liền với hình ảnh sinh hoạt của người dân như cảnh cày cấy vui chơi, cảnh nông phu đang cày ruộng, tiều phu đang đốn củi, cùng những hình ảnh dân gian khác, hình tượng trâu bò, dê, thỏ, dơi, sóc, chim chóc, hoa lá… những

mô típ và đề tài trang trí này nói lên tinh thần yêu lao động, yêu thiên nhiên, lạc quan yêu đời Sự có mặt của bức màn gió Rô Neng trước Phật điện góp phần làm cho quang cảnh chung của ngôi chánh điện chùa Phật giáo Nam Tông Khmer thêm phần sinh động gần gũi với tín đồ khi đến đây

Tư tưởng chủ đạo của phong cách nghệ thuật kiến trúc cũng như trang trí trong ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo Nó được tạo tác từ bàn tay tài hoa của các nghệ nhân dân gian Khmer mà hầu hết họ được truyền nghề từ trong thời gian tu học tại chùa Thế nhưng trong tạo tác, người nghệ nhân không chỉ rập khuôn, tuân thủ theo các mẫu cổ điển Những tác phẩm của họ được thổi vào hơi thở của một nguồn cảm hứng, phản ánh nhân sinh quan của từng lớp

tư duy, nhận thức của người nghệ sĩ

Chính vì vậy nó tạo nên nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật tạo hình Khmer Làm cho phong cách nghệ thuật ấy tuy mang nội dung Phật giáo nhưng trong đó đã bao hàm bản sắc văn hoá dân tộc Góp phần làm giàu thêm sự phong phú của kho tàng văn hoá dân tộc Việt Nam, đòi hỏi chúng ta cần phải biết trân trọng

2.3.3 Chức năng và ý nghĩa của chùa Phật giáo Nam Tông trong đời sống của người Khmer

Phần lớn người dân Khmer theo phật giáo Nam Tông, họ xem đây là tôn giáo của toàn dân Đối với họ, tôn giáo là chỗ dựa tinh thần và là nhu cầu không thể thiếu của người dân trong đời sống cũng như trong sinh hoạt hàng ngày Đáp ứng nhu cầu đó ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer ra đời Nếu như nơi sinh hoạt cộng đồng của người Việt là đình chùa, của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên là nhà Rông thì ở người Khmer nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, tinh thần, sinh hoạt tập thể chính là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Ngôi chùa gắn liền với người Khmer từ khi vừa sinh

ra đến khi trưởng thành, già và mãi cho đến khi chết đi, mọi buồn vui đều diễn ra ở chùa Với lẽ sống “đời là đạo, đạo là đời” nên với người Khmer ngôi chùa là không gian thiêng liêng nhất Người Khmer theo phật giáo Nam Tông luôn sống và làm theo

Trang 37

những điều Phật dạy tích lũy phước đức để khi chết được siêu thoát về cõi Niết bàn

Họ luôn quan niệm rằng đi chùa làm phước cũng như làm ruộng, làm nhiều được quả phước nhiều, làm ít được ít, không làm thì không được hưởng Chính từ những suy nghĩ ấy mà người Khmer đến chùa là sự tự nguyện để tìm nguồn vui và mong tích nhiều phước thiện cho tương lai Chùa là nơi sinh hoạt Phật giáo, là nơi lưu truyền, phổ biến kinh điển, giáo lý Phật giáo, sách báo, tác phẩm văn học, nghệ thuật, chữ viết dân tộc và quan trọng nhất chùa còn được xem như một trung tâm giáo dục cộng đồng của địa phương

2.3.3.1 Tôn giáo

Người Khmer có câu “Sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”, họ luôn tin vào Phật, vào những lời Phật dạy, do đó bất kể là khi nào và làm gì thì họ vẫn muốn được vào chùa, được về với Phật Họ xem ngôi chùa như một nơi có thể gửi gắm tất cả mọi buồn vui, lo lắng hay mong ước trong cuộc sống hàng ngày và đặc biệt hơn nữa người Khmer xem ngôi chùa như một nơi cất giữ những “khoán ước” đảm bảo cho cuộc sống hiện tại và để dành cho cuộc đời ở thế giới vĩnh hằng trên cõi Niết Bàn Ngoài ra, ngôi chùa còn là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo quan trọng trong năm như:

