1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương bài giảng lịch sử KHCN 4 4

64 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 141,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những nhận thức đúng đắn kể trên về khoa học và công nghệ, có thể thấy rõ khoa học công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, n

Trang 1

Đề cương bài giảng: Lịch sử khoa học và công nghệ

I Khoa học và công nghệ: một số vấn đề lịch sử và lý luận

1 Lịch sử khái niệm khoa học

Khoa học theo nghĩa rộng đã tồn tại trước kỷ nguyên hiện đại, và trongnhiều nền văn minh cổ, nhưng khoa học hiện đại đánh dấu một bước phát triểnvượt bật khác biệt rất xa trong cách tiếp cận của nó so với thời kỳ trước đó Nhữngthành công từ những kết quả mà nó mang lại đã làm cho định nghĩa khoa học theonghĩa chặt chẽ hơn thì nó gắn liền với giai đoạn hiện này Từ trước kỷ nguyên hiệnđại rất lâu, cũng có một bước chuyển biến quan trong khác đó là sự phát triển triếthọc tự nhiên cổ đại trong thế giới nói tiếng Hy Lạp cổ

Khoa học theo nghĩa nguyên thủy của nó là một từ chỉ kiến thức hơn là một

từ chỉ việc theo đuổi kiến thức Đặc biệt, nó là một loại kiến thức mà con người cóthể giao tiếp và chia sẻ với nhau Ví dụ như kiến thức về sự vận động của nhữngvật trong tự nhiên đã được thu thập trong thời gian dài trước khi được chép thànhlịch sử và dẫn đến sự phát triển tư duy trừu tượng phức tạp, như được thể hiện quacông trình xây dựng các loại lịch phức tạp, các kỹ thuật chế biến thực vật có độc để

có thể ăn được, và các công trình xây dựng như các kim tự tháp Tuy nhiên, không

có sự phân định rõ ràng giữa kiến thức về những điều thực tế đã diễn ra trong mỗicộng đồng và các kiểu kiến thức chung khác như thần thoại hoặc truyền thuyết

Trước khi phát minh hay khám phá ra khái niệm về "tự nhiên" (tiếng Hy Lạp

cổ phusis), của các nhà triết học tiền Socratic, các từ tương tự có khuynh hướngđược dùng để miêu tả "cách" tự nhiên mà một cái cây phát triển, và ví dụ như

"cách" mà một bộ tộc tôn thờ một vị thần đặc biệt nào đó Vì lẽ đó, có thể xemnhững người này là những nhà triết học đầu tiên theo nghĩa hẹp, và cũng là nhữngngười đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa "tự nhiên" và "tục lệ" theo Do đó, khoa học

Trang 2

đã được phân biệt là kiến thức về tự nhiên, và những gì là sự thật đối với mỗi cộngđồng, và tên gọi của việc theo đuổi những kiến thức như thế là triết học — lĩnh vựccủa những nhà vật lý-triết học đầu tiên Họ chủ yếu là những người suy đoán hoặccác nhà lý thuyết, đặc biệt quan tâm đến thiên văn học Ngược lại, việc cố gắng sửdụng kiến thức về tự nhiên để bắt trước tự nhiên được nhìn thấy bởi các nhà khoahọc cổ điển như là một điều thích thú phù hợp hơn đối với các nghệ nhân hạngthấp hơn

Trong thời hiện đại, khoa học được xem là hệ thống các kiến thức về cácquy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định

để thu nhận kiến thức1

Những phương pháp của chủ yếu của khoa học hiện đại là tư duy lý trí vàphương pháp thực nghiệm Phương pháp thực nghiệm hiểu theo nghĩa rộng là baogồm cả quan sát, điều tra các hiện tượng tự nhiên và xã hội để thu thập thông tin vềđối tượng nghiên cứu Toán học có vai trò ngày càng quan trọng trong tư duy lý trí

và phương pháp thực nghiệm

Các ngành khoa học được hình thành cho đến nay gồm có:

- Toán học

- Các khoa học tự nhiên

- Các khoa học xã hội và nhân văn

Tất nhiên cũng có cách phân loại cụ thể hơn đi vào các ngành khoa học khácnhau, như trong khoa học tự nhiên có: sinh học, lý học, hóa học, địa chất học,…trong khoa học xã hội nhân văn có: triết học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, sử học,…nhưng nhằm mục tiêu nghiên cứu về các mối quan hệ giữa khoa học và văn hóa, cóthể dừng lại ở cách phân loại tổng quát nói trên

1 Hoàng Đình Phu, Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nxb Khoa học và công nghệ, H 1998, tr 9

Trang 3

2 Lịch sử khái niệm công nghệ

Trong lịch sử để tồn tại và phát triển

Công nghệ là sự ứng dụng của khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễntrong hoạt động của con người2

Thuật ngữ công nghệ chỉ mới xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, tiếng Anh làtechnology, tiếng Pháp là technologie Lúc ấy và cho đến thời gian gần đây, côngnghệ có nghĩa là khoa học về các kỹ thuật hoặc sự nghiên cứu một cách có hệthống về các kỹ thuật Thuật ngữ kỹ thuật (téchnic hoặc technique) với ỹ nghĩa làcông cụ lao động, phương pháp lao động thì đã có từ thời Hi Lạp cổ đại (techné).Trên tinh thần đó, technology hoặc technologie thực ra phải dịch là công nghệ học.Nhưng cách đây vài chục năm, ở Anh và Mỹ người ta có xu hướng sử dụng thuậtngữ technology để nói về các ứng dụng thực tiễn của những thành tựu khoa họcnhằm nâng cao hiệu quả thực tế các hoạt động của con người Các nhà khoa họcchâu Âu lúc đầu còn dè dặt nhưng hiện nay đa số cũng chấp nhận khái niệm đó.Một tạp chí lớn của Pháp là “Khoa học và kỹ thuật” (scences et technique) cuốithập niên 80 cũng đã đổi tên thành “Khoa học và công nghệ” (Sciences ettechnologic) cũng vẫn với những nội dung như trước

Ở nước ta, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khóa VI tháng 3 – 1991 mang tênNghị quyết về khoa học và công nghệ Như vậy, sử dụng thuật ngữ khoa học vàcông nghệ để nói về cuộc cách mạng cộng nghệ đương đại là phù hợp với ngônngữ thông dụng hiện nay trên thế giới và ở nước ta

