1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tiểu luận về dân tộc

11 987 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 766,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành dân tộc - Ở phương tây, dân tộc hình thành trên cơ sở một bộ tộc hay một số bộ tộc liên kết cùng sống trên một vùng lãnh thổ, nó hình thành, gắn bó với sự xác l

Trang 1

NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CÁCH

MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

I Khái niệm dân tộc:

- Dân tộc là kết tinh của một quá trình lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

- Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:

 Theo nghĩa hẹp, dân tộc là các tộc người trong một quốc gia nhiều dân tộc khác nhau Đây là những cộng đồng có chung những đặc điểm sau đây:

1 Có chung ngôn ngữ

2 Có chung lịch sử, nguồn gốc

3 Có chung nét văn hóa đặc sắc

4 Có ý thức tự giác dân tộc

Trang 2

 Theo nghĩa rộng, dân tộc là toàn bộ dân cư của một nước

Đây là một cộng đồng người hình thành trong lịch sử có những điểm chung:

1 Có chung một lãnh thổ quốc gia

2 Có quốc ngữ - ngôn ngữ chung cho quốc gia đó

3 Chung một nền kinh tế - chính trị nhất định

4 Có sự thống nhất về truyền thống văn hóa

 Phân biệt dân tộc, sắc tộc, thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

- Sắc tộc, chủng tộc được nói đến là những cộng đồng dựa vào những đặc điểm tự nhiên như màu da, cấu tạo tự nhiên của cơ thể

- Thị tộc là những cộng đồng người có trước dân tộc, tồn tại trong xã hội Công xã nguyên thủy, dựa trên cơ sở có cùng chung huyết thống

- Bộ tộc là hình thức cộng đồng người hình thành dựa trên cơ sở liên kết nhiều bộ lạc với nhau

II Sự hình thành dân tộc

- Ở phương tây, dân tộc hình thành trên cơ sở một bộ tộc hay một số bộ tộc liên kết cùng sống trên một vùng lãnh thổ, nó hình thành, gắn bó với sự xác lập của PTSXTBCN

Thị tộc Bộ lạc Bộ tộc Dân

tộc

Trang 3

Chính sự hình thành và phát triển của PTSXTBCN đòi hỏi phải có:

o Sự thống nhất thị trường

o Sự thống nhất lãnh thổ

o Sự thống nhất về chính phủ

o Sự thống nhất thuế quan

o Sự thống nhất tiền tệ

- Ở phương đông, dân tộc hình thành sớm hơn trước CNTB, do nhiều nhân tố thúc đẩy trong quá trình dựng nước và giữ nước

III Hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc

a) Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc

Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thời kì độc quyền, V.I Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc:

- Xu hướng thứ nhất, phâ n l ập tá ch ra để phát triển Xu hướng này gắn liền với

giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản do sự thức tỉnh và trưởng thành của ý thức dân tộc Biểu hiện của xu hướng này là kích thích đời sống và phong trào dân tộc, thành lập các quốc gia độc lập có chính phủ, hiến pháp, thị trường, phục vụ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

- Xu hướng thứ hai, liên kết lại để phát triển Khi dân tộc ra đời gắn liền với việc mở

rộng và tăng cường quan hệ kinh tế, xoá bỏ sự ngăn cách giữa các dân tộc, từ đó hình thành nên một thị trường thế giới, Chủ nghĩa tư bản trở thành một hệ thống Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học - công nghệ đã xuất hiện nhu cầu xoá

bỏ sự ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau Xu hướng này nổi bật trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa

 Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của CNĐQ gặp nhiều trở ngại Bởi vì, nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của CNĐQ xoá bỏ Chính sách xâm lược của CNĐQ đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ

bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận Thay vào đó họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối với các dân tộc khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng

Trang 4

 Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của CNXH, khi chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này áp bức, đô hộ các dân tộc khác mới bị xoá bỏ và chỉ khi đó hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để thể hiện đầy đủ Quá độ từ CNTB lên CNXH là sự quá độ lên một xã hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người trên toàn thế giới

b) Biểu hiện của hai xu hướng đó trong thời đại ngày nay

Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I Lênin phát hiện đang phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng

 Xét trong phạm vi các quốc gia XHCN có nhiều dân tộc:

- Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Sự tự chủ, phồn vinh của mỗi dân tộc sẽ tạo điều kiện vật chất - tinh thần để hợp tác với các dân tộc anh em Tuy nhiên, sự hoà quyện giữa các dân tộc đã không làm mất sắc thái của từng dân tộc Ngược lại, nó được bảo lưu, giữ gìn và phát huy tinh hoa, bản sắc của từng dân tộc

 Xét trên phạm vi thế giới, sự tác động của hai xu hướng khách quan thể hiện

những điểm sau đây:

- Thời đại hiện nay là thời đại mà các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đã đứng lên xoá bỏ sự

nô dịch, áp bức giành quyền tự chủ quyết định vận mệnh dân tộc mình như lựa chọn nền chính trị, con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với dân tộc khác, Đây là mục tiêu vì độc lập dân tộc, thực chất là chống chủ nghĩa đế quốc, chống kì thị dân tộc, phân biệt chủng tộc