Lễ Phật Đản (Bon Visakha Bochia): do đa số người dân Khmer đều theo Phật giáo nên họ xem đây là một ngày lễ quan trọng trong năm Vào những ngày này các chùa tổ chức tụng kinh, cầu nguyện và thực hành sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo để kỉ niệm ngày lễ quan trọng này, đồng thời các tín dồ theo đạo đến chùa để dâng hoa, hương phẩm, chiêm bái tạo nên một không gian lễ hội trang nghiêm nhưng cũng không kém phần đặc sắc

Lễ Nhập hạ (Bon Chôl Vossa): bắt đầu lễ Nhập hạ ngày 15 tháng 6, người dân Khmer cung cấp thức ăn vật dụng: khăn mặt, nước mưa, đèn cầy… để các sư sãi đủ dùng trong suốt ba tháng hạ ở chùa Và đến lễ Xuất hạ (Bon Chênh Vossa), 15 tháng 9, thì suốt đêm 14 và cả ngày 15, tín đồ lại đổ về chùa làm lễ dâng cơm sư sãi và đọc kinh Phật như một ngay hội lớn

Lễ Dâng áo cà sa lên các sư sãi (Ka Thăn Na Tean): kéo dài trong 29 ngày, từ 15 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 Tùy theo, có thể một gia đình, hoặc vài gia đình tập trung lễ vật, vải vóc, gạo nếp, đền cầy, cả tiền giấy kết thành những bông hoa đẹp dâng lên các sư (nên còn được gọi là lễ Dâng bông) Lễ vật chất đầy lên kiệu, rước lên chùa

đi ba vòng quanh chánh điện rồi mới vào bên trong chánh điện để dâng lễ

Lễ Đặt cơm vắt (Phua Chum Bon): kéo dài 15 ngày, từ 16 đến 30 tháng 8 Các gia đình dâng lên chùa gạo nếp, trái cây, bánh men và cơm (được vắt thành nắm tròn)… đặt vào khay dâng lên nhà hội, hoặc chánh điện cúng tam bảo Cầu cho linh hồn các nhà sư đã quá cố, với nghĩa sống bằng cơm gạo thì chết cũng do cơm gạo tạo nên tinh thần

Lễ Kết giới (Bon Banh Chos Xâyma): đây là lễ Khánh thành chánh điện, lễ kéo dài ba ngày trước khi lấp đất vào các hố xung quanh chánh điện Các tín đồ khi đến đây sẽ bỏ một vật gì đó vào các hố này, cầu gì thì bỏ hiện vật ấy xuống hố, chẳng hạn như: cầu học giỏi – bỏ sách vở bút, cầu giàu có – bỏ tiền, cầu sắc đẹp – bỏ gương lược, phấn thơm

Lễ an tượng Phật lên chùa (Bon Puthca Phisêk): do các gia đình tín đồ dâng cúng Trong ngày lễ tín đồ đắp ngàn núi cát theo hình vuông ở một bãi đất rộng Tượng Phật được rước đến, đặt trong nhà lễ dựng tạm ở giữa bãi đất, nhằm cầu xin được Phật tam

Trang 38

bảo xá những tội lỗi mà họ đã phạm phải Sau khi các sư sãi đọc kinh làm lễ, tượng được rước lên chùa

Tất cả các lễ trên đây đều diễn ra với nội dung dâng lễ cúng Phật, dâng cơm sư sãi và “cầu phước” cho mọi người Toàn dân người Khmer, kể cả nam và nữ đều có nghĩa vụ tham gia Ngoài ra, hàng tháng đều đặn bốn kỳ vào các ngày 8, 15, 23, 30, chùa còn là nơi các tín đồ đến để lễ Phật, cầu kinh

