mục tiêu học tập Yªu cÇu nêu được 9 kỹ thuật chính sử dụng trong bào chế thuốc: cân, đong, hoà tan, lọc, nghiền, tán chất rắn, rây, trộn, làm khô và tiệt khuẩn... Đong đo thể tích chất
Trang 1Bµi 2
Mét sè kü thuËt chung trong bµo chÕ thuèc
Trang 2mục tiêu học tập
Yªu cÇu nêu được 9 kỹ thuật chính sử dụng trong bào chế thuốc: cân, đong, hoà tan, lọc, nghiền, tán chất rắn, rây, trộn, làm khô và tiệt khuẩn
Trang 3Cân là một trong những kỹ thuật cơ
bản, quan trọng trong pha chế, sản
Trang 4Nếu cân không đúng sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng:
- Không hình thành dạng thuốc mong
muốn.
- Không đảm bảo chất lượng của chế
phẩm.
- Không đủ liều gây ra kém hiệu quả
trong điều trị hoặc quá liều, không an
toàn hay ngộ độc.
Trang 51.1.Các loại cân sử dụng trong
pha chế, sản xuất thuốc
a) Cân đĩa (cân Roberval):
Trang 6 b)Cân kỹ thuật (cân quang kỹ thuật):
có sức cân từ 0,01 – 200 g, độ nhạy từ
5 – 10 mg, độ chính xác tới 1mg.
Cân kỹ thuật có thể dùng để cân các
dược chất độc, dược chất có khối lượng nhỏ, cần có độ chính xác cao.
Trang 7c) Cân chính xác (cân phân tích):
Thường dùng cân này để cân các loại dược chất độc mạnh, các mẫu định lượng với khối lượng nhỏ, c©n có độ chính xác cao Độ nhạy của cân
thường là 1/10mg
Phổ biến các loại sau:
Cân chính xác không có đệm không khí hãm dao động
cân chính xác có đệm không khí hãm dao động
Cân điện 1 hoặc 2 quang
Trang 8 d)Cân điện tử hiện số:
Bao gồm cả cân kỹ thuật và cân phân
tích, dùng trong nghiên cứu, sản xuất
và kiểm nghiệm
Cần bảo quản cân điện tử trong điều
kiện xác định về nhiệt độ, độ ẩm.
Trang 91.2.Các phương pháp cân
Nếu sử dụng cân cơ học, thường dùng hai phương pháp là cân đơn và cân
kép
Trong thực tế hiện nay, chủ yếu sử
dụng cân điện tử, vì vậy cần tuân theo các quy trình thao tác chuẩn (SOP),
trên cơ sở một số thao tác sau:
Kiểm tra, chuẩn hoá cân bằng quả cân chuẩn trước khi cân, hoặc định kỳ
không cân vượt quá sức cân của cân ghi trên cân
Ghi lại kết quả bằng cách nối cân với máy in (nếu có)
Trang 101.3.Một số nguyên tắc cần chú ý khi
cân dược chất:
Khi cân cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
Lựa chọn cân và phương pháp cân thích hợp
Kiểm tra độ tin cậy và độ nhạy của cân
Bố trí quả cân, vật cân cho thuận tay, dễ quan sát
Khi cân không được để dược chất trực tiếp lên đĩa cân
Dược chất độc phải cân bằng cân kỹ thuật hay cân chính xác
Khi cân, động tác phải nhẹ nhàng, giữ cân
sạch sẽ trong và sau khi cân
Trang 11cần thẩm định lại cân và chuẩn hoá lại theo quy định.
Trang 122 Đong đo thể tích chất
lỏng
2.1.Dụng cụ dùng để đong (hút) chất lỏng
Ống đong : Dùng để đong dược chất, dung
môi ở thể lỏng trong khi pha chế
Trong bào chế hay dùng các loại ống đong có
dung tích 5, 10, 25, 50, 100, 250, 500, 1000ml ứng với nhiệt độ ghi trên ống (thường là 20oC)
Trang 13Một số ống đong có nút mài dùng để
đong các dược chất dễ bay hơi
Khi đong dược chất lỏng nên dùng ống đong có dung tích thích hợp để đảm bảo chính xác, nhất là với các chất có độ
nhớt cao, dÔ dính dụng cụ như siro, dầu thực vật, glycerin, propylen, Không
nên đong chất lỏng lúc còn nóng để hạn chế sai số.
Trang 14Cốc có chân:
dùng để đong chất lỏng, thường có dung tích 100, 500, 1000ml
Cách sử dụng giống như ống đong nhưng không chính xác bằng Trong pha chế nhỏ, thường dùng cốc chân
để hoà tan dược chất.
