Vùng Đồngbằng Sông Hồng có dân số đông nhất cả nước trên 21,1 triệu người, tiếp đến làVùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ, gần 19,8 triệu người trong đó, Bắc Trung Bộ có qui mô d
Trang 1Chương 1 ĐỊA LÍ DÂN CƯ VÀ QUẦN CƯ
Mục tiêu chương 1:
Sau khi học xong, sinh viên có thể:
- Phân tích được qui mô và động lực gia tăng dân số của Việt Nam.
- Phân tích được kết cấu dân cư của Việt Nam.
- Trình bày được phân bố dân cư và các hình thức quần cư.
- Phân tích được vấn đề lao động và việc làm.
1.1 Dân số và động lực gia tăng dân số
1.1.1 Qui mô dân số và gia tăng dân số
1.1.1.1 Qui mô dân số theo thời gian
Lịch sử Việt Nam đến nay có thể phân ra 4 giai đoạn phát triển khácnhau Tương ứng với mỗi thời kì lịch sử đó, qui mô dân số cũng có những sựthay đổi khác biệt Dân số nước ta vào thời kì đầu dựng nước ước tính dưới 1triệu người Cuối thời Văn Lang (3000 năm TCN) có khoảng 500.000 người,cuối thời Âu Lạc (180 TCN) có khoảng 600.000 người, tới thời kì đấu tranhgiành độc lập, tiêu biểu là Nhà nước Vạn Xuân, niên đại 544, dân số nước ta đạtxấp xỉ 1 triệu người Thời kì độc lập tự chủ được đánh dấu bằng một số mốc cơbản sau: dân số nước Đại Cồ Việt, niên đại 968 có khoảng 2 triệu người, dân sốnước Đại Việt, niên đại 1054 có khoảng 2,2 triệu người, niên đại 1407 cókhoảng 3,1 triệu người Đến thời kì thống nhất lãnh thổ với Quốc hiệu ViệtNam, niên đại 1802 đầu đời Gia Long, dân số nước ta có khoảng 5.780.000người, năm 1840 có khoảng 7.764.000 người Thời kì thuộc Pháp, năm 1870 cókhoảng 10 triệu người, năm 1901 có khoảng 13 triệu người, năm 1921 dân sốnước ta đạt khoảng 15,5 triệu người1 Đến năm 1943, dân số nước ta đạt 22,1triệu người Tuy nhiên, nạn đói năm 1945 đã cướp đi 2 triệu đồng bào làm số
1 Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam Quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, NXB Trẻ, năm 2007.
Trang 2dân lúc đó chỉ còn khoảng 20 triệu người Từ Cách mạng tháng 8/1945 đến năm
1951, dân số nước ta đã bắt đầu tăng trở lại đạt 23 triệu người1
Việt Nam là một nước có dân số đông Từ 23.8 triệu dân năm 1954, dân
số nước ta đã tăng hơn gấp đôi vào năm 1979 với 52,7 triệu dân chỉ sau 26 năm,tiếp tục tăng lên 86,7 triệu dân vào năm 20102 và đến nay đã đạt hơn 92 triệudân vào năm 20162 Với số dân này, Việt Nam chiếm 1,27% dân số thế giới vàđứng thứ 14 trong bảng xếp hạng dân số của 233 quốc gia và vùng lãnh thổ củaLiên Hiệp Quốc, sau các nước Trung Quốc (1.410 triệu người), Ấn Độ (1.339triệu người), Hoa Kỳ (324 triệu người), Inđônêxia (264 triệu người), Braxin(209 triệu người), Pakixtan (197 triệu người), Nigiêria (191 triệu người),Bănglađét (165 triệu người), Liên Bang Nga (144 triệu người), Mêhicô (129triệu người), Nhật Bản (127 triệu người), Ethiôpia (105 triệu người), Philippin(105 triệu người) Trong khu vực Đông Nam Á, dân số nước ta đứng thứ 3 sauInđônêxia và Philippin3
Qui mô dân số theo các vùng kinh tế có sự khác biệt rõ rệt Vùng Đồngbằng Sông Hồng có dân số đông nhất cả nước trên 21,1 triệu người, tiếp đến làVùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ, gần 19,8 triệu người (trong
đó, Bắc Trung Bộ có qui mô dân số đạt hơn 10,8 triệu người; Duyên hải Namtrung bộ có dân số khoảng 8,94 triệu người), Đồng Bằng Sông Cửu Long xếpthứ 3 với hơn 17,6 triệu người, Đông Nam Bộ có số dân trên 16,4 triệu người,Trung du miền núi phía Bắc cũng đã đạt hơn 12 triệu người, Tây Nguyên có sốdân thấp nhất với hơn 5,69 triệu người2
Theo đơn vị hành chính (tỉnh, thành phố), dân số có xu hướng tập trung
ở những tỉnh, thành phố có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi Do
đó, có sự phân hóa rõ rệt về qui mô dân số giữa các địa phương Đơn vị có sốdân đông nhất cả nước là Tp Hồ Chí Minh trên 8,28 triệu người năm 2016, tiếpđến là thủ đô Hà Nội với hơn 7,31 triệu người4 Thanh Hóa, Nghệ An là các tỉnh
1 Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình, Tài liệu môn Dân số học cơ bản, Hà Nội, năm 2014
2 Tổng Cục Thống kê Niên giám thống kê Việt Nam, năm 2017 NXB Thống Kê
3 Phòng Dân số - Liên Hiệp Quốc, Triển vọng dân số thế giới 2017
Link: https://population.un.org/wpp/Publications/Files/WPP2017_Wallchart.pdf
Trang 3có số dân trên 3 triệu người Các tỉnh có dân số ở mức trên 2 triệu và xấp xỉ 3triệu người là An Giang, Bình Dương, Đồng Nai Nằm ở mức dân số từ 1 đếndưới 2 triệu người có 35 tỉnh, thành phố, gồm: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, BắcNinh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, TháiNguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Sơn La, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Gia Lai, ĐắkLắk, Lâm Đồng, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre,Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau.
