Tuy có thể trồng được từ đường xích đạo đến vĩ tuyến 28-30o, nhưng chỉ có trung quốc, thái lan và việt nam trồng với quy mô đáng kể, không có số liệu về diện tích nhãn của trung quốc như
Trang 1MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: LƯỢT KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
1.1.1 Vị trí địa lý huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp 1.1.2 Điều kiện tự nhiên huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
1.2 Nguồn gốc
Nhãn cùng họ với cây Vải, Chôm Chôm Là cây á nhiệt đới
và cũng là cây nhiệt đới Tuy có thể trồng được từ đường xích đạo đến vĩ tuyến 28-30o, nhưng chỉ có trung quốc, thái lan và việt nam trồng với quy mô đáng kể, không có số liệu về diện tích nhãn của trung quốc nhưng nhãn đã là một đặc sản của nước này, đã có lịch
sử trên 2000 năm ở thái lan diện tích trồng 1986-1987 là 20.300
ha, sản lượng là 20.300 tấn ở việt nam diện tích trồng cuối những năm 80 khoảng 10.000 ha nhưng với phong trào trồng nhãn rộ lên mấy năm gần đây, diện tích hiện nay khoảng 20.000 ha và không
có số liệu đáng tin cậy về sản lượng (Vũ Công Hậu, 2000)
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1999), thì ở cả 2 miền Nam, Bắc của nước ta đều có trồng nhãn nhưng giống không giống nhau Đặc biệt ở miền nam hiện nay có nhiều giống nhãn hơn, trồng với mục đích kinh tế nhiều hơn: tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu…hiện có nhãn xuồng, nhãn tiêu da
bò, long nhãn, nhãn thường (hạt to, cơm mỏng).(nhan j? ten cac loại nhãn viết hoa)
Trang 21.3 Đặc tính nông học cây nhãn
1.3.1 rễ
Theo Trần Thế Tục (1999), dựa vào chức năng của rễ, với cây nhãn có thể chia 3 loại: rễ tơ (còn gọi là rễ hút), rễ quá độ và rễ vận chuyển căn cứ vào sự phân bố của bộ rễ có thể phân: rễ cọc và rễ ngang
Rễ hút: nằm ở vị trí cuối cùng (đầu mút) của rể, màu trắng trong như giá đậu xanh, đường kính rễ 1,5-2,0 micron các rễ hút đại bộ phận phát triển ở dầu ngọn của các rể đã thành thục hoặc từ các điểm sinh trưởng của các rễ cái Đặc biệt có một số rễ hút mọc ra từ các rễ già Loại rễ này có vị trí quan trọng trong đời sống của cây: làm nhiệm vụ hút nước và hấp thụ các chất dinh dưỡng để nuôi cây (Trần Thế Tục, 1999)
Rễ quá độ: rễ hút hình thành khoảng hơn một tháng thì
bó gỗ ở lõi phình to dần và gỗ hóa, màu sắc từ trắng trong chuyển sang nâu hồng, mô mềm ở ngoái nứt vỡ dần và mất
đi Khả năng hút nước của rễ yếu và kém dần, lúc này khả năng vận chuyển lại tăng lên, sau biến thành rễ vận chuyển (Trần Thế Tục, 1999)
Rễ vận chuyển: Rễ có màu nâu đỏ, sinh trưởng khỏe,
bó gỗ khá phát triển, chứa nhiều ta nanh, vỏ ngoài của rễ lúc này không còn mô mềm mà có những chấm nhỏ lồi lên ở những điểm lồi này có thể mọc ra những rễ hút mới chúc năng của rể lúc này là vận chuyển nước, dinh dưỡng… nên được gọi là rễ vận chuyển (Trần Thế Tục, 1999)
Trang 3Rễ nhãn cũng như rễ vải thuộc nhóm cây ăn trái có rễ nấm, rễ hút phình to, không có lông hút Nhờ có rễ nấm mà cây có thể thích nghi đươc với điều kiện đất đồi nghèo dinh dưỡng và thiếu nước có thể nói bộ rễ nhãn rất phát triển cấu tạo của bộ rễ gồm có rễ cọc và rễ ngang Sự phân bố của rễ
bị chi phối bởi tính chất đất, hình thức nhân giống, mực nước ngầm tại chỗ, kĩ thuật chăm sóc… thông thường rễ cọc
ăn sâu 2-3m, cá biệt sâu 5m, rễ ngang phân bố trong tầng đất 0-70cm dưới hình chiếu của tán cây Còn ở ngoài tán thì chỉ
ở tầng sâu 10-30cm rễ ngang có thể ăn xa gấp 2-3 lần hình chiếu của tán (Trần Thế Tục, 2000 )
1.3.2 thân
