1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum

69 758 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đặc Tính Nông Học Của 35 Giống Sorghum
Tác giả Phạm Huỳnh Thanh Vân
Người hướng dẫn Thầy Trần Văn Minh, Cô Hồ Thị Phương Thảo, Cô Phan Ngọc Duyên, Cô Nguyễn Thị Ngọc Giang, Cô Võ Thị Xuân Tuyền, Thầy Trịnh Hoài Vũ, Thầy Võ Lâm, Cô Lê Thị Thúy Hằng
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum ở hai điều kiện trong chậu và ngoài đồng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT - TNTN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA 35 GIỐNG SORGHUM Ở HAI ĐIỀU KIỆN TRONG CHẬU VÀ NGOÀI

ĐỒNG TẠI CHỢ MỚI VÀ TRI TÔN, AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài: PHẠM HUỲNH THANH VÂN

Long Xuyên, tháng 05 năm 2007

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn!

Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Nghiệp – TNTN, Phòng Hợp Tác Quốc Tế, Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, Bộ Môn Khoa Học Đất - TNTN và phòng Nông Nghiệp huyện Tri Tôn đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện đề tài.

Thầy Trần Văn Minh, Cô Hồ Thị Phương Thảo, Cô Phan Ngọc Duyên, Cô Nguyễn Thị Ngọc Giang, Cô Võ Thị Xuân Tuyền, Thầy Trịnh Hoài Vũ, Thầy Võ Lâm, Cô Lê Thị Thúy Hằng, các Anh/Chị và các bạn đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Anh Trần Văn Chính (phòng Nông Nghiệp huyện Tri Tôn), các cựu sinh viên Khoa Nông Nghiệp – TNTN: Lê Phước Sang, Võ Thịnh Vượng, Lê Phước Thiện, Nguyễn Hoàng Hân và tập thể lớp DH3PN đã giúp đỡ tận tình trong quá trình thu thập số liệu Gia đình ông Lê Văn Ê, số 345 tổ 2, ấp Long An, xã Long Kiến Huyện Chợ Mới và gia đình Ông Trần Kim Bình Bình ấp Tô Lợi, xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, An Giang đã giúp

đỡ trong chúng tôi thực hiện thí nghiệm ngoài đồng.

Các cộng tác viên đã tận tình tham gia và hỗ trợ trong khi thực hiện đề tài, chân thành xin cảm ơn.

Trang 3

TÓM LƯỢC

Trong kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh An Giang giai đoạn 2005 – 2010, vấn đề nghiên cứu tìm ra những đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên đa dạng của tỉnh là vấn đề đang được tỉnh rất quan tâm Trước tình hình đó, đề tài “Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống shorgum ở hai điều kiện trong chậu và ngoài đồng tại Chợ Mới và Tri Tôn” được thực hiện nhằm và khảo sát các đặc tính nông học của 35 giống sorghum và tìm ra những giống có năng suất cao trong triển vọng trồng lấy thân lá, trồng lấy hạt và những giống có triển vọng về khả năng tái sinh, chịu ngập

35 giống sorghum được mã hoá theo thứ tự từ 1 đến 35 để thuận tiện cho quá trình bố trí thí nghiệm và trình bày số liệu Thí nghiệm ở điều kiện ngoài đồng được thực hiện tại hai huyện Chợ Mới và Tri Tôn, An Giang Thí nghiệm tại Chợ Mới các giống được trồng theo hàng (mỗi giống một hàng) Thí nghiệm tại Tri Tôn được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 nghiệm thức và 3 lập lại cho mỗi thí nghiệm lấy hạt và lấy thân Thí nghiệm trong chậu được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với lần lượt 8

và 9 nghiệm thức cho thí nghiệm khảo sát khả năng chịu ngập và tái sinh

Kết quả thí nghiệm ngoài đồng cho thấy 35 giống sorghum có thể chia thành 3 nhóm chính dựa chủ yếu vào các đặc tính nông học: nhóm 1 bao gồm 10 giống trồng để lấy thân

lá (giống 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10), nhóm 2 bao gồm 11 giống có triển vọng trong việc trồng lấy hạt (giống 13, 15, 16, 17, 18, 22, 24, 25, 26, 34) và nhóm 3 bao gồm 14 giống (giống 11, 12, 14, 19, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31, 32), các giống thuộc nhóm 3 có đặc tính nông học rất khác biệt (thân cao, khả năng cho hạt kém, một số giống thân có vị ngọt) Trong bộ 10 giống thuộc nhóm 1, các giống 2, 5, 9 là những giống có triển vọng phù hợp với hướng trồng để lấy thân lá làm thức ăn cho gia súc vì có đặc tính nông học tốt và năng suất cao Trong bộ 11 giống thuộc nhóm 2, hai giống 24 và 34 có triển vọng trong việc trồng lấy hạt Các giống 22, 24, 14, 3 có hàm lượng vật chất khô thân, lá cao Giống có hàm lượng protein thân cao nhất là giống 14, hàm lượng protein lá cao nhất là giống 33, 2 Các giống đối chứng và giống 22 có khả năng chịu ngập cao và khả năng tái sinh ở thời điểm 70 NSKG cho kết quả tốt hơn tái sinh ở thời điểm thu hoạch

Tóm lại từ hai nhóm thí nghiệm trong chậu và ngoài đồng, kết quả cho thấy giống 2 là giống có triển vọng để lấy thân lá đồng thời là giống có hàm lượng protein lá khá cao Giống 24 có năng suất hạt cao đồng thời là giống có hàm lượng vật chất khô thân, lá cao

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG I

I MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1 Thí nghiệm ngoài đồng

1.2 Thí nghiệm trong chậu

2 Nội dung thí nghiệm

2.1 Thí nghiệm ngoài đồng

2.2 Thí nghiệm trong chậu

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1 Đối tượng

2 Phạm vi nghiên cứu

III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận

1.1 Các yếu tố khí hậu và đất đai đồi núi ở An Giang

1.1.1 Khí hậu

1.1.2 Sự phân bố đất đồi núi ở An Giang

1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong tỉnh An Giang

1.3 Sơ lược về sorghum

1.3.1 Tên gọi

1.3.2 Nguồn gốc và sự phân bố

1.3.3 Đặc điểm nông học và chu kì sinh trưởng

1.3.4 Các yêu cầu sinh thái

1.3.5 Yêu cầu về phân bón

1.3.6 Độc tố acid prussic (hydroxyanua, HCN)

1.3.7 Giá trị dinh dưỡng của sorghum

1.3.8 Công dụng của sorghum

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thí nghiệm ngoài đồng

2.1.1 Thí nghiệm tại Chợ Mới

2.1.2 Thí nghiệm tại Tri Tôn

Chỉ tiêu theo dõi

Trang 5

2.2 Thí nghiệm trong chậu

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3 Phân tích số liệu

CHƯƠNG II

I.THÍ NGHIỆM NGOÀI ĐỒNG

1.Thí nghiệm tại Chợ Mới

1.1 Nhóm 1 – nhóm lấy thân lá

1.1.1 Đặc tính nông học

1.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng

1.2 Nhóm 2 – nhóm lấy hạt

1.2.1 Đặc tính nông học

1.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng của 11 giống thuộc nhóm 2