Trang 15Bình cầu:
Khi cần đong một lượng chất lỏng chính xác, độ nhớt không cao và khi cần điều chỉnh thể tích chính xác một dung dịch, người ta dùng các bình cầu có vạch với dung tích thích hợp:
50, 100, 250, 500, 1000ml,
Trang 16Pipet: gồm 4 loại
+ Pipet khụng cú vạch: dựng để lấy một lượng nhỏ chất lỏng mà khụng cần chớnh xỏc để điều chỉnh thể tớch, điều chỉnh pH của dung dịch v.v
+ Pipet cú bầu (có vạch): thường dựng để hỳt một lượng chất lỏng nhất định một
cỏch chớnh xỏc: 1, 2, 5, 10ml, Hay
dựng trong phõn tớch định lượng
+ Pipet chớnh xỏc cú chia vạch: chia tới
1/10, 1/20, hay 1/100 ml dựng để hỳt
chất lỏng tương đối chớnh xỏc.
+ Micopipet: là pipet tự động, có thể hút chính xác tới 1/1000ml
Trang 17Buret:
các loại buret dung tích 5, 10, 20, 25ml được dùng để lấy chất lỏng hoặc định lượng bằng phương pháp thể tích.
Trang 18Ống đếm giọt hợp thức:
là ống đếm giọt có kích thước đầu ống
như sau: đường kính trong 0,6 mm;
Trang 19Khi đếm giọt phải cầm ống thẳng đứng,
để cho chất lỏng rơi tự do từng giọt một
Khối lượng của từng giọt chất lỏng phụ
thuộc vào sức căng bề mặt và nhiệt độ
của chất lỏng Ví dụ:
Ở 20oC:
1 gam nước cất tương đương với XX giọt,
1 gam dung dich nước tương đương với khoảng XX giọt,
1 gam ethanol tương đương khoảng LX giọt,
1 gam dầu tương đương khoảng L giọt.
Trang 20Ngoài ra đôi khi người ta còn dùng
những dụng cụ đo lường đơn giản để phân liều thuốc lỏng như thìa và cốc.
Trang 212.2.Một vài điểm lưu ý khi sử dụng
dụng cụ và tiến hành đong rót chất lỏng
Trước khi rót cần lau kỹ miệng chai, lọ bằng
một khăn sạch để tránh bụi bẩn rơi vào
thuốc
Cầm chai quay phía nhãn lên trên để tránh
dược chất bẩn rơi ra nhãn và tiện kiểm tra
tên cần lấy
Nên dùng một đũa thuỷ tinh kê vào miệng
chai để hướng dòng chất lỏng chảy gọn vào dụng cụ đựng
Trang 22Trước khi ngừng rót, quay chai thuốc
khoảng ½ vòng, dùng đũa thuỷ tinh gạt qua miệng chai để tránh chất lỏng rơi
bẩn ra ngoài chai Dùng khăn lau sạch miệng chai rồi mới đậy nút.
Cần chuẩn hoá dụng cụ đo thể tích theo quy định để đảm bảo tính đúng, tính
chính xác của dụng cụ và phép đo.
Không sấy những dụng cụ đo thể tích
chính xác sau khi rửa (bình định mức,
pipet chính xác ), nên để khô tự nhiên.
Trang 233.Hoà tan
Hoà tan là một kỹ thuật cơ bản nhất khi bào
chế các dung dịch thuốc
Tuỳ theo bản chất của dược chất và dung môi
mà chọn nhiệt độ hoà tan thích hợp để hoà tan nhanh dược chất trong dung môi:
+ Hoà tan ở nhiệt độ phòng (18oC – 30oC)
+ Hoà tan nóng (50oC – 80oC)
+ Hoà cách thuỷ (98oC – 100oC)
+ Hoà tan cách cát hay cách dầu (> 100oC)
Trang 24Đa số các trường hợp, độ tan của một
chất rắn (hay một chất lỏng) trong một chất lỏng tăng theo nhiệt độ,
nhưng cũng có ngoại lệ như Calci citrat, calci glycerophotphat, metyl cellulose,
độ tan giảm khi nhiệt độ hoà tan tăng.
Với các chất dễ bay hơi (các tinh dầu ) hoặc chất tan không bền với nhiệt (Natri hydrocacbonat) cần hoà tan ở nhiệt độ phòng.
Trang 25Để làm tăng tốc độ hoà tan, người ta sử dụng biện pháp khuấy trộn.