Theo trung tâm nghiên cứu về chuyển giao công nghệ ở châu Á – Thái BìnhDương APCTT (Asian Pacific center for technology transfer), công nghệ gồm bốnthành phần THIO:

2 Hoàng Đình Phu, Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nxb Khoa học và công nghệ, H 1998, tr 10

Trang 4

1 Thành phần kỹ thuật T (technoware) gồm các máy móc, thiết bị dụng cụ,vật tư, các phương tiện kiểm tra, đo lường, tính toán, thí nghiệm

2 Thành phần con người H (human ware) gồm tinh thần lao động, kiến thứcnghề nghiệp, kỹ năng lao động, khả năng tiếp thu và vận dụng sáng tạo công nghệmới

3 Thành phần công nghệ thông tin I (inforware) gồm các bí quyết và quytrình công nghệ, các tài liệu kỹ thuật khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc,thiết bị, các thông tin về các nguồn cung cấp vật tư và phụ tùng thay thế, các thôngtin về thị trường, về những thành tựu khoa học và công nghệ có liên quan đến côngnghệ đang khai thác

4 Thành phần tổ chức quản lý O (orgaware) bao gồm tổ chức và quản lý cáchoạt động công nghệ, các dịch vụ phục vụ cho các hoạt động đó, các tổ chức tiếpthị và các dịch vụ sau bán hàng

Luật Khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 09/06/2000 thìkhoa học và công nghệ; hoạt động khoa học và công nghệ được hiểu như sau:

Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tựnhiên, xã hội và tư duy

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Hoạt đồng khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiêncứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm pháttriển khoa học và công nghệ

Trang 5

Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật,quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vàthực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứngdụng

3 Quan hệ giữa khoa học và công nghệ trong lịch sử

Người ta vốn thường nói đến khoa học công nghệ như một yếu tố không thể tách rời nhưng thực chất khoa học và công nghệ là hai lĩnh vực khác nhau, giữa chúng có sự khác nhau căn bản Một bên là đề cập đến hệ thống tri thức, còn một bên đề cập đến quy trình sản xuất cụ thể Tuy nhiên giữa khoa học và công nghệ tồn tại mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, tác động lẫn nhau Mối quan hệ biện chứng ấy được thể hiện qua các giai đoạn phát triển lịch sử Ngày nay sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng xích lại gần nhau, thúc đẩy lẫn nhau, phản ánh đặc trưng của giai đoạn mới trong sự phát triển sản xuất xã hội giai đoạn cách mạng khoa học và công nghệ.

Từ những nhận thức đúng đắn kể trên về khoa học và công nghệ, có thể thấy

rõ khoa học công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nó có vai trò vô cùng quan trọng với sự

Thứ nhất, khoa học công nghệ góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, khả năng sản xuất của nền kinh tế thể hiện một cách chung nhất là số lượng sản phẩm mà một nền kinh tế có thể cung ứng cho thị trường Nếu là một nền kinh tế lạc hậu với trình độ khoa học công nghệ thấp kém thì chắc chắn khả năng sản xuất của nền kinh tế đó rất thấp Khoa học và công nghệ

Trang 6

có thể nối dài khả năng của con người trong việc chiếm lĩnh tự nhiên, thì trình

độ khoa học công nghệ cao đến đâu thì khả năng sản xuất của nền kinh tế sẽ

Dưới tác động của khoa học công nghệ các nguồn lực của sản xuất sẽ được mở rộng, điều này có thể thấy rõ dưới tác động của khoa học công nghệ, con người có thể mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh Dưới tác động của khoa học và công nghệ làm biến đổi chất lượng nguồn lao động theo hướng tiến bộ Mặt khác, khoa học và công nghệ còn mở rộng khả năng huy động tập chung di chuyển các nguồn vốn một cách an toàn, chính xác và

Khoa học và công nghệ tạo điều kiện chuyền chiến lược phát triển kinh tế theo chiều rộng cùng chiều sâu Khoa học và công nghệ phát triển với sự ra đời của các công nghệ mới (vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ điện tử) đã làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, tức sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào của sản phẩm sang phát triển theo chiều sâu tức là tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Như vậy khoa học và công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và kinh tế chi thức, trong đó phát triển nhanh ngành công nghệ cao và sử dụng nhiều lao động trí tuệ là

Thứ hai, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã thúc đẩy qúa trình hình

Cơ cấu kinh tế là tỷ trọng các thành phần kinh tế trong một nền kinh tế thống nhất, nếu là một nền kinh tế lạc hậu thì tỷ trọng nông nghiệp sẽ chiếm vị trí cao trong cơ cấu kinh tế và ngược lại, một nền kinh tế phát triển thì tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng cao.

Trang 7

Có rất nhiều nhân tố ảnh hướng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó khoa học công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng, sở dĩ như vậy là vì sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ không chỉ đẩy mạnh tốc độ phát triển các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đưa đến sự phân chia các ngành thành nhiều ngành nhỏ hơn, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành hay thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh

Tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần, của

Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng mạnh, quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao Vai trò của lao động trí tuệ trong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng và trở thành đặc trưng phát triển khoa học công nghệ Chính sự phát triển của khoa học và công nghệ đã góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng trở nên hợp lý hơn Thứ ba, sự phát triển của khoa học và công nghệ góp phần làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường Điều này thể hiện rõ nét trong các hoạt động của các doanh nghiệp trong kinh

tế hàng hóa, mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Muốn vậy, họ phải tìm đến những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến hình thức mẫu

mã hàng hóa, có thể nói rằng mục tiêu trên chỉ thực hiện được khi áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh mà còn tạo ra nhiều sản phẩm mới, vì thế quy mô sản xuất của doanh nghiệp được mở rộng, sự cạnh tranh về hàng hóa của doanh nghiệp

Trang 8

tăng thêm Riêng đối với nền kinh tế thị trường, việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ làm cho các yếu tố đầu vào của nền kinh tế như sức lao động, tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại và đồng bộ hóa; quy mô của sản xuất ngày càng được

mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các loại hình sản xuất mới, nhất là công ty cổ phần Mặt khác việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ còn tạo ra tính chất mới của nền kinh tế thị trường với đặc trưng tốc độ cao trong tất cả các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa; làm thay đổi chiến lược kinh doanh từ hướng nội, thay thế nhập khẩu sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước ra thị trường thế giới, tăng sức cạnh