theo Trần Thế Tục (1999) mầm ngọn hay mầm nách của nhãn đều có thể phát triển thành cành Việc hình thành thân cành của nhãn có điểm khác với cây ăn quả khác là khi cây đã ngừng sinh trưởng mầm ngọn ở đỉnh được các lá kép rất non bọc lấy, gặp diều kiện ngoại cảnh thuận lợi mầm ở đỉnh này kéo dài thêm Qua các đợt lộc trong năm, cú mỗi đợt ở phần ngọn lại được bao bọc bởi các tầng lá kép, dần dần các lá này rụng đi để trơ ra một đoạn trống khiến chúng ta có thể dể phân biệt được các đợt lọc cành trong năm trên đoạn cành dài từ gốc đến ngọn tuy vậy trong mùa hè nhiệt độ, ẩm độ cao các đợt lộc cành mọc liền nhau, lá kép ở ngọn cũng ít rụng nên khó phân biệt hơn.nhưng cũng có thể phân biêt qua độ thành thực của cành, nàu sắc của nó và dể quan sát thấy là gốc mỗi đợt lộc cành thường có những là kép mà số lá chét ở đây rất ít Cành càng thành thục thì lớp vỏ cang cứng và thô, màu nâu sậm và trên vỏ cành có những đường vân nứt
Trang 4cây nhãn nhìn chung giống cây vải và chôm chôm Cây nhãn cao trung bình 5-10m, có cây cao đến 20m tán tròn đều khi trồng bằng hạt, cây có tan mọc thẳng hơn, vỏ thân sần sùi,
ít khi trơn láng như cây vải gỗ giòn hơn cây vải (Đường Hồng Dật, 2000)
1.3.4 lá
lá nhãn thuộc loại lá kép chân chim Lá đơn mọc đối xứng hay so le Đại bộ phân các giống nhãn có từ 3-5 đôi lá, có giống từ 1-2 đôi lá, thương gặp là 4 đội lá, 7 đôi lá trở lên là hiếm thấy lá nhãn hình mác, mặt lá đậm, lưng lá nhạt, cuống lá ngắn, gân chính và gân phụ nổi rõ Lá non màu đỏ, tím hay đỏ nâu tùy giống và thay đổi theo thời tiết mặt lá bằng, có giống biên lá hơi quăn Lá nhãn từ lúc bất đầu đến thành thục biến động trong khoảng thời gian 40-50 ngày tùy nơi trồng, diều kiện dinh dưỡng màu và mùa vụ tuổi thọ của lá là 1-3 năm Có thể căn cứ vào hình thái màu sắc của lá để phân biệt các giống (Trần Thế Tục, 1999)
1.3.5 Đặc tính hoa Nhãn
Theo Trần Thế Tục (1999) cấu tạo của chùm hoa: là loại hoa kép được cấu tạo bởi một trực chính và nhiều nhánh.Trên một chùm hoa có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm.(tên tác giả chú k fai tap chí khoa học) theo tạp chí khoa hoc năm 2008 phát hoa kéo dài và tăng trưởng nhanh trong 4 tuần đầu, tăng trưởng chậm khi bắt đầu nở hoa và đạt kích thước tối đa trong 37.6 ngày, tương ứng với thời điểm hoa nở tập chung
Trang 5Theo Trần Thế Tục (1999), Hoa nhãn gồm có 4 loại: hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây nhiều nhất là hoa đưc, rồi đến hoa cái, hoa lưỡng tính không nhiều và hoa dị hình càng ít
hoa đực: đường kính 4-5 micro, nhị cái thoái hóa, hoa có 5 cánh màu vàng nhạt, có 7-8 chỉ nhị và túi phấn xếp hình vòng Túi phấn dính vào đầu chỉ nhị Khi thành thục túi phấn nứt ra, phấn hoa tung ra ngoài để thụ phấn thụ tinh Hoa nở 1-3 ngày thì tàn
hoa cái: ngoại hình và độ lớn giống hoa đực, có 7-8 chỉ nhị, nhưng nhị đực đã thoái hóa Có hai bầu nhị kết hợp làm một, ở giữa có một nhụy khi thành thục đầu nhụy chẻ làm đôi, cong lại sau khi hoa cái nở, nhụy hoa tiết ra một loại dịch nước sau thụ phấn thụ tinh 2-3 ngày cánh hoa héo, bầu hoa phát triển, bầu có màu xanh
hoa lưỡng tính: hình thái hoa giống hoa đực và hoa cái, nhị đực và nhị cái của hoa phát triển bình thường, bầu thượng có khả năng thụ phấn thụ tinh để phát triển thành quả
hoa dị hình: một bộ phận nào đó của hoa phát triển không bình thường, ví dụ nhụy hoa không tách, chỉ nhị không phát triển, túi phấn không mở và không có khả năng tung phấn trong sản xuất hoa này không có ý nghĩa
1.3.6 trái
Trái thuộc loại phì quả, có đường kính 1-3 cm, màu xanh mờ khi còn non, khi trái chín có màu vàng sáng, nâu trắng hay xanh tùy giống chùm trái có thể mang đến 80 trái, trọng lượng thay đổi
Trang 6từ 5-20 g/trái (trọng lượng tốt nhất để bán tươi là 12-18 g/trái), vỏ
trái mỏng, láng hay dai (Dương Minh va ctv., 2001).
