Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị số 30 CT/TW về xây dựng QCDC ở cơ sở, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH12 và Chính phủ đã ban hành nhiều ngh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 4 1.1 Các khái niệm 4
1.2 Các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã 8
1.3 Nguyên tắc thực hiện dân chủ cơ sở 9
1.4 Nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở 10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LAM ĐIỀN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 13
2.1 Đặc điểm tình hình của xã Lam Điền 13
2.2 Tình hình thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Lam Điền 14
2.3 Những ưu diểm, hạn chế của việc thực hiện pháp luật dân chủ ở UBND xã Lam Điền 24
2.4 Những nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm 27
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở UBND XÃ LAM ĐIỀN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 29
3.1 Thực hiện dân chủ cơ sở cùng với nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, trách nhiệm của chính quyền và các tổ chức CT - XH 29
3.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức của cán bộ xã 31
3.3 Tăng cường công tác tuyên truyền pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở 32
3.4 Đảm bảo và tăng cường công tác công khai, dân chủ, kiểm tra, giám sát 33
3.5 Gắn thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở với nâng cao dân trí và phát triển toàn diện đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội 34
KẾT LUẬN 36
LỜI CẢM ƠN 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 213 Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về
xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Chỉ thị số 30
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng cộng sản Việt Nam nhận định là một trong những nội dung cốt lõi, trong tâm Dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân Chính vì vậy, Bộ Chính trị
đã ra chỉ thị số 30 CT/TW về xây dựng QCDC ở cơ sở, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH12 và Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định CT - XH, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính
quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu:“dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Qua việc triển khai thực hiện dân chủ ở
cơ sở góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, nhất là việc chú trọng vào công tác cải cách hành chính và giải quyết khiếu nại tố cáo tại cơ sở
Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ XHCN còn bộc lộ nhiều thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ
thể hóa và thể chế hóa thành luật, còn chậm đi vào cuộc sống “Việc xây dựng
và thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước không ít nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao, chưa thành nền nếp Một số xã, phường, thị trấn chưa làm tốt việc công khai, dân chủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá cả đền bù khi chuyển mục đích sử dụng đất, chính sách tái định cư… Một số nơi nội bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền mất đoàn kết; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn kịp thời;… mất dân chủ, thiếu tôn trọng dân
Trang 4còn khá phổ biến…” 1 Cùng với đó, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung
ương khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tiếp tục đề
cập việc: “thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để dân tham gia
quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức, xây dựng luật trưng cầu ý dân” Do đó, việc
nghiên cứu, vận dụng và phát triển các luận điểm khoa học về thực hiện Dân chủ
ở cơ sở đang trở thành một yêu cầu quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay trọng việc chỉ ra những ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện, chỉ ra những nguyên nhân, thành tựu để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời tìm
ra những biện pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn các nội dung của bản Pháp lệnh cho địa bàn nghiên cứu nói riêng và các phường, xã, thị trấn nói chung
Chính vì những yêu cầu cấp thiết nêu trên, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở UBND xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” nhằm góp phần tìm ra những giải pháp thích
hợp nhằm thực hiện thành công mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra trong giai đoạn từ năm 2015 – 2016
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra, phân tích việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở trên địa bàn xã Lam Điền để chỉ ra những mặt hạn chế, nguyên nhân và đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thực hiện quy chế dân chủ phù hợp với điều kiện trên địa bàn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
1 Kết luận Số: 65-KL/TW ngày 4 tháng 3 năm 2010 của Ban Bí thư Trung ương về tiếp tục thực hiện
Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở (phần hạn chế)
