CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ THCS Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn Giáo viên Trường THCS Lập Thạch - Huyện Lập Thạch - Tỉnh Vĩnh Phúc Đối tượng học sinh bồi dưỡng: lớp 8 – 9
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ THCS Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Giáo viên Trường THCS Lập Thạch - Huyện Lập Thạch - Tỉnh Vĩnh Phúc
Đối tượng học sinh bồi dưỡng: (lớp 8 – 9)
Dự kiến số tiết bồi dưỡng : 10 tiết
Các nội dung sử dụng trong chuyên đề
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1) Lí do khách quan
2) Lí do chủ quan
II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ
1) Thuận lợi
2) Khó khăn
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
IV TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
I CÁCH TUYỂN CHỌN ĐỐI TƯỢNG ÔN THI
II HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN ,ĐẶC TRƯNG ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC CHUYÊN ĐỀ
III PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ
1) PHẦN TỊCH SỬ THẾ GIỚI
1.1) Lịch sử thế giới cận đại (lớp 8)
1.2) Lịch sử thế giới hiện đại (lớp 8+9)
Trang 22 PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
2.1Lịch sử Việt Nam từ 1958 – 1918 (lớp 8)
2.2Lịch sử Việt Nam từ 1919 – 1954 (lớp 9)
*Giai đoạn Việt Nam từ (1919 – 1930)
*Giai đoạn Việt nam từ (1930 – 1945)
* Giai đoạn Việt Nam tử (1945 – 1954)
III MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
C KẾT LUẬN
**********************************
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Lí do khách quan:
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những hoạt động rất vất vả, khó khăn
và thử thách đối với những người làm nghề dạy học và bồi dưỡng các đội tuyển họpc sinh giỏi
Bồi dưỡng học sinh giỏi cũng là công tác cực kỳ quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho huyện nhà và đất nước trong sự nghiệp trồng người Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ hoài bão của mình là con ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình cho tương lai
Thực tế trong những năm qua, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được lãnh đạo các trường và phòng giáo dục chú trọng quan tâm Song chất lượng mũi nhọn của một số bộ môn chưa đồng đều, hiệu quả đạt được chưa cao, có lúc tăng, lúc giảm, chưa có tính bền vững
2 Lý do chủ quan:
Bản thân tôi là một giáo viên thuộc trường Trung học cơ sở Lập Thạch Thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi của tôi gắn liền với chất lượng mũi nhọn của trường cũng như của ngành giáo dục huyện nhà
Trang 3Tôi được Ban giám hiệu nhà trường và Phòng Giáo dục Lập Thạch tạo điều kiện và tin tưởng phân công tôi giảng dạy môn Lịch sử lớp 9, một môn học ít tiết, được coi là phụ, không mấy ai quan tâm Song, bằng năng lực chuyên môn cùng tâm huyết với nghề, bốn năm liên tục, tôi có học sinh giỏi cấp tỉnh (trong đó có 3 giải nhất, 10 giả nhì, nhiều giải ba và giải khuyến khích)
Thành tích đạt được của học sinh chính là thước đo của nhà giáo Tôi mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm có được của mình trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử để các đồng chí, đồng nghiệp tham khảo Nhằm đưa sự nghiệp giáo dục của huyện Lập Thạch ngày một nâng cao ngang tầm với các đơn vị bạn, trở thành tốp đầu trong tỉnh
II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ:
1 Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo dục Lập Thạch và Ban giám hiệu nhà trường
- Học sinh có tinh thần hiếu học, cán bộ và nhân dân các địa phương có sự quan tâm
- Bản thân tôi có nhiều năm công tác trong nghề, có kinh nghiệm trong ôn luyện học sinh giỏi