Chùa đối với người Khmer mang một tình cảm sâu sắc Đó là ngôi chùa của Phật, dựng lên với mục đích thờ Phật, là nơi thực hành các nghi lễ, tín ngưỡng truyền thống của người Khmer, các phong tục, bản sắc được các sư sãi, phật tử tái hiện một cách cô động và tôn lên những nét tinh hoa trong lễ nghi Phật pháp, đó là; cầu nguyện, đọc kinh, cúng kiến, trang phục hành lễ, phóng sanh, tổ chức truyền đạo, thuyết pháp đây

là nét sinh hoạt tôn giáo quyến rũ nhất cho những ai lần đầu ghé thăm các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer tại đây, đồng thời học hỏi và giao lưu văn hóa dân tộc trong tiến trình hội nhập

2.3.3.2 Văn hóa

Đối với người Khmer, ngôi chùa ngoài chức năng thờ Phật, thỏa mãn nhu cầu tôn giáo còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, là nơi bảo lưu và giữ gìn những giá trị văn hóa của dân tộc Trong các hoạt động lễ hội của người Khmer, hầu hết đều có sự hiện diện của nhà sư, từ lễ cưới, lễ cầu an, lễ cúng trăng, lễ tết cổ truyền đến lễ tang… đều

có vai trò của nhà sư và thường được tổ chức trong chùa, chỉ riêng lễ cưới là không tổ chức tại chùa, nhưng cô dâu và chú rễ vẫn phải đến chùa thỉnh sư sãi tụng kinh chúc phúc tại chùa lẫn tại nhà Trong chùa Phật giáo Nam Tông Khmer luôn có sự dung hợp của ba yếu tố văn hóa Đó là văn hóa bản địa, văn hóa Bà-la-môn giáo và văn hóa Phật giáo Các bức tranh tiền kiếp của Đức Phật, các tượng thần Bà-la-môn (Krud hay chim thần Garuda, nữ thần Kây No) có ý nghĩa che chở và bảo vệ cho chùa cũng như văn hóa trang trí… là những thứ thể hiện sự dung hợp của ba yếu tố văn hóa nêu trên Mặc khác, chùa còn là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian Ngoài các lễ hội tôn giáo, ngôi chùa còn là nơi diễn ra các lễ hội văn hóa truyền thống của người Khmer như: lễ hội vào năm mới (Chol-Chnam-Thmay), lễ hội chào mặt trăng (Ok-oom-bok) và lễ cúng tổ tiên (Donta)… Lễ và Hội

là những yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào Thông qua các hoạt động này giúp con người sống trong cộng đồng thêm gần gũi, đoàn kết, có trách nhiệm và yêu thương đùm bọc lẫn nhau Nhà chùa là nơi cất giữ chiếc ghe ngo của phum, sóc, đây là phương tiện để thanh niên trong các phum, sóc tranh tài với nhau trong dịp lễ OK-oom-bok Vào những ngày lễ hội, khi đến chùa Phật giáo Nam Tông Khmer âm thanh đầu tiên mà ta nghe thấy là tiếng nhạc rộn ràng độc đáo của dàn nhạc Ngũ Âm Dàn nhạc này do nhà chùa cất giữ và bảo quản để phục vụ cho các dịp lễ hội, cưới hỏi, tang ma Ở chùa vào dịp lễ hội nhà chùa còn chuẩn bị trang trí sân khấu để biểu diễn văn nghệ dân gian như: múa Ramvong, Lămlâu, Saravan, hát Adai đối đáp, thanh niên nam nữ cùng nhau múa hát suốt đêm Ngoài ra còn có các đoàn diễn Rôbăm, Dù kê, hòa nhạc để phục vụ bà con, trưng bày triễn lãm và tổ chức các trò chơi dân gian Với những lễ hội như trên diễn ra ở chùa có tác dụng giáo dục rất lớn đến tinh thần nhớ về nguồn cội, chuyển giao văn hóa, sáng tạo văn hóa, liên kết cộng đồng người Khmer

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer vừa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, vừa là trung tâm giáo dục cộng đồng, đồng thời từ lâu ngôi chùa được xem là thư viện, bảo