1.3 Nhóm 3

1.3.1 Các đặc tính nông học

1.3.2 Các giai đoạn sinh trưởng

1.4 Tình hình sâu bệnh

2 Thí nghiệm tại Tri Tôn

2.1 Thí nghiệm 1 – nhóm lấy thân lá (sudangrass)

2.1.1 Đặc điểm nông học

2.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển

2.1.3 Tình hình sâu bệnh

2.2 Thí nghiệm 2 - nhóm lấy hạt

2.2.1 Đặc tính nông học

2.2.2 Năng suất hạt

2.2.3 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống

2.2.4 Tình hình sâu bệnh

II THÍ NGHIỆM TRONG CHẬU

1 Ghi nhận tổng quát

1.1.Khí hậu

1.2 Tình hình sâu bệnh

1.3.Thời gian sinh trưởng của các giống thí nghiệm

Trang 6

2 Thí nghiệm 1: So sánh năng suất và khả năng chịu ngập của 8 giống sorghum

2.1 Các đặc tính nông học

2.2 Hàm lượng protein và vật chất khô

2.3 Năng suất

2.4 Khả năng chịu ngập

2 Thí nghiệm 2: So sánh năng suất và khả năng tái sinh của 9 giống sorghum

2.1 Tái sinh thời điểm 70 NSKG

2.1.1 Tăng trưởng chiều cao của các giống

2.1.2 Tăng trưởng số chồi

2.1.3 Năng suất

2.1.4 Hàm lượng vật chất khô, protein trong thân và lá của các giống ở thời điểm 70 NSK

2.2 Tái sinh tại thời điểm thu hoạch

2.2.1.Tăng trưởng chiều cao của các giống

2.2.2 Tăng trưởng số chồi của các giống

2.2.3 Năng suất thân lá, hạt của các giống tại thời điểm thu hoạch

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

I KẾT LUẬN

1 Thí nghiệm ngoài đồng

1.1 Thí nghiệm tại Chợ Mới

1.1.1 Nhóm 1 (giống 1, 2, 3, 4, 5, 6 ,7 ,8 , 9, 10)

1.1.2 Nhóm 2 (giống 13, 15, 16, 17, 18, 22, 23, 24, 25, 26, 34)

1.1.3 Nhóm 3 (giống 11, 12, 14, 19, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 35)

1.2 Thí nghiệm tại Tri Tôn

1.2.1 Nhóm 1 – nhóm lấy thân lá

1.2.1 Nhóm 2 – nhóm lấy hạt

2 Thí nghiệm trong chậu

II KIẾN NGHỊ

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG Stt Tên bảng Trang

Bảng 30: Tăng trưởng số lượng chồi của các giống ở vụ tái sinh 1H 43

Bảng 31: Năng suất thân, lá, hạt (g/chậu) của các giống ở vụ tơ H, tái sinh 1H 44

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ Stt Tên biểu đồ Trang Biểu đồ 1 : Số lá của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST……… 15

Biểu đồ 2 : Số chồi của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST……… 15

Biểu đồ 3 : Chiều cao chồi chính của 10 nhóm 1 ở các GĐST……… 16

Biểu đồ 4 : Đường kính chồi chính của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST ……… 16

Biểu đồ 5 : Chiều dài và chiều rộng phát hoa của 10 giống nhóm 1 ……… 16

Biểu đồ 6 : các giai đoạn sinh trưởng của các giống thuộc nhóm 1 ……… 17

Biểu đồ 7 : Số lá của 11 giống lấy hạt ở các GĐST……… 18

Biểu đồ 8 : Số chồi của 11 giống lấy hạt ở các GĐST……… 18

Biểu đồ 9 : Đường kính chồi chính của 11 giống lấy hạt ở các GĐST……… 19

Biểu đồ 10 : Chiều cao chồi chính của 11 giống lấy hạt ở các GĐST……… 19

Biểu đồ 11 : Chiều dài và chiều rộng phát hoa của 11 giống thuộc nhóm 2 ………… 20

Biểu đồ 12 : Các giai đoạn sinh trưởng của 11 giống thuộc nhóm lấy hạt ……… 20

Biểu đồ 13 : Số lá của 14 giống nhóm 3 ở các GĐST……… 21

Biểu đồ 14 : Số chồi của 14 giống thuộc nhóm 3 ở các GĐST…… 21

Biểu đồ 15 : Đường kính chồi chính của 14 giống ở các GĐST……… 22

Biểu đồ 16 : Chiều cao chồi chính của 14 giống ở các GĐST……… 22

Biểu đồ 17 : Chiều dài và chiều rộng phát hoa của 14 giống nhóm 3 ……… 22

Biểu đồ 18 : Các giai đoạn sinh trưởng của các 14 giống nhóm 3 ……… 23

Biểu đồ 19 : Các giai đoạn sinh trưởng của 10 giống thuộc nhóm 1 tại Tri Tôn …… 28

Biểu đồ 20 : Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của 10 giống nhóm 2 ………… 32

Biểu đồ 21 : Tăng trưởng chiều cao của các giống sorghum ……… 34

Biểu đồ 22 Số chồi ở giai đoạn 30 NSKG ……… 34

Biểu đồ 23 Thời gian chịu ngập của các giống ……… 37

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 : Chồi, lá và dạng hoa/hạt của các giống nhóm 1 ……… 14Hình 2 : Hiện tượng đổ ngã (Giống 10) ……… 15Hình 3 : Các dạng kết hạt (nhặt và thưa) của phát hoa các giống nhóm 1 ……… 16Hình 4 : Màu sắc hạt và một số dạng phát hoa của các giống nhóm 2 ………… 18Hình 5 : Các giống nhóm 2 có khả năng tái sinh cao sau khi thu hoạch ………… 19Hình 6 : Chiều cao giống 27 và 14 so với chiều cao cán bộ nghiên cứu ………… 22Hình 7 : Một số dạng phát hoa của các giống thuộc nhóm 3 ……… 23Hình 8 : Giai đoạn tạo hạt của giống 24 ……… 31Hình 9 : Sự gây hại của châu chấu và bọ xít hôi ……… 32

Trang 9

KÝ HIỆU VIẾT TẮT VÀ ĐỊNH NGHĨA

GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic product)

GĐST Giai đoạn sinh trưởng

TGST Thời gian sinh trưởng

Sudangrass Là những giống sorghum có thân lá mềm được trồng để lấy thân lá

làm thức ăn gia súc

Trang 10

Tri Tôn, huyện nằm về hướng tây nam của Tỉnh An Giang, đất sản xuất còn nhiều hạn chế, hầu hết bị nhiễm phèn nên điều kiện sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Trong đó, đất ruộng trên là loại đất phân bố quanh chân núi, có hàm lượng dinh dưỡng thấp, việc sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn nước trời, do đó, ở những vùng hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn chỉnh, chưa cung cấp được nước tưới trong mùa khô, thì việc tìm kiếm đối tượng cây trồng thích hợp với điều kiện canh tác trên đất ruộng trên, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế là vấn đề mà huyện Tri Tôn quan tâm Thêm vào đó, đối tượng canh tác tại đất ruộng trên đa phần là đồng bào dân tộc Khmer, với trình độ học vấn thấp, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, tất cả đã gây ít nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế vùng

Kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn An Giang trong giai đoạn (2005 – 2010) là phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp bình quân hàng năm từ 2 – 3 %, trong nội bộ ngành nông nghiệp thì sẽ tăng tỷ trọng chăn nuôi từ 8,2 % (năm 2004) lên 11,5 % (năm 2010) Riêng huyện Tri Tôn phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế GDP bình quân hàng năm từ 10 - 10,5% trong đó kinh tế nông nghiệp chiếm 48 % và huyện xác định chăn nuôi bò là một trong những hướng phát triển kinh tế chính của huyện (UBND huyện Tri Tôn, 2005)

Sorghum là loại cây thức ăn có khả năng chịu hạn và chịu được ngập, năng suất thân

lá cao và có giá trị dinh dưỡng có thể dùng cung cấp thức ăn cho bò trong suốt mùa lũ Sorghum có nhiều giá trị sử dụng: thân lá làm thức ăn cho gia súc Hạt sorghum sau khi làm sạch vỏ và cám được dùng làm thức ăn cho người thay gạo, từ hạt sorghum có thể sản xuất ra nhiều loại rượu hay nghiền thành bột làm bánh Trong chăn nuôi hạt sorghum dùng thay thế một phần ngô để sản xuất thức ăn tinh cho gia súc Do có tác dụng về nhiều mặt nên sorghum được trồng để lấy thân lá, lấy hạt, hay lấy đường (Nguyễn Văn Khôi và Dương Hữu Thời, 1981)

Để đạt được chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn An Giang trong giai đoạn 2005 – 2010 và góp phần vào việc phát triển được nền kinh tế ổn định, bền vững đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp chúng ta cần đa dạng cơ cấu cây trồng vật nuôi, do vậy đề tài “Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống sorghum ở hai điều kiện trong chậu và ngoài đồng tại Chợ Mới và Tri Tôn An Giang” được thực hiện

Trang 11

I MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1 Thí nghiệm ngoài đồng

- Nhân giống và khảo sát đặc tính tổng quan nông học và các giai đoạn sinh trưởng của 35 giống sorghum nhằm bước đầu tuyển chọn những giống có triển vọng