Trang 5Đề tài nghiên cứu quá trình thự hiện, thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Lam Điền (huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội) Do vậy, trong nội dung tiểu luận, dân chủ ở cơ sở được hiểu là dân chủ ở cấp xã
- Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi giới hạn của tiểu luận, tôi tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện dân chủ ở xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong 02 năm (2015 – 2016)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Tiểu luận được thực hiện dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Đề tài được nghiên cứu với sự vận dụng và tổng hợp của nhiều phương pháp cụ thể; từ phương pháp logic và lịch sử, so sánh; phương pháp nghiên cứu tài liệu và tổng hợp đến phương pháp điều tra xã hội học
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục tiểu luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở
Chương 2: Thực trạng thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Lam Điền,
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện dân chủ ở
xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Trang 6là Kratos – có nghĩa là quyền cai trị, sức mạnh) Như vậy, từ Demos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự cai trị của người bình dân Theo đó, dân chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân, là sự cai trị của nhân dân – điều này được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài
Dân chủ theo nghĩa tiếng Anh là “chính thể dân chủ” Đây là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ là một xu hướng khách quan của tiến trình lịch sử Dân chủ ở đây được hiểu như là một quyền lực
xã hội, một chính quyền nhà nước, một thể chế chính trị, nhờ đó giai cấp vô sản
có thể sử dụng dân chủ như một công cụ, phương tiện để tiến hành cải biến xã hội theo xu hướng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, xây dựng một xã hội trong đó
“sự phát triển tự do của mỗi người là điền kiện cho sự phát triển của mọi người” Lịch sử thể giới đã chứng tỏ sự phát triển của nền dân chủ qua các giai đoạn, thể hiện nấc thang của sự tiến bộ là: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ XHCN
Trang 7Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dân chủ có nghĩa dân là chủ và dân làm chủ
Là chủ, biểu hiện vị thế xã hội, tính tích cực chính trị và địa vị pháp lý của người dân Làm chủ, đó là hành động của dân, biểu hiện năng lực thực hành dân chủ, thước đo về trình độ phát triển ý thức dân của của dân với tư cách là chủ thể quyền lực, thực hiện sự ủy quyền chân chính của mình vào thể chế chính trị và
thể chế nhà nước Bởi Người hiểu sức mạnh của nhân dân: “Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” là cốt lõi
trong khái niệm “dân chủ” của Hồ Chí Minh
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, dân chủ là "hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế nhất định "2
Tóm lại, dân chủ là chế độ chính trị - xã hội trong đó Nhân dân là chủ thể
của quyền lực Nhà nước Nhà nước là đại diện cho Nhân dân để thực hiện quyền lực Nhân dân trao cho nên Nhà nước chịu sự quyết định và giám sát của Nhân dân Dân chủ gắn liền với Nhà nước Nhà nước tiêu vong thì chế độ dân chủ cũng tiêu vong
1.1.2 Cơ sở
Cơ sở là thành tố, là đơn vị nhỏ nhất trong cấu trúc của một hệ thống các
sự vật, hiện tượng Khái niệm này được hiểu theo cả hai nghĩa rộng và hẹp:
Nghĩa rộng: là các đơn vị xã hội nhỏ nhất mà nhân dân tổ chức nên Hoặc hiểu
theo cách khác: các tổ chức, cơ quan, đơn vị nhất định nào đó có tư cách pháp
2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995, tr 653
Trang 8nhân đầy đủ thì đều là tổ chức cơ sở (Ví dụ như cơ sở của xã hội là gia đình – tế bào; buôn, làng, xóm, ấp, bản, thôn, xã – là tổ chức cơ sở của xã hội)
Nghĩa hẹp: Cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà
nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu…
Hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, được tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và cấp xã (xã, phường, thị trấn) hay còn gọi là cơ sở Như vậy, cơ sở (xã, phường, thị trấn) là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà nước Chính quyền
cơ sở có vị trí đặc biệt trong HTCT ở nước ta Trong quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức mới về cơ sở, coi cơ sở là hình ảnh tập trung của chế độ dân chủ
1.1.3 Thực hiện dân chủ ở cơ sở
Có thể hiểu dân chủ ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích của con người nhằm đưa quy định pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn được thực hiện trong đời sống xã hội Hay nói cách khác, DCCS là quá trình hiện thực hóa các quy định của pháp luật về dân chủ trong đời sống xã hội nhằm đảm bảo cho các quyền cơ bản của công dân được thực thi trong thực tế
Dân chủ ở cơ sở không phải là một hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Nhà nước
là cơ quan đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Song nhà nước không thể hiểu hết được tâm tư nguyện vọng của nhân dân ở các vùng, miền địa phương có những đặc điểm, kiều kiện kinh tế - xã hội, địa lý, tập quán khác nhau Do đó, phát huy và