Trang 39

tàng, trung tâm văn hóa nghệ thuật của người Khmer nơi lưu trữ các thư tịch cổ, những hiện vật quí hiếm có giá trị cả về lịch sử, văn hóa lẫn mỹ thuật Chùa là nơi cất giữ những bộ kinh điển giáo lý nhà Phật để phổ biến giáo lý cho các tín đồ trong phum sóc Ngoài ra, đây còn là nơi lưu trữ những hiện vật quí hiếm, những thư tịch cổ, các tác phẩm văn học Khmer cổ có giá trị cả về lịch sử, văn hóa lẫn mỹ thuật Dân tộc Khmer là dân tộc có ngôn ngữ và chữ viết riêng được hình thành từ rất sớm trong lịch

sử phát triển Chữ Khmer cổ được ghi lại trên những tấm bia đá, trên tấm da thô, thanh tre hay lá thốt nốt đã được lưu giữ rất cẩn thận trong các chùa

Ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer là một bảo tàng giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng và bề dày lịch sử văn hóa của dân tộc Khmer, ngôi chùa còn là sự kết tinh các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và nghệ thuật Chính vì thế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer phải được bắt đầu từ ngôi chùa

2.3.3.3 Giáo dục

Chùa Phật giáo Nam Tông Khmer không những là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn

là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống, nơi biểu diễn văn nghệ sinh hoạt cộng đồng Điều này giúp cho ngôi chùa trở thành trung tâm văn hóa xã hội của người Khmer Ngoài chức năng tôn giáo, ngôi chùa còn có một chức năng khác không kém phần quan trọng đó là chức năng giáo dục, giảng dạy đạo lý và chữ viết dân tộc cho con em dân tộc Khmer trong phum sóc Ở hầu hết các chùa Phật giáo Nam Tông Khmer, tùy theo nhu cầu mà có trường hoặc lớp dạy đạo lý, văn hóa dân tộc, chữ Khmer và chữ Pali cho con em và sư sãi người Khmer

Vai trò giáo dục của ngôi chùa Phật giáo Nam Tông Khmer được thể hiện trong

xã hội Khmer đó là người nam giới bất kể dù thuộc tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội khi đến mười hai tuổi đều phải vào chùa tu học Điều đó trở thành phong tục của người Khmer hay nói đúng hơn là của Phật giáo Nam Tông Khmer Đi tu bên Nam Tông không giống như Bắc Tông là không phải xa lánh trần thế để gởi gắm trọn đời nơi cửa Phật Người nam thanh niên Khmer đi tu có thể hoàn tục bất cứ lúc nào, có thể tu một tháng, một năm hay trọn đời Đối với họ đi tu không phải để thành Phật mà tu là để thành người Tu là để chuẩn bị cho cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai, tu để rèn luyện thành người có tri thức, đạo đức, phẩm hạnh Người Khmer có câu: “Rucal min ba buos tul chia to kuông samay” nghĩa là “những người không được tu hành trong chùa

là những người có nhiều tội lỗi trong đời sống” Do quan niệm như thế nên người con trai Khmer đến tuổi phải vào chùa tu dù không là luật định nhưng đã thành “lệ” và rất quan trọng Tu là trả ơn cha – nghĩa mẹ, là nghĩa vụ đồng thời là cũng là vinh dự Người đến chùa tu được học giáo lý để hành đạo cho đúng, học tạng kinh, tạng luật, luận để am tường giáo lý nhà Phật giác ngộ bản thân sống tốt đời, đẹp đạo, học Phạn ngữ để dịch kinh Phật, học tiếng Việt và các môn văn hóa khác để giúp ích cho cuộc sống sau này Như vậy chùa là nơi rèn luyện để thanh niên trưởng thành, trở thành người tài đức, là nơi giúp thanh niên học hành đến nơi đến chốn kể cả giáo lý nhà Phật

và kiến thức đời thường để phục vụ cuộc sống bản thân và xã hội sau này khi đã hoàn tục Và như vậy, ngôi chùa đã thực sự trở thành một trường học, nơi đào tạo nhân tài, nơi giáo dục đạo đức con người

