1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

in dap an PP CNKH

12 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 38,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định được đề tài nghiên cứu thường tiến hành theo trình tự sau: a, Phát hiện và tìm hiểu vấn đề khoa học khoa học Phát hiện vấn đề khoa học Chức năng cơ bản của khoa học là phá

Trang 1

Phân tích Y/C và các bước tiến hành khi chọn đề tài

6.2.1.3 Các yêu cầu khi chọn đề tài

Khi chọn đề tài dù dưới dạng giao nhiệm vụ, hay tự đề xuất, yêu cầu chính là đề tài phải đáp ứng được những vấn đề cấp thiết nghĩa là phù hợp với nhu cầu thực tiễn và

có đủ điều kiện để thực hiện thành công đề tài

Để đáp ứng được yêu cầu trên, khi chọn đề tài cần phải xem xét (hay dựa trên) những yêu cầu chính sau:

- Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?

Ý nghĩa KH thể hiện trên khía cạnh như bổ sung những nội dung lý thuyết của KH; làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại hoặc xây dựng cơ sở lý thuyết mới

Ví dụ, đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý “ là vấn đề chưa

có ai nghiên cứu - là đề tài mới

Đề tài : Nghiên cứu nâng cao hiệu quả khai thác VKTBKT phục vụ đào tạo và NCKH ở trường đại học Trần Quốc Tuấn” ????

- Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không?

Ý nghĩa thực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh; nhu cầu sản xuất; nhu cầu về tổ chức quản lý; huấn luyện, đào tạo

Đây là tiêu chuẩn này để xem xét quyết định có triển khai đề tài hay không ? nhất

là trong điều kiện kinh phí eo hẹp

- Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?

Tính cấp thiết thể hiện mức độ ưu tiên giải đáp những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn

đã xem xét Tính cấp thiết là một yêu cầu bổ sung đối với tính KH và tính thực tiễn Nếu chưa cấp thiết thì giành thời gian, kinh phí cho đề tài cấp thiết hơn (Điều này thường xem xét khi xét duyệt đề tài, hoặc lựa chọn đề tài mang tính ứng dụng)

- Có đủ điều kiện để bảo đảm cho việc hoàn thành đề tài không?

Đề tài có đầy đủ các yếu tố trên, nhưng không có đầy đủ phương tiện thì khó lòng thực hiện Điều kiện nghiên cứu bao gồm: trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của người nghiên cứu; cơ sở thông tin, tư liệu, phương tiện, thiết bị thí nghiệm; kinh phí; quỹ thời gian có thể sử dụng để NCKH

- Đề tài có phù hợp sở thích không?

Trong khoa học thì câu hỏi này luôn mang một ý nghĩa quan trọng Đương nhiên, bao giờ người nghiên cứu cũng luôn phải đứng trước sự lựa chọn giữa nguyện vọng

cá nhân với việc giải quyết nhu cầu bức bách của xã hội

Tóm lại, quá trình xác định đề tài phải lần lượt giải đáp cho được các câu hỏi sau:

1- Mâu thuẫn vấn đề là ở đâu? làm rõ được tính mục đích của việc giải quyết mâu thuẫn 2- Vấn đề nghiên cứu có đúng là mọi người chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ không, chỉ rõ

tính mới mẻ của đề tài.

3- Vấn đề mà thực tế đòi hỏi phải giải quyết, làm rõ tính cấp thiết của đề tài.

4- Vấn đề có đủ điều kiện chủ quan và khách quan để nghiên cứu giải quyết, làm rõ tính

khả thi của đề tài.

Các điểm (1), (2) là điều kiện cần; (3), (4) là điều kiện đủ

Thiếu một trong các yếu tố trên đề tài sẽ không thành, phải chọn đề tài khác

6.2.1.4 Trình tự chọn đề tài

Trang 2

Để xác định được đề tài nghiên cứu thường tiến hành theo trình tự sau:

a, Phát hiện và tìm hiểu vấn đề khoa học khoa học

Phát hiện vấn đề khoa học

Chức năng cơ bản của khoa học là phát hiện ra mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn, nêu lên thành vấn đề khoa học, tổ chức giải quyết vấn đề đó

Phát hiện vấn đề khoa học chính là đặt câu hỏi nghiên cứu: “Cần chứng minh điều gì?" Như vậy, thực chất việc phát hiện vấn đề khoa học chính là đưa ra những câu hỏi để làm cơ sở cho việc tìm kiếm câu trả lời nhờ những hoạt động nghiên cứu tiếp sau đó

Các phương pháp phát hiện VĐKH đã nghiên cứu ở chương 1

Tìm hiểu vấn đề khoa học

- Xác định đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát

+ Xác định đối tượng nghiên cứu là chỉ ra được bản chất cần làm rõ của sự vật, để tránh lạc đề mang tính hạn chế về phạm vi