- Tuyển chọn những giống có năng suất thân lá và có năng suất hạt cao

1.2 Thí nghiệm trong chậu

- Tuyển chọn các giống sorghum có khả năng chịu ngập, khả năng tái sinh và các giống có giá trị dinh dưỡng cao

2 Nội dung thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí tại Tri Tôn để khảo sát đặc tính nông học và năng suất (thân

lá, hạt) của những giống được đánh giá là có triển vọng từ thí nghiệm tại Chợ Mới, nhằm tuyển chọn những giống năng suất thân lá, hạt cao trong điều kiện thực tế ngoài đồng

2.2 Thí nghiệm trong chậu

Thí nghiệm được thực hiện trong chậu tại trường Đại Học An Giang nhằm khảo sát về khả năng chịu ngập, khả năng tái sinh và hàm lượng dinh dưỡng của một số giống được đánh giá là có triển vọng qua thí nghiệm tại Chợ Mới

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng

35 giống sorghum được cung cấp từ bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Trường Đại Học

An Giang Bộ giống này có nguồn gốc từ ICRISAT, Viện Nghiên Cứu Cây Trồng Quốc Tế Cho Vùng Bán Khô Hạn Nhiệt Đới (International Crops Research Institute for the Semi – Arid Tropics)

2 Phạm vi nghiên cứu

Thí nghiệm trong chậu được thực hiện tại khu B, trường đại học An Giang

Thí nghiệm ngoài đồng được bố trí tại hai huyện Chợ Mới và Tri Tôn, An Giang

III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 12

An Giang cao và rất ổn định Nhiệt độ trung bình năm là 27oC, cao nhất 35o – 36oC vào tháng 4 – 5, thấp nhất từ 20o – 21oC vào tháng 12 và tháng 1 (Vô danh, 2002).

1.1.2 Sự phân bố đất đồi núi ở An Giang

Theo Ủy Ban Nhân Dân tỉnh An Giang (2003), đất đồi núi ở An Giang phân bố chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên Thành phần thuộc loại cát pha sét Đất hầu như không

có độc tố nhưng hàm lượng chất hữu cơ thường rất thấp từ 0,2 – 1,08% ở tầng bên dưới Theo Nguyễn Bảo Vệ (2001), thế mạnh của vùng đất cao nhiều cát là nhờ có địa hình cao nên đất không bị ngập trong mùa mưa, mực thủy cấp sâu trong đất và đất có tầng canh tác dày; có hàm lượng cát cao nên đất tơi xốp, thoát nước tốt, khô ráo nhanh và thông thoáng; nhất là đất không có độc chất Chăn nuôi bò làm sức kéo, lấy thịt, phân chuồng và trồng rau màu trong mùa mưa là thế mạnh của đất này nên cần được khai thác đúng mức,

để cây trồng và vật nuôi đạt năng suất cao, nhất là vùng ven chân núi

1.2 Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong tỉnh An Giang

Chủ trương chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn của tỉnh An Giang cho 2 huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên ở vùng ruộng trên có thể áp dụng 1 trong 4 hệ thống: đồng

cỏ chăn nuôi bò, đậu xanh Hè Thu + lúa mùa (KDM105), chuyên rẫy màu Hè Thu – màu Thu Đông, chuyên rẫy khoai mì (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn An Giang, 2001)

1.3 Sơ lược về sorghum

Trang 13

Theo ghi nhận của Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005) ở nước ta có 2 loại sorghum trồng

quan trọng đó là: Sorghum vulrare Pers (S.bicolor/L./Moench) trồng để lấy hạt, rơm tươi có thể dùng để ủ chua, và S sudanese (Piper) Stapf là cây thức ăn đồng cỏ, tuy nhiên hạt của

nó vẫn có thể sử dụng làm thức ăn gia súc

1.3.3 Đặc điểm nông học và chu kì sinh trưởng

Sorghum có rễ chùm, gồm rễ con và rễ thứ cấp mọc nhiều và sâu hơn rễ bắp, thân đặc

có cấu tạo bởi nhiều lóng và mắt, mắt mang lá và chồi ngầm, ở gốc thân lóng và chồi có thể phát triển thành gié Lá ôm bọc xen dính vào thân bằng bẹ, có lớp trắng mốc do lớp sáp bao phủ giúp cây kháng hạn Phát hoa là chùm tụ tán tận ngọn, chùm hoa mang nhiều gié, có nhiều gié hoa mộc thành từng cặp Một gié có cuống và một gié không cuống, chỉ trừ ngọn

có ba gié hoa Sorghum là loại cây hữu thụ, tuy nhiên có khả năng giao phấn chéo với tỷ lệ

6 - 10 % (Đào Duy Đông, 1978)

Sorghum có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, khoảng 90 – 100 ngày Như vậy, trên cùng một mảnh đất, có thể trồng liên tiếp 3 vụ trong 1 năm Thông thường, trồng vào đầu mùa mưa, trồng để lấy thân lá thì gieo dày, còn trồng để lấy hạt thì gieo thưa, từng hốc một (Nguyễn Đăng Khôi Và Dương Hữu Thời, 1981)

1.3.4 Các yêu cầu sinh thái

Theo Nguyễn Văn Trương và Trịnh Văn Thịnh (chủ biên) (1991), sorghum là cây ngắn ngày, gốc ở vùng nhiệt đới, có yêu cầu nhiệt độ gần giống ngô: hạt không mọc ở 0oC, mọc rất chậm ở 10oC, sinh trưởng thích hợp nhất ở 30oC Yêu cầu về nước ít hơn ngô và lúa, là do lá có màng bóng dầy, khí khổng nhỏ, rễ đâm sâu và rộng Để sản xuất ra 1 kg chất khô sorghum chỉ cần 270 kg nước, ngô 350 kg, lúa 682 kg Tuy nhiên, sorghum cần đất đủ

ẩm để nảy mầm và đủ lượng nước để tạo hạt, sorghum có khả năng chịu mặn hơn lúa Theo Nguyễn Đăng Khôi và Dương Hữu Thời (1981) sorghum có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên cây ưa đất có độ màu mỡ cao, tầng canh tác sâu, khả năng thoát nước tốt, phát triển trên đất pha sét tốt hơn trên cát Nói chung, loại đất nào trồng được ngô thì trồng được sorghum, nhưng do hệ rễ phát triển mạnh và sâu nên sorghum có khả năng chịu hạn tốt hơn Có thể trồng sorghum ở những nơi đất khô mà ngô không phát triển được Qua thực tiễn sản xuất cho thấy, sorghum có những đặc tính quý như: có khả năng chịu hạn cao đồng thời cũng chịu được úng, nhất là trong giai đoạn cuối; thích ứng rộng rãi với nhiều loại đất, với nhiều vùng khí hậu khác nhau

Trang 14

Sudangrass là một loài cỏ hằng niên mọc thẳng đứng có chiều cao từ 122 – 244 cm

Nó thích nghi rộng với nhiều loại đất và khí hậu, pH từ 4,3 – 8,7 và chịu được hạn tốt (Farmseeds, 1999) Theo R Sattell và ctv (1998) sudangrass cần thời tiết ấm để phát triển

và sẽ chết vì lạnh trong điều kiện sương giá Nhiệt độ tối thiểu cho cho sự phát triển khoảng

15oC và nhiệt độ tối thích từ 24 – 32oC Mặt dù, sự sinh trưởng xảy ra tối đa với độ ẩm lớn, sudangrass còn chịu được hạn Nó cũng không bị tổn hại bởi cắt (tái sinh), pH cao, độ mặn

và một phần bóng râm

1.3.5 Yêu cầu về phân bón

Sorghum cần lượng đạm cao, trung bình một ha sản xuất 6,3 tấn hạt cần cung cấp 110

kg đạm nhưng chỉ 1 lượng tương đối lân và kali Đặc tính sinh trưởng của sorghum cũng tương tự như bắp nhưng có nhiều chồi bên ngoài hơn và hệ thống rễ thân sâu hơn nên khả năng hút các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sẽ cao hơn (Vô danh, 2006)

1.3.6 Độc tố acid prussic (hydroxyanua, HCN)