Khi lựa chọn máy khuấy để hoà tan dược chất trong dung môi nên tham khảo một
số thuộc tính như:
- Lượng chất tan và dung môi.
- Kích thước tiểu phân của chất tan.
- Độ nhớt của chất tan và môi trường hoà tan
- Chênh lệch về tỷ trọng giữa chất tan
và dung môi.
Trang 26Thiết bị sử dụng để hoà tan:
Trong phòng thí nghiệm
Trang 27Trong sản xuất công nghiệp, thường
dùng hệ thống pha chế kín, dung tích từ hàng trăm đến hàng chục ngàn lít
Trang 294.1.Vật liệu dùng để lọc
Loại vật liệu Đặc tính và sử dụng Tiệt khuẩn
- Bông thấm nước, vải.-
Giấy lọc Lọc dịch chiết và dung dịch keo
Lọc vô khuẩn
Nhiệt khô, nhiệt ẩm
Trang 32Lọc ỏp suất giảm (lọc hỳt chõn khụng).
- Phải có bộ lọc riêng: máy hút (vòi nư ớc) -
bình trung gian - bình lọc ( phểu đục lỗ
Buchner)
Vật liệu lọc: giấy lọc (lấy tủa), màng lọc, phễu thủy tinh (lấy dịch)
Trang 33thể dùng máy nén khí không dầu hoặc khí
nén như khí nitơ, khí carbonic
Trang 34Khi lọc các chất lỏng bay hơi cần đậy kín phễu.
Thường gạn hay lọc sơ bộ kết tủa trước khi cho vào phễu để lọc trong hoặc lọc vô khuẩn
Với màng lọc: Cần kiểm tra tình trạng nguyên vẹn của màng, thấm ướt màng lọc bằng dung môi trước khi lọc
Trang 355.Nghiền, tán chất rắn
Nghiền, tán dược chất và tá dược rắn
là một trong những giai đoạn cơ bản đầu tiên để bào chế các dạng thuốc, nhất là các dạng thuốc rắn, bán rắn như thuốc bột, thuốc viên, thuốc mỡ, hỗn dịch
Trang 36 Để có thể lựa chọn các thiết bị nghiền tán phù hợp, cần căn cứ vào một số
thuộc tính của chất rắn:
Độ cứng, độ đàn hồi, độ bở, độ ẩm, tính nhạy cảm với nhiệt
Kích thước của tiểu phân chất rắn trước
và sau khi nghiền tán.
Hình dạng của tiểu phân chất rắn.
Trang 375.1 Thiết bị dung cho phòng thí nghiệm
- Cối được dùng để nghiền tán, trộn
những khối lượng nhỏ chất rắn
Trang 38Thuyền tán:
Trang 395.2 Thiết bị dùng trong công nghiệp
Dùng các loại máy xay, nghiền khác nhau:
Trang 41- Máy nghiền bột siêu mịn: phân chia dược
chất rắn tới kính thước micromet bằng áp lực cao, dùng làm nguyên liệu bào chế thuốc mỡ
và hỗn dịch tra mắt, hỗn dịch tiêm
Trang 42Rây nhằm mục đích tách riêng và
phân loại bột có kích thước tiểu phân khác nhau sau khi đã nghiền, tán
Trang 436.1 Cỡ rây
Dược điển Việt Nam 3 quy định số rây và kích thươc mắt rây như ghi ở bảng sau
Trang 44Số rây và kích thước mắt rây theo Dược điển Việt
Trang 456.2 Phương tiện rây
Trong phòng thí nghiệm và trong sản xuất công nghiệp, sử dụng nhiều thiết
Trang 47 Trộn là một kỹ thuật cơ bản nhằm làm cho nhiều chất rắn , nhão, lỏng phối
hợp với nhau thật đồng nhất
Để có thể trộn được các hỗn hợp một cách tốt nhất, cần chú ý: độ mịn, tỷ
trọng và tỷ lệ của các thành phần
Trang 48 Trong phòng thí nghiệm thường sử dụng cối, chày để trộn các thành phần dược
chất, tá dược với khối lượng nhỏ
Cũng có khi dùng một số thiết bị trộn
theo nguyên lý trục xoắn hoặc theo
nguyên lý rơi tự do.