+ Xác định khách thể nghiên cứu là chỉ ra được vật mang đối tượng nghiên cứu (tất cả các cá thể hàm chứa đối tượng nghiên cứu)

+ Xác định đối tượng khảo sát là lựa chọn mẫu khảo sát, là một số sự vật được lựa chọn trong lớp sự vật đang cần được làm rõ bản chất

- Phân tích mục tiêu nghiên cứu

b, Đặt tên đề tài

Đặt tên đề tài là lời văn diễn đạt mô hình tư duy của kết quả dự kiến của quá trình nghiên cứu dưới dạng súc tích nhất Tên một đề tài khoa học khác vơí tên của tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến

Tên một tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến có thể mang những ânẻ dụ sâu xa Còn tên của một đề tài khoa học chỉ được mang một ý nghĩa hết sức khúc triết , một nghĩa , không được phép hiểu hai hay hiều nghĩa, nó được phát biểu một cách khoa học, nói lên trình độ ý thức sâu sắc của người nghiên cứu đối với VĐKH được chọn làm đối tượng nghiên cứu của mình Tìm được tên gọi phù hợp với đề tài (tác phẩm) cũng tạo điều kiện xác định nội dung cơ bản theo tên gọi đó

Có thể tên đề tài đã được đặt ngay từ đầu nhưng phải trải qua các bước trên mới có thể khẳng định giữ như cũ hoặc phải có sự thay đổi cho phù hợp

Tên đề tài cần ngắn gọn, phải hàm ý rõ mục tiêu, nội dung cơ bản, đúng chủ đề của công trình nghiên cứu

Cần tránh dùng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin, những từ hoa mỹ để đặt tên đề tài

Ví dụ : thử bàn về ; Một số suy nghĩ về ; Tìm hiểu về

Trong KHQL tên đề tài thường cấu tạo theo các mẫu sau:

- Cấu trúc tên đề tài theo mục tiêu nghiên cứu

Ví dụ đề tài: Giải pháp phát triển quan hệ khỏch hàng

Mục tiêu NC: Đề xuất giải pháp phát triển hệ thống quan hệ khách hàng, nhằm thoả món nhu cầu khỏch hàng, tạo ra lợi nhuận bền vững cho doanh nghiệp.

- Cấu trúc tên đề kết hợp mục tiêu nghiên cứu với môi trường:

Ví dụ: Nghiên cứu nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực ở Cục Hải quan TPHCM.

- Nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý trang bị, vật tư kỹ thuật ở trường SQKTQS.

- Cấu trúc tên đề kết hợp mục tiêu nghiên cứu với môi trường, phương tiện.

Trang 3

- Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả công tác QLKT ở trường Trung học công nghệp TPHCM

Chú ý: Trong một số trường hợp có thể chọn tên đề tài có tính khái quát (rộng hơn

nội dung nghiên cứu); còn nội dung nghiên cứu cụ thể được xác định trong phạm vi nghiên cứu

Ví dụ: Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý tài chính chưa rõ cấp nghiên cứu (quân khu, Bộ), xác định trong phạm vi nghiên cứu chỉ làm ở một cấp nào đó

- Đối với người mới bắt đầu nghiên cứu nên chọn những đề tài thuộc loại hẹp và có hạn chế phạm vị nghiên cứu các vấn đề; chọn những đề tài từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Tóm lại:

- Yêu cầu chính khi xác định đề tài là đề tài phải đáp ứng vấn đề cấp thiết nghĩa là

phù hợp với nhu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội

- Khi chọn đề tài cần phải tính đến nhiều nhân tố có tính khách quan và chủ quan như trình độ hiểu biết của bản thân, kinh nghiệm công tác, điều kiện và tính chất phục vụ, khả năng tiến hành các cuộc thử nghiệm, các nguồn tài liệu cần thiết cho

đề tài và số thời gian có thể sử dụng để nghiên cứu đề tài

- Xác định đề tài đúng là mở đườngthắng lợi cho toàn bộ quá trình nghiên cứu, đưa đến những công trình khoa học có giá trị

2 Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và cơ sở khoa học của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu (tiếng Anh: objective) theo từ điển tiếng việt : (1) “là cái đích để

ngắm vào”, chiếm lĩnh mục tiêu, mục tiêu bắn

(2) “đích cần đạt tới để thực hiện nhiệm vụ “, xây dựng mục tiêu đào tạo

+ Theo tác giả Vũ Cao Đàm: mục tiêu là cái đích về nội dung mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm Mục tiêu là những việc cần làm trong

công tác nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”

Ví dụ 1: Đề tài “ Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố ) vững mạnh về KTQS”