Một số đặc tính quan trọng cần lưu ý là sudangrass có chứa một hợp chất được gọi là dhurrin mà nó khi bị phá vở sẽ phóng thích acid prussic (hydroxyanua, HCN) Sudangrass thường có chứa dhurrin ở nồng độ thấp, đặc biệt ít gây chết cho động vật nuôi Những giống sorghum khác nhau có chứa hàm lượng acid prussic khác nhau Trong một giống, sudangrass ở giai đoạn còn non có hàm lượng dhurrin cao nhất, do đó không thích hợp làm thức ăn cho gia súc lúc cây có chiều cao ít hơn 46 – 50 cm Cây có màu xanh rất đậm thường chứa hàm lượng acid prussic cao hơn mức cân bằng Hầu hết acid prussic mất đi trong quá trình phơi khô, vì vậy cỏ khô và và thức ăn ủ chua ít khi có độc tố; ngược lại khi

sử dụng thức ăn tươi cho gia súc ăn thì có chứa độc tố (Dan Undersander, 2001)

Theo Farmerfirst (1997) và Dan Undersander (2001) cho rằng, acid prussic có thể gây hại cho động vật nuôi, do vậy khi sử dụng sudangrass làm thức ăn cho gia súc cần chú ý những vấn đề sau:

Trước khi chăn thả nên cho gia súc ăn bắp hoặc cỏ khô, để giảm bớt tốc độ hình thành acid prussic trong dạ cỏ

Không nên cho gia súc ăn khi cây có chiều cao thấp hơn 50 – 60 cm

Vì hàm lượng acid prussic tập trung cao nhất khi cây sudangrass còn tươi Do đó để hạn chế hàm lượng acid prussic (độc tố toxin) nên cho gia súc ăn dưới dạng ủ xanh vì khi

đó chất axit HCN đã bị phân huỷ bởi các men

Trang 15

Không nên cắt tươi một khối lượng lớn lá và những phần còn lại của thức ăn để qua đêm, vì sự sinh nhiệt xảy ra sẽ là nguyên nhân phóng thích acid prussic và làm cho thức ăn

có thể có nhiều độc tố

1.3.7 Giá trị dinh dưỡng của sorghum

Về giá trị dinh dưỡng và thành phần hóa học trong thân lá tươi của sorghgum có: 2,4% protein (protein tiêu hóa chiếm 1,4%), 0,7% lipid (lipid tiêu hóa chiếm 0,3%), 12% glucid (glucid tiêu hóa chiếm 8,1%), và xenlulô 6,6% (xenlulô tiêu hóa chiếm 3,7%) (B,H.Duclos, 1967)

Theo Nguyễn Văn Thưởng (2003) trong 1 kg thức ăn rơm sorghum có năng lượng trao đổi là 1426 kcal, protein tiêu hóa là 17 gram; hàm lượng các chất dinh dưỡng (g/kg): chất khô 800g, protein thô 46g, lipit 18g, xơ 247g, dẫn xuất không đạm 409g, Canxi 3,00g, Phôtpho 1,200g

1.3.8 Công dụng của sorghum

Theo Farmerfirst (1997), sudangrass có thể sử dụng làm thức ăn gia súc cho việc chăn thả trực tiếp gia súc ngoài đồng, thức ăn tươi, hoặc sử dụng làm cỏ khô, hoặc ủ chua,…Sudangrass có thể cắt liên tục làm thức ăn khi cây cao từ 50 – 60 cm

Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005) sorghum sử dụng làm thức ăn gia súc có nhiều giống và có thể xếp thành 3 nhóm: các giống sorghum làm thức ăn gia súc thường: cây cao khá to, nước ở thân hơi ngọt, thường được dùng làm thức ăn ủ chua, cắt vào lúc bắt đầu ngậm sữa, sau đó có thể thu hoạch thêm một lứa tái sinh Các giống sorghum Sudan và Sudan lai: cây mãnh nhưng nhiều cây, thân cao 160 – 200 cm vào cuối giai đọan ra hoa Các giống này ngắn ngày, tái sinh mạnh, vụ hè có thể cho 3 – 4 đợt thu họach (khi cây con

50 – 60 cm) để chăn thả hoặc cắt Lứa đầu khai thác sau khi gieo 50 – 60 ngày

Sorghum ngoài công dụng làm thức ăn chăn nuôi nó còn là cây lương thực quan trọng nhất ở những vùng nóng và khô hạn như Châu Phi và một phần Trung Quốc, Ấn Độ Thành phần dinh dưỡng chính trong hạt sorghum có 10 – 13% nước; 70 – 75% gluxid; 8 – 10% protid; 2,6 – 3,9% lipid (Nguyễn Văn Trương và Trịnh Văn Thịnh, 1991)

Việt Nam chủ yếu dùng các loại nguyên liệu cung cấp tinh bột trong thức ăn gia súc như: cám, gạo, tấm, bắp, khoai mì, khoai lang… giá cả tùy thuộc vào khả năng cung cấp, mùa vụ thu hoạch Do chăn nuôi ở các tỉnh phía Nam đang phát triển mạnh nên nguồn cung cấp cám, gạo, bắp… không đủ đáp ứng, chúng ta có thể nghĩ tới những nguồn cung cấp

Trang 16

khác, ví dụ như cây sorghum (Sorghum bicolor (L.) Moench) còn gọi là lúa miến, bo bo,…

để làm phong phú và đa dạng nguồn cung cấp thức ăn (Trần Trọng Chiển, 2003)

Theo Mcguire Andy (2003) cho rằng, sudangrass còn có nhiều công dụng khác: Tích lũy Nitơ cho đất: sudangrass có hệ thống rễ mọc sâu và khả năng sản xuất cao, nên có thể lấy và tích lũy Nitơ trong rễ Vì vậy, một số Nitơ này sẽ là nguồn sẵn có cho cây trồng vụ tiếp theo khi phần rễ còn lại phân hủy

Ngăn chặn cỏ dại: khi được gieo trồng ở mật độ cao, sudangrass làm vụ mùa có hiệu quả cao Bên cạnh đó, là sự hạn chế cỏ dại, cây sudangrass chứa một lượng hóa chất nguyên chất mà nó có tác dụng ngăn chặn nhiều loại cỏ Rễ sudangrass tiết ra Sorgoleone, một chất hạn chế sự phát triển của cỏ

Làm vở đất cứng: bằng cách cắt sudangrass khi cây đạt tới chiều cao 92 – 122 cm, số lượng rễ sẽ gia tăng từ 5 – 8 lần so với cây chưa cắt Điều này, càng làm cho rễ ăn sâu hơn Nếu được quản lý tốt bằng phương này, susangrass sẽ cho một vụ mùa tốt nhất và quan trọng hơn là sẽ giúp phá vỡ đi cấu trúc đất đã bị chai cứng

Ngăn chặn bệnh và tuyến trùng: sudangrass sản xuất ra hóa chất dhurrin (đây là chất được hình thành từ hidroxyanua) mà nó có thể ngăn chặn mật độ của u (bướu) ở rễ và những loại tuyến trùng khác

Cải thiện chất lượng đất: sudangrass có thể thêm vào trong đất một lượng lớn vật chất hữu cơ Khả năng này cộng với sự ăn sâu của hệ thống rễ, và phần rễ còn lại chứa trong đất có tác động đến bệnh và giun tròn, giúp cho sudangrass cải thiện đất triệt để

2 Phương pháp nghiên cứu

35 giống được mã hoá từ 1 – 35 trong tất cả các thí nghiệm trong chậu và ngoài đồng

để thuận tiện cho quá trình thí nghiệm và trình bày số liệu

Các thí nghiệm đều sử dụng bón phân khoáng theo công thức 120-60-60 với trình tự:

Trang 17

Thí nghiệm được tiến hành từ 12/ 2003 – 04/ 2004, tại ruộng ông Lê Văn Ê xã Long Kiến, Chợ Mới An Giang trên diện tích 500 m2

Vật liệu thí nghiệm

Giống: bao gồm 35 giống do Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, trường Đại Học An Giang cung cấp

Phân bón, thuốc trừ sâu bệnh (Vibam, Validacin, Actara,…)

Vật liệu khác: dây, cọc nhọn, nẹp tre, mủ ép, viết xóa, viết lông, bảng lấy chỉ tiêu…

Chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu về nông học và các giai đoạn tăng trưởng (các chỉ tiêu này được theo dõi chủ yếu trên chồi chính của cây)