Trang 507.1 Trong sản xuất công nghiệp, sử
dụng các loại thiết bị như:
a) Thiết bị trộn nguyên lý rơi tự do: là các thùng bằng thép hoặc polyme có nắp kín, trong đó
Trang 52b) Máy trộn cao tốc:
Trang 54 Tuỳ thuộc vào cấu trúc, tính chất của chất cần làm khô, tuỳ theo độ bền của dược chất với nhiệt và oxy của không khí, tuỳ theo mức độ
khô cần đạt được mà lựa chọn phương pháp
cũng như phương tiện làm khô thích hợp
Trang 558.1 Sấy bằng không khí nóng
a) Thiết bị sấy không liên tục:
+ Tủ sấy tĩnh: Nguồn nhiệt có thể là than, điện, khí đốt, dầu hay nước
Trang 56+ Thiết bị sấy tầng sôi:
Thời gian sấy nhanh, hạn chế sự tiếp xúc của
nguyên liệu với nhiệt và oxy không khí Ngày nay, thiết bị sấy tầng sôi được sử dụng nhiều trong công nghệ sản xuất các dạng thuốc rắn Một số máy sấy tầng sôi có thêm chức năng tạo hạt và bao hạt, bao viên.
Trang 57b)Thiết bị sấy liên tục (máy sấy ngược
dòng):
Hoạt động theo nguyên tắc: chất cần sấy đưa vào máy sấy liên tục ở một đầu thoát ra đầu kia ở trạng thái khô
Không khí nóng được đưa vào theo
chiều ngược lại Loại này có ưu điểm là năng suất cao, khô đều.
Trang 588.2 Sấy khô dưới áp lực
Ví dụ: Tủ sấy chân không có:
- Hệ thống đốt nóng bằng điện trở hoặc tia hồng ngoại
- Máy hút chân không làm giảm áp suất trong
buồng sấy
Trang 608.3 Làm khô trên trụ
Thường dùng để làm khô trực tiếp chất lỏng
đến trạng thái khô Các máy làm khô trên trụ
được cấu tạo bằng một hay nhiều trụ, được đun nóng ở phía trong bằng hơi nước áp suất cao
(140-150oC) trục quay với tốc độ thích hợp
Chất lỏng được làm khô được trải trên diện tích
bề mặt của trục quay Nước bốc hơi và để lại
một màng mỏng, chất khô sẽ được tách rời
bằng một lưỡi dao, sau đó nghiền thành bột
Thiết bị này thích hợp để điều chế cao khô
Trang 61 Ngoài ra còn có loại máy sấy khô
trên trụ dưới áp lực giảm để sấy khô các chế phẩm chứa hoạt chất kém
bền với nhiệt như enzym hay nội tiết tố.
Trang 628.4 Làm khô bằng phương pháp sấy
phun Nguyên tắc: dịch cần làm khô được phun thành
Trong một số trường hợp đặc biệt, để tránh mọi
hư hỏng do oxy hoá, quá trình sấy phun có thể thực hiện trong một dòng khí trơ
Trang 63 Về nguyên tắc, máy sấy phun gồm các bộ
phận:
- Bình chứa dịch và bơm dịch đến đầu phun
- Đầu phun nối với máy nén khí
- Buồng làm khô với dòng khí nóng
- Bình chứa sản phẩm khô
phun dùng để làm khô các loại tá dược,
cao khô, một vài loại bột phủ tạng, enzym, bột dùng trong viên nén dập thẳng, bột để pha tiêm, xông hít
Trang 648.5 Đông khô
Đông khô là kỹ thuật làm khô do sự thăng hoa nước đá của các dung dịch, hỗn dịch, mô động vật hay thực vật ở điều kiện nhiệt độ thấp áp suất giảm
Trang 65 Mục đích đông khô:
hoặc chế phẩm
Trang 668.5.1 Quá trình đông khô
Quá trình đông khô qua 3 giai đoạn:
- đông lạnh
- làm khô sơ cấp
- và làm khô thứ cấp
Trang 67Giai đoạn đông lạnh:
+ là giai đoạn đầu tiên của quá trình đông khô ở giai đoạn này, phần lớn nước được tách ra khỏi dược chất và tá dược, hệ
tách thành nhiều pha.
+ Quá trình đông lạnh phải làm nhanh, sản phẩm phải được đông cứng tức thì, nếu
đông lạnh chậm vừa làm huỷ hoại các
mô, vừa làm biến chất protein trong các sản phẩm sinh học.
+ Để làm đông lạnh nhanh, có thể sử dụng tuyết carbonic (-80oC)hoặc nitơ lỏng (-
90oC).
Trang 68Giai đoạn làm khô sơ cấp: nhiệt độ được duy trì dưới nhiệt độ phá vỡ cấu trúc sản phẩm cần làm khô Nói chung, nhiệt độ
trong giai đoạn này không nên vượt quá –
15oC, áp suất buồng duy trì từ 0,05
mmHg đến 0,2 mm Hg.