Mục tiêu nghiên cứu: đề xuất nội dung, phương thức, cơ chế kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lĩnh vực KTQS ở KVPT tỉnh (thành phố)

Từ sự phân tích trên, ta thấy việc xác định mục tiêu chính là xác định giới hạn nhiệm vụ (nội dung) nghiên cứu, mục tiêu là cơ sở để xác định nhiệm vụ nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là phần giới hạn của nghiên cứu liên quan đến đối tượng

khảo sát và nội dung nghiên cứu Xác định phạm vi nghiên cứu cần làm rõ giới hạn quy mô nội dung được xở lý, giới hạn về không gian của đối tượng được khảo sát , giới hạn về thời gian của tiến trình của sự vật

Cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu có thể là:

- Một bộ phận đủ mang tính đại diện của đối tượng nghiên cứu ;

- Quỹ thời gian đủ hoàn tất công trình nghiên cứu;

- Khả năng được hỗ trợ về kinh phí, phương tiện thiết bị thí nghiệm cần thiết bảo đảm cho nội dung nghiên cứu

(1) Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài

Trang 4

Trong phần này cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn :

- Những lý luận được sử dụng, bao gồm cả cơ sở lý thuyết kế thừa của người đi trước và cơ sở lý thuyết tự mình xây dựng phục vụ cho luận văn

- Những vấn đề thực tiễn trong quá khứ, hiện tại liên quan đến VĐNC

Ví dụ: Đề tài “ Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố ) vững mạnh về KTQS”

- Cơ sở lý luận :

+ Quan điểm đường lối của đảng ta về kết hợp kinh tế với quốc phòng;

+ Lý luận về xây dựng và hoạt động tác chiến KVPT tỉnh (thành phố);

+ Lý luận chung về công tác kỹ thuật quân sự ở KVPT tỉnh (thành phố)

- Cơ sở thực tiễn:

+ Thực trạng xây dựng và công tác kỹ thuật ở KVPT tỉnh (thành phố);

+ Thực trạng về kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố);

Ví dụ, Cơ sở khoa học để nghiên cứu đề tài khoa học TCCHKT:

+ Nghệ thuật quân sự;

+ Cơ sở khai thác kỹ thuật;

+ Cơ sở công tác quản lý và khoa học quản lý;

+ Các ngành khoa học có liên quan: toán, tin học, XHNV, HC-TC

Về bản chất, khi xác định cơ cở khoa học của đề tài chính là định hướng cho chương “ cơ sở lý luận và thực tiễn của VĐNC”

Muốn xác định được đúng cơ sở khoa học của đề tài cần hiểu được đối tượng

nghiên cứu liên quan đến những lĩnh vực nào? và tiếp cận nó theo phương pháp hệ thống - cấu trúc.

3.Phạm vi ứng dụng và các bước tiến hành khi vận dụng phương pháp chuyên gia trong quá trình thực hiện đề tài.

Thực tế các công trình KHQS đều liên quan đề việc chỉ đạo và tiến hành các hoạt động quân sự, đây là lĩnh vực phức tạp nhất trong hoạt động của con người và liên quan đến số phận của mỗi quốc gia Để giải quyết đúng đắn một vấn đề trong KHQS cần tham khảo kinh nghiệm, tri thức và sự linh cảm trực giác, nhậy bén của đông đảo đội ngũ chuyên gia thông

thạo trong nhiều lĩnh vực khác nhau Phương pháp đánh giá bằng giám định (phương pháp

sử dụng chuyên gia) là một công cụ có hiệu quả khi giải quyết những vấn đề phức tạp.

Phương pháp này cho ta khả năng nghiên cứu sâu các hiện tượng khó nghiên cứu bằng các phương pháp khác, giúp cho người nghiên cứu sáng tỏ những nội dung quan trọng và cốt lõi của vấn đề nghiên cứu Vì vậy, trong quá trình người làm công tác nghiên cứu trong lĩnh vực

kHQS cần nắm được nội dung và các bước tiến hành phương pháp đánh giá bằng giám định

(phương pháp sử dụng chuyên gia)

3.1 Khái niệm

Hiện có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp sử dụng chuyên gia:

(1) Phương pháp sử dụng chuyên gia, là phương pháp dựa vào các nhà chuyên môn

có trình độ cao hỗ trợ cho người nghiên cứu trong việc tìm câu trả lời cho một vấn đề khoa học cần giải đáp [PPNCKHQS- HVQP]

(2) Phương pháp sử dụng chuyên gia, là phương phápchọn quyết định có sử dụng

kinh nghiệm tổng quát của con người (“trí tuệ tập thể”) [Toán học và đấu tranh vũ trang-TARANOV]