Các chỉ tiêu về nông học

Mỗi giống chọn ba cây làm dấu để lấy chỉ tiêu, và chỉ tiêu được lấy trên ba cây này trong suốt thời gian thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

- Số lá: đếm tất cả các lá của chồi chính

- Số chồi: đếm tất cả các chồi của cây

- Đường kính chồi chính: đo đường kính chồi chính (đo tại khoảng giữa chiều dài cây)

- Chiều cao: tiến hành đo chiều cao chồi chính với hai phương pháp khác nhau phụ thuộc vào thời điểm sinh trưởng của cây

+ Khi cây chưa có bông, chiều cao cây được đo từ gốc chồi chính đến chóp lá cao nhất của chồi

+ Khi cây ra hoa, chiều chồi chính được đo từ gốc chồi đến chóp hoa

Thời gian lấy chỉ tiêu về sinh học là 7 /lần (lần tiến hành lấy chỉ tiêu đầu tiên khi cây được 15 ngày)

Chỉ tiêu về các giai đoạn sinh trưởng và phát triển

Giai đoạn sinh trưởng: theo dõi thời gian sinh trưởng của các giống từ khi gieo đến khi ra hoa

Giai đoạn phát triển: theo dõi thời gian phát triển của các giống từ lúc trổ hoa đến trổ hoàn toàn và từ trổ hoàn toàn đến chín

Quan sát tình hình sâu bệnh

Quan sát tổng quan diễn biến tình hình sâu bệnh trên ruộng thí nghiệm

Trang 18

2.1.2 Thí nghiệm tại Tri Tôn

Thí nghiệm được tiến hành từ 03 - 06/2006 tại ruộng của Ông Trần Kim Bình ấp Tô Lợi, xã Cô Tô, huyện Tri Tôn trên diện tích 2.000 m2

Vật liệu thí nghiệm

Đất canh tác: đất do sự giới thiệu của cán bộ nông nghiệp địa phương, đất gần ao hồ

để cung cấp nước tưới ở giai đoạn đầu của thí nghiệm (vào đầu mùa mưa)

Giống: gồm 20 giống, là những giống được đánh giá là có triển vọng từ nghiên cứu trước tại Chợ Mới Giống chia thành 2 bộ, bộ giống lấy thân lá (10 giống) và bộ giống lấy hạt (10 giống)

Bảng 1: Danh sách 10 giống sorghum lấy thân lá trồng thí nghiệm

Ghi chú: các giống ở bảng 1 có nguồn gốc giống từ Mỹ

Bảng 2 : Danh sách 10 giống sorghum lấy hạt trồng thí nghiệm

Kích thước hạt (cm)

Trang 19

Vật liệu lấy chỉ tiêu: dây, cọc nhọn, nẹp tre, mủ ép, viết xóa, viết lông, bảng lấy chỉ tiêu…

Dụng cụ phòng thí nghiệm: cân, bình hút ẩm, tủ sấy,…

bò (hoai) và đất lên trên sau đó dùng rơm tủ lên hốc, sau 10 ngày tiến hành tỉa cây mỗi hốc chừa lại 1 cây

Chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi chung cho cả hai thí nghiệm

Các chỉ tiêu và cách thu thập số liệu về nông học, các giai đoạn sinh trưởng và phát

triển, quan sát sâu bệnh tương tự như ở lần thí nghiệm tại Chợ Mới Tuy nhiên chỉ tiêu số

lá được quan sát là tổng số lá trên chồi chính và tất cả chồi phụ.

Quan sát sâu bệnh

Sâu: quan sát ngẫu nhiên trong 5 phút trong mỗi lô, đếm số lượng sâu quan sát được

sau đó phân loại

Bệnh: ghi nhận số cây bị bệnh trong mỗi lô, phân loại mô tả triệu chứng của mỗi loại

bệnh

Thời gian lấy chỉ tiêu về sinh học là 10 ngày/lần

Các chỉ tiêu theo dõi riêng biệt ở hai thí nghiệm

Thí nghiệm 10 giống thu hoạch thân lá

Năng suất tươi (sinh khối)

Trong mỗi lô (25m2), chọn 5 ô (1m2/ô), các ô này được bố trí theo hình chữ Z để lấy năng suất Việc lấy năng suất thực tế được tiến hành trên những ô này trong suốt giai đoạn thí nghiệm

Cây được cắt cách gốc 10 – 15 cm của tất cả 5 ô trong mỗi lô, cân trọng lượng tươi toàn thân của từng ô riêng biệt Sau đó cân riêng trọng lượng tươi của từng phần thân, lá.Các giai đoạn lấy chỉ tiêu gồm:

Lần 1: khoảng 50 – 60 ngày sau khi gieo (khi cây đạt 50 – 60 cm ở chiều cao trở lên

và chưa ra hoa)

Lần 2: khoảng 80 – 90 ngày sau khi gieo

Lần 3: khoảng 110 – 120 ngày sau khi gieo

Tính vật chất khô: (chỉ tính ở lần lấy chỉ tiêu năng suất tươi đầu tiên)

Trang 20

Trong mỗi ô (1 m2) thí nghiệm ngoài đồng lấy mẫu 200 gram bao gồm cả phần thân, gốc, ngọn và lá để đem về phòng thí nghiệm, mỗi ô 25 m2 lấy 3 mẫu (mỗi giống 15 mẫu) để tính vật chất khô Sấy mẫu ở nhiệt độ 1050C đến khi trọng lượng không đổi, VCK được tính theo công thức

Trọng lượng mẫu sau khi sấy

%VCK = x 100

Trọng lượng mẫu ướt ban đầu

Thí nghiệm 10 giống sorghum lấy hạt

Năng suất hạt

Trong mỗi lô (25 m2) lấy năng suất hạt của 5 m2, hạt sorghum sau khi thu hoạch được phơi khô, làm sạch và đo độ ẩm trước khi cân trọng lượng hạt, trọng lượng hạt sẽ được quy về độ ẩm chuẩn bằng công thức:

Wcân x (100 - ẩm độ đo lúc cân)

W(ẩm độ chuẩn (14%)) =

86

W (ẩm độ chuẩn (14%)): trọng lượng quy về ẩm độ chuẩn

Wcân: trọng lượng lúc cân

2.2 Thí nghiệm trong chậu

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Giống: 15 giống sorghum từ Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng cung cấp, được chia làm hai nhóm thí nghiệm:

+ Thí nghiệm 1: so sánh năng suất và khả năng chịu ngập của 7 giống

+ Thí nghiệm 2: so sánh năng suất và khả năng tái sinh của 8 giống và một giống đối chứng địa phương (Bảng 3)

Dụng cụ: chậu trồng cây đường kính 32 cm, dao, nước sơn, thước dây, thùng tưới nước, …Phân bón: (ure, kali, lân long thành), thuốc trừ sâu đục thân Basudin

Dụng cụ trong phòng thí nghiệm: bình cầu, bình tam giác, bình Kjeldahl,…

Bảng 3 : Danh sách các giống sorghum thí nghiệm

Trang 21

Sửa soạn đất: đất được chặt nhỏ và phơi, sau đó trộn với phân hữu cơ với tỉ lệ 3:1, cho đất trộn xong vào đầy chậu.

Gieo hạt: mỗi chậu gieo bốn hạt, dùng cọc tre rạch hàng cho hạt vào và lấp đất lại, sau 7 ngày tỉa bỏ cây chừa lại mỗi chậu hai cây

Chăm sóc: tưới nước mỗi ngày một lần Làm cỏ trong suốt quá trình thí nghiệm Vun gốc khi cây còn nhỏ

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1: so sánh năng suất và khả năng chịu ngập của 8 giống sorghum

Thí nghiệm bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên Tám nghiệm thức là 8 giống sorghum, bảy lần lặp lại Trong đó:

(a)Gồm bốn lần lặp lại: so sánh năng suất thân, hạt lúc thu hoạch

(b)Gồm ba lần lặp lại: so sánh khả năng chịu ngập

Thí nghiệm 2: so sánh năng suất và khả năng tái sinh của 9 giống sorghum

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 9 nghiệm thức là 9 giống và 7 lần lặp lại, trong đó:

(a) Gồm bốn lần lặp lại: so sánh năng suất, khả năng tái sinh tại thời điểm thu hoạch: cắt cây, thu hạt và thân, đồng thời tiếp tục theo dõi tái sinh thời điểm thu hoạch

(b) Gồm ba lần lặp lại: so sánh khả năng tái sinh lúc 70 ngày sau khi gieo (do số lượng giống không đủ nên giống 16 và giống 17 chỉ có 2 lần lập lại)

Các chỉ tiêu và phương thức theo dõi

Theo dõi ở cả hai thí nghiệm

Đo chiều cao: khi chưa có bông đo từ gốc cây đến chóp lá cao nhất của cây, khi cây ra hoa đo từ gốc cây đến chóp hoa, 15 ngày đo một lần

Số chồi: đếm tất cả các chồi của hai cây trên chậu, 15 ngày đếm một lần

Sinh khối: (năng suất thân) cân trọng lượng thân, lá sau khi thu mẫu.