Có 19 tỉnh có số dân từ 0,5 đến 1 triệu người Hai tỉnh có qui mô dân số nhỏnhất dưới 0,5 triệu người là Bắc Cạn và Lai Châu2
Với qui mô dân số hiện tại, nước ta có cơ hội lớn trong thu hút đầu tưnước ngoài do sức hấp dẫn của thị trường tiêu thụ rộng lớn và nguồn lao độngdồi dào Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, sức ép dân sốkhông phải là nhỏ vẫn đang gây áp lực lên tài nguyên, môi trường, khả năngphát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân
1.1.1.2 Gia tăng dân số
Tỉ suất gia tăng dân số được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất gia tăng tựnhiên và gia tăng cơ học Tỉ suất gia tăng dân số là sự so sánh dân số giữa haithời kì bao gồm cả gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Đây là thước đo phảnánh trung thực, đầy đủ tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùnglãnh thổ Trên phạm vi toàn thế giới, tỉ suất gia tăng dân số chủ yếu phụ thuộc tỉsuất gia tăng tự nhiên Trong từng nước, từng vùng và ở những thời kì nhất định,
tỉ suất gia tăng dân số phụ thuộc cả gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học
Thế kỉ XX chứng kiến những mốc tăng trưởng đặc biệt của dân số ViệtNam Vào đầu thế kỉ XX đến năm 1939, mức tăng dân số tương đối thấp, xấp xỉđạt 1,5%/năm Đến năm 1943 có sự đột biến về tốc độ tăng trưởng với tỉ lệ đạttới 3,06% Tuy nhiên, nạn đói Ất Dậu (Năm 1945) đã tạo ra một sự thụt lùi vềgia tăng dân số: 0,5% năm 1951 và 1,1% năm 1954 Giai đoạn 1955 – 1960,dân số nước ta tăng mạnh, tạo cú hích cho thời kì bùng nổ dân số với tốc độ đạt
Trang 4tới 3,93% Với việc thực hiện các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình,giai đoạn 1965 – 1989, tỉ lệ gia tăng dân số có xu hướng giảm nhưng vẫn còn ởmức rất cao: 3,24% năm 1970, 3% năm 1976, 2,16% năm 1979 và 2,1% năm
1989 Thời kì này đã đưa qui mô dân số nước ta tăng vọt từ 23 triệu người vàogiữa thế kỉ lên gần gấp 3 vào thập kỉ 90 chỉ sau 40 năm Với dân số này, ViệtNam được xếp vào hàng các quốc gia đông dân trên thế giới Trong điều kiệnphát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khan, sự thay đổi về chính sách kế hoạchhóa gia đình đã có hiệu quả trong việc kiểm soát mức độ gia tăng dân số Tốc
độ gia tăng dân số hàng năm đã có xu hướng giảm dần còn 1,65% năm 1995,1,31% năm 2005 và duy trì ở mức trên 1% trong những năm gần đây (năm 2015
và 2016 liên tiếp là 1,07%)
Hình 1.1 Tỉ lệ gia tăng dân số Việt Nam thời kì 1951- 2016
Nguồn: Danso.org
Mức gia tăng dân số có sự khác biệt giữa các vùng Đông Nam Bộ có tỉ
lệ gia tăng dân số cao nhất cả nước trong vòng 2 năm từ 2014 đến 2016 với tốc
độ bình quân 1,93% Tốc độ gia tăng này có nguyên nhân từ gia tăng cơ giới.Trong khi đó, vùng Tây Nguyên có tốc độ gia tăng đứng thứ 2 1,5% lại chủ yếu
là do gia tăng tự nhiên Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm thấp nhất là Đồng BằngSông Cửu Long (0,4%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền trung(0,72%) có nguyên nhân chủ yếu là do xuất cư của các vùng này nhiều hơn cácvùng khác
Trang 5Mặc dù tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm nhưng qui mô của dân sốtheo giá trị tuyệt đối vẫn tăng qua các năm Trung bình mỗi năm nước ta lại cóthêm gần 1 triệu dân Điều này đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc tậndụng cơ hội vàng của dân số và vấn đề việc làm cho người lao động cũng nhưkhả năng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trước sức ép rất lớn từ dân số
1.1.2 Động lực tăng dân số
1.1.2.1 Gia tăng tự nhiên
Bảng 1.1 Qui mô dân số và tốc độ gia tăng dân số trung bình hàng năm của
Việt Nam giai đoạn 1921 - 2016
Năm
Tổng số (1.000 người)
Tốc độ tăng tăng dân số trung bình hàng năm (%)
Trang 62014 90.493 1,06