Trang 5

(3) Phương pháp sử dụng chuyên gia, là phương pháp nghiên cứu mà người nghiên

cứu dựa vào các nhà chuyên môn có trình độ cao về lý luận và có thực tiễn phong phú về chuyên ngành khoa học để giúp cho mình có cơ sở đáng tin cậy trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu và kết luận một vấn đề khoa học cần giải đáp

Dù phát biểu dưới hình thức nào , cũng cần hiểu và nắm được bản chất của Phương

pháp sử dụng chuyên gia :

- Cơ sở của phương pháp : dựa trên khả năng vận dụng tri thức và kinh nghiệm của

các chuyên gia (trong thực tế người nào hiểu biết nhiều về hiện tượng nghiên cứu, sẽ nhanh chóng tìm ra mặt bản chất, mối liên hệ nhân quả và tính quy luật của hiện tượng ngiên cứu)

- Chuyên gia là người tinh thông một chuyên môn khoa học, nhưng trong nghiên cứu chuyên gia chỉ giữ vai trò tư vấn cho người nghiên cứu, hỗ trợ họ trong quá trình tìm tòi, khám khá hoặc sáng tạo ra “cái mới” cũng như chứng minh sự đúng dắn của vấn đề nghiên cứu

3.2.Các hình thức và các bước tiến hành

Các hình thức

Có nhiều hình thức, trong đó có hai hình thức cơ bản:

- Giám định tập thể;

- Trưng cầu ý kiến cá nhân

Khi giám định tập thể

- Ưu điểm: Cho phép thu được số lượng lớn tài liệu trong thời gian ngắn.

- Nhược: Tư duy KH thường bị chi phối bởi lô gíc thoả hiệp (do trạng thái tâm lý).

Thường kết luận theo đa số (ý kiến, lập luận của các chuyên viên không đồng ý với kết luận của đa số thường không được phản ánh trong kết luận chung )

- Khắc phục: Cần chú ý lựa chọn chuyên gia (nghiêm túc,tỉ mỉ); đòi hỏi cao đối với các

kết luận của các chuyên viên

- Trường hợp vận dụng:

+ Ở giai đoạn định hướng nghiên cứu;

+Kiểm tra kết quả nghiên cứu

Khi trưng cầu ý kiến cá nhân

- Bảng trưng cầu chỉ có "câu hỏi" có đủ dữ kiện, chuyên gia tự nghiên cứu trả lời (thường dùng khi điều tra sơ bộ)

- Trưng cầu kiểu hỏi - đáp, nêu một số câu hỏi, mỗi câu hỏi có (1 - 2) câu trả lời Mỗi chuyên gia được trưng cầu chọn 1 trong các câu trả lời đó, nói rõ luận cứ về kết luận của mình (các câu hỏi này có thể nêu dưới hình thức bảng kẻ, người được trưng cầu đánh dấu vào cột, mục nào đúng với ý của mình)

- Trưng cầu dưới dạng trình bày một sự việc hoặc một phương án hành động, nếu rõ điều kiện hoặc nét đặc trưng cho sự kiện (hoặc phương án hành động đó)

- Ưu điểm: thu được số lượng tài liệu lớn trong thời gian ngắn, nhất là khi điều tra bằng

phương pháp hỏi đáp

- Nhược điểm: Người được điều tra có thể không nói đúng sự thật (vì nhiều lý do khác

nhau) Nếu số người được điều tra đủ lớn, có thể giảm bớt hạn chế này Điều tra cho thấy những biểu hiện ổn định, có tính quy luận của hiện tượng, nhưng không cho ta biết quá trình suy nghĩ dẫn đến những ý kiến trả lời (nên cần lấy được các lập luận của các chuyên viên)

- Phạm vi áp dụng: Thường dùng trong các bước định hướng các đề tài nghiên cứu (đề

tài lớn) và khi kiểm tra kết quả nghiên cứu

- Về hình thức lấy ý kiến trong phương pháp chuyên gia (trưng cầu ý kiến cá nhân hoặc tập thế) ngoài các hình thức trên (hội thảo, toạ đàm ), cũng có thể dùng cách diễn tập tác chiến trên bản đồ nhằm tận dụng kinh nghiệm các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao

Các bước tiến hành

- Thứ tự các bước tiến hành được mô tả trên hình 3.1

Trang 6

- Trong việc xử lý toán học các ý kiến và lập luận vấn đề của các chuyên gia, có thể áp dụng các phương pháp sau:

+ Tính độ tin cậy của ước lượng theo phương pháp đánh giá mẫu thống kê (tính sai số của tỷ lệ phần trăm và giới hạn độ tin cậy của tỷ lệ phần trăm)