Giai đoạn làm khô thứ cấp: nhằm loại bỏ lượng nước không đông lạnh, hấp phụ
trong khuôn bằng cách khử hấp phụ, làm giảm hàm ẩm còn lại tới mức thấp nhất
có thể, thường khoảng 2-5%, để đảm bảo
độ ổn định của chế phẩm trong quá trình bảo quản.
Trang 698.5.2 Thiết bị đông khô
Có nhiều loại dùng trong phòng thí nghiệm hoặc trong công nghiệp
Trang 708.6 Làm khô bằng chất hút
ẩm
Kỹ thuật làm khô bằng chất hút ẩm được thực hiện ở nhiệt độ phòng, điểm khác biệt với các phương pháp làm khô nói trên là hơi nước được giữ lại bằng một hoá chất háo nước được gọi là chất hút ẩm
Thực hiện trong một dụng cụ kín (bình hút ẩm hay thùng kín), chất hút ẩm được cho vào
phần dưới, ngăn cách bằng một vật liệu thích hợp, rồi cho chất cần làm khô lên trên
Trang 72Một số chất hút ẩm và khả năng hút ẩm
Trang 739 Kỹ thuật tiệt khuẩn
Tiệt khuẩn là kỹ thuật được sử dụng để diệt
hoặc loại các vi sinh vật sống nhiễm trong
nguyên liệu bán thành phẩm, thành phẩm,
dụng cụ, thiết bị hay không khí Trong ngành dược, tiệt khuẩn được áp dụng với: thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền, thuốc nhỏ mắt, bông băng, chỉ khâu, dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ pha chế bao bì dùng cho thuốc vô khuẩn và các yêu
cầu khác
Trang 74Tuỳ theo tính chất của chất cần diệt
khuẩn, mục tiêu và điều kiện sản xuất
mà áp dụng các phương pháp tiệt khuẩn khác nhau.
9.1 Tiệt khuẩn bằng nhiệt
9.2 Tiệt khuẩn bằng phương pháp lọc
9.3 Tiệt khuẩn bằng bức xạ
9.4 Tiệt khuẩn bằng khí và xông hơi
Trang 759.1 Tiệt khuẩn bằng nhiệt
Nhiệt độ (oC) Thời gian tối thiểu
cẩn thiết (phút)
9.1.1 Tiệt khuẩn bằng nhiệt khô( tñ sÊy)
Nguồn nhiệt dùng cho các thiết bị tiệt
khuẩn bằng sức nóng khô thường là than, củi, điện, dầu .
bằng nhiệt độ khô theo DĐVN 3
Trang 76Để kiểm tra quy trình tiệt khuẩn bằng
nhiệt khô, có thể dùng chỉ thị sinh học (ví dụ: Bào tử Bacillus subtilis ATCC 9372)
Trong trường hợp tiệt khuẩn để loại chí
nhiệt tố, áp dụng đối với dụng cụ thuỷ
tinh, phải đưa nhiệt độ tới 220oC và cần
sử dụng nội độc tố kháng nhiệt thay thế cho chỉ thị sinh học.
Trang 779.1.2 Tiệt khuẩn bằng nhiệt
ẩm
- Phương pháp Tyndal thường áp dụng cho
dung dịch thuốc tiêm không bền ở nhiệt độ
cao Tiến hành tiệt khuẩn 3 lần ở nhiệt độ
trong khoảng 70-80oC thời gian 1 giờ, mỗi lần cách nhau 24 giờ Lần thứ nhất diệt các vi cơ sống, lần thứ hai diệt các vi cơ phát triển lại từ nha bào, lần thứ ba diệt các vi cơ còn sót lại từ nha bào
Phương pháp tiệt khuẩn này rất tốn thời gian
và có nguy cơ gây chí nhiệt tố, vì vậy thường kết hợp diệt khuẩn bằng phương pháp Tyndal với dùng thêm chất sát khuẩn và không áp
dụng phương pháp này để tiệt khuẩn các dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch
Trang 78- Tiệt khuẩn bằng nhiệt ẩm ở 100oC:
Luộc sôi trực tiếp với nước hoặc tiệt
khuẩn bằng hơi nước ở áp suất thường (áp suất khí quyển) Để làm tăng nhiệt
độ lên vài độ, có thể hoà tan Natri
borat hoặc Natri cacbornat với nồng độ
từ 2-5%.