Nguồn: Năm 1921 đến 2010 theo Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình 1 ,
Năm 2014 đến 2016 theo Tổng cục thống kê 2
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số được tính bằng hiệu số của tỉ suất sinhthô và tỉ suất tử thô Tỉ lệ tăng tự nhiên của dân số là một trong những động lựctăng dân số chính của một địa phương, quốc gia, khu vực và thế giới Căn cứvào tỉ lệ này người ta có thế nhận định hoặc tính toán các triển vọng dân số củamột lãnh thổ
Bước sang thế kỉ XXI, tỉ lệ gia tăng tự nhiên của nước ta có xu hướngngày càng giảm, từ 13,5‰ năm 2001 xuống còn 10,3‰ năm 2010 và giữ ở mứctrên 9‰ vào những năm gần đây Tỉ lệ gia tăng tự nhiên cũng được kiểm soáttheo hướng giảm dần, tuy nhiên, mức độ tăng, giảm có sự khác biệt theo từngđiều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng Năm 2016, Tây Nguyên làvùng có mức gia tăng tự nhiên cao nhất cả nước 13‰ Điều này lí giải cho việctại sao khu vực này có tốc độ gia tăng dân số thuộc mức cao của cả nước Đứngthứ 2 là khu vực Trung du miền núi phía Bắc 12,6‰ Đồng bằng Sông CửuLong có tỉ lệ gia tăng tự nhiên thấp nhất trong các vùng với 6,2‰ Đồng bằngSông Hồng và Đông Nam Bộ là những khu vực đông dân của nước ta nhưngvẫn kiểm soát được tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số dưới 10 (Trong đó, Đồngbằng Sông Hồng 8,7‰, Đông Nam Bộ 8,4‰) Vùng Bắc Trung Bộ và Duyênhải Miền Trung cũng có mức gia tăng tự nhiên là 9,5‰ Điều này được lí giảibởi điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và trình độ dân trí của từng vùng.Những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, trình độ dân trí cao (ĐBSH,ĐNB) thường có nhận thức tốt hơn trong vấn đề kiểm soát sinh đẻ, do đó tỉ lệgia tăng tự nhiên thấp hơn Và ngược lại, những nơi có điều kiện chậm pháttriển, trình độ dân trí của người dân còn thấp thfi khả năng kiểm soát sinh đẻ sẽ
1 Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình, Tài liệu môn Dân số học cơ bản, Hà Nội, năm 2014
1 Tổng Cục Thống kê, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm
Trang 7kém hơn và do đó tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số sẽ cao hơn như vùng Trung
du Miền núi phía Bắc hay vùng Tây Nguyên
1.1.2.2 Tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh
Sinh đẻ là một qui luật của tự nhiên để cho mọi sinh vật có thể tồn tại vàphát triển được Đối với loài người, việc sinh đẻ còn phụ thuộc vào nhận thứccủa mỗi người, mỗi xã hội, cũng như vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể
Để đo mức sinh, người ta sử dụng nhiều loại tỉ suất sinh Mỗi loại có một ýnghĩa nhất định và được tính toán theo những cách riêng
Hình 1.2 Tỉ suất sinh thô (CBR) và tổng tỉ suất sinh (TFR)
thời kì 1979 - 2016
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1979, 1989, 1999,
Niên giám Thống kê Việt Nam 2017
a Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em sinh ra trong năm còn
sống so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần nghìn(‰) Tỉ suất sinh thô tuy chỉ phản ánh gần đúng mức sinh vì mẫu số bao gồmtoàn bộ dân số chứ không phải chỉ có phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, song nó đơngiản, dễ tính toán, dễ so sánh nên được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh
Tỉ suất sinh thô nhìn chung có xu hướng giảm, tuy nhiên tốc độ giảmsinh còn chậm và không ổn định Vào cuối XX, tỉ suất sinh thô là 19,9‰, sau
Trang 8gần 10 năm, tỉ suất sinh thô đã giảm được thêm 2,3‰ (17,6‰ năm 2009) Đếnnăm 2016 tỉ suất sinh thô ở mức 16‰ Việc kiểm soát mức sinh có liên quanđến sự gia tăng về độ tuổi kết hôn của nữ giới theo thời gian cũng như sự tăngcường về nhận thức trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai để kiểm soátviệc sinh đẻ.