Thí nghiệm 1: thu hai lần

Lần 1: 70 ngày sau khi gieo

Lần 2: tại thời điểm thu hoạch

Thí nghiệm 2: thu ba lần

Lần1: vụ tơ (70 ngày sau khi gieo)

Lần 2: vụ tái sinh 1(từ sau thu hoạch vụ tơ (lần 1) đến thu hoạch)

Tái sinh lúc thu hoạch: để cây sinh trưởng đến lúc hạt của cây chín, thu hoạch và để tái sinh

Năng suất hạt: (Phương pháp lấy chỉ tiêu giống thí nghiệm ngoài đồng)

Trang 22

Hàm lượng vật chất khô: phân tích hàm lượng chất khô trong thân lá sorghum ở thời điểm 70 ngày sau khi gieo (Phương pháp lấy chỉ tiêu giống thí nghiệm ngoài đồng).

Hàm lượng protein: phân tích bằng phương pháp Kjeldahl

Theo dõi ở thí nghiệm về khả năng chịu ngập

So sánh khả năng chịu ngập: 70 ngày sau khi gieo, mỗi giống lấy 3 chậu (3 lặp lại), được đặt vào trong bồn có khả năng giữ nước, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lặp lại Mỗi ngày cho

ngập lên 10cm, cho ngập cao 1,2 m và theo dõi các chỉ tiêu: chiều cao, số lá và thời gian

cây chết.

2.3 Phân tích số liệu

Số liệu được xử lý bằng Microsoft Excel và các chương trình IRRISTAT, MSTATC

Trang 23

CHƯƠNG II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN I.THÍ NGHIỆM NGOÀI ĐỒNG

1.Thí nghiệm tại Chợ Mới

Tổng quan tình hình thí nghiệm thì cây sinh trưởng tốt vì đất phù sa và nước tưới, phân bón được cung cấp đầy đủ Kết quả thí nghiệm nhận thấy, 35 giống sorghum có các đặc tính nông học và các thời gian sinh trưởng rất khác biệt Để trình bày số liệu một cách

có hệ thống, 35 giống sorghum đã được nhóm nghiên cứu xếp vào 3 nhóm (dựa chủ yếu vào các đặc tính nông học thể hiện trong quá trình thí nghiệm):

Nhóm 1: bao gồm các giống được trồng để lấy thân lá (gồm 10 giống)

Nhóm 2: bao gồm các giống được trồng để lấy hạt (gồm 11 giống)

Nhóm 3: bao gồm các giống có các đặc tính nông học rất khác nhau (14 giống)

Bảng 4 : Phân loại các nhóm giống theo mục đích sử dụng

Trang 24

1.1.1 Đặc tính nông học

Số lá/ chồi chính

Số lá của các giống nhóm 1 đạt tối đa từ 4 - 10 lá (chủ yếu từ 7 đến 8 lá) vào 48 NSKG Ở các giai đoạn sau, số lá ở hầu hết các giống không gia tăng vì cây đã ngừng sự sinh trưởng về thân lá, bắt đầu giai đoạn phân hoá tạo hoa Tuy nhiên, sau giai đoạn 48 ngày, giống 9 có hiện tượng tổng số lá giảm là do lá ở gốc héo và chết

Giống 10 có số lá ít nhất trong nhóm là do giống 10 có chiều dài lóng rất dài Sau 40 NSKG, số lá giảm dần vì giống 10 trổ hoa sớm và sau khi cây trổ hoa, một số lá ở gốc bắt đầu chết

Số chồi

Các giống thuộc nhóm 1 có khả năng nẩy chồi khá cao, nhiều nhất vào 48 NSKG, dao động từ 3,7 – 13 chồi, (chủ yếu 7 – 10 chồi) Sau giai đoạn này số chồi có sự biến động nhưng không nhiều Giống 5, 6, 7 có số chồi nhiều (>10 chồi) và đây cũng là những giống

có số lá/chồi nhiều (10 lá/chồi) Tuy nhiên một số giống có khả năng nảy chồi rất thấp như giống 4, 8

Chiều cao chồi chính

Chiều cao chồi chính ở các giống

thuộc nhóm 1 khi đạt cực đại dao động

từ 2 - 2,5 m vào giai đoạn 48 NSKG,

sau giai đoạn này chiều cao ở các

giống không biến đổi nhiều vì lúc này

chồi chính đã trổ hoa Giai đoạn 54

NSKG, chiều cao chồi chính ở một số

giống giảm vì các giống này có chiều

dài của phát hoa ngắn

Giống 4 chiều cao của chồi chính

tiếp tục tăng kể cả giai đoạn cây bắt

đầu ra hoa (sau 48 NSKG) và phát hoa

của giống 4 dài Hai yếu tố này kết Hình 2: Hiện tượng đổ ngã (Giống 10)

Biểu đồ 1: Số lá của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST

Biểu đồ 2: Số chồi của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST

0 2 4 6 8

Trang 25

hợp làm cho giống 4 có chiều cao cao nhất trong nhóm (3,1m) Với những giống có thân cao nhưng có đường kính nhỏ có xuất hiện hiện tượng đỗ ngã, (hiện tượng này xuất hiện khi cây trổ hoa) Các giống thấp hơn thì tránh được hiện tượng này.

Chiều cao và chiều rộng của phát hoa

Chiều dài trung bình của phát

hoa các giống nhóm 1 là 31,5 cm (dao

Biểu đồ 3 : Chiều cao chồi chính của 10 nhóm 1 ở các GĐST

Biểu đồ 4: ĐK chồi chính của 10 giống nhóm 1 ở các GĐST

Trang 26

1.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng

Thời gian sinh trưởng của các giống nhóm 1 không chênh lệch nhiều, trung bình là

93, 3 ngày (dao động từ 85 - 97 ngày) Trong đó bao gồm 3 giai đoạn

- Giai đoạn từ cây con đến trổ: trung bình 53,7 ngày Đây là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh về thân lá và nẩy chồi tích cực, đến giai đoạn 40 NSKG ở hầu hết các giống đều chuyển sang quá trình phân hoá mần hoa và cây ngừng tăng trưởng về chiều cao

- Giai đoạn trổ đến trổ hoàn toàn: thời gian bắt đầu trổ của mỗi giống khác biệt nhau, trung bình 12,3 ngày, dao động từ 9,7 đến 15 ngày

- Từ trổ đến chín: trung bình là 27,4 ngày, dao động từ 21,7 đến 36,3 ngày

1.2 Nhóm 2 – nhóm lấy hạt

Qua thực tiển thí nghiệm, giống 13, 15, 16, 17, 18, 22, 23, 24, 25, 26, 34 có đặc điểm nông học và thời gian sinh trưởng được xem là có triển vọng trong việc trồng lấy hạt (cây thấp, nẩy chồi ít và hạt to) Hình dạng phát hoa, dạng hạt và màu sắc hạt của các giống nhóm 2 có nhiều khác biệt

Bảng 5: Màu sắc hạt và hình dạng phát hoa của 11 giống thuộc nhóm 2

Biểu đồ 6 : Các giai đoạn sinh trưởng của 10 giống thuộc nhóm 1

0 20 40 60 80 100 120

Giai đoạn trổ đến trổ hoàn toàn

Giai đoạn cây con đến trổ

Trang 27

1.2.1 Đặc tính nông học

Số lá/chồi chính

Số lá/chồi chính của các giống thuộc nhóm lấy hạt không khác biệt nhiều Ở giai đoạn