+ Đánh gía câu trả lời của các chuyên gia nhờ quan hệ Kendall

1 Phân tích Y/C và các bước tiến hành khi chọn đề tài (Câu 1 Nội dung 1)

2 Trình tự tiến hành đề tài.

A,Trình tự tiến hành 1 đề tài khoa học

Để thực hiện một đề tài khoa học phải qua một quá trình NCKH vận dụng tổng hợp toàn

bộ cỏc phương pháp nghiên cứu Đó là quỏ trình tỡm tũi sỏng tạo, cụng phu và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, xen kẽ và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Qua thực tiễn nghiên cứu, để thực hiện một đề tài khoa học thường gồm các giai đoạn chính:

1 Lựa chọn đề tài;

2 Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu;

3 Thu thập và xử lý thụng tin;

4 Viết báo cáo kết quả nghiên cứu

5 Nghiêm thu đề tài;

6 Công bố, bảo đảm tính pháp lý và triển khai kết quả nghiên cứu

3 Phạm vi ứng dụng và các bước tiến hành khi vận dụng PP lịch sử - lôgíc trong quá trình thực hiện đề tài.

Lịch sử và lôgíc là hai phương pháp riêng, song thường sử dụng đi đôi với nhau thành một cặp phương pháp; lịch sử là cái có trước lôgíc là cái có sau.

1 Phương pháp lịch sử

Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó Để nhận thức được đối tượng nghiên cứu phải nghiên cứu quá trình phát triển của đối tượng đó

ĐN: Phương pháp lich sử ,là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng bằng cách xem xét, theo dõi các giai đọan phát triển thực cụ thể của chúng từ lúc phát sinh, hình thành đến quá trình vận động biến đổi trong những điều kiện nhất định, với mọi tính chất cụ thể của chúng

Ýnghĩa:

Bằng phương pháp này, các sự kiện được nghiên cứu với tính liên lục, bao gồm cả các trường hợp ngẫu nhiên, quanh co, nhảy vọt, các bước ngoặt, các chỗ chệch hướng, dừng lại hay chuyển động ngược chiều

- Trong NCKHQS, đây là phương pháp phổ biến dùng để nghiên cứu lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, kỹ thuật quân sự

Yêu cầu :

- Để phát hiện sự thay đổi liên lục trong trạng thái cửa sự vật, phải tính đến các điều

kiện cụ thể về địa điểm (không gian ), thời gian, đồng thời phải nghiên cứu các sự kiện, các

nhân vật cụ thể, các hoạt động cụ thể với tính sinh động của lịch sử và với bản chất vốn có của nó, không được xuyên tạc lịch sử

- Quá trình nghiên cứu phải phát hiện ra không những hình thức diễn biến của quá trình phát triển, mà còn phải nhận thức được tính quy luật phát triển của sự vật, phát hiện ra bản chất của nó, rút ra được bài học kinh nghiệm, quy luật phát triển có thể vận dụng cho tương lai

Trang 7

2 Phương pháp lôgíc

ĐN: Lô gíc học là khoa học về các quy luật, hình thức của tư duy, đề ra các nguyên tắc, phương pháp chung để vận dụng vào mọi quá trình tư duy cụ thể nhằm phản ánh được thế giới khách quan, nắm bắt được chân lý.

Theo Lênin: “ chân lý là vấn đề trung tâm của khoa học lôgíc”.

Phương pháp lôgíc là sự tái hiện lịch sử bằng các tư duy, lý luận; các sự việc, sự kiện được nêu lên một cách khái quát trong mối liên hệ tất yếu có tính quy luật; loại trõ các trường hợp quanh co, các bước ngoặt ngẫu nhiên, không cơ bản hay không điển hình

Trong NCKHQS các phương pháp lôgíc giữ vị trí quan trọng, được áp dụng rộng rãi trong các giai đoạn và trong tất cả các phương pháp khác

Trong phương pháp lôgíc, thường vận dụng các thủ pháp như: phân tích - tổng hợp; quy nạp - diễn dịch; so sánh - đối chiếu; phân loại - hệ thống; tự nhiên - mô hình

Phân tích và tổng hợp

Phân tích, là thủ pháp phân chia các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu từng bộ phận,

yếu tố trong mối liên hệ tổng thể thống nhất, nhằm phát hiện ra bản chất hiện tượng

Tổng hợp, là thủ pháp liên kết tất cả những bộ phận riêng lẻ đã nhận thức được qua quá

trình phân tích, vạch ra mối hên hệ của chúng để nhận thức được cái toàn thể (cái bản chất – chân lý)

Phân tích và tổng hợp là hai thủ pháp nhận thức khác nhau, và có chiều hướng đối lập nhau, song lại thống nhất biện chứng với nhau Cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống và yếu tố Không có phân tích thì không có tổng hợp

Thực vậy muốn tìm ra nguyên nhân thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh (chiến dịch, trận chiến đấu ), cần đi sâu phân tích từng vấn đề đặc trưng cho bản chất của hiện tượng đó, từ đó mới có thể rút ra kết luận chính xác

Phân tích và tổng hợp được sử dụng trong tất cả các giai đoạn nghiên cứu

Quy nạp và diễn dịch.