Các khu vực có mức sinh còn cao là Trung du miền núi Phía Bắc 20,1‰
và Tây Nguyên 18,6‰ Khu vực có mức sinh tương ứng với mức sinh trungbình cả nước là ĐBSH 16,1‰, BTB và DHMT 17,1‰ Các khu vực có mứcsinh thấp dưới mức trung bình của cả nước là ĐNB 13,5‰ và ĐBSCL 13,2‰
b Tổng tỉ suất sinh là số con trung bình mà một phụ nữ có thể sinh ra
trong suốt cuộc đời mình, nếu như người phụ nữ đó trải qua tất cả các tỉ suấtsinh đặc trưng theo tuổi của năm đó1 Đây là một chỉ tiêu đã được lượng hóa đểđánh giá mức sinh, chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ và thuận chiều với tỉsuất sinh thô Tỉ suất sinh thô giảm tương ứng với số con trung bình của mộtphụ nữ trong thời kì sinh đẻ giảm
Nếu như vào năm 1979, theo khảo sát điều tra dân số và nhà ở cả nướcthì số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của Việt Nam là 5,9con tương ứng với mức sinh (tỉ suất sinh thô) là 33,2‰ thì sau 10 năm con sốnày còn 3,8 con (năm 1989) tương ứng với tỉ suất sinh thô là 30,1‰ và sau 20năm là 2,3 con (năm 1999) tương ứng với tỉ suất sinh thô giảm còn 19,9‰.Trong vòng 20 năm đầu của thế kỉ XXI, tổng tỉ suất sinh cả nước giao độngquanh mức 2,1 con Điều này phù hợp với chính sách dân số của nước ta tronggiai đoạn hiện nay khuyến khích mỗi gia đình chỉ nên dừng lại ở 2 con để nuôidạy cho tốt
Tuy nhiên tổng tỉ suất sinh cũng có sự phân hóa rõ nét theo từng vùng.Tương ứng với tỉ lệ sinh thô cao nhất cả nước, TDMNPB có tổng tỉ suất sinhcao nhất cả nước 2,63 con BTB và DHMT cũng như Tây Nguyên đều có tổng
tỉ suất sinh cao hơn mức trung bình của cả nước, đều là 2,37 con Đông Nam Bộ
1 Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Dân số học và Địa lí dân cư, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm
Trang 9và ĐBSCL đều có tổng tỉ suất sinh dưới 2 con, lần lượt là 1,46 và 1,84 còn vàonăm 20162
1.1.2.3 Tỉ suất chết thô và tuổi thọ trung bình
a Tỉ suất chết thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số
trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần nghìn (‰) Tỉ suất tử thô được
sử dụng cùng với tỉ suất sinh thô để tính tỉ suất gia tăng tự nhiên của dân số
Hình 1.3 Tỉ suất chết thô (CDR) và tuổi thọ trung bình (E 0 ) ở Việt Nam
thời kì 1979 - 2016
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1979, 1989, 1999,
Niên giám Thống kê Việt Nam 2010, 2016, 2017
Tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô đều chịu ảnh hưởng của khả năng cảithiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, đặc biệt các điều kiện về chất lượngcuộc sống càng cao như điều kiện chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường và mứcsống sẽ làm cho tỉ suất chết thô giảm và ở mức thấp Điều này đã được chứngminh qua sự thay đổi tỉ suất chết thô trong giai đoạn vừa qua Nếu như trướcnăm 1945, tỉ suất tử thô của nước ta ở mức rất cao 24,2‰ thì 34 năm sau tỉ suất
2 Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám Thống kê năm 2017, NXB Thống kê, Năm 2018
Trang 10này giảm xuống còn 7,2‰ (năm 1979) Đến nay, tỉ suất tử thô của nước ta là6,8‰ (năm 2016) thấp hơn mức trung bình của tỉ suất tử thô thế giới (8,1‰).
b Tuổi thọ trung bình (hay còn gọi là triển vọng sống trung bình)
Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh hay còn gọi là kỳ vọng sống từ lúc sinh(E0) là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá xác suất chết của dân số Tuổi thọtrung bình phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,mức sống, thành tựu của y học… Vì vậy, nó là một trong những chỉ tiêu khôngthể thiếu để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia
Năm 2016, tuổi thọ trung bình chung và của cả hai giới năm 2016 đềutăng 0,1 tuổi so với năm 2015 Đến năm 2016 tuổi thọ của nam vẫn tăng 0,1tuổi, trong khi đó tuổi thọ trung bình của nữ lại không thay đổi so với 2015 Cụthể, tuổi thọ trung bình chung là 73,4 tuổi, tuổi thọ trung bình của nam giới là70,8 tuổi, thấp hơn của nữ giới là 76,1 tuổi1 Điều này đúng với thực tế chung làmức tử vong của nam thường cao hơn mức tử vong của nữ ở tất cả các độ tuổi
và do đó tuổi thọ trung bình của nam thường thấp hơn tuổi thọ trung bình củanữ
So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, tuổi thọ trung bình tính từlúc sinh của Việt Nam cao hơn mức trung bình chung (70,4 năm), đứng thứ 5/11nước sau các nước Xin-ga-po (82,4 năm), Bru-nây (78,9 năm), Thái Lan (75,4năm) và Ma-lai-xia (74,4 năm)2 Đây là một trong những thành tựu của ViệtNam trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
1.1.3 Di cư
Di cư là yếu tố quan trọng, là động lực tích cực thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế laođộng, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội bền vững3 của một quốc gia Cùng với quá trình pháttriển của đất nước, công nghiệp hóa gắn với đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã
1 Tổng cục Thống kê, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình thời điểm
1/4/2016, NXB Thống kê 2017
2 The 2016 World Population Datasheet/Population Reference Bureau.
3 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế
Trang 11tạo nên các xu hướng di cư nội địa và di cư quốc tế ngày càng tăng giữa các địaphương và các vùng miền cũng như trên phạm vi cả nước.