Thứ tư, phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm quy mô, sản lượng sảm phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên, quốc gia đó được coi là tăng trưởng kinh tế Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: vốn sản xuất, lực lượng lao động, đất đai, khoa học công nghệ, thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm dân tộc, đặc điểm tôn giáo, đặc điểm văn hóa… là một yếu tố của các yếu tố đầu vào sản xuất, khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng, nó quyết định sự thay đổi năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Những phát minh, sáng chế mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã

Có thể thấy rằng khoa học công nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mới

mà còn tạo ra phương pháp sản xuất mới Điều này mở ra khả năng mới về

Trang 9

kết quả sản xuất và tăng năng xuất lao động Kinh tế học hiện đại phân tích đóng góp của các nguồn lực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cho rằng, khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng nhất hiện nay, phần đóng góp của khoa học và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã đạt tới 60-70% còn ở các nước đang phát triển

Sự phát triển của khoa học công nghệ còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, từ quá trình tăng trưởng về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, có cả sự tăng trưởng về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội Khoa học và công nghệ không chỉ là thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một nước mà còn trở thành công cụ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường sinh thái

I Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ

Theo nghiên cứu của Volti1 được trình bày trong tác phẩm “Xã hội và thayđổi công nghệ”, có thể khái quát một số điểm chính về mối quan hệ giữa khoa học

và công nghệ như sau:

1 Giai đoạn phát triển tách biệt ban đầu

Với những ví dụ cụ thể, Volti cho rằng, trong phần lớn thời gian của lịch sửphát triển, sự tương tác, trao đổi và tác động lẫn nhau, giữa khoa học (có mục đíchchủ yếu là tìm kiếm lý thuyết hoặc mô hình trừu tượng về các hiện tượng tự nhiên)

và công nghệ (có mục đích chủ yếu là tìm cách tạo ra các phương tiện, thiết bị cótính thực tiễn cho con người sử dụng trong cuộc sống) rất ít xảy ra

Vào thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, hai lĩnh vực này dường như khá độc lậpvới nhau Lúc đó, đã có rất nhiều công nghệ (trong nông nghiệp, luyện kim, kiếntrúc, hàng hải ) nhưng hầu hết chúng đã được phát hiện qua các phép thử - sai và

có rất ít sự đóng góp của khoa học Trong khi đó, cũng có nhiều lý luận độc lập về

Trang 10

thế giới tự nhiên, có vẻ như được hình thành từ các nguyên tắc lý tưởng hơn là dựatrên các trải nghiệm thực tế Và dường như, di sản khoa học được xã hội coi trọnghơn là công nghệ.

Các sáng chế vĩ đại của người Trung Hoa như: La bàn, thuốc súng, giấy viết

và nghề in hoặc đồng hồ cát, cũng dường như xảy ra độc lập với các khoa học vàtriết học Trung Hoa Trong thời trung cổ, với sự theo đuổi ý tưởng về giả kimthuật, nhiều tính chất của kim loại đã được biết đến trong thực tế, nhưng nhữnghiểu biết cơ bản về các quá trình này vẫn còn khá ít Ý tưởng về việc nghiên cứu cótính hệ thống về bản chất của thế giới tự nhiên bằng cách sử dụng các trải nghiệmthực tiễn và lô gíc mới được một số nhà khoa học, trong đó có Francis Bacon2 , nêu

Ngày nay, lý giải điều này, ta có thể thấy rằng, do phạm vi và đối tượng của

cả khoa học và công nghệ lúc đó đều có giới hạn, không thể bao trùm lên tất cả cáclĩnh vực hoạt động xã hội Nên cơ hội để chúng tiếp xúc, cọ sát và tương tác vớinhau vào thời buổi phát triển sơ khai lúc đó là rất nhỏ

2 Giai đoạn đẩy mạnh tương tác

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhu cầu phải giải thíchnhững hiện tượng tự nhiên và hoạt động của thế giới xung quanh do con người tạo

ra ngày càng tăng lên Khi cả hai phía khoa học trong tìm hiểu thế giới tự nhiên vàcông nghệ trong hoạt động thực tiễn đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình,chúng đã cọ sát và tương tác với nhau thường xuyên hơn và đã có những đóng góp,

bổ sung cho nhau Nhờ đó, mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ cũng thay đổi

Trang 11

rõ rệt theo thời gian Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷXVII, công nghệ đã góp phần tạo ra những thay đổi có tính cách mạng đối vớikhoa học và từ đó hình thành nên mối tương tác hữu cơ giữa khoa học và côngnghệ cho đến tận ngày nay.

a) Công nghệ tác động đến khoa học như thế nào?

Công nghệ đã đóng góp cho sự phát triển của khoa học thông qua các conđường chính sau: Một là, cung cấp các phương tiện và công cụ tốt hơn cho nghiêncứu khoa học và có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành của các lý thuyếtkhoa học mới; hai là, bản thân việc sáng tạo ra các phương pháp mới cũng có thểtạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học đi tìm ra các lý thuyết khoa họcmới

- Phương tiện và công cụ giúp hình thành các lý thuyết khoa học mới:

Kính viễn vọng của Galileo là trường hợp quan trọng trong lịch sử thườngđược viện dẫn về tác động của công nghệ tới khoa học Nhà bác học Galileo4,người sau này được suy tôn là cha đẻ của nhiều ngành khoa học đã sử dụng kínhviễn vọng, một phương tiện chính xác hơn do công nghệ tạo ra, để quan sát thiênvăn vào năm 1610 và đã tạo ra cuộc cách mạng thực sự trong khoa học

Sự việc diễn ra như thế nào? Kính viễn vọng khi đó là sản phẩm có nguồngốc từ nghề sản xuất thấu kính để điều chỉnh thị lực do Hans Lippershey5 tạo rasau một sự kiện tình cờ may mắn xảy ra vào năm 1608 Tháng 5.1609, từ nước Ý

xa xôi, nghe mô tả về “chiếc ống ma thuật Lippershey” khi đang là giáo sư đạihọc, Galileo đã tham gia vào hoạt động nấu, đúc và mài thấu kính để sản xuất kínhviễn vọng Các hoạt động ban đầu của ông chỉ là giảng dạy và tham gia chế tạokính viễn vọng - một loại công cụ dùng để phóng to khi quan sát các đồ vật trênmặt đất Ở thời Galileo, hiếm có các giáo sư đại học nào lại chịu hạ thấp mìnhxuống làm công việc tầm thường của người thợ mài kính6 Tại thời điểm này,những bất ngờ đã xảy ra khi Galileo xoay ống kính lên trên trời và ngay lập tức