Trái có hình cầu, tròn dẹp, cân đối hay hơi lệch, đỉnh trái tròn, cuống trái hơi lõm Vỏ trái nhãn thường trơn nhẵn, cũng có giống hơi xù xì màu vàng xám hay nâu nhạc (Trần Thế Tục, 1999) Cơm trái (tử y) ít dính vào hột, có thể chiếm 75% trọng lượng trái
Vì cơm phát triển từ tế bào của tể hột do đó chỉ làm giảm kích thước hột chứ không làm tiêu hột hàm lượng đường tổng số của cơm trái thay đổi từ 15-25% khi chín (Đường Hồng Dật, 2000)
1.3.7 hột Kích thước hạt thay đổi tùy theo giống hạt tròn, đen Phần tể (nơi tiếp giáp của hạt với cuống quả) nứt ra có màu trắng nên gọi là long nhãn (mắt rồng) tuy vậy, một số giống nhãn không có đặc điểm này(đường hồng dật, 2000) Lá mầm trong hột màu trắng, có nhiều tinh bột, phôi màu vàng Độ lớn hột cũng rất khác nhau giữa các giống, thường từ 1,6-2,6g, chiếm 17,3-42,9% trọng lượng trái Cũng có giống nhãn hột rất bé, hầu như không có hột, do kết quả thụ tinh kém (Trần Thế Tục, 1999)
1.4 đặc điểm ra hoa, đậu trái và rụng trái non trên Nhãn
1.4.1 đặc điểm ra hoa, đậu trái
Sự nở hoa của các hoa trên một phát hoa được ghi nhận như sau: trên một chùm hoa, hoa cái nở trước và tập chung trong vòng
3 ngày, sau đó đến hoa đực hoa bất đầu nở ở gốc và giữa phát hoa, sau đó nở dần lên trên (Tạp Chí Khoa Học của Trần Văn Hâu và
Trang 7Huỳnh Thanh Vũ 2008).(k có tên tạp chí trong đây, 2006 chứ k fair 2008)
Theo trần văn hâu, 2008 hoa nở bắt đầu bằng sự nứt lá đài lúc 19:05 tối đến 3:00 sáng ngày hôm sau bắt đầu nhú vòi nhụy đến 8:28 sáng lá đài nở ra nhưng chưa nở tối đa Nướm nhụy nứt ra lúc 5:10 sáng thứ ba, đông thời lá đài nở hoàn toàn và cánh bất đầu
nở đến 15:00 chiều cùng ngày cánh hoa bất dầu rụng như vậy thời gian từ nứt đài đến rụng cánh hoa diễn ra trong vòng 3 ngày Hoa
nở vào ban đêm, nhưng vòi nhụy nhú ra và có khả năng thụ phấn vào ban ngày, lúc này có rất nhiều côn trùng hoạt động giúp cho quá trình thụ phấn diễn ra gặp nhiều thuận lợi
1.4.2 đặc điểm rụng trái non trên Nhãn
theo (Othman, 1995) được trích dẫn bởi Trần Văn Hâu (2008) cho rằng yếu tố môi trường ảnh hưởng rất quan trọng đến
sự ra hoa và đậu trái Mưa nhiều trong thời kỳ ra hoa làm cho hoa
bị rụng điều kiện khí hậu nóng và khô làm cho tỉ lệ đậu trái thấp
và làm rụng trái non Nhiệt độ thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái nhãn ở Thái Lan từ 20-25oC, nhiệt độ trên 40 oC làm trái bị thiệt hại
và gây ra sự rụng trái non Việc thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là đạm
và kali, cũng gây ra sự rụng trái, trái nhỏ và phẩm chất kém (Menzel và ctv., 1990 và được Trần Văn Hâu trích dẫn 2008) Thời gian đậu trái nhãn đòi hỏi ẩm độ đất cao Tùy thuộc và từng giống