Quy nạp là thủ pháp đi từ trí thức về cái riêng đến trí thức về cái chung, là quá trình rút

ra nguyên lý chung từ sự quan sát một loạt những sự thật riêng lẻ

Quy nạp là phương thức để khái quát các sự kiện và tài liệu kinh nghiệm, nhằm tìm ra cái chung, là quá trình vận động của tư duy từ tiền đề riêng đến kết luận chung

Ví dụ, từ những kết quả thu được trong những cuộc diễn tập chiến dịch (chiến đấu) hoặc

từ những kinh nghiệm đã có, dùng thủ pháp quy nạp, khái quát thành những nguyên tắc về

chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, trận chiến đấu song không dược tuyệt đối hoá phép quy nạp,

lấy nó làm phương pháp duy nhất để khái quát và rút ra kết luận Bởi vì các sự kiện riêng lẻ rất nhiều và không thể bao quát hết chúng được Còn sự khái quát dựa trên cơ sở chỉ nghiên cứu một số hay thậm chí nhiều sự việc đi nữa thì vẫn còn khả năng kết luận sai lầm

Diễn dịch là hoạt động tư duy từ cái chung đến cái riêng, đi từ những luận đề lý luận chung đến những kết luận riêng rút ra từ những luận đề đó

Nắm được cái chung cho phép nghiên cứu các bộ phận có kết quả hơn

Ví dụ, để nghiên cứu các vấn đề chiến thuật, cần thiết phải hiểu rõ đặc điểm của các

chiến dịch, phương thức tác chiến chiến lược

Quy nạp và diễn dịch là hai phương pháp nhận thức khác nhau, có chiều hướng đối lập nhau, song có liên hệ hữu cơ với nhau, được áp dụng trong một thể thống nhất trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Qua phân tích bản chất của phương pháp lô gíc ta thấy: bất kỳ ngành khoa học nào đều phải nghiên cứu tài liệu có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa, hệ thống hóa và tìm ra các mối liên hệ bên trong, tìm ra các quy luật của nó bằng cách áp dụng phương pháp tư duy lô gíc ( phân tích –tổng hợp; quy nạp- diễn dịch )

3 Mối quan hê giữa phương pháp lich sử và lô gíc

Trang 8

- Trong mối liên hệ giữa lịch sử và lôgíc thì lịch sử là cái có trước, lôgíc là cái có sau, lôgíc là phản ánh lịch sử quy định Do đó để phản ánh đúng đắn lịch sử, đòi hỏi phải xuất phát

từ lịch sử, phải thống nhất, phù hợp với lịch sử Cho nên, sự thống nhất giữa lôgíc và lịch sử

là một nguyên tắc phương pháp luận quan trọng của lôgíc biện chứng trong nhận thức khoa học

- Về lô gíc kết hợp giữa lịch sử và lôgíc trong bất kỳ ngành khoa học nào cũng thường được tiến hành theo quy trình:

+ Nghiên cứu những tài liệu, thông tin thực tế có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa + Sử dụng các thủ pháp : phân tích –tổng hợp, quy nạp – diễn dịch hệ thống hóa, tìm ra các mối quan hệ bên trong và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu

Chú ý : Không nên coi phương pháp lịch sử chỉ là việc ghi chép, liệt kê các sự kiện Nó

phải có sự khái quát như phương pháp lôgíc, tìm ra các quy luật phát triển lịch sử

- Còn phương pháp lôgíc không phải chỉ hoàn toàn nêu lên quá trình phát triển dưới một hình thức trõu tượng Ngược lại, nó cần có minh hoạ bằng lịch sử và luôn luôn gắn liền với thực tế

Phương pháp lịch sử và lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu khác nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, cần được vận dụng kết hợp chặt chẽ trong quá trình nghiên cứu Thực tiễn của hiện thực quân sự hết sức phức tạp Để nhận thức được đầy đủ, chính xác bản chất hiện tượng phải nghiên cứu toàn diện và từng khía cạnh của hiện tượng ấy Muốn vậy cần sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp nghiên cứu đã trình bày trên, đồng thời phải tìm ra những phương pháp khoa học chung mới có hiệu quả hơn Đó là các phương pháp đánh giá bằng giám định của các chuyên gia, phương pháp hệ thống cấu trúc