Trang 12

nhìn thấy một cảnh tượng khá lý thú: Mặt trăng lưỡi liềm với các mỏm núi, thunglũng và biển giống hệt như dưới mặt đất Hình ảnh của mặt trăng bị thay đổi trongcác lần quan sát tiếp theo đã giúp cho Galileo đi đến kết luận có ý nghĩa như mộtbước ngoặt quan trọng trong khoa học: Trái đất đang quay, thực nghiệm bảo thế,chứ không đứng yên, như Arixtốt bảo thế! Những chứng cứ mới mẻ này đã làmthay đổi hoàn toàn bản chất của vũ trụ học: Ý tưởng về thuyết vũ trụ nhật tâm doCopernicus7 đề xướng đã được chứng minh thay thế thuyết vũ trụ địa tâm đã tồntại hàng nhiều thế kỷ trước đó Nếu không có kính viễn vọng cộng với sự may mắnđược chứng kiến những bằng chứng mới có tính quyết định về cấu trúc của tựnhiên, có thể Galileo cũng vẫn chỉ là một nhà khoa học bình thường như nhữngnhà khoa học trung cổ khác mà thôi.

Dòng điện galvanic và hiệu ứng hoá học trong pin volta cũng là một ví dụ điển hình.Galvani, giáo sư về giải phẫu học khi dùng tĩnh điện để nghiên cứu bản

chất sự cử động cơ bắp của đùi ếch, một nghiên cứu khá kinh điển đã phát hiện ranguyên nhân co giật của chân ếch khi nối dây thần kinh đùi ếch với dây điện treotrên thành ghế mà chưa cần phải bật máy phát tĩnh điện

Volta, một nhà vật lý người Italia, khi tiếp tục nghiên cứu hiện tượng này đã

đi đến kết luận rằng, sự co giật của đùi ếch chẳng qua chỉ là hệ quả thứ cấp củahiện tượng “phá vỡ cân bằng điện” giữa 2 kim loại khác nhau mà con người chưatừng biết đến Kết luận này chính là nội dung của định luật về hiệu điện thế tiếpxúc Ngay lập tức, hiệu ứng hiệu điện thế tiếp xúc mới này đã dẫn đến sáng chế vềpin điện volta, một sáng chế nhanh chóng được phổ biến trên thế giới và đã tạo raphản ứng nhanh chóng và náo nhiệt như trường hợp của kính viễn vọng Hiệu ứngtiếp xúc này được phát hiện vào khoảng năm 1800, đã giúp hình thành nên nét đặcsắc của đa số hoạt động khoa học và một phần không nhỏ các công nghệ chủ yếucủa thế kỷ XIX

- Công nghệ tạo ra các thách thức khoa học mới:

Trang 13

Các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp cũng là mộtnguồn tạo ra các thách tức mới cho khoa học Những vấn đề công nghệ cụ thể xuấthiện trong đời sống kinh tế - xã hội đã được cộng đồng nghiên cứu có liên quantheo đuổi, tìm cách kiến giải về lý thuyết Kết quả nghiên cứu thu được có thể vượt

ra ngoài phạm vi lý giải cho các vấn đề công nghệ cụ thể ban đầu Kết quả nghiêncứu này được các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển để tiếp tục thấu hiểu tường tận

và để hình thành các ý tưởng công nghệ mới, chưa được dự kiến trước đó

Sự phát triển của các động cơ hơi nước và các nỗ lực để nhận được nhiềunăng lượng hơn trên cùng một đơn vị khối lượng than đốt cháy là một ví dụ điểnhình Những nỗ lực này đã đặt nền tảng cho các lý thuyết về nhiệt động học,entropi và dẫn đến sự tiến bộ thực sự trong công nghệ cùng với việc hiểu thêm về

lý thuyết Có một số ý kiến cho rằng, nhiệt động học “nợ” ngành động cơ hơi nướcnhiều hơn là động cơ hơi nước nợ nhiệt động học

Ngày nay, chúng ta đều biết đến tên tuổi của Louis Pasteur8, nhà bác họcPháp, cha đẻ của ngành vi sinh vật học Tuy nhiên, con đường dẫn ông đến vớithành công trong lĩnh vực vi sinh được khởi đầu từ việc nghiên cứu xử lý các vấn

đề liên quan đến công nghệ lên men trong quá trình sản xuất bia và rượu nho

Sự tương tác này cũng khá điển hình trong lĩnh vực công nghệ vật liệu và vật

lý chất rắn Trong thực tế, khoa học vật liệu là một lĩnh vực nghiên cứu liên ngànhmới đã được hình thành từ kết quả của các nỗ lực tìm hiểu các quy trình và tính chấtcủa vật liệu nhằm cải tiến chất lượng và hiệu suất của các thiết bị bán dẫn

Khi nói đến tác động từ công nghệ đến khoa học, cũng phải nhắc đến nhữngtrường hợp khi những hiện tượng được quan sát trong điều kiện sản xuất côngnghiệp không gây được tác động ngay lập tức đến khoa học, nhưng sau đó đã trởnên có ý nghĩa quan trọng trong phát triển khoa học Chẳng hạn như trường hợpphát minh ra hiệu ứng Edison Hiệu ứng này được Thomas A Edison9 phát hiện đầutiên nhưng lại bỏ qua do tính thực dụng của mình Tuy coi là rất thú vị, Edison đã

Trang 14

không tiếp tục theo đuổi do quá bận rộn với các “vấn đề sáng chế có tính hữu íchngắn hạn" Sau này, như đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, hiệu ứng Edison đã cónhững tác động đáng kinh ngạc hơn mọi sáng chế khác của ông Có 2 lý do cơ bảngiải thích cho điều này: Một là, do những người quan sát hiện tuợng không có khảnăng đánh giá đúng mức độ quan trọng tiềm năng của chúng; hai là, do thiếu cácchính sách khuyến khích hoặc thiếu nguồn lực để theo đuổi, tổng hợp, khái quáthoá, và giải thích các kết quả đã quan sát được trong điều kiện sản xuất công nghiệpnên không đủ khả năng để theo đuổi đến cùng, trừ khi chúng có tiềm năng ứngdụng khá rõ ràng và ngay lập tức.