- Đặc biệt môn Lịch sử vốn có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Học lịch sử để biết được cội nguồn của dân tộc, quá trình đấu tranh anh dũng và lao động sáng tạo của ông cha Học lịch sử để biết qúy trọng những gì mình đang có, biết ơn những người làm ra nó và biết vận dụng vào cuộc sống hiện tại để làm giàu thêm truyền thống dân tộc
2 Khó khăn:
-Do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn Lịch sử trong đời sống
xã hội Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn Lịch sử, coi
đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần phải làm bài tập, không cần học thêm, phí công vô ích Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm được những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường
Trang 4-Do ảnh hưởng của thời kỳ hội nhập, của phim truyện nước ngoài, của mạng Internet, của các trò chơi điện tử… đã ảnh hưởng không nhỏ đến những học sinh thiếu động cơ thái độ học tập, sao nhãng việc học hành, dẫn đến liệt môn, nhất là
bộ môn Lịch sử
-Chưa loại bỏ được cách giáo dục, học tập mang tính thực dụng Xem nặng môn này, coi nhẹ môn kia hoặc “thi gì thì học nấy” làm cho học vấn của học sinh bị
“què quặt”, thiếu toàn diện Tình trạng “mù lịch sử” hiện nay ở không ít học sinh phổ thông là tác hại của việc học lệch, không toàn diện
-Thầy giáo dạy Lịch sử bị xem thường, không được coi trọng như các thầy
cô thuộc khoa học tự nhiên, ngoại ngữ Giáo viên dạy Lịch sử cũng rất nghèo về kinh tế Mức thu nhập chủ yếu chỉ dựa vào đồng lương chính đáng ngoài ra hiếm có
cơ hội của những nguồn thu khác
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Việc dạy học lịch sử ở trường THCS hay bất cứ bộ môn khoa học nào khác đều không thể tách biệt sách giáo khoa và các loại sách tham khảo khác bên cạnh
đó báo chí ,các tư liệu phim ảnh cũng là mảng rất quan trọng để người giáo viên dạy lịch sử khai thác vì nó mang tính thời sự cao
- Với mong muốn nhằm giúp học sinh nghiên cứu tìm hiểu sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo một cách tốt nhất ,hiệu quả nhất nhằm vừa giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản ,vừa giúp học sinh nắm được kiến thức một cách hệ thống ,từ đó trong quá trình bội dưỡng học sinh giáo viên có điều kiện để rèn kỹ năng cho từng đối tương học sinh
-Như vậy sách giáo khoa là nền tảng ,còn tài liệu tham khảo để mở rộng vấn
đề ,làm phong phú tham nội dung kiến thức trong qúa trình bồi dưỡng cho học sinh.Từ đó sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thầy giáo và học sinh trong quá trình truyền đạt của giáo viên và lĩnh hội kiến thức của học sinh được tốt hơn
-Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là nhằm đưa ra một số kinh nghiệm, bí quyết ôn luyện học sinh giỏi môn Lịch sử (chọn đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện, kết quả đạt được
Trang 5IV TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU:
+ Sách Giáo khoa Lịch sử 9
+ Một số tài liệu tham khảo khác
+ Sách nâng cao lịch sử 9 ,lịch sử 12,
+ kiến thức chuẩn kỹ năng phần lịch sử lớp 9
+ Một số đề thi cấp huyện, cấp tỉnh môn Lịch sử
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
I CÁCH TUYỂN CHỌN ĐỐI TƯỢNG ÔN THI:
Công tác tuyển chọn học sinh dự thi xin phép được nói rộng ra hai khối tự nhiên và xã hội
- Đối với khối Tự nhiên: Học sinh giỏi Toán, chắc chắn sẽ học khá các môn
Lý, Hoá, Sinh
- Đối với khối Xã hội: Học sinh học giỏi môn Ngữ Văn ắt sẽ học khá môn Lịch sử