Trong hai thập niên cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, xu hướng gia tăng
số người di cư có thể chia làm 2 giai đoạn: Thập kỉ 1989 đến 1999, xu hướnggia tăng di cư chủ yếu chịu tác động của chính sách khuyến khích di dân đếnvùng kinh tế mới gắn với thời kì đổi mới của đất nước, chuyển từ cơ chế baocấp sang nền kinh tế thị trường Thập kỉ 1999 - 2009 là thập kỉ chứng kiến xuhướng di dân nổi bật nhất của nước ta do sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấukinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, khu chế xuất, sự mởrộng hợp tác quốc tế… Giai đoạn hiện nay là thời kì hậu khủng hoảng kinh tếthế giới (năm 2008), xu hướng di cư có sự giảm nhẹ về số lượng giữa các vùngmiền, giữa thành thị với nông thôn Đặc biệt với chính sách phát triển nông thônmới đã rút bớt khoảng cách về kinh tế giữa nông thôn với thành thị nên sốlượng di cư trong giai đoạn này giảm
1.1.3.1 Di cư giữa các vùng
Đông Nam Bộ là vùng có lượng người nhập cư cao nhất trong cả nước(chiếm 50,9% người di cư), do đó tỉ suất di cư luôn thuần dương Năm 2016,vùng này thu hút 180 nghìn người1 Do đây là nơi có khu vực trọng điểm kinh tếphía Nam với nền kinh tế phát triển sôi động, nhiều khu công nghiệp, khu chếxuất tạo ra lực hút kinh tế lớn thu hút người di cư từ các vùng khác trong cảnước như vùng Đồng bằng sông Cửu Long (76,5% người xuất cư có điểm đến
là Vùng Đông Nam bộ), bắc trung bộ và Duyên hải miền trung (55,5% ngườixuất cư có điểm đến là Vùng Đông Nam bộ) và tây Nguyên (50,4 người xuất cư
có điểm đến là Vùng Đông Nam bộ) Độ tuổi của những người di cư đến là trẻ
và chủ yếu từ 15 đến 34 tuổi1
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và Bắc Trung bộ - Duyên hải miềnTrung, Trung du miền núi phía Bắc là những đại diện tiêu biểu cho vùng xuất
cư nhiều trên phạm vi cả nước Tỉ suất xuất cư của các vùng này thuần âm
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014 - Di cư và
đô thị hóa ở Việt Nam, NXB Thông Tấn, Hà Nội 2016
Trang 12Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỉ suất di cư thuần âm lớn nhất.Năm 2016, vùng này xuất cư hơn 100 nghìn người.
Riêng hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên có tỉ suất di cưthuần dương nhưng không cao Do đây là 2 khu vực có nhiều lợi thế về thu hútlao động, nhưng đồng thời lại chịu sức hút từ vùng kinh tế Đông Nam Bộ
Kết quả điều tra biến động dân số 2016 cho thấy số lượng người di cư 1năm trước thời điểm điều tra ở tất cả các vùng đã giảm đáng kể So với năm
2015, số lượng người di cư giữa các vùng giảm 53.404 người (năm 2015 sốngười di cư giữa các vùng là 341.425 người) Tỷ suất nhập cư giữa các vùnggiảm nhiều nhất là vùng Đông Nam Bộ (giảm 2 điểm phần nghìn) Tỷ suất xuất
cư của vùng giảm nhiều nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung (giảm1,4 điểm phần nghìn)1
Những người xuất cư khỏi Đồng bằng sông Cửu Long chọn điểm đến làĐông Nam Bộ với tỉ lệ 97%1 còn những người từ Trung du và miền núi phíaBắc chủ yếu chọn điểm đến là Đồng bằng sông Hồng Điều này cho thấykhoảng cách địa lý cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến di cư bêncạnh yếu tố sức hút về việc làm
di cư thuần âm cao nhất đó là Lai Châu (-15‰), đứng thứ hai là An Giang vàKiên Giang (hơn -9‰)2
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế
hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2016, NXB Thống kê 2017
2 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế
Trang 13Năm 2016, Hòa Bình đã là tỉnh duy nhất trong vùng Trung du và miền núiphía Bắc có tỷ suất di cư thuần dương, trong khi các tỉnh còn lại trong vùng có tỷsuất di cư thuần đều âm Trong khi, Tây Ninh là tỉnh duy nhất của khu vực ĐôngNam Bộ có tỷ suất di cư thuần âm Tất cả các tỉnh thuộc Tây Nguyên đều có tỉ suất
di cư thuần âm1
Đặc biệt, có 3 tỉnh trong 5 năm trước Tổng điều tra dân số 2009 là nhữngtỉnh xuất cư thì từ sau 2009 đến nay trở thành những tỉnh nhập cư: Bắc Ninh (tỷsuất di cư thuần năm 2009 là -12,6‰, năm 2014 là 23,1‰, năm 2016 là 7,5‰),Nghệ An (tỷ suất di cư thuần năm 2009 là -46,4‰, năm 2014 là 7,5‰, năm 2016còn 1,5‰), và Bình Phước (tỷ suất di cư thuần năm 2009 là -0,7‰, năm 2014 là2,9‰, năm 2016 là 3‰)1,1 Sự thay đổi này là do sự phát triển các khu công nghiệpmới tại các tỉnh này đã làm tăng mạnh số người nhập cư vào tỉnh
1.1.3.3 Luồng di cư giữa thành thị và nông thôn