Những bằng chứng trên đây có thể giúp chúng ta nhận thấy, có không ítnhững lĩnh vực khoa học mới được rút ra từ các nghiên cứu công nghệ mới xuấthiện hoặc thậm chí là từ các công nghệ cũ đã tồn tại trước đó

b) Đóng góp của khoa học cho công nghệ

Ngày nay, trong các cuộc thảo luận về chính sách khoa học và công nghệ,mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ theo mô hình tuyến tính được hầu hếtmọi người hiển nhiên chấp nhận Mô hình tuyến tính là mô hình tuần tự đi từnghiên cứu cơ bản trong khoa học để tạo ra kết quả khoa học mới đến nghiên cứu

để ứng dụng kết quả khoa học đã phát hiện và triển khai thành các công nghệ cóthể ứng dụng trong thực tiễn, sau đó là hoàn thiện các khâu thiết kế, chế tạo vàthương mại hoá công nghệ

Mô hình tuyến tính này cũng đã được nhắc đến trong bản báo cáo “Khoa học

- tuyến đầu vô tận” của Vannevar Bush10 năm 1945 và đã có ảnh hưởng sâu rộngđến sự phát triển của nền khoa học Hoa Kỳ Càng về sau, mô hình này càng đượcdiễn giải theo cách “nếu các quốc gia hỗ trợ nhà khoa học tự do nghiên cứu những

gì họ coi là quan trọng và thú vị, thì các công nghệ hữu ích đi theo sau những cơhội tiềm năng đã được khám phá mới của các nhà khoa học mở ra cũng gần như là

sẽ tự động được phổ biến rộng rãi trong quân sự, y tế và sản xuất”

Trang 15

Có thể nêu ra một số cách thức khoa học có thể tác động đến việc phát triểncông nghệ như sau:

- Khoa học - khởi nguồn trực tiếp của các ý tưởng công nghệ mới:

Những khám phá về sự phân hạch uranium đã dẫn đến khái niệm về phảnứng dây chuyền, về năng lượng hạt nhân và các ứng dụng nhanh chóng trong quân

sự cũng như vì các mục đích hoà bình khác là ví dụ thuyết phục khi nói tới dòngchảy từ khoa học đến công nghệ Các ví dụ khác về laser và ứng dụng của lasertrong đời sống; về tia X và các ứng dụng trong y học và công nghiệp; khám phá vềcộng hưởng từ hạt nhân và các ứng dụng trong phân tích hóa học, y - sinh và chẩnđoán y tế cũng rất ấn tượng và khá đặc trưng cho mô hình đổi mới theo mô hìnhtuyến tính đã mô tả ở trên Cũng theo mô hình này, cơ hội để đáp ứng nhu cầu mớihoặc nhu cầu đã có trước trong xã hội theo một cách thức mới được coi như là một

hệ quả đương nhiên của các phát kiến khoa học ngay cả khi chưa nghĩ đến bất kỳmột tiềm năng ứng dụng cụ thể nào

Một ví dụ điển hình về tác động của hoạt động nghiên cứu thăm dò trong lĩnhvực khoa học đến công nghệ khi mới có dự báo về khả năng ứng dụng cao, dùkhông chỉ rõ ngay được sản phẩm cụ thể, là nghiên cứu của Phòng thí nghiệm điệnthoại Bell(Bell Labs) Để khám phá tính chất vật lý của chất bán dẫn nhóm IV nhưgermanium, các nhóm nghiên cứu được lập ra tại Bell Labs với động cơ rõ ràng là

hy vọng tìm ra được phương pháp tạo ra chất khuyếch đại thể rắn thay thế cho cácđèn điện tử chân không trong các máy truyền tải tín hiệu điện thoại đường dài

Sự nỗ lực của Bell Labs và ở một số nơi khác cuối cùng đã dẫn đến việc sángchế ra bóng bán dẫn transistor, một sản phẩm tạo ra sự phát triển đột biến của ngànhcông nghiệp bán dẫn và công nghệ thông tin và truyền thông sau này Ví dụ nàycũng như các ví dụ về nghiên cứu cơ bản khác do ngành công nghiệp hoặc dịch vụquân sự ở Mỹ thực hiện khi không chỉ rõ được tiềm năng ứng dụng cụ thể từ banđầu là các bằng chứng mà các nhà khoa học nghiên cứu cơ bản thường đưa ra để

Trang 16

thuyết phục các chính phủ tăng cường hỗ trợ cho các nghiên cứu khoa học của họ.Ngày nay, rất nhiều nghiên cứu cơ bản về y - sinh cũng mang tính chất này.

- Các kỹ thuật, phương pháp thí nghiệm và phân tích khoa học là khởi nguồn của các thiết bị, quy trình công nghệ đang sử dụng trong công nghiệp:

Các kỹ thuật hay phương pháp thí nghiệm, phân tích được sử dụng trongnghiên cứu cơ bản, đặc biệt là trong vật lý, thường được sử dụng trong các quy trìnhcông nghệ của các ngành sản xuất không liên quan đến mục đích sử dụng ban đầucủa chúng Trong ngành vật lý hạt nhân hay vật lý các hạt cơ bản, nhiều thiết bịnghiên cứu mới đã được chính các nhà vật lý học tự thiết kế, chế tạo để phục vụ cácthí nghiệm khoa học, nhưng sau đó đã được thương mại hoá để sử dụng rộng rãicho cả cộng đồng nghiên cứu Chẳng hạn như các kỹ thuật, phương pháp liên quanđến nhiễu xạ điện tử với kính hiển vi điện tử quét, nam châm siêu dẫn với chụp ảnhcộng hưởng từ trong lĩnh vực y khoa Quá trình này có ý nghĩa rất quan trọng đốivới sự phổ biến nhanh chóng các kỹ thuật thử nghiệm mới và là một cơ chế cơ bản