2.4 CHÙA NAM TÔNG KHMER Ở SÓC TRĂNG

2.4.1 Hệ thống tổ chức

Trang 40

Hệ thống tổ chức của nhà chùa, dưới giáo hội Trung ương, ở cấp tỉnh có hội đồng

kỷ luật sư sãi (Salakôn) do Mêkôn đứng đầu Cấp huyện có Anukôn, ở khu vực gần nhiều xã có Upachhea Ngoài ra, chùa còn có ban quản trị do mỗi sóc đề cử Từng chùa có Sãi Cả trụ trì Đây là vị cao tuổi, đã qua nhiều lớp huấn luyện từ nhỏ Sãi Cả thông thuộc kinh điển Pali, nguyện suốt đời tu hành và là người có quyền lực trong vùng Dưới Sãi Cả có hai Sãi phó và một vị Achar chuyên dạy giáo lý Sư sãi trong chùa chia làm hai bậc: đại đức và hòa thượng Những tu sĩ đã thọ 227 giới được gọi chung là Bikkhu (Tỳ Kheo) Dưới cùng là lớp Sadi Sadi học kinh, hầu các sư và quét dọn Do áp dụng đường lối tu hành thời Đức Phật còn tại thế nên hệ phái này không có

nữ tu Khi chùa có tu sửa hoặc tổ chức những ngày lễ lớn, trưởng ban quản trị sẽ liên lạc với Sãi Cả, có trách nhiệm vạch kế hoạch tu sửa chùa, quyên góp trong dân và phân công việc trong các ngày lễ

2.4.2 Các ngôi chùa Nam Tông Khmer điển hình ở Sóc Trăng

3.4.2.1 Chùa Khleang

- Vị trí, tên gọi

Chùa Khleang thuộc phạm vi khóm 5, phường 6, thành phố Sóc Trăng; phía Đông giáp đường Mậu Thân, phía Nam giáp đường Nguyễn Chí Thanh, Tây và Bắc giáp khu dân cư Chùa cách trung tâm thành phố Sóc Trăng gần 2km

Phương tiện đi đến chùa thuận tiện nhất là đi bằng đường bộ: từ trung tâm thành phố, qua đường Hai Bà Trưng, qua cầu C247, đi thẳng khoảng 500 m phía bên trái là đến chùa

Theo một tài liệu ghi chép từ thư tịch cổ Khmer thì vào giữa thế kỷ 16, viên quan cai quản vùng Sóc Trăng tên là Tác đã cho xây dựng một nhà kho để tích trữ sản vật

do nhân dân quyên góp Từ đó, ông đặt tên cho vùng đất mình cai quản là Srock – Khleang (tiếng Khmer có nghĩa là xứ có kho, khi người Kinh đến gọi trại ra là Sóc Kha Lang rồi sau là Sóc Trăng)

Sau đó ông Tác vâng lệnh vua Chân Lạp cho xây dựng một ngôi chùa và lấy tên địa danh đặt cho tên cho chùa, từ đó ngôi chùa có tên là Khleang, và cho đến ngày nay thì tên gọi đó vẫn không thay đổi

- Lịch sử

Hiện nay, tại chùa Khleang còn lưu trữ một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch gốc địa danh Sóc Trăng, sự kiện xây dựng ngôi chùa đầu tiên và các nhân vật có liên quan trực tiếp:

Vào đầu thế kỉ 16, vua của nước Chân Lạp là Ang Chăn tổ chức một chuyến đi kinh lý qua các lãnh địa xa xôi của mình ở vùng hạ lưu sông Hậu (lúc đó kinh đô đóng tại Lô-véc, thuộc nước Campuchia bấy giờ) Khi nhà vua dừng lại ngự giá ở Sóc Trăng một thời gian mà không thấy có ngôi chùa Phật nào, ngài bèn ra lệnh cho viên quan coi quản đất này phải xây dựng cho được một ngôi chùa để dân chúng có nơi hành đạo Vâng lệnh vua ban, năm 1532 ông Tác bèn triệu tập các tín đồ và đại diện dân sóc trong một cuộc hội nghị được tổ chức trọng thể để truyền đạt lệnh vua; đồng thời ông kêu gọi mọi người góp công, góp sức xây dựng ngôi chùa mới

Địa điểm xây chùa đã được xác định, ông Tác cho người đo đạc đất đai, khoanh vùng một khoảnh đất hình vuông rộng 4 ha, đóng cọc 8 hướng làm ranh giới Sau đó, chọn ngày tốt để làm lễ Krong Phum (tức lễ khởi công xây chùa)

Kế hoạch xây chùa được vạch ra như sau:

Ngày đăng: 02/04/2018, 04:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w