và điều kiện khí hậu, thời gian từ khi thụ phấn đến khi thu hoạch khoảng 3,5-4,0 tháng Nếu gập điều kiện thời tiết bất lợi, trái đậu đợt thứ ba thì thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ 15-20 ngày Hoa nhãn được sinh sản rất nhiều nhưng tỉ lệ đậu trái thấp và thường rụng vào giai đoạn 2 tuần sau khi đậu trái (khi trái non có
Trang 8đường kinh khoảng 1 cm) và khi trái bất đầu phát triển thịt trái (2 tháng sau khi đậu trái) (Trần Văn Hâu, 2008)
Trên giống nhãn xuồng cơm vàng từ khi đậu trái đến khi thu hoạch là 12 tuần, trong đó, hạt phát triển nhanh từ tuần thứ ba và đạt kích thước tối đa vào tuần thứ bảy, thịt trái phát triển từ tuần thứ sáu đến tuần thứ 11 sự tăng trưởng nhanh của trái đồng thời vớ
sự phát triển của thịt trái.( Trần Văn Hâu, 2008)
1.5 đặc tính sinh thái
1.5.1 nhiệt độ
Theo menzel và simpson,1994 được trích dẫn bởi trần vân hâu
2008 nhãn là loại cây á nhiệt đới, phát triển rất tốt trong điều kiện nhiệt đới, tuy
8-10 tuần để kích thích sự ra hoa và theo sau là điều kiện nhiệt độ cao trong mùa xuân cho hoa phát triển nếu nhiệt độ thấp kéo dài mầm hoa hình thành nhưng không phát triển được do đó phát hoa nhãn chỉ phát triển vào mùa xuân khi thời tiết bất đầu ấm trở lại ở ĐBSCL thời tiết lạnh thường xuất hiện vào tháng 12-1
và nóng vào tháng 2-3 đây là điều kiện thích hợp cho cây nhãn ra hoa ( trần văn hâu, 2008) Mùa đông tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau cần có một thời
Lúc nhãn ra nụ, gặp năm có nhiệt độ cao, lá ở chùm hoa phát sẽ ảnh hưởng đến
gặp nhiệt độ thấp việc thụ tinh sẽ gặp trở ngại dẫn đến năng suất thấp mùa thu hoạch trái có nhiệt độ cao, phẩm chất trái sẽ tốt.
1.5 2 mưa và độ ẩm Lượng mưa từ 1300-2000 mm/năm, tức là không khô hãn quá cũng như không mưa nhiều quá Mực nước ngầm khoảng 1,2m (Nguyễn Thị Ngoc ẩn, 1999).
cần nước để phân hóa mầm hoa và đặc biệt là thời kì trái phát triển sau thu
Trang 9hoạch quả và mùa đông nhãn ít cần nước hơn Thời kỳ ra hoa và trái chín không cần nhiều nước, trái lại mùa sinh trưởng mạnh của rễ (tháng 6-8) thì cần có mưa
và đủ nước nhãn là cây chịu hạn nhưng nếu bị ngập nước 3-5 ngày cũng không
bị ảnh hưởng nhiều so với các cây ăn quả khác.
Độ ẩn không khí thích hợp 70-80%.
1.5 3 đất đai Đất nào trồng nhãn cũng được, miễn không phải là đất bạc màu, khô hạn, không thoát nước, không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn ở việt nam, người
ta thường để dành đất tương đối tốt để trồng nhãn, chẳng hạn như đất cát, đất phù sa…, đất trồng nhãn pH thích hợp trong khoảng 5-7 Nếu đất tốt, chất đất tơi xốp, cây sinh trưởng càng mạnh, cây to, sống lâu và cho nhiều trái ở những nơi đất thấp, thoát nước kém, sau những trận mưa to, nhãn dễ bị thối, cây nhãn dễ chết do bộ rễ nhãn ăn sâu gặp nước ứ (Nguyễn Thị Ngoc ẩn, 1999).