Dựa trên phép biện chứng mác xít, KHQS sử dụng rộng rãi các phương pháp dùng chung trong các ngành khoa học khác như quan sát, thí nghiệm, lô-gích và toán học…, đồng thời, KHQS còn có những PPNC đặc trưng của mình như: các cuộc diễn tập thực binh thông thường, các cuộc diễn tập, tập trận, diễn tập CHTM và diễn tập quân sự trên bản đồ

NỘI DUNG 3

1 Phân tích Y/C và các bước tiến hành khi chọn đề tài.( ND1)

2 Phương pháp xác định mục tiêu, mục đích nghiên cứu của đề tài.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu (tiếng Anh: objective) theo từ điển tiếng việt : (1) “là cái đích

để ngắm vào”, chiếm lĩnh mục tiêu, mục tiêu bắn

(2) “đích cần đạt tới để thực hiện nhiệm vụ “, xây dựng mục tiêu đào tạo

+ Theo tác giả Vũ Cao Đàm: mục tiêu là cái đích về nội dung mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm Mục tiêu là những việc cần

làm trong công tác nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”

Ví dụ 1: Đề tài “ Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố ) vững mạnh về KTQS”

Mục tiêu nghiên cứu: đề xuất nội dung, phương thức, cơ chế kết hợp kinh

tế với quốc phòng trong lĩnh vực KTQS ở KVPT tỉnh (thành phố).

Trang 9

Từ sự phân tích trên, ta thấy việc xác định mục tiêu chính là xác định giới hạn nhiệm vụ (nội dung) nghiên cứu, mục tiêu là cơ sở để xác định nhiệm vụ nghiên cứu.

(2) Mục đích nghiên cứu

Thực tế trong nhiều năm qua khi xây dựng đề cương nghiên cứu, học

viên thường không nắm rõ bản chất “ mục đích và “mục tiêu” nghiên cứu nên

khi viết phần này thường hay lẫn sang nhau và không lô gíc với tên đề tài.

Vì vậy, chúng ta cần làm rõ bản chất “mục đích” và “mục tiêu” nghiên

cứu trong quá trình xây dựng đề cương.

- Mục đích (tiếng Anh: aim,) theo từ điển tiếng việt : “là cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được”: xác định mục đích học tập

+Theo tác giả Vũ Cao Đàm: mục đích là ý nghĩa thực tiễn của việc

nghiên cứu, là đối tượng phục vụ của sản phẩm nghiên cứu Mục đích trả lời câu

hỏi “nhằm vào việc gì?” hoặc “để phục vụ cho cái gì?”

Ví dụ1: đề tài “ Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố ) vững mạnh về KTQS”

Mục đích nghiên cứu: nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ BĐKT trong xây dựng KVPT tỉnh (thành phố) trong điều kiện tiềm lực kinh tế của chúng ta còn hạn chế.

Thực tế mỗi đề tài có một hoặc một số mục tiêu xác định, nhưng chưa hẳn

đã có mục đích xác định.

Ví dụ: Đại số Boole trong suốt một thế kỷ rưỡi không trả lời được câu hỏi

“ nghiên cứu để làm gì?” Chỉ đến khi xuất hiện chiếc máy tính điện tử đầu tiên, người ta mới biết được nó quan trọng như thế nào trong việc bảo đảm toán học cho sự vận hành của máy tính

3 Nguyên tắc và các giai đoạn chính khi vận dụng PP hệ thống - cấu trúc trong thực hiện đề tài.

Để vận dụng được phương pháp hệ thống - cấu trúc, ngoài việc hiểu rõ các khái niệm, bản chất của phương pháp hệ thống - cấu trúc, các tính chất cơ bản của hệ thống, còn phải nắm vững các nguyên tắc khi vận dụng phương pháp trên

Nguyên tắc vận dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc

Từ bản chất của phương pháp hệ thống - cấu trúc và các tính chất cơ bản của hệ thống,

có thể rút ra các nguyên tắc cần nắm vững khi vận dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc Đó

là : nguyên tắc chỉnh thể, nguyên tắc điều khiển và hướng đích, nguyên tắc lịch đại và đồng đại

Nguyên tắc chỉnh thể

Trang 10

Nguyên tắc này đòi hỏi phải xét đối tượng (hay hệ thống) được nghiên cứu trong sự toàn vẹn của nó, được hợp thành bởi nhiều yếu tố (bộ phận), quan hệ tương tác với nhau và với môi trường xung quanh Môi trường tác động lên hệ thống và ngược lại, hệ thống cũng tác động lên môi trường