Theo kết quả Điều tra Biến động dân số năm 2016 luồng di cư thành thị thành thị đã tăng 3,9%, vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các luồng di cư đạt41,9% Luồng di cư thành thị - nông thôn năm 2016 giảm 2% so với năm 20151.Điều này cho thấy áp lực dân số và việc làm ở các khu đô thị vẫn rất lớn Cácluồng di cư nông thôn - thành thị, nông thôn - nông thôn gần như không có sựthay đổi so với các năm trước
-Theo xu hướng của nhiều năm trước, hiện tượng nữ hóa di cư tiếp tụcđược duy trì Số lượng nữ di cư vẫn lớn hơn khá nhiều so với nam, lớn nhất vẫn
là ở luồng di cư nông thôn - nông thôn (225.057 nữ so với 102.999 nam)1 Tuynhiên, khoảng cách về tỷ lệ di cư giữa nam và nữ đã dần được thu hẹp ở tất cảcác luồng di cư
1.2 Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là cơ sở để xem xét sự tương tác giữa dân số với các vấn
đề kinh tế - xã hội, như quản lý và sử dụng lao động, nguồn tài nguyên, an sinh
xã hội, lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Các số liệu về dân số theo tuổi
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014 - Di cư và
đô thị hóa ở Việt Nam, NXB Thông Tấn, Hà Nội 2016
Trang 14và theo giới tính có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về quá trình táisản xuất dân số nói chung và các đặc trưng khác về dân số nói riêng Những đặcđiểm về cơ cấu dân số sẽ phản ánh chất lượng của dân số trong mối quan hệ vớiqui mô và gia tăng dân số
1.2.1 Cơ cấu sinh học
1.2.1.1 Cơ cấu dân số theo giới
Tỉ số giới tính là chỉ tiêu quan trọng khi xem xét về cấu trúc dân số theogiới Tỉ số giới tính theo tuổi của nước ta nhìn chung đi theo qui luật của thếgiới với xu hướng cao ở độ tuổi thấp và thấp dần ở độ tuổi ngày càng cao Điềunày được lí giải là do qui luật sinh học Tỉ số giới tính khi sinh (Số bé trai/ 100
bé gái - SRb) luôn lớn hơn 100, tức là số bé trai luôn nhiều hơn số bé gái Tuynhiên, do mức độ chết của con trai thường cao hơn con gái nên tỉ số giới tính bịgiảm và đến một độ tuổi nhất định, tỉ số giới tính đạt được mức độ cân bằng,sau đó tỉ số giới tính sẽ giảm
Hình 1.5 Tỉ số giới tính Việt Nam thời kì 1939 - 2016 12
Tỉ số giới tính chung của nước ta có sự biến động rõ rệt theo thời gian.Các cuộc chiến tranh trong các thời kỳ trước năm 1975 và đầu năm 1979 đã làmcho tỷ số giới tính của Việt Nam năm liên tục giảm từ 97,2 năm 1939 xuống còn94,2 vào năm 1979, vào loại thấp nhất thế giới Hòa bình lập lại đã giúp cho
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014 - Di cư và
đô thị hóa ở Việt Nam, NXB Thông Tấn, Hà Nội 2016
2 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế
Trang 15việc cân bằng dần tỷ số giới tính của Việt Nam và tỷ số này liên tục tăng từ năm
1989 đến nay, bằng 97,6 vào năm 2009 và hiện nay là 96,7% (năm 2016)12 Tỉ
số giới tính khi sinh (SRb) tăng khá nhanh trong những năm gần đây cũng gópphần làm tăng tỉ số giới tính chung của dân số nước ta
Tỉ số giới tính cũng có sự khác biệt giữa các vùng trong cả nước Điều nàychịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố di cư Đông Nam Bộ là vùng có tỉ số giớitính thấp nhất nước, chỉ có 93,7 nam giới trên 100 nữ giới, do đặc điểm nữ luônchiếm tỷ trọng cao trong nhóm di cư Đây là vùng có Tp Hồ Chí Minh lớn nhấtnước, chiếm tới 51% dân số của cả vùng, đồng thời cũng là địa phương luôn có
tỉ số giới tính thấp nhất nước Vùng có tỉ số giới tính thấp thứ hai là Đồng bằngSông Hồng với 96,1 nam giới trên 100 nữ giới (năm 2016)1 Đây cũng là vùng
có hai thành phố trực thuộc trung ương lớn thứ hai và thứ ba của cả nước là HàNội và Hải Phòng
Hình 1.6 Tỉ số giới tính các vùng kinh tế - xã hội năm 2016 1
Vùng có tỉ số giới tính cao nhất nước là Tây Nguyên với 100,5 nam giớitrên 100 nữ giới Đây là vùng từ trước tới nay có tỷ số giới tính luôn lớn hơn
100, tức là luôn có số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới Vùng có tỉ số giới tínhcao thứ hai là trung du và miền núi phía bắc với tỷ số giới tính năm 2016 xấp xỉ99,1 nam giới trên 100 nữ giới Như vậy hai vùng có trình độ phát triển kinh tếthấp nhất nước cũng là 2 vùng có tỉ số giới tính cao nhất nước và ngược lại Hai
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế
hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2016, NXB Thống kê 2017
Trang 16vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và vùng Đồng bằng sông CửuLong có tỉ số giới tính chênh lệch không nhiều so với mức bình quân của cảnước, tương ứng là 96,7% và 97,4% (năm 2016)1.