để chuyển giao tri thức giữa các ngành khoa học khác nhau, vì vậy cũng góp phầnđẩy nhanh sự tiến bộ của nền khoa học nói chung

Con đường phát triển từ những tri thức khoa học đến các phương tiện vàthiết bị trong thực tiễn thường là chông gai, tốn khá nhiều thời gian với nhữngđiểm dừng - khởi động lại và thậm chí phải trải qua những thay đổi phương hướngnghiên cứu và ứng dụng Tuy nhiên, theo cách gọi của Rosenberg11, "đáp số chungcủa các trải nghiệm này là các phương tiện, công cụ được tạo ra để theo đuổi mụcđích nghiên cứu khoa học rốt cục cũng có những ứng dụng trực tiếp như là mộtphần của quá trình sản xuất”

Cũng cần nhận thấy rằng, ảnh hưởng trực tiếp của khoa học tới công nghệcũng khác nhau đối với các lĩnh vực công nghệ khác nhau Chẳng hạn, đối với côngnghệ cơ khí chế tạo, những đóng góp của khoa học tới công nghệ là tương đối yếu;trong lĩnh vực này, có thể thường xuyên tạo được những sáng chế khá quan trọng

Trang 17

mà chưa đòi hỏi hiểu rõ các tri thức sâu sắc mang tính khoa học nằm bên trong nó.Trong khi đó, các loại công nghệ về điện, hóa chất và hạt nhân phụ thuộc khá nhiềuvào tri thức khoa học; hầu hết các sáng chế chỉ được tạo ra khi có những con ngườikinh qua đào tạo nhất định về khoa học.

- Nghiên cứu khoa học giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp:

Hoạt động nghiên cứu khoa học (đặc biệt là nghiên cứu trong trường đại học)

có tác động đến phát triển, quảng bá công nghệ thông qua quá trình đào tạo kỹ sư,

kỹ thuật viên Đa số kỹ sư, kỹ thuật viên sau khi tốt nghiệp đã làm việc trong cácmôi trường ứng dụng công nghệ và mang theo mình không chỉ các tri thức nhậnđược từ kết quả nghiên cứu mà cả các kỹ năng, phương pháp, và danh sách các địachỉ chuyên gia đáng tin cậy sẽ giúp họ giải quyết các vấn đề về công nghệ mà saunày họ phải đối mặt

Tóm lại, mối tương tác giữa khoa học và công nghệ đã đi theo hai conđường khác nhau Một mặt, kiến thức về công nghệ đã cung cấp các công cụ,phương tiện nghiên cứu, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều bài toán thực tiễn cótính thách thức cao để khoa học đi tìm lời giải và do đó hình thành ra các lý thuyếtkhoa học mới Trong trường hợp này, dòng chảy của tri thức đi từ phía công nghệsang phía khoa học Mặt khác, kiến thức mới trong khoa học được ứng dụng để lýgiải, cải tiến các loại công nghệ sẵn có và giúp tạo ra các ý tưởng công nghệ mới,thậm chí giúp dự đoán sự xuất hiện của các công nghệ tương lai Ở đây, dòng chảycủa tri thức được đi từ phía khoa học đến phía công nghệ

Trang 18

II Quy trình phát triển khoa học và công nghệ

1 Logic phát triển khoa học

a Logic phát triển chung của khoa học

Theo quan niệm đã được lan truyền một cách rộng rãi thì khoa học phát triểnmột cách tuyến tính, có tính chất tích luỹ, ví như một cái nhà được xây dựng vớiviên gạch này đặt lên viên gạch khác, có thể là chậm chạp nhưng mỗi ngày một caohơn

Một hệ quả của quan niệm trên là sự tăng trưởng của kiến thức đến một lúcnào đó có thể đạt tới một điểm mà ở đó hầu như mọi sự đều là đã biết, việc xâydựng tòa lâu đài khoa học đi đến chỗ hoàn tất Một tác giả tiêu biểu của quan niệmnày, theo Rescher, là Charles Sanders Peirce (1839-1914) Nhà triết học này xemlịch sử khoa học như là một sự phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn ban đầu hay

sơ bộ trong đó người ta dò tìm cấu trúc tổng quát của các quan hệ đinh tính giữacác tham số khoa học, và giai đoạn thứ hai mà nội dung là tinh vi hóa định lượng,

có nghĩa là tìm cho đủ các giá trị đúng của các tham số có trong các phương trình

mà cấu trúc tổng quát của chúng đã được xác định trong giai đoạn trước Khi giaiđoạn thứ nhất đã được vượt qua thì sự phát triển của khoa học trong giai đoạn sauchỉ còn là tăng thêm các chi tiết và độ chính xác, xác định những số lẻ tiếp theocho giá trị của những đại lượng mà giá trị gần đúng của chúng đã được xác lập -cái công việc mà vào cuối thế kỷ XIX, trước các thành tựu mà khoa học đã đạtđược lúc bấy giờ), một số nhà khoa học đã nghĩ rằng chỉ có thể là như vậy

Quan niệm về sự phát triển của khoa học theo cách tích lũy cũng đã từngđược rút ra từ sự nghiên cứu về xã hội học khoa học Trong những năm 1930,Robert K Merton đã nghiên cứu về sự phát triển của khoa học trong khuôn khổ lý

Trang 19

thuyết cấu trúc-chức năng, xem nó như là một hệ thống xã hội chịu sự chi phối củanhững chuẩn mức đặc thù mà sự tuân thủ chúng sẽ đảm bảo tính khách quan củacác kết quả nghiên cứu Các chuẩn mực đó, một cách lý tưởng, theo Merton, baogồm: chủ nghĩa cộng đồng), chủ nghĩa phổ dụng, sự tìm hiểu vô tư và chủ nghĩahoài nghi có tổ chức Chủ nghĩa cộng đồng chỉ tính chất tập thể của hoạt động khoahọc: khoa học là một tài sản công cộng, kết quả của những cố gắng chung Chủnghĩa phổ dụng chỉ sự giao lưu của kiến thức nhờ tôn trọng một số phương phápquan sát và giải thích chặt chẽ Sự tìm hiểu vô tư là cái đối lại của tất cả nhữngđộng cơ bên ngoài khoa học của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là về chính trị vàkinh tế Nhờ những quy tắc kiểm tra rất chặt chẽ áp dụng cho các chuẩn mức đó, sẽ

có thể ngăn ngừa được sự bịp bợm cũng như sự xuất hiện những khoa học giả hiệu.Cuối cùng, chủ nghĩa hoài nghi có tổ chức phân biệt hoạt động khoa học với đa sốcác hoạt động khác của con người ở chỗ nó loại bỏ sự phân biệt cái phàm tục vớicái thiêng liêng, cái cần được tôn trọng không có phê phán với cái có thể được đưa

ra phân tích Sự tuân thủ các chuẩn mức đó trong hoạt động khoa học, về nguyêntác, sẽ bảo đảm sự tồn tại của tính duy lý, tính tích lũy và tính chất không có xungđột của kiến thức khoa học