-Từ thực tế đó giúp ta dễ dàng trong khâu tuyển chọn song học sinh cứ xem thường môn Lịch sử, cho đó là môn học phụ Mặt khác, giáo viên dạy môn Lịch sử cũng thường bị lép vế trong khâu tuyển chọn học sinh, phải lựa chọn đối tượng sau cùng Những em có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn luyện các môn học tự nhiên Vì có kiến thức cơ bản, vững vàng các em cần nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lý rồi sinh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài Còn các môn học ít tiết như Lịch sử, Địa lý, cần học bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán Bởi vậy giáo viên cần động viên, khuyến khích thì học sinh mới chịu đi ôn
-Mặt khác, giáo viên phải biết khơi dậy ở học sinh niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt Đã là học sinh giỏi cấp tỉnh, có giải thì đương nhiên bất cứ môn học nào cũng được hưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như nhau
-Trong công tác tuyển chọn cũng cần lưu ý về vấn đề tâm lý học sinh Tâm lý vững vàng, bình tĩnh, tự tin thì bài làm sẽ đạt kết quả cao Ngươc lại, tâm lý hoang mang, giao động, sợ sệt thì chất lượng bài làm sẽ kém Bởi vậy, giáo viên ôn luyện cũng phải biết trấn tĩnh niềm tin cho đối tượng ôn thi
Trang 6-Khi lựa chọn được đối tượng để ôn rồi thì giáo viên phải bết yêu nghề, yêu trẻ, tận tuỵ với trẻ Luôn luôn biết khích lệ, níu kéo các em vào niềm ham mê yêu thích bộ môn Đồng thời giáo viên cũng phải biết xây dựng vun đắp uy tín của mình đề có được lòng tin đối với học sinh
Phát hiện học sinh giỏi môn Lịch sử:
- Thông qua tổng hợp kết quả học tập của học sinh cấp dưới
- Qua sự thăm dò của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm
- Qua các giờ học trên lớp, học sinh phải thể hiện mình yêu thích môn lịch
sử, có năng khiếu môn Lịch sử
Cụ thể:
+ Trong quá trình nghe giảng học sinh biết điều chỉnh, chọn lọc kiến thức cần ghi chép, những phần nào giáo viên mở rộng kiến thức mà không có trong SGK, học sinh ghi ngay vào quyển sở tay để nhớ
+ Lựa chọn những học sinh năm vững kiến thức cơ bản trong chương trình phổ thông và kiến thức mở rộng
+ Đặt các tình huống có vấn đề từ dễ đến khó để phát hiện học sinh
+ Trong quá trình học và làm bài kiểm tra, phát hiện những em có khả năng viết (lời lẽ hay, cách lập luận chặt chẽ lô gích) phân tích tổng hợp những kiên thức
đã học, trình bãy rõ ràng mạch lạc, đúng trọng tâm vấn đề được đặt ra
+ Trong chương trình làm đề, ra đề giáo viên nên đổi mới cách ra đề dành cho mỗi đối tượng học sinh Đặc biệt đối với học sinh khá, giỏi nên có những câu hỏi đòi hỏi trình độ tư duy khái quát, phân tích, tổng hợp… để từ đó phân loại học sinh và có kế hoạch bồi dưỡng
+ Phát hiện học sinh giỏi thông qua hoạt động ngoại khoá, thi kể chuyện lịch
sử, hoặc sưu tầm tư liệu theo chủ đề
II.HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN ,ĐẶC TRƯNG ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC CHUYấN ĐỀ
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng
- Sử dụng các phương pháp bộ môn để hướng dẫn các em năm vững biến thức cơ bản
* Để học sinh hứng thú học môn Lịch sử và học giỏi môn Lịch sử và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử trước hết đối với giáo viên:
Trang 7- Giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao đối với học sinh.
- Giáo viên xây dựng 1 hệ thống câu hỏi vừa sức, hợp lý, gợi mở, kích thích
tư duy, sự tò mò của học sinh
- Trong 1 bài lịch sử có nhiều sự kiện lịch sử giáo viên cần khắc sâu những kiến thức cơ bản
VD: Trong chương trình lớp 9 có nhiều sự kiện lịch sử giáo viên nên giúp các em nắm những kiến thức cơ bản nhất
- Hình thành cho học sinh những kỹ năng khai thác kiến thức SGK
- Bồi dưỡng học sinh thông qua việc tự học và học tập theo chuyờn đề
- Tổ chức hướng dẫn học sinh sử dụng tài liệu lịch sử, tài liệu tham khảo
- Hướng dẫn cách làm bài lịch sử
VD hiểu đề bài: “Nội dung cơ bản của văn kiện được thông qua Hội nghị thành lập Đảng 2/1930 ?”
Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề, viết ra giấy nháp những nội dung quan trọng: Nội dung cơ bản , văn kiện thành lập Đảng, suy nghĩ về nội dung, đề bài đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề chủ yếu gì, hoàn cảnh, điều kiện ra đời của văn kiện, vai trò của nhân vật lịch sử có liên quan (Nguyễn ái Quốc) và chủ yếu nội dung của văn kiện này (kết hợp với phân tích, nêu ý nghĩa lịch sử, đánh giá…)
- Xây dựng đề cương bài viết gồm: Mở bài, thân bài và kết luận
Với một vài kinh nghiệm trên trong những năm qua số lượng học sinh giỏi môn Lịch sử tăng lên đã đóng góp vào thành tích chung của nhà trường,của huyện tôi sẽ cố gắng phát huy trong năm học 2011 - 2012
III PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ
- Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường Vì
ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá giỏi, trung bình và yếu kém) Song dạy cho học sinh đi thi có nghĩa là ta đưa các em “ mang chuông đi đánh đất người” Đối tượng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhân thức
Vì vậy ngoài kiến thức sách giáo khoa, giáo viên cần có thêm tài liệu nâng cao, để giúp đối tượng dự thi học sâu, hiểu rộng
- Thứ hai là người dạy phải có niềm tin và tâm huyết với nghề Phải biết băn khoăn, trăn trở khi học sinh không hiểu bài, biết vui mừng phấn khởi khi học sinh
Trang 8thành đạt Hay nói cách khác là nguời dạy lấy kết quả của học sinh làm thước đo tay nghề của nhà giáo
- Yếu tố cơ bản nhất là người dạy luôn luôn biết tự hoàn thiện mình Có tâm huyết với nghề chưa đủ, hơn thế nữa phải có năng lực chuyên môn vững vàng, biết xác định được kiến thức trọng tâm, biết làm chủ điều mình dạy và phải biết dạy học sinh cách học để học sinh bình tĩnh, tự tin lĩnh hội kiến thức và tư duy sáng tạo Nâng quan điểm từ biết để hiểu để vận dụng vào làm bài
- Thực tế cho thấy học sinh nhiều trường dự thi học sinh giỏi, mặc dù thang điểm 20 song kết quả một số thí sinh chỉ đạt 0.5;1;2;3 Lý do là người dạy và người học hời hợt, thiếu đầu tư, được chăng hay chở hoặc chưa xác định được cách ôn luyện, chỉ tập trung vào kiến thức lớp 9
- Theo bản thân tôi đã là học sinh giỏi thì phải được trang bị kiến thức tương đối toàn diện Hiểu khái quát được đặc trưng của bộ môn lịch sử là tìm hiểu, nghiên cứu những hoạt động của con nguời và xã hội loài người từ khi xuất hiện cho đến ngày nay Cách mạng Việt Nam có quan hệ mật thiết với cách mạng thế giới Cho nên phương pháp ôn luyện của tôi là:
+ Hệ thống hoá kiến thức cơ bản bằng phân kỳ lịch sử
+ Chốt kiến thức trọng tâm bằng hệ thống câu hỏi, bài tập
+ Rèn kỹ năng tư duy, sáng tạo cho học sinh
Hệ thống kiến thức cơ bản
1 Lịch sử thế giới
1.1 Lịch sử thế giới cận đại (lớp 8).
- Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, các cuộc cách mạng tư sản
- Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản Những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc
- Phong trào công nhân và sự ra đời củ chủ nghĩa xã hội khoa học
- Vai trò của Mác – Ăng Gen và sự ra đời quốc tế thứ nhất, quốc tế thứ 2 (hoàn cảnh ra đời, hoạt động, tác dụng đối với phong trào cách mạng thế giới.)