- Các dân tộc ngày nay có xu hướng xích lại gần nhau để trở thành một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng của lịch sử

- Các dân tộc có sự tương đồng về địa lí, môi trường, một số giá trị văn hoá, muốn tạo thành những liên minh dân tộc trên cơ sở những lợi ích chung, muốn dựa vào nhau để khắc phục những khó khăn trước mắt nhằm phát triển kinh tế và giải quyết một số vấn đề chung như chiến tranh, môi trường, dịch bệnh, nghèo đói,

Tóm lại, các dân tộc ngoài việc hội nhập còn phải tìm các giải pháp hữu hiệu để

giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc mình Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản

Trang 5

Việt Nam là "Giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại"

IV CƯƠNG LĨNH DÂN TỘC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

- Dựa trên quan điểm của C Mác - Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga, đồng thời phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhất là giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, V.I Lênin đã khái quát

thành Cương lĩnh dân tộc Trong tác phẩm Về quyền dân tộc tự quyết, Người nêu rõ "Các

dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại Đó là Cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới, kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân" Cương lĩnh dân tộc của Đảng Cộng sản bao gồm ba nội dung cơ bản sau đây:

1 Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

- Bình đẳng là quyền thiêng liêng của các dân tộc, là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc; Các dân tộc dù lớn hay nhỏ; không phân biệt số đông, số ít,trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng như nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Không có dân tộc nào tự cho mình có đặc quyền đặc lợi đối với dân tộc khác Trong

một quốc gia quyền bình đẳng giữa các tộc người phải được pháp luật bảo vệ và cụ thể hoá

Trang 6

trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong TKQĐ lên CNXH sự bình đẳng giữa các dân tộc chưa thể thực hiện ngay được mà phải thực hiện dần dần trong quá trình phát triển của CNXH

- Chống những biểu hiện trái với quyền bình đẳng dân tộc Đó là: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc sôvanh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới; gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới; chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế

2 Các dân tộc được quyền tự quyết

- Quyền tự quyết thực chất là một nội dung của quyền bình đẳng Đó là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình

- Quyền tự quyết có tính chất hai mặt Một mặt, là quyền tự do phân lập về chính trị, có nghĩa là sự phân lập của các dân tộc với tư cách là một quốc gia độc lập Mặt khác, quyền dân tộc tự quyết còn là quyền tự nguyện liên bang với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ

Thực tiễn Lê nin đã giải quyết rất khoa học vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN ở Nga:

– Trước cách mạng Tháng mười, Lênin ủng hộ xu hướng tách ra làm thất bại chính sách sô vanh đại Nga và làm suy yếu chế độ Nga hoàng, tạo điều kiện thuận lợi cho

CM tháng 10 nổ ra và giàng thắng lợi

– Sau cách mạng Tháng mười, Lênin ủng hộ liên hiệp tự nguyện thành lập liên bang nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, xóa bỏ thù hằn giữa các dân tộc; tăng sức mạnh cho cách mạng đập tan sự bao vây của các nước đế quốc, xây dựng thành công XHCN (Ngày 31/12/1922 Lênin ra quyết định thành lập Liên bang các nước cộng hòa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô Tuy nhiên đến tháng 12/1991 Liên Xô lại tách ra thành 15 nước cộng hòa; trong đó một số nước liên minh lỏng lẻo, thành lập cộng đồng các quốc gia độc lập SNG)

3 Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

- Là cơ sở đảm bảo cho sự đoàn kết GCCN trong giải quyết vấn đề dân tộc ; đồng thời nó còn là mục tiêu phấn đấu để GCCN thế giới thực hiện sứ mệnh lịch sử của

mình: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”

Trang 7

- Đây là nội dung xuyên suốt của cương lĩnh, phản ánh sự thống nhất về bản chất của phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; giải quyết vấn đề dân tộc trong quan hệ với vấn đề giai cấp

- Liên hiệp công nhân các dân tộc thực chất là đoàn kết, thống nhất các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hoà bình, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp và dân tộc Khi chủ nghĩa tư bản trở thành một hệ thống, giai cấp tư sản là một lực lượng quốc tế thì giai cấp vô sản phải liên hiệp lại để chống kẻ thù chung của mình, giải phóng mình, đồng thời giải phóng toàn nhân

loại Ph Ăngghen đã viết: Không khôi phục lại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc về

phương diện quốc tế, không thể thực hiện được sự đoàn kết của giai cấp vô sản và sự hợp tác hoà bình và sự tự giác của các dân tộc để đạt mục đích chung

Mối quan hệ giữa các nội dung của cương lĩnh: Tuy có tính độc lập tương đối

song các nội dung lại có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau; trong đó nội dung liên hiệp GCCN các dân tộc là tư tưởng quan trọng nhất

Ý nghĩa: Nó vạch rõ bản chất, phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc, là cơ sở lý

luận, phương pháp luận cho các Đảng cộng sản về việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN

- Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lê nin được Hồ Chí Minh coi là cẩm

nang thần kỳ, là mặt trời soi sáng con đường đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam Khi bắt gặp cương lĩnh dân tộc của CN Mác -Lê nin, Người đã từng nói: "Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ đây là cái cần thiết của chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta"

V ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Đặc điểm quan hệ dân tộc Việt Nam

Trang 8

a) Khái quát quá trình hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam

Dân tộc Việt Nam được hình thành bao giờ và như thế nào? Câu hỏi này đã được đặt ra từ những năm 60 của thế kỉ XX Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và tiếp tục tranh luận Tuy nhiên, các nhà khoa học tương đối thống nhất ý kiến cho rằng: dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và không gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Theo những kết quả nghiên cứu khoa học thì Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người Lịch sử dân tộc ta gắn liền với truyền thống chống

giặc ngoại xâm và chống thiên tai, đặc biệt là vấn đề trị thuỷ

Nước ta gồm 54 dân tộc Dân tộc Kinh là dân tộc đông nhất, chiếm 87% Các dân tộc còn lại chiếm 13% Mười dân tộc có số dân dưới 1 triệu đến 100 ngàn người là: Tày, Nùng, Mường, Thái, Khơme, H'Mông, Dao, Ja rai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới

100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân dưới 10 ngàn đến 1 ngàn; 6 dân tộc có số dân dưới

1 ngàn là: Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu

Đồng bào dân tộc thiểu số nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn 3/4 diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo và một số đồng bằng Nhiều tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, các dân tộc thiểu số chiếm hơn 70% dân số Cao Bằng là tỉnh có số lượng đồng bào các dân tộc ít người đông nhất, chiếm khoảng 92%

b) Đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam

Trang 9

- Đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc nước ta là sự liên kết cộng đồng

đã đạt đến mức độ bền vững, ý thức tự giác dân tộc người phát triển rất sớm Đó là ý

thức độc lập, lòng tự hào, tự tôn dân tộc Truyền thống yêu nước trở thành ngọn cờ đoàn kết các dân tộc anh em trong quá trình dựng nước và giữ nước Tình cảm dân tộc được bồi đắp, nâng niu và trân trọng qua hàng nghìn năm lịch sử Từ khi có Đảng lãnh đạo, tính cộng đồng dân tộc được củng cố và nâng lên thành một chất lượng mới Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đều có sự đồng thuận trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

- Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước, giữ nước, xây dựng một cộng đồng thống nhất

Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế lúa nước, một kết cấu công xã nông thôn bền chặt xuất hiện rất sớm Trải qua lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc ta trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến Đoàn kết dân tộc là xu hướng khách quan vì lợi ích, vận mệnh lịch sử, tương lai và tiền đồ của dân tộc

- Cư trú các dân tộc Việt Nam là xen kẽ nhau giữa các dân tộc

+ Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng gia tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung nhưng không hình thành địa bàn riêng biệt

+ Các dân tộc ở nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng Sự thống nhất hữu cơ giữa dân tộc và quốc gia ngày càng được củng cố

+ Tình trạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta là một điều kiện thuận lợi cơ bản để tăng cường quan hệ dân tộc Tuy nhiên, tình trạng này có tính hai mặt: "Một mặt là điều kiện để tăng cường hiểu biết nhau, đoàn kết, xích lại gần nhau; mặt khác, cần đề phòng trường hợp có thể chưa thật hiểu nhau, khác nhau về phong tục, tập quán, làm xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế, dẫn tới khả năng va chạm những người thuộc các dân tộc cùng sinh sống trên một địa bàn"

- Các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau

Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức, bóc lột, xâm lược trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc còn chênh lệch đáng kể Đây là một đặc trưng cần hết sức quan tâm nhằm từng bước khắc phục tình trạng trên để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh

Trang 10

em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng

Các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc phong phú, đa dạng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần và niềm tự hào dân tộc Đặc trưng của sắc thái văn hoá dân tộc bao gồm tiếng nói, chữ viết "Về ngôn ngữ, các dân tộc nước ta đều có tiếng nói riêng - tiếng "mẹ đẻ" và đến nay đã có 26 dân tộc có chữ viết "

- Cư trú trên các địa bàn chiến lược:

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú ở địa bàn

có vị trí chiến lược quan trọng, có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực

Tóm lại, xuất phát từ quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng cơ bản của dân

tộc ta, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, coi đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn, toàn diện gắn với mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

2 Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

 Quan điểm:

Vấn đề DT và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản và cấp bách của CMVN hiện nay

Các dân tộc trong đại gia đình Việt nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả HTCT

 Những chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nêu rõ: Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với dân tộc là "giữ gìn, làm giàu, phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp giữa các dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi" Những chính sách cụ thể là:

- Chính sách phát triển kinh tế hàng hoá ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với

điều kiện và đặc điểm của từng vùng, khai thác được thế mạnh của các vùng dân tộc Đây

là chính sách quan trọng nhất để giảm dần sự chênh lệch về phát triển kinh tế Tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng ta đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2010 "Các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống

Ngày đăng: 05/04/2020, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w