40 NSKG đa số các giống đã đạt số lá tối đa trên chồi chính (dao động từ 7 – 12 lá) Các giai đoạn sau, số lượng lá không biến động nhiều do cây đã hoàn chỉnh việc phát triển thân

lá và bắt đầu chuyển sang giai đoạn phân hoá mầm hoa Sau giai đoạn 40 ngày, một số giống có số lượng lá giảm là do hiện tượng lá chân héo và chết

Hình 4: Màu sắc hạt và một số dạng phát hoa của các giống nhóm 2

Hạt màu vàng nâu, phát hoa

túm, cuống thẳng (giống 18) Hạt màu trắng , phát hoa hơi xòe, cuống thẳng (giống 22)

Hạt màu trắng ngà, phát hoa hơi xòe, cuống hoa cong (giống 25)

0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5 3.0

Ngày sau khi gieo

S ố c h ồ i/c ây

Giống 13 Giống 15 Giống 16 Giống 17 Giống 18 Giống 22 Giống 23 Giống 24 Giống 25 Giống 26 Giống 34

Biểu đồ 8: Số chồi của 11 giống nhóm 2 ở các GĐST Biểu đồ 7: Số lá của 11 giống nhóm 2 ở các GĐST

Trang 28

Tuy nhiên sau khi thu hoạch thì các tất cả các giống đều có khả năng tái sinh rất cao,

và ở hầu hết các chồi tái sinh đều có khả năng cho hạt (qua quan sát thực tế) Đây là hướng nghiên cứu có triển vọng trong tương lai

Đường kính chồi chính

Đường kính chồi chính các giống tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng và không thay đổi nhiều sau giai đoạn 48 NSKG (dao động từ 1,73 – 2,97 cm) vì ở hầu hết các giống vào giai đoạn 48 NSKG, cây đã ngưng tăng trưởng về chiều cao và bắt đầu quá trình phân hoá mần hoa

Chiều cao chồi chính

Chiều cao của các giống trong nhóm 2 khi đạt cực đại dao động từ 1,4 - 2,5 m Tương

tự như các đặc tính nông học khác, sau 40 NSKG một số giống đã đạt chiều cao tối đa vì đã bước vào giai đoạn phân hoá mần hoa Tuy nhiên một số giống như 16, 22, 26 vẫn còn tăng chiều cao vì các giống này có thời gian sinh trưởng khá dài Riêng giống 23 có chiều cao giảm là vì vào giai đoạn 48 NSKG cây đã có phát hoa và phát hoa có chiều dài ngắn

Các giống có chiều cao hơn 2 m dễ bị đỗ ngã (các giống 16, 17, 22, 25)

Hình 5 : Các giống nhóm 2 có khả năng tái sinh cao sau khi thu hoạch

Biểu đồ 9: ĐK chồi chính của 11 giống nhóm 2 ở các GĐST

Biểu đồ 10: Chiều cao chồi chính của 11 giống nhóm 2 ở các GĐST

0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5 3.0

Trang 29

Chiều dài và chiều rộng của phát hoa

Chiều dài của phát hoa dao động chủ yếu trong khoảng 25 – 36 cm, duy nhất giống 23

có phát hoa ngắn nhất trong nhóm 16,7 cm Trong khi đó, chiều rộng có sự phân tán rất lớn

vì đặc tính phát hoa có dạng túm, hơi xòe hay xoè Các giống 13, 16, 18, 23, 24, 26, 34 có chiều rộng phát hoa nhỏ vì hoa ở dạng hoa túm Các giống còn lại trong nhóm ở dạng hoa xoè nên có chiều rộng phát hoa lớn

1.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng của 11 giống thuộc nhóm 2

Các giống thuộc nhóm lấy hạt có thời gian sinh trưởng dao động từ 85 – 91 ngày

- Giai đoạn cây con đến trổ: thời gian dao động giữa các giống trong nhóm khoảng là

11 ngày (dao động từ 43 – 54 ngày)

- Giai đoạn trổ đến trổ hoàn toàn: thời gian trổ của các giống dao động từ 8 – 11 ngày

- Giai đoạn trổ hoàn toàn đến chín: thời gian của các giống dao động từ 25 – 35 ngày Giống 17 và 24 là hai giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất trong nhóm (85 và 87 ngày)

0 20 40 60 80 100

G 13

G 15

G 16

G 17

G 18

G 22

G 23

G 24

G 25

G 26

G 34

Biểu đồ 12: Các giai đoạn sinh trưởng của 11 giống thuộc nhóm 2

Biểu đồ 11: Chiều dài và chiều rộng phát hoa của 11 giống thuộc nhóm 2

0 10 20 30 40

Chiềurộng

Trang 30

1.3 Nhóm 3

Bao gồm các 14 giống còn lại trong bộ giống thí nghiệm: giống 11, 12, 14, 19, 20, 21,

27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 35 Nhóm này bao gồm các giống có đặc tính nông học rất khác biệt (cây rất cao, cho hạt kém, một số giống thân có vị ngọt, một số giống có thời gian sinh trưởng rất dài)

1.3.1 Các đặc tính nông học

Số lá/ chồi chính

Đa số các giống đều đạt số lá tối đa vào giai đoạn 48 NSKG, số lượng lá dao động rất lớn (5,3 – 14, 7 lá) Tuy nhiên các giống 12, 21 có số lá vẫn tiếp tục tăng sau giai đoạn 40 ngày vì những giống này có thời gian sinh trưởng rất dài Riêng giống 32, 35 có số lá giảm sau 40 NSKG vì hai giống có thời gian sinh trưởng ngắn so với các giống trong nhóm và sau khi cây đã trổ có hiện những lá gốc chết nên làm cho tổng số lá giảm Các giống 19, 20

có thời gian sinh trưởng dài nhưng số lá không tăng ở giai đoạn sau là vì cây đã bắt đầu tượng hoa và thời gian này rất dài

Số chồi

Đặc tính nẩy chồi của các giống trong nhóm rất khác biệt Các giống 12, 19, 31 không nẩy chồi trong suốt giai đoạn sinh trưởng, trong khi các giống 27, 28 nẩy chổi ở giai đoạn đầu (25, 32 NSKG) và sau giai đoạn này thì số chồi bị chết và cây không mọc thêm chồi khác trong suốt các giai đoạn sinh trưởng sau đó Ngược lại giống 20, 21 thì bắt đầu nẩy chồi rất muộn (vào 48, 56 NSKG) Các giống còn lại có số chồi tối đa vào giai đoạn 40 NSKG và sau đó số chồi giảm dần Nhưng đa số các chồi này không kịp trổ hoa khi chồi chính được thu hoạch

Đường kính chồi chính

Đường kính chồi chính của các giống tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng và đạt tối đa vào giai đoạn 48 NSKG (dao động trong khoảng từ 1,5-3,0 cm) tuy nhiên giống 20,

21, 27, 29 vẫn tiếp tục gia tăng đường kính đến các giai đoạn 56 và 64 NSKG Ở giai đoạn

Biểu đồ 14: Số chồi của 14 giống thuộc nhóm 3 ở các GĐST

0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5 3.0 3.5 4.0

15 25 32 40 48 56

Ngày sau khi gieo

S ố c h ồ i/c ây

Giống 11 Giống 14 Giống 20 Giống 21 Giống 27 Giống 28 Giống 29 Giống 30 Giống 32 Giống 33 Giống 35

Biểu đồ 13: Số lá của 14 giống nhóm 3 ở các GĐST

Trang 31

15, 25 NSKG đường kính của các cây trong nhóm khác biệt ít, càng về sau thì sự khác biệt giữa các giống càng lớn.