mở rộng dân chủ trực tiếp của nhân dân đến tận cơ sở nhằm: đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, vừa phát huy tính sáng tạo, trí tuệ của muôn người trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của
Trang 9Đảng và Nhà nước Đồng thời, đây là điều kiện tốt nhất để khắc phục bệnh quan liêu và chống những hiện tượng và hành vi phản dân chủ phát sinh trong bộ máy nhà nước
Như vậy, thực hiện DCCS là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các
quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cơ
sở 3
DCCS được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trong đó dân chủ trực tiếp có ý nghĩa thiết thực nhất và được diễn ra theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” một cách thiết thực Thực hiện DCCS phải trên cơ sở của Hiến pháp, pháp luật của nhà nước và giữ vững đường lối của Đảng, tăng cường khối đoàn kết cộng đồng, phát huy tình tích cực, sáng tạo của mọi thành viên đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước
1.1.4 Pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở
Để DCCS được phát huy và đi vào cuộc sống phải được cụ thể và quy định trong các quy định của pháp luật Chính pháp luật là điều kiện, là đảm bảo
để có dân chủ Pháp luật thực hiện DCCS là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực thiện DCCS áp dụng trong thực tiễn như: quy định để thực hiện quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, các cách thức
và phương pháp để đảm bảo quyền làm chủ của người dân; những việc mà người dân được quyền tham gia ý kiến và phải có sự tham gia của người dân; và quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, … trong việc thực hiện DCCS
Do vậy, PL thực hiện dân chủ ở cơ sở là hệ thống các quy phạm PL do NN quy
3 Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa – giáo trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính quốc gia Nxb Chính trị - Hành chính, H 2011, tr.399
Trang 10định và thừa nhận các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở Pháp luật về dân chủ điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà
nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công nhân nhằm đảm bảo cho công nhân thực hiện quyền làm chủ
1.2 Các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã
Chỉ thị số 30/CT – TW ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã đặt nền móng cho việc hình thành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên nước ta Sau khi Chỉ thị 30 ra đời, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về thực hiện dân chủ
ở cơ sở, bao gồm những văn bản chủ yếu sau:
- Nghị quyết số 45/1998/NQ – UBTVQH ngày 26 tháng 02 năm 1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
- Chính phủ ban hành NĐ 29/1998/NĐ – CP ngày 11/5/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã;
- Chỉ thị số 22/1998/ CT - TTg ngày 15/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã;
- Ban tổ chức – Cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 03/1998/TT - TCCP về hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường và thị trấn;
- Kế hoạch số 145/TCCP - ĐP ngày 6/7/1998 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ về kế hoạch triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
- Chỉ thị số 24/1998/CT – TTg về việc xây dựng hương ước, quy ước của làng, thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/6/1998;
Trang 11- Thông tư liên tịch số: 03/2000/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ ngày 31/3/2000 đã hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư;
- Thông tư liên tịch số 04/2001/ TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ hướng dẫn bổ sung thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ, bổ sung nội dung thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình vào trong hương ước;
- NĐ79/2003/NĐ - CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế dân thực hiện dân chủ ở xã, thay thế NĐ 29/1998/CP ngày 11/05/1998 của Chính phủ;
- Thông tư số 12/2004/TT – BNV hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ ở
1.3 Nguyên tắc thực hiện dân chủ cơ sở
Để đảm bảo việc thực hiện các nội dung dân chủ đúng pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, nhất là các quyền dân chủ trực tiếp, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã quy định cụ thể các nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã Các nguyên tắc này cũng chính là các tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong toàn bộ nội dung Pháp lệnh
Các nguyên tắc bao gồm:
Trang 12Thứ nhất: Đảm bảo trật tự kỷ cương trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Thứ hai: Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền của nhân dân, bảo đảm cho dân
được biết, được bàn, quyết định và kiểm tra; bảo đảm hài hòa lợi ích cho dân, các tổ chức, cơ quan nhà nước
Thứ ba: Thực hiện công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp
xã; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước
1.4 Nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở
Nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền, các giá trị của dân chủ được quy định trong Hiến pháp Đó là các quyền về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 7, Điều 27), quyền của nhân dân lao động được tham gia vào quản lý Nhà nước (Điều 28), quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin (Điều 25), quyền nhân dân được kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và cán bộ công chức nhà nước (Điều 8), quyền bình đẳng nam nữ (Điều 26)4…
Nội dung thực hiện DCCS là những công việc của Nhà nước và của xã hội, nhân dân phải được biết, được tham gia vào quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở Từ năm 1998, Đảng ta đã chỉ ra định hướng
về mở rộng nội dung thực hiện DCCS5 như sau:
Thứ nhất, quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp
luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở; có chế độ và hình thức công khai trước dân những việc dân biết theo quy định
4 Hiến pháp Nhà nước CHXHCNVN 2013
5 Xem Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị ngày 18-2-1998 về “Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”
Trang 13Thứ hai, có quy chế và các hình thức để nhân dân ở cơ sở được bàn bạc và tham
gia ý kiến công việc của chính quyền ; kết quả ý kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền ra quyết định
Thứ ba, có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với
những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; chính quyền, tổ chức thực hiện theo ý kiến của đa số nhân dân, có sự giám sát, kiểm tra của nhân dân
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế để nhân dân ở cơ sở trực tiếp và thông qua Mặt trận,
các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, ; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được chính quyền, tiếp thu nghiêm túc
Thứ năm, mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và
thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hoá, có
sự hỗ trợ của chính quyền
Thứ sáu, xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu
nại tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại, tố cáo
Thứ bảy, xác định trách nhiệm của tổ chức, đơn vị cơ sở định kỳ báo cáo công
việc trước dân, phải tự phê bình và để nhân dân góp ý kiến, đánh giá, phê bình; nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó
Sau quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cáo giá trị pháp
lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (thay thế nghị định 79/2003/NĐ – CP) Pháp lệnh này có 6 chương, 28 điều quy định những nội dung cần được giải trình trước dân, những nội dung cần được dân thảo luận và quyết định; những nội dung phải được dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền và công chức cấp
Trang 14làng – xã… Cùng với các nội dung dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát thì Pháp lệnh 34/2007 cũng quy định cụ thể, rõ ràng hình thức thực hiện các nội dung được nêu trên6
6 Xem Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007 - UBTVQH
11
Trang 15CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
LAM ĐIỀN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm tình hình của xã Lam Điền
Lam Điền là xã đồng bằng bên dòng sông Đáy và nằm ở phía đông nam của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, cách thị trấn Chúc Sơn 5km về phía nam Phía đông giáp với sông Đáy (bên kia sông là các xã Cao Viên, Thanh Cao của huyện Thanh Oai), phía tây giáp xã Đại Yên và xã Hợp Đồng, phía nam giáp xã Hoàng Diệu, phía bắc giáp xã Thụy Hương
Địa hình xã mang đặc trưng của khu vực đồng bằng nên tương đối bằng phẳng Đường đê sông Đáy chia xã làm hai miền: Miền nội đê có địa hình bằng phẳng với nghề trồng lúa nước là chính, miền ngoại đê ven sông là đất vàng cao
do phù sa sông bồi đắp, dân cư tập trung đông đúc và trồng hoa màu là chính Lam Điền chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa xuân, hạ, thu, đông thuận lợi cho nhân dân trong xã tiến hành luân canh tăng vụ, chuyến đổi cơ cấu mùa vụ, tăng năng suất cây trồng trong sản xuất nông nghiệp
Nguồn tài nguyên chính của xã là đất đai với tổng diện tích đất tự nhiên là 811,09ha Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 547,88ha (chiếm 67,55% tổng diện tích đất tự nhiên), đất phi nông nghiệp là 184,55ha (chiếm 22,75%), đất chưa sử dụng là 19,58ha (chiếm 2,42%), đất khu dân cư nông thôn
là 59,08ha (chiếm 7,28%)7
7 Theo số liệu “Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Lam Điền (1930 – 2015)”, Nxb Thông tin và
truyền thông, 2016, tr10
Trang 16Theo số liệu thống kê năm 2015, xã Lam Điền có 2.820 hộ với 12.013 nhân khẩu được chia làm 28 xóm Dân số trong tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dân số toàn xã Xã Lam Điền cũng là vùng đất của những công trình văn hóa đình, chùa, được công nhận là tích lịch sử như: Nhà thờ Đặng Tiến Đông, Đình làng Lam Điền, Đình thôn Duyên Ứng …