Tỉ số giới tính có sự khác nhau giữa 63 tỉnh, thành trong cả nước Cáctỉnh có tỉ số giới tính chung cao phần lớn là những tỉnh có mức thu nhập bìnhquân đầu người thấp và ngược lại Tuy nhiên, tỉ số giới tính ở trẻ em lại có xuthế cao hơn ở những tỉnh có thu nhập cao Điều này có thể phản ánh tâm lý ưathích con trai và việc lựa chọn giới tính trước sinh xảy ra ở những tỉnh có thunhập cao hơn Người dân ở các tỉnh này có điều kiện kinh tế cũng như dễ dàngtiếp cận tới các cơ sở y tế để thực hiện việc lựa chọn giới tính của thai nhi Domức sống được nâng cao, họ có xu hướng đẻ ít hơn nên hầu hết đều mong muốn
có con trai trong các lần sinh
Các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên và hầu hết các tỉnh Miền núi phía Bắcđều có tỷ số giới tính cao, trong khi phần lớn các tỉnh thuộc Đông Nam Bộ vàĐồng bằng sông Hồng lại có tỉ số giới tính thấp Riêng Quảng Ninh là tỉnh cónền kinh tế khá phát triển nhưng lại có tỉ số giới tính khá cao do đây là tỉnhvùng mỏ Công nhân mỏ chủ yếu là nam giới nhập cư từ các tỉnh lân cận: HảiDương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định Các công nhân này làm việc ở vùng
mỏ nhưng phần lớn vợ con họ lại sinh sống ở quê nhà1
Tỉ số giới tính của khu vực nông thôn luôn cao hơn khu vực thành thị.Năm 2016, tỉ số giới tính của khu vực nông thôn là 98,2 trong khi khu vựcthành thị là 93,9% Điều này cho thấy tâm lí thích sinh con trai vẫn đang cònnặng nề ở khu vực nông thôn Việt Nam
1.2.1.2 Cơ cấu dân số theo tuổi
Cơ cấu dân số theo độ tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theonhững lứa tuổi nhất định Thông qua tương quan của số dân ở các nhóm tuổi,người ta có thể đánh giá, so sánh các nhóm trong mối quan hệ qua lại với cácđặc trưng dân số, xã hội và kinh tế của dân cư Trong dân số học, cơ cấu theo độtuổi được chú ý nhiều bởi vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, chết, khả năng
1 Tổng cục Thống kê và Quĩ Dân số Liên hiệp quốc, Điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014 - Di cư và
Trang 17phát triển dân số và nguồn lao động của một lãnh thổ Cơ cấu dân số theo độtuổi thường được nghiên cứu kết hợp với cơ cấu dân số theo giới, gọi chung là
cơ cấu dân số theo tuổi và giới
Có hai cách phân chia độ tuổi với việc sử dụng các thang bậc khác nhau
a Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau Thông thường người ta
chia dân số thành 3 nhóm tuổi: dưới độ tuổi lao động từ 0- 14 tuổi, trong độ tuổilao động từ 15- 59 và trên độ tuổi lao động từ 60 tuổi trở lên Cơ cấu tuổi này có
sự thay đổi theo thời gian và khác biệt giữa các khu vực, quốc gia bởi ảnh hưởngcủa các yếu tố sinh, chết và di dân Nếu một nước mà dân số có mức sinh cao vàduy trì trong thời gian dài thì cơ cấu tuổi thuộc mô hình trẻ Ngược lại, nếu mứcsinh thấp liên tục trong nhiều năm thì cơ cấu tuổi thuộc mô hình già
Bảng 1.6 Cơ cấu dân số trẻ và già (%)
Nguồn: Tính toán từ 2003 World Development Indicators CD.ROM, WB
b Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau Dân số được phân chia theo
khoảng cách đều nhau: một năm, 5 năm hay 10 năm Tháp tuổi (hay tháp dânsố) là loại biểu đồ được sử dụng rộng rãi, thể hiện sự kết hợp cơ cấu tuổi và giớitheo khoảng cách đều 5 năm Trong quá trình phát triển dân số của một quốc gia(khu vực hay từng vùng lãnh thổ), do các đặc trưng về mức độ sinh, chết vàchuyển cư mà tháp dân số có thể có các hình dạng khác nhau
1.2.2 Cơ cấu xã hội
Trang 18Cơ cấu xã hội của dân số phản ánh những khía cạnh xã hội của dân cư ởmột lãnh thổ nhất định Đây là việc phân chia dân số theo các tiêu chuẩn khácnhau như lao động, trình độ văn hoá Trong dân số học, việc nghiên cứu cơ cấu
xã hội có ý nghĩa quan trọng vì sự ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của nó đếnmọi hoạt động của xã hội
1.2.2.1 Cơ cấu dân số theo lao động
Cơ cấu dân số theo lao động có liên quan đến nguồn lao động và dân sốhoạt động theo khu vực kinh tế
a Nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu của sự phát triển kinh
tế- xã hội, có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng các nguồn lực khác Tất
cả của cải vật chất và các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu của xã hội docon người sản xuất ra Song không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia sản xuất,
mà chỉ một bộ phận dân số có đủ sức khoẻ và trí tuệ ở vào một độ tuổi nhấtđịnh, thông thường từ 15 đến 59 tuổi
Nguồn lao động là toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc
làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đangthất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa cónhu cầu làm việc
Nguồn lao động được qui định bởi qui mô, cơ cấu dân số theo độ tuổi vàgiới tính và sự phân bố của nó theo lãnh thổ Hiện nay ở Việt Nam tỉ lệ dân sốtrong độ tuổi lao động chiếm 59,0% Cùng với xu hướng giảm sinh và tăng tuổithọ thì tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng số dân ngày càng tăng lên.Trong thực tế, không phải mọi người trong độ tuổi lao động đều tham giahoạt động kinh tế (HĐKT) và ngược lại, không phải cứ ngoài độ tuổi lao độngthì không tham gia HĐKT Vì vậy cần phải phân tích thêm mức độ tham giaHĐKT của nguồn lao động Theo khuyến nghị của Liên Hợp Quốc, nguồn laođộng được chia làm hai bộ phận: dân số HĐKT và dân số không HĐKT
- Dân số hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lượng lao động hay dân số làm việc) bao gồm những người đang làm việc và cả những người không có
Trang 19việc làm (thất nghiệp) nhưng đang tích cực tìm việc làm trong một ngành nào
đó của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định
Ở nước ta, Bộ Lao động thương binh và xã hội đã đưa ra định nghĩa: Dân
số HĐKT bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làmhoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
- Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ số người từ đủ tuổi
lao động trở lên nhưng không tham gia vào HĐKT vì các lí do: đang đi học,đang làm công việc nội trợ cho bản thân và gia đình, không có khả năng laođộng (mất sức, ốm đau) và những người không có nhu cầu làm việc (đượchưởng lợi tức, hưởng thu nhập mà không phải làm việc)
Ở Việt Nam, theo điều tra lao động- việc làm năm 2002 của Bộ Lao độngthương binh và xã hội, dân số HĐKT là 40,7 triệu người, chiếm 71,4% dân sốtrong độ tuổi lao động và 51% tổng dân số
b Dân số hoạt động theo khu vực kinh tế
Dựa trên số liệu thống kê về sự thay đổi trong cơ cấu lao động của cácnước tư bản Tây Âu, trải qua giai đoạn đô thị hoá phát triển, Jean Fourastier đưa
ra lý thuyết “3 khu vực hoạt động kinh tế- xã hội” Theo lý thuyết này, tất cả cáchoạt động của các cộng đồng được chia thành ba khu vực hoạt động cơ bản:
- Khu vực I
Khu vực này bao gồm các hoạt động khai thác trực tiếp các tài nguyênthiên nhiên sẵn có như đất, rừng, biển, trong đó nông nghiệp (theo nghĩa rộng)gồm có nông- lâm- ngư nghiệp là hoạt động chủ đạo và là hoạt động ở thời kìđầu của tất cả các cộng đồng khi mới thành lập
- Khu vực II
Tổ chức xã hội của cộng đồng ngày một phát triển, nhu cầu của conngười cũng đòi hỏi cao hơn Dựa trên những thành tựu của khoa học, con ngườibiết chế biến những sản phẩm từ tài nguyên thiên nhiên (của khu vực I) hoặctạo ra những sản phẩm mới mà thiên nhiên không có Nhờ đó, sản phẩm xã hộilàm ra tăng lên đột biến Năng suất lao động công nghiệp cao hơn hẳn năng suấtlao động nông nghiệp Quá trình công nghiệp hoá có tốc độ phát triển nhanh tất
Trang 20nhiên kéo theo tốc độ đô thị hoá và gia tăng thu nhập quốc dân tính theo đầungười Mức sống cao dân cư đô thị tạo ra một sức hút cực kì mạnh, kéo laođộng từ nông thôn vào đô thị thành những dòng di cư đông đảo J.Fourastier gọilao động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là lao động khu vực II.
- Khu vực III
Đô thị hoá mở rộng nhanh cả về số lượng đô thị lẫn qui mô dân số Các
đô thị trong một quốc gia dần dần trở thành một hệ thống có mối quan hệ khăngkhít với nhau và nảy sinh những mối quan hệ liên vùng, liên quốc gia Do vậy,sau thời kì công nghiệp đại cơ khí hoá, đến thời kì công nghiệp tự động hoá,điện tử hoá, lao động công nghiệp giảm dần mà sản phẩm xã hội vẫn tăng Quĩthời gian nhàn rỗi của người lao động tăng, đòi hỏi phải tổ chức dịch vụ thíchứng nhằm cải thiện môi trường sống
Dịch vụ thương mại, sinh hoạt, du lịch, vui chơi giải trí ngày càng pháttriển mạnh, các hoạt động ngân hàng, tài chính, thuế quan, ngoại thương cũngnhư đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, y tế, văn hoá, giáo dục, giao thông liênlạc, quản lí hành chính ngày càng được mở rộng Nhu cầu về dịch vụ nóichung đòi hỏi ngày càng lớn và không ngừng gia tăng về khối lượng cũng như
về loại hình J.Fourastier xếp các loại hoạt động nêu trên vào lao động khu vựcIII, gọi chung là lao động dịch vụ
Lý thuyết 3 khu vực hoạt động kinh tế của J.Fourastier có một ý nghĩarất lớn Muốn biết trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một quốc gia,người ta chỉ cần xem xét tỉ lệ lao động giữa 3 khu vực Thực chất tương quan về
tỉ lệ lao động của 3 khu vực này tương ứng với 3 thời kì phát triển của 3 nềnvăn minh:
+ Văn minh nông nghiệp;
+ Văn minh công nghiệp;
+ Văn minh hậu công nghiệp hay văn minh tin học, văn minh khoa học
kĩ thuật
Lý thuyết này cũng hoàn toàn phù hợp với 3 thời kì của quá trình đô thị