1.5.4 gió Theo giáo trình cây ăn trái của Trần Thế Tục (2000) thì cho rằng gió tây và bão gây hại nhiều cho nhãn Gió tây thường gây nóng, khô hạn làm trái kém phát triển và rụng trái Ngoài ra gió bão sớm ở miền bắc có thể gây rụng trái, gãy cành, gãy cây, gây tổn thất lớn cho vườn nhãn để khắc phục có thể tỉa cành tạo táng cho cây, trồng mật độ thích hợp, trồng cây chắn gió…
1.5.5 ánh sáng Theo Nguyễn Thị Ngọc ẩn, 1999 phải đáp ứng 2400 giờ/năm Nhãn cần đầy đủ ánh sáng, cần thoáng so với vải cây nhãn thích râm hơn Trong quá trình sinh trưởng phát triển thích ánh sáng tán xạ nhất là thời
kì cây con Vì vậy ở thời kì cây con nên có giàn che để cây sinh trưởng được tốt (theo giáo trình cây ăn trái của Trần Thế Tục, 2000
1.6 quy trình canh tác
1.6.1 Chăm sóc cây trước xử lý ra hoa
- Cắt bỏ những cành vượt, cành sâu bệnh, cành khuất tán
Trang 10- Thâu ngắn cành cho trái (cắt bỏ nhánh cho trái từ 20-40 cm) tính
từ ngoài vô thân , kết hợp với tạo tán cây cho tròn đều
- Xới gốc, phơi nắng từ 3 ngày (nắng tốt), hoặc 1 tuần nêu thiếu nắng.
- Bón phân cho cây tùy tình trạng cây trong vườn, trung bình bón khoảng 0,5 kg phân hổn hợp NPK (13-13-13-TE) và urea theo tỉ lệ 2:1) sau khi bón phân tưới đều cho phân tan và ngấm vào đất.
- Phun thuốc hổ trợ ra đọt bằng ComCat theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất
- Thường xuyên theo dõi vườn, khoảng 10 ngày sau thâu cành sẽ
ra tược non, phun ngừa sâu đục thân, sâu ăn lá… cho đến khi lá chuyển sang lụa.
- Tuyển đọt, đây là khâu rất quan trọng đến tỉ lệ ra hoa và cho trái
về sau Chú ý nên chọn lại những chồi non phân bố đều trên cây, chồi mập, khỏe, lá đều không dị tật, nên chừa 3 chồi trên 1 nhánh.
1.6.2 Phương pháp xử lý ra hoa
Khi đọt non chuyển sang lá lụa (màu xanh đọt chuối) khoảng
30-35 ngày sau khi ra đọt.tiến hành:
(cho lượng thuốc vào 16-20 lít nước hòa tan thuốc hoàn toàn, tưới đều xung quanh tán cây cách gốc 50 cm, sau đó dùng thùng tưới thêm nước cho thuốc ngấm sâu vào đất.
khoanh rộng 3-5 mm.
o Ngưng tưới nước cho cây từ 10-15 ngày Sau đó tưới lại theo cử 3 ngày 1 lần.
Trang 11o Sau khi tưới thuốc 30-35 ngày cây sẽ nhú bông đều, lúc này giảm lượng nước tưới cho cây (1 tuần tưới 1-2 lần), nước trong mương phải rút cạn.
nuôi hoa Nên bón phân NPK (20-20-15) lượng 300 g/cây
thêm Ca-Bo (Canxi và Bo) hoặc F-Bo (Mai Xuân) giúp tăng đậu trái.
1.6.3 Sau khi đậu trái
thuốc trị bệnh cho cây (Ridomil gold 100 g/70 lít nước).
o Hạn chế rụng sinh lý (rụng trái non) phun GA 3 1 viên/ 70 lít nước + NAA 20 ppm.
hành bón phân gốc nuôi trái, bón NPK (20-20-15) với lượng 500gam/cây
g/cây
Chú ý:
nước + NAA 20 ppm) 3 lần sau khi đậu trái, định kỳ 7 ngày 1 lần.
- Giai đoạn 15-30 ngày trước khi thu hoạch, nhất là lúc trời có nhiều mưa bệnh thối trái phát triển mạnh, gây rụng trái non rất nhiều nên phun thuốc Ridomil gold (100 g/70 lít nước) ngừa bệnh.
1.7 các loại sâu và bệnh hại nhãn
1.7.1 ruồi đục trái (Dacus dorsalis)