Lam Điền là một cùng đất lịch sử cùng những đặc điểm trên là điều kiện thuận lợi để nhân dân và chính quyền xã thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và triển khai thực hiện tốt DCCS nói riêng
2.2 Tình hình thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Lam Điền
2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở
Thực hiện chỉ thị 30 CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị; Tài liệu
“Triển khai quy chế dân chủ ở buôn làng” của Ban Dân vận Trung ương, Kế
hoạch thực hiện các Quyết định số 217 và 218 của Bộ chính trị, các văn bản hướng dẫn của thành phố như Công văn số 901/UBND-VX về việc thực hiện Kết luận số 120-KL/TW ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị khóa VIII - Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Căn cứ vào những nội dung của Nghị định 29, Nghị định 79 và Pháp lệnh 34, xã Lam Điền đã thực hiện công khai, báo cáo trước nhân dân theo các hình thức sau:
Thông qua các kỳ họp HĐND, thông qua các Hội nghị tiếp xúc cử tri, thông qua các Hội nghị đoàn thể, đồng thời công khai thông tin thông báo trên hệ thống thông tin đại chúng để kịp thời đưa thông tin về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, nhiệm vụ trọng tâm của xã, các dự án phát triển công nghiệp, đô thị, giao thông…Qua hơn 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30 của Bộ chính trị, quy chế dân chủ đã thực sự đi vào đời sống Với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, các lĩnh vực liên quan đến chính sách an sinh xã hội, công tác thu chi ngân sách, việc
Trang 17quy hoạch sử dụng đất, phương án bồi thường, GPMB đều được xã Lam Điền thông tin công khai đến toàn thể nhân dân trên hệ thống đài truyền thanh, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các phiên họp HĐND xã Nổi bật là việc công khai giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” đối với nhân dân được triển khai hiệu quả, minh bạch, đúng pháp luật, nhất là thực hiện niêm yết các quy định về phí, lệ phí, thời gian thực hiện thủ tục hành chính Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân đồng thời tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền, góp phần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước và phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị - TTATXH tại địa phương
Thực hiện có nền nếp, thường xuyên qui định về những việc cần thông báo để nhân dân biết đã trở thành công việc của chính quyền xã, thị trấn trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân nắm bắt những vấn đề thiết thực liên quan đến cuộc sống cộng đồng và bản thân mỗi công dân, từ đó làm cơ sở dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Về nội dung dân bàn và quyết định
Đảng bộ, UBND xã Lam Điền luôn chú trọng thực hiện tốt những việc nhân dân bàn, quyết định những nội dung liên quan đến quyền lợi và đời sống của nhân dân như công tác giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án, thi công các công trình văn hóa, nhà họp dân, xây dựng đường, ngõ, và các hạ tầng kỹ thuật trong khu dân cư Các nội dung đều được dân họp bàn thảo luận, đóng góp dân chủ công khai của nhân dân, do vậy các công trình đưa vào sử dụng đều đảm bảo được chất lượng, hiệu quả và được sự đồng tình ủng hộ, nhất trí cao Các công việc được nhân dân tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến để Đảng bộ và UBND quyết định cho thấy hiệu quả, chất lượng được nâng cao như cuộc bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIII và bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 có trên 100% nhân dân tham gia đi bầu cử, lựa chọn giới thiệu, bầu đại biểu HĐND
Trang 18có chất lượng tập trung cao, những đồng chí được bầu đều hoàn thành tốt nhiệm
vụ
Về nội dung nhân dân giám sát, tham gia ý kiến, chính quyền thực hiện
Thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng, qua các cuộc tiếp xúc với cử tri chuẩn bị cho kỳ họp HĐND, thông qua các hoạt động MTTQ và các đoàn thể, hoạt động của các cơ quan pháp luật đều được đảm bảo dân chủ, các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước được thực hiện tốt, đúng quy định của pháp luật Hoạt động của tổ an ninh tự quản, tổ hòa giải đều phát huy tốt, số vụ hòa giải thành công đạt trên 80% Quá trình triển khai thực hiện Pháp lệnh 34, Đảng bộ luôn gắn việc thực hiện dân chủ vào công tác xây dựng Đảng Việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND được tiến hành công khai, đúng quy định
2.2.2 Đảng bộ xã đối với việc thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cở sở trên địa bàn xã Lam Điền
Đảng bộ xã trong việc quán triệt thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở
Qua khảo sát thực tế, các tổ chức cơ sở đảng ở trên địa bàn xã đã triển khai theo các bước sau:
- Thành lập Ban chỉ đạo với các thành viên là đại diện đảng, chính quyền, các đoàn thể, do đồng chí Phó bí thư thường trực đảng bộ xã làm trưởng ban
- Ban chỉ đạo và tổ chức đảng học tập, nghiên cứu PLDC; phân công trách nhiệm cho từng đảng viên và các thành viên trong ban chỉ đạo
- Xây dựng đội ngũ báo cáo viên có khả năng hướng dẫn quần chúng học tập, thảo luận thực hiện PLDC