Thực tiễn đã chứng tỏ, khi thiết kế, quản lý các hệ thống lớn do không quan tâm đẩy đủ đến nguyên tắc này nên đã dẫn đến những hậu quả xấu Chẳng hạn : việc dùng bừa bãi thuốc trõ sâu trong nông nghiệp hoặc phá rõng đã gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái; việc xây dựng thiếu tính toán các hồ chứa và đập nước lớn trên các dòng sông đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái ở hạ lưu mà sau nhiều năm mới phát hiện được (như làm thay đổi chất lượng nước; giảm phù sa, tăng thêm độ mặn ) [27]

Nguyên tắc chỉnh thể còn thể hiện ở chỗ, không thể quan niệm một hệ thống lớn là phép cộng đơn giản các hệ con với nhau Do sự tác động đồng bộ, có phối hợp, có tổ chức của các bộ phận có thể tạo nên hiệu quả lớn hơn rất nhiều so với phép cộng đơn thuần các tác động Khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống, sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà không có ở từng phần tử (tính chỉnh thể, tính trồi) Trong hệ thống kinh tế - xã hội, cấu trúc hiệu quả nhất là cấu trúc đáp ứng được các lợi ích của từng đơn vị riêng lẻ kết hợp với lợi ích chung của toàn xã hội -gọi là cấu trúc đáp ứng được các lợi ích "trồi'' [8]

Nguyên tắc điều khiển và hướng đích

Nói đến hệ thống là nói đến mục tiêu Mọi hệ thống đều có xu hướng tiến đến mục tiêu là một trạng thái cân bằng nào đó (nội cân bằng) Đối với hệ thống lớn gồm nhiều hệ con, thì mỗi hệ con cũng có mục tiêu của nó và có xu hướng tiến đến trạng thái cân bằng riêng Do nguyên tắc điều khiển và hướng đích, mục tiêu của các hệ con phải phục tùng mục tiêu của hệ thống lớn Đồng thời hệ thống con, với tư cách là một hệ thống, nên cũng có chức năng riêng,

có tính độc lập tương đối Đó là nguyên lý về tính hai mặt - mặt độc lập và mặt phụ thuộc tương đối của hệ thống lớn Nguyên tắc này đòi hỏi người nghiên cứu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các mục tiêu, giữa mục tiêu chung của toàn hệ với các mục tiêu riêng của từng hệ con; kết hợp các mục tiêu trong và ngoài, trên và dưới, bảo đảm cho hệ thống hài hoà và phát triển thuận lợi Đồng thời, người nghiên cứu phải tìm ra các yếu tố cơ bản và các mối liên hệ chủ yếu quyết định sự vận động, phát triển của đối tượng (hay hệ thống) được nghiên cứu, phát huy tính năng động chủ quan, tác động hợp qui luật vào các yếu tố, điều khiển hệ thống vào các mục tiêu xác định

Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ về vận dụng nguyên tắc điều khiển và hướng đích trong các hệ thống quản lý nói chung, hệ thống quân sự nói riêng Ví dụ hệ thống tác chiến, bao gồm : trận đánh, chiến dịch, chiến cục Đó là một hệ thống lớn, mục tiêu của trận đánh phải phục tùng mục tiêu của chiến dịch và mục tiêu của chiến dịch phải phục tùng mục tiêu của hệ thống cao hơn - chiến cục Trong chiến dịch, các tình huống có mối quan hệ chặt chẽ, quan hệ nội tại, hữu cơ với nhau Các tình huống tạo tiền đề, điều kiện cho nhau cùng phát triển, để dẫn dắt đến tình huống quyết định, tạo ra trận đánh then chốt quyết định của chiến dịch [25] Thắng lợi của chiến dịch phụ thuộc vào kết quả của các trận đánh, đặc biệt là các trận then chốt của chiến dịch Một trận không thành công, không đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra sẽ ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết cục của chiến dịch, thậm chí có thể làm đảo lộn kế hoạch chiến dịch Vì vậy, một trong những nội dung rất quan trọng của nghệ thuật điều hành chiến dịch là phải xác định đúng đắn và tổ chức chỉ đạo thực hành thắng lợi các trận đánh lớn then chốt và then chốt quyết định của chiến dịch; tạo ra những bước nhảy vọt, đột biến về chiến dịch và chiến lược, dẫn đến các bước ngoặt của cục diện chiến tranh [25] Nghệ thuật tổ chức chỉ đạo đánh thắng các trận then chốt, nói theo ngôn ngữ tiếp cận hệ thống - cấu trúc, chính là nghệ thuật vận dụng khéo léo tổ chức để phát huy được "tính trồi" cần thiết

Nguyên tắc lịch đại và đồng đại

Mọi đối tượng nghiên cứu đều phát sinh, vận động và phát triển theo thời gian và không gian nhất định, với điều kiện lịch sử cụ thể Nguyên tắc này đòi người nghiên cứu phải

Ngày đăng: 10/04/2020, 11:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w