Chiều cao chồi chính

Chiều cao chồi chính của các

giống trong nhóm rất khác biệt, dao

động trong khoảng từ 2-4 m Một số

giống trong nhóm rất cao, chiều cao ở

các giống này tăng ở tất cả các giai

đoạn sinh trưởng kể cả sau khi cây đã

bắt đầu trổ hoa (giống 27, 31, 33, 35)

Đa số các giống trong nhóm đạt

chiều cao tối đa trễ so với các giống

trong nhóm 1 và 2 (56 NSKG) Tuy

nhiên các giống 20, 21, vẫn tiếp tục

phát triển chiều cao đến giai đoạn 90

NSKG vì các giống này có thời gian

sinh trưởng rất dài

Chiều cao và chiều rộng của phát hoa

Chiều dài và chiều rộng phát hoa của các giống trong nhóm dao động nhiều vì các giống trong nhóm có các kiểu dạng phát hoa rất khác biệt

Biểu đồ 17: Chiều dài và chiều rộng phát hoa của 14 giống nhóm 3

10 20 30 40 50

Chiềurộng

Hình 6: Chiều cao giống 27 và 14 so với chiều cao cán bộ nghiên

cứu

2 7

1 4

Biểu đồ 15: ĐK chồi chính của 14 giống ở các GĐST

Biểu đồ 16: Chiều cao chồi chính của 14 giống nhóm 3 ở các GĐST

0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5

Trang 32

1.3.2 Các giai đoạn sinh trưởng

Các giai đoạn sinh trưởng của các giống trong nhóm 3 khác biệt khá lớn, đa số các giống có thời gian sinh trưởng khoảng 90 ngày, với những giống này thì thời gian các giai đoạn sinh trưởng không khác biệt nhiều so với các giống thuộc nhóm 1 và nhóm 2 Giai đoạn cây con đến trổ trung bình 52,79 ngày, giai đoạn trổ đến trổ hoàn toàn 10,7 ngày, giai đoạn trổ hoàn toàn đến chín là ngày 26,76

Tuy nhiên một số giống có TGST rất dài trên 120 ngày (giống 12, 19, 20, 21) Với những giống này thì giai đoạn từ cây con đến trổ rất dài (khoảng 80 ngày), nhưng thời gian giai đoạn trổ (trung bình 10 ngày) và từ trổ hoàn toàn đến chín (trung bình 35,75 ngày) thì không có khác biệt nhiều so với các giống thuộc nhóm 1 và nhóm 2

Biểu đồ 18: Các giai đoạn sinh trưởng của các 14 giống nhóm 3

0 20

G 12

G 14

G 19

G 20

G 21

G 27

G 28

G 29

G 30

G 31

G 32

G 33

G 35

Giai đoạn cây con đến trổ

Hình 7: Một số dạng phát hoa của các giống thuộc nhóm 3

Trang 33

1.4 Tình hình sâu bệnh

Đa số các giống đều bị sâu bệnh tấn công vì điều kiện thí nghiệm xung quanh nông dân trồng nhiều hoa màu nên có thể là điều kiện lý tưởng để sâu bệnh dễ dàng lây lan và tấn công ruộng thí nghiệm Các giống thuộc nhóm 1 bị sâu đục thân (chưa định danh) tấn công rất nhiều và đây là nguyên nhân góp phần dẫn đến tình trạng đổ ngã, không có sự gây hại nhiều của các đối tượng sâu ăn lá Nhóm 2 (nhóm cây lấy hạt) bị gây hại nhiều vào giai

đoạn cây trổ và tạo hạt Sâu ăn tạp (Spodoptera litura) là đối tượng gây hại chủ yếu, loài

sâu này gây hại càng nghiêm trong ở những giống có đặc tính phát hoa có dạng túm, sâu gây hại và lẫn trốn trong phát hoa do vậy rất khó cho các biện pháp phòng trị Ngoài ra bệnh (chưa được định danh) gây hại rất nghiêm trọng nhất là ở những giống thuộc nhóm 3

2 Thí nghiệm tại Tri Tôn

2.1 Thí nghiệm 1 – nhóm lấy thân lá (sudangrass)

Bảng 6: Biến động số lượng lá (lá/cây) của 10 giống sudangrass

Ở giai đoạn 15 NSKG, phần lớn các giống chưa nảy chồi Đến giai đoạn 25 NSKG chồi đã xuất hiện (dao động trong khoảng 0 – 3,1 chồi) Ở hầu hết các giống, số lượng chồi gia tăng ở các giai đoạn sau, tuy nhiên vào giai đoạn 35 NSKG giống 2 và 9 có số lượng chồi giảm (khoảng 0,4 chồi/cây so với giai đoạn 25 NSKG) do chồi bị chết nhưng không có

Trang 34

sự xuất hiện của bệnh Qua kết quả từ Bảng 7 nhận thấy, số chồi của các giống không có sự khác biệt về mặt thống kê.

Bảng 7: Biến động số lượng chồi (chồi/cây) của 10 giống sudangrass

Ghi chú: giai đoạn từ 15 – 40 NSKG, một số giống chưa xuất hiện chồi nên không

chạy thống kê (MSTATC), chỉ lấy trung bình số chồi/cây ở các giống.

Chiều cao chồi chính

Chiều cao chồi chính của các giống tăng đều trong giai đoạn từ 15 – 50 NSKG, đến giai đoạn 60 NSKG có sự gia tăng nhanh về chiều cao ở chồi chính Bảng 8

Bảng 8: Biến động về chiều cao chồi chính (cm) của 10 giống sudangrass

và chịu sự chi phối chủ yếu của yếu tố di truyền và điều kiện ngoại cảnh Trong điều kiện thực tế tại Tri Tôn cho thấy các giống thí nghiệm có chiều cao từ 117 – 207,8 cm, chiều cao cây thí nghiệm hơi thấp hơn so với nhận xét của Farmseeds (1999) có thể là do ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh, vì so với các vùng khác điều kiện canh tác ở ruộng trên có thể hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây (đất nghèo dinh dưỡng và thiếu nước tưới)

Ngày đăng: 10/04/2013, 21:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh sách 10 giống sorghum lấy thân lá trồng thí nghiệm STT Tên - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 1 Danh sách 10 giống sorghum lấy thân lá trồng thí nghiệm STT Tên (Trang 18)
Hình dạng  Hạt - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Hình d ạng Hạt (Trang 18)
Bảng 3 : Danh sách các giống sorghum thí nghiệm - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 3 Danh sách các giống sorghum thí nghiệm (Trang 20)
Bảng 5: Màu sắc hạt và hình dạng phát hoa của 11 giống thuộc nhóm 2 - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 5 Màu sắc hạt và hình dạng phát hoa của 11 giống thuộc nhóm 2 (Trang 26)
Hình 4: Màu sắc hạt và một số dạng phát hoa của các giống nhóm 2 - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Hình 4 Màu sắc hạt và một số dạng phát hoa của các giống nhóm 2 (Trang 27)
Hình 5 : Các giống nhóm 2 có khả năng tái sinh cao sau khi thu hoạch - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Hình 5 Các giống nhóm 2 có khả năng tái sinh cao sau khi thu hoạch (Trang 28)
Hình 6: Chiều cao giống 27 và 14 so với chiều cao cán bộ nghiên  cứu - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Hình 6 Chiều cao giống 27 và 14 so với chiều cao cán bộ nghiên cứu (Trang 31)
Hình 7: Một số dạng phát hoa của các giống thuộc nhóm 3 - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Hình 7 Một số dạng phát hoa của các giống thuộc nhóm 3 (Trang 32)
Bảng 6: Biến động số lượng lá (lá/cây) của 10 giống sudangrass - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 6 Biến động số lượng lá (lá/cây) của 10 giống sudangrass (Trang 33)
Bảng 7: Biến động số lượng chồi (chồi/cây) của 10 giống sudangrass - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 7 Biến động số lượng chồi (chồi/cây) của 10 giống sudangrass (Trang 34)
Bảng 8: Biến động về chiều cao chồi chính (cm) của 10 giống sudangrass - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 8 Biến động về chiều cao chồi chính (cm) của 10 giống sudangrass (Trang 34)
Bảng 10: Năng suất tươi (tấn/ha) của 6 giống sudangrass qua các GĐST - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 10 Năng suất tươi (tấn/ha) của 6 giống sudangrass qua các GĐST (Trang 35)
Bảng 9: Biến động đường kính chồi chính (cm) của 10 giống sudangrass - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 9 Biến động đường kính chồi chính (cm) của 10 giống sudangrass (Trang 35)
Bảng 12: Số lượng lá (lá/cây) các giống nhóm 2 ở các giai đoạn sinh trưởng - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 12 Số lượng lá (lá/cây) các giống nhóm 2 ở các giai đoạn sinh trưởng (Trang 37)
Bảng 13: Số chồi (chồi/cây) của 10 giống nhóm 2 qua các giai đoạn sinh trưởng - Khảo sát đặc tính nông học của 35 giống Sorgrum
Bảng 13 Số chồi (chồi/cây) của 10 giống nhóm 2 qua các giai đoạn sinh trưởng (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm