Chính vì thế, để có thể thúc đẩy doanh sốtrong kinh doanh khách sạn cũng như là mức độ trải nghiệm dịch vụ của khách hàng lênđến mức tối đa thì các nhà quản trị khách sạn phải nhìn nhận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA DU LỊCH KHÁCH SẠN
ĐỀ ÁN MODULE TỔNG QUAN DU LỊCH
Đề tài: Tìm hiểu về nguồn nhân lực trong ngành khách sạn ở Việt Nam
Họ và tên: Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 2Lời nói đầu
“việc tìm người” Không chỉ vấn đề về số lượng nhân sự, vấn đề quan trọng không kémđối với tình trạng hiện nay còn là chất lượng của nguồn nhân lực trong ngành khách sạntrên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chính vì thế, để có thể thúc đẩy doanh sốtrong kinh doanh khách sạn cũng như là mức độ trải nghiệm dịch vụ của khách hàng lênđến mức tối đa thì các nhà quản trị khách sạn phải nhìn nhận được vấn đề này và nhanhchóng có biện pháp khắc phục, thay đổi Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu về nguồn nhân lực trongkinh doanh khách sạn” được lựa chọn để làm đề án module với mong muốn thông quaviệc nghiên cứu để có thể hiểu rõ hơn về thực trạng, đề xuất các giải pháp thích hợp đểgiải quyết vấn đề này
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu về nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn để từ
đó đưa ra các biện pháp khắc phục cải thiện nguồn nhân lực
3. Đối tượng phục vụ nghiên cứu
“Đối tượng nghiên cứu là nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn dựa trên các nộidung học phần đã học và các tài liệu tham khảo khác nhau liên quan đến chủ đề này Đề
án tập trung nghiên cứu và phân tích rõ ràng về thực trạng cũng như là vấn đề gặp phảitrong công tác quản lý nguồn nhân lực đối với ngành khách sạn hiện nay.”
Trang 3- Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành khách sạn
ở Việt Nam.”
CHƯƠNG 1
Trang 4GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHÁCH
SẠN VIỆT NAM HIỆN NAY
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. KHÁI NIỆM KHÁCH SẠN
- Chúng ta có thể hiểu khái niệm khách sạn theo nghĩa như:
“Khách sạn là một công trình kiến trúc kiên cố có nhiều tầng, nhiều phòng ngủ và đượctrang bị các trang thiết bị tiện nghi, đồ đạc chuyên dung nhằm phục vụ mục đích lưu trúcho khách hàng và các khách hàng sử dụng những dịch vụ bổ sung khác
- Dựa theo các mức độ tiện nghi khi sử dụng khách sạn của khách hàng, chúng ta có thểphân hạng khách sạn theo số lượng từ 1-5 sao”
2. KHÁI NIỆM KINH DOANH KHÁCH SẠN
“Theo các chuyên gia, chúng ta có thể hiểu khái niêm về kinh doanh khách sạn theo 2nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
- Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là việc cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu
cầu về ăn uống và ngủ nghỉ cho khách
- Theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách sạn chỉ đơn thuần là hoạt động bảo đảm về nơi ngủ
nghỉ cho khách
Ngoài hai nhu cầu chính là ăn và ngủ, hiện nay khách hàng đến với khách sạn còn cóthêm các nhu cầu về tổ chức cuộc họp, lễ cưới, vui chơi giải trí, làm đẹp,… Chính vì vậy,các khách sạn hiện nay đều có thêm các dịch vụ như trên để đáp ứng tối đa nhu cầu củakhách hàng.”
Như vậy, theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn “Kinh doanh khách sạn là hoạtđộng kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sungcho khách nhằm đáp ứng các nhu cầ ăn , nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằmmục đích kinh doanh có lãi.”
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH DOANH KHÁCH SẠN
3.1 Các đặc điểm của kinh doanh khách sạn
• Đặc điểm về sản phẩm:
- “Khi nhắc đến hoạt động kinh doanh khách sạn chính là đang nhắc đến kinh doanh dịch
vụ trong khách sạn Và sản phẩm dịch vụ này tồn tại dưới dạng vô hình Bởi vì quá trìnhsản xuất, quá trình bán và quá trình tiêu thụ sản phẩm này diễn ra đồng thời Trong quátrình đó, người tiêu dùng tự tìm đến sản phẩm Và cũng chính vì khoảng cách giữa khách
Trang 5hàng và người cung cấp dịch vụ là rất ngắn nên yếu tố tâm lý của con người đóng vai tròrất lớn trong việc đánh giá chất lượng của sản phẩm.”
“Trên thực tế, bởi vì quá trình tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm xảy ra gần nhưđồng thời nên yêu cầu về mức độ hoàn thiện sản phẩm luôn ở mức độ cao nhất, không cóphế phẩm và cũng không được có sản phẩm tồn kho Và chắc chắn khách hàng khi đãchọn đến một khách sạn nào đó thì việc bán được thêm sản phẩm cho họ là không khó,điều đó phụ thuộc vào khả năng của mỗi khách sạn”
- “Một đặc điểm nữa đặc trưng cho sản phẩm của khách sạn là tính cao cấp Khách hàngcủa khách sạn chủ yếu là những khách du lịch, vì vậy khả năng chi trả thanh toán của họcũng cao hơn người bình thường Từ đó yêu cầu đòi hỏi về chất lượng của sản phẩm mà
họ mua trong suốt quá trình nghỉ dưỡng cũng cao hơn Để đáp ứng tốt các yêu cầu củakhách hàng, các khách sạn phải đáp ứng nhu cầu tốt nhất cho khách hàng Khách sạnmuốn tồn tại và phát triển lớn mạnh thì phải dựa trên cơ sở cung cấp những sản phẩm cóchất lượng cao.”
• Đặc điểm về đối tượng phục vụ
“Đối tượng phục vụ của khách sạn rất đa dạng và phong phú, thuộc nhiều tầng lớp, địa vị
xã hội, quốc tịch cũng như là tuổi tác, giới tính khác nhau, Vì thế để quản lý khách sạnmột cách tối ưu nhất, người quản lý phải nắm bắt được các đặc điểm tâm lí, nhu cầu củatừng loại đối tượng để đảm bảo cho việc phục vụ được tốt hợn.”
• Đặc điểm về việc sự dụng các yếu tố nguồn lực trong kinh doanh khách sạn
“Hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ thành công khi khách sạn biết cách khai thác mộtcách hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch và nhân tố con người Tài nguyên du lịch là yếu tốthu hút khách du lịch đến với khách sạn Ngoài ra, tài nguyên du lịch còn quyết định quy
mô thứ hạng của khách sạn, xác lập số lượng và đối tượng khách hàng đến khách sạn và
nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của khách sạn.”
- “Hoạt động kinh doanh khách sạn yêu cầu vốn đầu tư ban đầu rất cao Đặc điểm này
xuất phát từ tính chất cao cấp của các sản phẩm khách sạn nên cũng đòi hỏi các yếu tố về
Trang 6trọng đến từ các thương hiệu lắp đặt trong khách sạn cũng là một trong những yếu tốchính đẩy chi phí đầu tư khách sạn lên cao Khách sạn luôn mong muốn mang lại chokhách hàng của mình sự thoải mái nhất thì phải trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật có chấtlượng cao để đạt được mục tiêu ban đầu Nhưng không phải tất cả các khách sạn đều cầnmột lượng cơ sở vật chất giống nhau Chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ tăng lêntheo thứ hạng của khách sạn Đặc điểm này cũng xuất phát từ một số nguyên nhân khácnhư chi phí ban đầu cho cơ sở hạ tầng của khách san khá cao, chi phí đất đai để xây dựngkhách sạn là rất lớn,
Bởi vì chất lượng của sản phẩm khách sạn được đo trực tiếp bằng cảm nhận của kháchhàng nên việc sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng vàcũng là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh Và để có được cho mình nguồn nhânlực có hành vi tốt, có văn hóa ứng xử cao thì các nhà quản trị khách sạn phải đặc biệt chútrọng trong quá trình tuyển dụng nhân sự cho khách sạn của mình
Ngoài ra, trong các khâu cung ứng sản phẩm của khách sạn đều được thực hiện trực tiếpbởi bản tay con người nên nó đòi hỏi một lực lượng lao động trực tiếp là rất lớn Sự phục
vụ này không thể cơ giới hóa được mà chỉ được thực hiện bởi những nhân viên trongkhách sạn Thời gian lao động đối với nhân viên khách sạn cũng đặc biệt hơn các ngànhkhác đó là kéo dài đến 24/24 giờ Đây cũng chính là một đặc điểm nổi bật trong kinhdoanh khách sạn.”
• Tính quy luật trong kinh doanh khách sạn
- “Hoạt động kinh doanh khách sạn chịu sự ảnh hưởng của các quy luật tự nhiên, quy luật
kinh tế- xã hội, quy luật về tâm lý con người Đặc biệt, tác động của tự nhiên như thời
tiết, khí hậu của khu vực có ảnh hưởng không hề nhỏ đến khả năng khai thác tài nguyên
du lịch của địa phương cũng như hình thành nên tính thời vụ trong kinh doanh du lịch.”
“Tài nguyên du lịch cũng chính là một trong những yếu tố thúc đẩy con người đi du
lịch Nơi nào có nhiều tài nguyên thì nơi đó sẽ có khách du lịch và ngược lại nơi nàokhông có khách du lịch thì nơi đó không có tài nguyên Mà đối tượng chủ yếu của kháchsạn chính là khách du lịch nên yếu tố tài nguyên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanhkhách sạn Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh khách sạn có thành công hay không phụthuộc vào tài nguyên thiên nhiên và giá trị sức hấp dẫn của tài nguyên Ngoài ra, khi đầu
Trang 7tư vào hoạt động kinh doanh khách sạn, các nhà đầu tư phải nghiên cứu kĩ các thông sốcủa tài nguyên du lịch cũng như nhóm khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng bịhấp dẫn, thu hút tới điểm du lịch để có thể xác định thông số kỹ thuật của công trìnhkhách sạn trước khi đầu tư xây dựng và bắt đầu thiết kế Bởi vì quy mô của khách sạn sẽđược quyết định bởi chính khả năng tiếp nhận tài nguyên của điểm đến du lịch đó Giá trị
và sức hấp dẫn của tài nguyên cũng quyết định đến thứ hạng của khách sạn Và khi có tácđộng khách quan đến giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch thì các nhà điều hànhkhách sạn cũng phải có sự điều chỉnh về mặt kỹ thuật và cơ sở vật chất của khách sạn saocho phù hợp.”
“Tác động của các quy luật kinh tế xã hội, văn hóa, thói quen từ các vùng miền khác nhau
hình thành nên sự đa dạng và sự khác nhau về nhu cầu của các khách hàng – đây cũngchính là cơ sở làm đa dạng hóa sản phẩm của kinh doanh và đối tượng khách hàng
Vấn đề được đặt ra cho các khách sạn là phải nghiên cứu quy luật tác động của những đặcđiểm trên đối với khách sạn, từ đó chủ động đề ra những giải pháp hữu hiệu để khắc phụcnhững bất lợi và phát huy những ưu thế để phát triển hoạt động kinh doanh của mình mộtcách tốt nhất.”
3.2 Các loại hình dịch vụ trong kinh doanh khách sạn
“Như chúng ta đã biết, hầu hết các sản phẩm trong kinh doanh khách sạn tồn tại dưới hìnhthức vô hình hay đó chính là “sản phẩm” dịch vụ Sản phẩm này được chia làm 2 loại:
dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung.
- Dịch vụ chính:“là những hoạt động chủ yếu và quan trọng không thể thiếu trong hoạtđộng kinh doanh khách sạn và trong mỗi chuyến đi của khách Dịch vụ này bao gồm dịch
vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống Các dịch vụ này đáp ứng tất cả những nhu cầu thiết yếu khi
đi du lịch của con người đó là ăn và ngủ nghỉ Đây cũng chính là nguồn doanh thu chínhđối với khách sạn và giữ vị trí quan trọng nhất trong các loại hình kinh doanh của kháchsạn Song yếu tố để tạo nên sự đa dạng sản phẩm dịch vụ trong kinh doanh lại đến từ dịch
vụ bổ sung.”
Trang 8- Dịch vụ bổ sung:“là những dịch vụ được đưa ra nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng biệt và
bổ sung của khách hàng Những dịch vụ này tạo điều kiện thuận lợi và thu hút khách choviệc lưu trú tại khách sạn cũng như làm phát triển mức độ phong phú của sản phẩm dịch
vụ Cũng chính nhờ có các dịch vụ bổ sung đi kèm mà quá trình lưu trú của du khách trởnên hấp dẫn hơn, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hơn về trải nghiệm của mình.”
II. PHÂN LOẠI KHÁCH SẠN
Để phân chia các loại hình khách sạn chúng ta dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau:
• Theo tiêu chuẩn sao
Trang 9“ Khách sạn thương mại (Commercial hotel)
Khách sạn thương mại phục vụ cho đối tượng khách thương nhân đi công tác, tuy nhiên trên thực tế hiện nay lại phục vụ chủ yếu cho đối tượng khách du lịch Loại hình khách
sạn này thường tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn.”
“ Khách sạn nghỉ dưỡng (Resort hotel)
Các Resort hotel thường năm ở ven biển, hải đảo, cao nguyên, vịnh… như ở Đà Nẵng,
Nha Trang, Phan Thiết… cho đối tượng khách đi nghỉ dưỡng dài hạn.
”
Trang 10“ Căn hộ khách sạn (Condotel)
Căn hộ khách sạn được thiết kế với đầy đủ các phòng chức năng: phòng khách – bếp – phòng ngủ Khách mua căn hộ khách sạn để phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng dài hạn hoặc
hợp tác với đơn vị quản lý cho thuê lại trong thời gian không lưu trú.”
“ Khách sạn sân bay (Airport hotel)
Khách sạn sân bay thường nằm gần các sân bay quốc tế, phục vụ chính cho đối tượng khách chờ bay hoặc nhân viên phi hành đoàn, có thời gian lưu trú ngắn hạn.”
Trang 11Khách sạn bình dân nằm gần các nhà ga, bến xe… với các trang thiết bị cơ bản, phục vụ
chính cho đối tượng khách du lịch ba lô.
”
Trang 12TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
I. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
1. NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
“Nhân lực trong khách sạn được hiểu là tập hợp tất cả nguồn lực của các nhân viên đanglàm việc trong khách sạn
- Nguồn nhân lực trong khách sạn được phân ra thành các bộ phận sau:
+ Bộ phận lao động quản lý: là những người lao động cao nhất trong khách sạn và trongcác bộ phận chuyên môn
+ Bộ phận lao động gián tiếp: là những người làm công tác tham mưu, tư vấn cho cáchoạt động quản lí, kinh doanh của khách sạn được diễn ra tốt nhất như là: hành chính, kếtoán, marketing,…
Trang 13+ Bộ phận lao động kinh doanh trực tiếp: là những người làm ở các bộ phận phục vụ trựctiếp như: lễ tân, buồng phòng, bar, bếp, bàn,…
+ Bộ phận lao động ngoài: là những bộ phận lao động như bộ phận bảo dưỡng, trông xe,chăm sóc vườn hoa cây cảnh, tạp vụ,…
Dù là ở vị trí nào trong khách sạn nhưng tất cả các bộ phận đều quan trọng như nhau vàcùng tập hợp công sức của mình tạo thành sức mạnh quyết định đến sự phát triển trongkinh doanh của một khách sạn
- Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực
Tuy nhiên, ở các vị trí khác nhau thì yêu cầu về trình độ, kinh nghiệm cũng khác nhau Ví
dụ như ở chức vụ quản lý, yêu cầu về bằng cấp, ngoại ngữ cũng như là kinh nghiệm sẽđược đặt lên hàng đầu Bởi vì để quản lý được con người thì một nhà điều hành phải cótrang bị đủ cho mình những kĩ năng cần thiết cũng như là các kinh nghiệm có được trongsuốt quá trình làm việc trong môi trường khách sạn của mình Và ngược lại, đối với các
bộ phận như tạp vụ hay bảo vệ thì lại không yêu cầu về bằng cấp hay kinh nghiệm, họđơn giản chỉ cần thời gian để làm quen với cơ cấu của khách sạn và họ cũng không tiếpxúc trực tiếp với khách hàng Điểm yêu cầu chung đối với tất cả các bộ phận trong kháchsạn chính là trách nhiệm nghề nghiệp Dù là ở bất cứ một bộ phận nào cũng nên có tráchnhiệm với công việc của mình, với khách hàng đang trả tiền trực tiếp cho mình để nhậnđược sự phục vụ tốt nhất.”
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN
- “Hoạt động kinh doanh khách sạn có lượng lao động trực tiếp lớn, mà sản phẩm chủ yếu
là các dịch vụ do vậy cần có một khối lượng lao động trực tiếp lớn Trong khách sạn, thờigian làm việc cũng như là yêu cầu về công việc hết sức căng thẳng về tinh thần, yêu cầutập trung cao độ và tính chính xác gần như là tuyệt đối Nhân viên trong khách sạn làmviệc 24/24 giờ trong một ngày mà công việc lại mang tính chuyên môn hóa cao vì thế đòihỏi một lượng lớn thay thế để có thể đảm bảo được chất lượng phục vụ cũng như là vấn
đề về sức khỏe cho nhân viên Và khi phải sử dụng một lượng lớn lực lượng lao động trựctiếp, các nhà quản lý khách sạn phải đối mặt với vấn đề khó khăn về chi phí lao động cao,vừa phải hạn chế về nguồn nhân lực nhưng vẫn phải đảm bảo về chất lượng trong hoạtđộng kinh doanh
Trang 14- Để một khách sạn có thể vận hành thì ngay từ những bước ban đầu chúng ta đã cần cómột khối lượng lớn nhân viên Từ tất cả các vị trí trong khách sạn từ thấp đến cao Nếuthiếu đi bất kì một bộ phận nào thì hiệu quả hoạt động của khách sạn sẽ có vấn đề khi đivào hoạt động Độ tuổi trung bình của các bộ phận cũng thay đổi theo từng cấp độ trongkhách sạn Trung bình của nhân viên nữ là 20-30 tuổi, nam từ 30-45 tuổi Các bộ phậnnhư lễ tân, bar, bàn đòi hỏi mức tuổi thấp nhất, nhưng bộ phận cấp quản lý lại có đội tuổicao hơn Trình độ văn hóa cũng phân hóa theo chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữvới từng cấp độ bộ phận.”
II. NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH KHÁCH SẠN Ở VIỆT NAM
- “Ngành du lịch ở Việt Nam nói chung cũng như ngành khách sạn nói riêng đã và đangphát triển rất nhanh trong những năm gần đây và không có đủ nguồn nhân lực đủ tiêuchuẩn để phục vụ sự tăng trưởng như vậy Theo dự báo của Tổng cục Du lịch Việt Nam(VNAT), đến năm 2020, ngành du lịch sẽ cần hơn hai triệu người trực tiếp cung cấp dịch
vụ du lịch, không bao gồm lao động cung cấp cho du lịch tàu biển, theo báo Người LaoĐộng (báo điện tử đưa tin), hiện tại, có hơn 1,3 triệu lao động trong ngành du lịch trêntoàn quốc, chiếm 2,5% tổng lực lượng lao động toàn quốc Chỉ có 42% những công nhânnày được đào tạo về du lịch, 38 % đã chuyển từ các ngành khác và 20% không được đàotạo chính thức Điều này có nghĩa là ngành công nghiệp thiếu nhân viên có kỹ năng vàkinh nghiệm và có quá nhiều công nhân không có kỹ năng Mỗi năm, các trường du lịchchỉ đáp ứng 60% nhu cầu của ngành, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực
du lịch.”
2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH KHÁCH SẠN Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực
“Hiện nay, ngành du lịch khách sạn được đánh giá là ngành có nhu cầu nhân sự cao gấp
2-3 lần so với các ngành trọng điểm khác như giáo dục, y tế, tài chính Theo báo cáo củaViện Nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR) với tốc độ tăng trưởng là 6,2%/năm trong giaiđoạn 2011-2015, đến hết năm 2015, nhu cầu nhân lực làm việc trực tiếp (hướng dẫn viên
Trang 15du lịch, lễ tân…) trong ngành ước tính cần 620.000 người và đến năm 2020 nhu cầu nhânlực của ngành Du lịch tăng lên khoảng 870.000 lao động trực tiếp với tốc độ tăng trưởngtrong giai đoạn 2016-2020 là 7,0%/năm.”
Bảng 1 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020
(theo vị trí làm việc và theo ngành nghề)”
“Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển du lịch”
Số liệu ở bảng 1 cho ta thấy số lượng đơn vị đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịchkhách sạn đã tăng 4,11 lần so với năm 2005 Dự tính trong tương lai con số này vẫn sẽtiếp tục tăng lên chính vì thế việc cấp thiêt đối với các nhà quản trị hiện nay cần phải thuhút thêm nhân lực theo học ngành khách sạn để chuẩn bị cho nhân lực trong tương lai.Trên thực tế, nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực khách sạn của Việt Nam chỉ ra rằng mặc dùkhủng hoảng toàn cầu kéo dài, các nhà đầu tư khách sạn và các công ty quản lý quốc tế tinrằng thời gian khởi sắc sẽ đến sớm khi thị trường bùng nổ trở lại
Trang 16Tuy nhiên, các chủ khách sạn đã bày tỏ một số lo lắng liên quan đến chất lượng của lựclượng lao động, bao gồm cả việc làm từ quản lý đến các vị trí làm việc Khi các khách sạncạnh tranh với nhau một cách quyết liệt, việc duy trì nhân sự có tay nghề cao đóng vai tròthen chốt Hơn nữa, khi một số lượng lớn các dự án khách sạn đang được triển khai, thìcơn đau đầu này còn tệ hơn nữa.
Theo Stephen O’Grady, người từng làm tổng giám đốc của một số khách sạn năm sao tạiViệt Nam, đã từng nói rằng các công ty nước ngoài đang tìm kiếm người Việt Nam để lấpđầy công việc trong mọi lĩnh vực từ ngân hàng và môi giới chứng khoán đến kế toán vàcông nghệ thông tin Tương tự, các khách sạn quốc tế đang gặp khó khăn trong việc tuyểndụng và giữ chân nhân viên khách sạn Việt Nam có trình độ, trong bối cảnh cạnh tranhkhốc liệt cho các công nhân và quản lý có kinh nghiệm
Trong vài năm qua, khi các khách sạn mới xuất hiện trên thị trường, chiến lược tuyểndụng đầu tiên của họ là săn trộm các nhà quản lý tuyến giữa từ nhiều khách sạn đang hoạtđộng O'Grady nói thêm rằng sự cạnh tranh dành cho nhân viên khách sạn có kinhnghiệm, đặc biệt là các nhà quản lý cấp trung, đã dẫn đến sự đánh giá nhanh chóng vềmức lương, với các khách sạn thường đưa ra mức tăng thù lao đáng kể cho nhân viên từcác nhà tuyển dụng khác
Cả nước ta có bốn trường du lịch quốc gia, tất cả đều do Chính phủ điều hành, nhưng cácnhà đầu tư khách sạn mong muốn sinh viên mới tốt nghiệp rất cần được đào tạo thêm đểtheo kịp các tiêu chuẩn quốc tế - về trình độ tiếng Anh và các lĩnh vực khác
Điều đó có nghĩa là hầu hết các khách sạn đang bận rộn phát triển các chương trình đàotạo chuyên sâu của riêng họ để đối phó với sự thiếu hụt nhân sự trong tương lai mà cáctrường đại học khó có thể đáp ứng kịp thời
2.2. Điểm mạnh
“Việt Nam có dân số đông, tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu dân số thuận lợi nên hình thànhnguồn nhân lực dồi dào, phát triển Ngoài ra lao động Việt Nam có truyền thống cần cù,ham học hỏi một phần nào đó bù lại cho điểm yếu về kỹ năng của nhân lực Việt Nam