- Công xã Pari – nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Học sinh vẽ được sơ
đồ nhà nước và lấy dẫn chứng công xã Pari là nhà nước kiểu mới
Trang 91.2 Lịch sử thế giới hiện đại (lớp 8-9):
Gồm hai giai đoạn: 1917 -1945 (lớp 8) và 1945 đến nay (lớp 9)
- Cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 – 1941)
- Nước Mĩ, châu Âu, châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
- Chính sách mới của Ph.Ru-Giơ-Ven
- Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và văn hoá thế giới từ nửa đầu thế kỉ XX
- Liên Xô và các nước Đông Âu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
- Các nước Á – Phi – Mĩ La Tinh từ 1945 đến nay
- Sự ra đời và hoạt động của hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) và quốc tế cộng sản (quốc tế thứ 3)
- Ba trung tâm kinh tế tài chính của thế giới (Mĩ, Nhật Bản, các nước Tây Âu)
- Quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay
- Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần 2
Phần lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử Việt Nam
2.1 Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 (lớp 8): ( Day 4 tiết )
-Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp từ 1858-1884
- Phong trào kháng chiến chống pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX -Khởi nghĩa Yên Thế và phong trào chống pháp của đồng bào miền núi cuối thế kỷ XIX
-Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
Chuyên đề 1 : Âm mưu xâm lược của pháp ,thái độ của nhà Nguyễn ,Cuộc kháng chiến chống pháp của nhân dân ta diễn ra như thế nào trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ?
* yêu cầu kiến thức cần đạt
- Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, thuộc địa, 01/09/2858 thực dân Pháp xâm lược nước ta tại Đà Nẵng Nhà Nguyễn yếu hèn không phối hợp với nhân dân để chống giặc ngoại xâm Vì quyền lợi giai cấp, nhà Nguyễn đã phản bội lợi ích của dân tộc lần lượt ký các hiệp ước đầu hàng (1862, 1874, 1883, 1884) Thực dân
Trang 10Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì, ba tỉnh miền Tây Nam Kì, mở rộng xâm lược Bắc Kì lần một (1873 – 1874), lần hai (1882 – 1884)
- Đối lập với triều đình nhà Nguyễn, nhân dân kiên quyết đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược
- Trước hành động xâm lược của liên quân Tây Ban Nha – Pháp, khiến cho nhân dân Đà Nẵng vô cùng căm phẫn đã nổi dậy đấu tranh, thực dân Pháp bị thất bại phải kéo quân vào Gia Định
- 1859 Pháp đánh vào Gia Định, phong trào kháng chiến nhân dân sôi nổi Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy tàu Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861)
+ Nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo đã làm địch thất điên bát đảo, ông được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái
+ Nhân dân sáu tỉnh Nam Kì nêu cao tinh thần quyết tâm kháng chiến chống Pháp Tấm gương Nguyễn Trung Trực trước kháng chiến ở miền Đông, sau sang miền Tây lập căn cứ ở Hòn Chông (Rạch Giá) Bị giặc bắt đem ra chém, ông đã khẳng khái tuyên bố “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
- Khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ 1 và lần thứ 2 cũng bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt Đã giết được tên Gác – ni – ê, Ri- vi – e và nhiều sĩ quan, binh lính Pháp
- Hưởng ứng chiếu Cần Vương có ba cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa
Ba Đình (1886 – 1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) đặc bieetj là khởi nghĩa Hương Khê (1885 -1895) Phong trào Cần Vương đã gây cho địch nhiều khó khăn, lúng túng nhưng cuối cùng bị thất bại Thất bại của phong trào Cần Vương chứng
tỏ ngọn cờ cứu nước theo phạm trù phong kiến không phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử
- Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884-1913) và phong trào đấu tranh chống Pháp của đồng bào miền núi cuối thế kỉ XIX quy mô quyết liệt, thời gian kéo dài đã gây cho địch nhiều thiệt hại song kết quả cũng lại bị thất bại Một lần nữa chứng tỏ giai cấp nông dân không đảm đương được sứ mệnh lịch sử
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam phân hoá sâu sắc Một số sĩ phu