Những nghiên cứu về lịch sử khoa học đã cho thấy quan niệm trên đây làkhông đúng Khoa học phát triển không phải theo cách "viên gạch này đặt lên viêngạch khác" mà, như Anderson đã viết có nhiều kịch tính hơn rất nhiều Có nhữngcuộc cách mạng khoa học không đặt viên đá này lên viên đá khác Nhà khoa họckhông chỉ là một tổng công trình sư mà còn là một chuyên gia lật đổ, và khoa họcphát triển giống như một thành phố hiện đại: các ngôi nhà cũ được phá bỏ và thaythế bằng những ngôi nhà mới

Một cách diễn đạt khác (Rescher: Khoa học tiến triển không chỉ theo cáchcộng mà ở mức độ cao còn là theo cách trừ Như Kuhn và những người khác đã lập

Trang 20

luận một cách thuyết phục, những khám phá có ý nghĩa nhất ngày hôm nay luônluôn là một sự lật đô các khám phá ngày hôm qua: những phát hiện lớn của khoahọc không thể tránh được có một dạng mâu thuẫn với những phát hiện lớn trước đócủa khoa học và bao hàm không chỉ là sự bổ sung mà còn là sự thay thế

"Các nhà lý thuyết về phương pháp khoa học thuộc một trường phái cũ đãmắc phải cái quan điểm coi khoa học là có tính tích luỹ và đương nhiên, có xuhướng nhìn nhận sự tiến bộ của khoa học theo sự tích lũy của nó [dẫn GeorgeSarton, The Study of the History of Science, Cambridge, Mass., 1936, đặc biệt làtrang 5 và History ofscience and the New Humanism, Cambridge, Mass., 1937, đặcbiệt là các trang 10 - 11] Nhưng trong những thập kỷ gần đây, quan điểm này đã bịtấn công ngày càng mạnh mẽ và như vậy là đúng) Y học của Pasteur và listerkhông cộng vào y học của Galen hay của Paracelsus mà thay thế chúng Nhà khoahọc sáng tạo ở bất kỳ việc gì cũng là một chuyên gia lật đổ nhiều như là một tổngcông trình sư Tiến bộ khoa học có ý nghĩa nói chung không phải là cộng thêm các

sự kiện - theo kiểu điển các ô trong trò chơi ô chữ - mà là thay đổi bản thân cáikhung Khoa học về chủ yếu phát triển không bằng cách cộng mà bằng cách trừ vàthay thế [Chú thích: Khẩu hiệu này của triết học khoa học đương đại không phải làhoàn toàn mới Vào lúc chuyển thế kỷ [1899], Ngài Michael Foster đã viết: Conđường [tiến bộ của khoa học] có thể không phải lúc nào cũng là đường thẳng, cóthể có sự đi chệch sang phía này và sang phía kia, các ý tưởng dường như có thểquay trở lại lần này rồi lần khác cùng một điểm của cái la bàn trí tuệ, nhưng ta sẽluôn luôn thấy rằng chúng đã đạt tới một trình độ cao hơn - chúng đã chuyển động,không phải theo đường tròn mà là đường xoắn ốc Hơn thế nữa, khoa học khôngđược tạo thành như việc xây dựng một cái nhà, bằng cách đặt viên gạch này lênviên gạch khác) viên gạch đã được đặt rồi thì cứ còn đấy như là nó đã được đặt cho

Trang 21

đến lúc cuối cùng Sự tăng trưởng của khoa học là sự tăng trưởng của một vật thểsống ]"

b Cách mạng Khoa học

Bản chất của cách mạng khoa học

Cách mạng khoa học là một giai đoạn phát triển không tích lũy trong đó mộtkhuôn mẫu cũ được thay thế toàn bộ hay một phần bằng một khuôn mẫu mớikhông tương hợp

Tương tự như cách mạng chính trị được khởi đầu bởi sự nhận thức ngàycàng rõ rệt hơn là thể chế đang tồn tại không còn là thích hợp để đáp ứng các vấn

đề đặt ra bởi một môi trường mà một phần là do chính thể chế đó tạo ra, cách mạngkhoa học đã nảy sinh từ sự nhận thức răng khuôn mẫu đang tồn tại không còn hoạtđộng một cách thích hợp trong việc thám sát một khía cạnh của tự nhiên mà bảnthân khuôn mẫu trước đó đã dẫn đến

Chúng ta cũng lưu ý rằng không phải chỉ những thay đổi khuôn mẫu nhưnhững thay đổi mà Copernicus hay Lavoisier đã gây ra mà cả những thay đổi nhỏhơn nhiều như việc khám phá ra tia X cũng sẽ được xem là cách mạng khoa học.Cách mạng khoa học chỉ cần là "cách mạng" đối với những người mà các khuônmẫu của họ bị tác động bởi cách mạng, đối với những người ngoài cuộc, cuộc cáchmạng đó dường như chỉ là một bộ phận bình thường trong quá trình phát triển củakhoa học Các nhà thiên văn học chẳng hạn có thể chấp nhận tia X chỉ như là một

sự bổ sung cho kiến thức của họ vì khuôn mẫu của họ không bị tác động bởi việckhám phá ra bức xạ mới Nhưng đối với những người như Loạt Kelvin, W.Crookes

và W K.Roentgen mà lĩnh vực nghiên cứu của họ là lý thuyết bức xạ thì sự xuấthiện của tia X lại là một sự vi phạm khuôn mẫu vì nó tạo ra một khuôn mẫu khác

Trang 22

Còn một điểm tương tự nữa sâu sắc hơn giữa cách mạng chính trị và cáchmạng khoa học Cách mạng chính trị nhằm vào việc thay đổi thể chế chính trị theocách mà thể chế đó ngăn cấm Để có thể thành công, cách mạng chính trị cần phảithủ tiêu một phần nào đó trong tập hợp thể chế để những thể chế khác có thể hìnhthành và phát triển Lúc đầu khủng hoảng làm cho các thể chế chính trị bị yếu đi và

số người xa lánh cuộc sống chính trị tăng lên Sau đó khủng hoảng trầm trọng hơn

và có nhiều cá nhân hơn đứng lên cam kết về một đề xuất cụ thể xây dựng lại xãhội trong một khung thể chế mới Đến lúc này thì xã hội chia thành các phe đảngcạnh tranh nhau, một phe tìm cách bảo vệ tập hợp thể chế cũ, phe kia muốn thiếtlập những thể chế mới Khi sự phân cực đã xảy ra thì việc trông cậy vào chính trịkhông còn nửa, các phe đảng sẽ dùng đến các kỹ thuật thuyết phục quần chúng vàthường là cá sức mạnh nữa Mặc dầu cách mạng có một vai trò sống còn đối với sựphát triển các thể chế chính trị, vai trò này lại phụ thuộc phần nào vào những biến

cố ngoài chính trị và ngoài thể chế

Giống như việc lựa chọn các thể chế chính trị cạnh tranh nhau, việc lựa chọncác khuôn mẫu cạnh tranh nhau là sự lựa chọn những kiểu không tương hợp trongcuộc sống cộng đồng Do đặc tính này, việc lựa chọn không thể được xác định chỉbằng những cách đánh giá mang đặc tính khoa học chuẩn vì những cách đánh giá

đó ít nhiều phụ thuộc vào một khuôn mâu cụ thể mà khuôn mẫu này thì lại là đốitượng của sự lựa chọn Lựa chọn khuôn mẫu do đó không thể tránh được là một cáivòng tròn: mỗi nhóm dùng khuôn mẫu của mình để bảo vệ khuôn mẫu của mình!

Để ra khỏi cái vòng tròn đó, các nhóm buộc phải tìm cách thuyết phục nhữngngười khác về sự đúng đắn của khuôn mẫu của mình và, cuối cùng, khuôn mẫu sẽđược lựa chọn theo sự tán thành của cộng đồng khoa học, ngoài ra không có mộttiêu chuẩn nào cao hơn thế Như vậy, để thấy được vì sao vấn đề lựa chọn khuônmẫu không bao giờ được xác định một cách duy nhất bằng logic và thí nghiệm,

Trang 23

chúng ta cần phải xem xét bản chất của sự khác nhau giữa những người bảo vệkhuôn mẫu truyền thống và những người kế tục cách mạng của khuôn mẫu đó.

Sự cạnh tranh giữa các hệ thống thiên văn Ptolemy và Copernicus từ nửacuối thế kỷ XVI cho đến đầu thế kỷ XVII là một trong nhiều thí dụ cho thấy vai tròcủa nhân tố "cộng đồng" bên cạnh các nhân tố "duy lý" và “thực nghiệm" trongviệc từ bỏ khuôn mẫu cũ trong lịch sử phát triển của khoa học Vấn đề cần xem xét

kỹ hơn là mức độ tác động của nhân tố “cộng đồng" là như thế nào

Tính tất yếu của cách mạng khoa học

Sự phát triển của khoa học (tìm ra những cái mới lạ) theo cách hoàn toàntích lũy là khó có thể xảy ra về nguyên tắc Một khám phá mới - một cái mớikhông được dự kiến - chỉ xuất hiện nếu như những dự kiến của nhà khoa học về tựnhiên và các dụng cụ của ông ta được chứng tỏ là không còn đúng nữa Và tầmquan trọng của khám phá thường là tỉ lệ với phạm vi và mức độ "ngoan cố" của dịthường báo hiệu khám phá đó Sau đó, đương nhiên, sẽ có sự xung đột giữa khuônmẫu đã phát hiện ra dị thường và khuôn mẫu mà sau này sẽ làm cho dị thường trởthành có tính quy luật Ngoài cách đó ra, không có một cách thật sự nào khác màtheo đó khám phá sẽ được tạo ra

Đối với các phát minh - sự ra đời của các lý thuyết mới, lập luận cũng tương

tự như trên và còn rõ ràng hơn Các lý thuyết mới có kết quả một khi ra đời sẽ chophép đưa ra những tiên đoán khác với các tiên đoán suy ra từ các lý thuyết trước

nó Sẽ không có sự khác nhau đó nếu các tiên đoán theo lý thuyết mới và theo lýthuyết cũ là tương hợp với nhau về logic Tiên đoán mới sẽ bác bỏ tiên đoán cũ

Sự khác nhau giữa các khuôn mẫu nối tiếp nhau vừa là tất yếu vừa là khôngthể dung hòa dược Sự khác nhau đó có thể là sự khác nhau về nội dung, thí dụ như

là hạt đối với ánh sáng trong khuôn mẫu này và sóng trong khuôn mẫu thay thế nó

Trang 24

Sự khác nhau đó lại có thể là sự khác nhau về khoa học đã tạo ra khuôn mẫu Đó là

vì khuôn mẫu là nguồn của các phương pháp mà cộng đồng khoa học đã chấp nhậnvào một thời kỳ nào đó, việc thay đổi khuôn mẫu do đó thường dẫn đến việc xácđịnh lại khoa học tương ứng với nó Từ đây một số vấn đề trước kia coi như khôngtồn tại hoặc tầm thường có thể trở thành có ý nghĩa khoa học đáng kế Các tiêuchuẩn để phân biệt một giải pháp khoa học thực sự với sự suy đoán siêu hình haytrò chơi toán học cũng có thể thay đổi Truyền thống khoa học chuẩn hình thành từmột cuộc cách mạng khoa học không chỉ là không tương hợp mà còn thường là vôước với truyền thống trước đó

Học tập một khuôn mẫu, người ta nắm được lý thuyết, các phương pháp vàcác tiêu chuẩn, thường là hòa trộn với nhau không thể tách rời do đó khi thay đổikhuôn mẫu sẽ xảy ra sự thay đổi các tiêu chí xác định tính hợp pháp của các vấn đềcũng như các giải pháp đề xuất Như vậy chúng ta rõ thêm điều đã nói trong mụctrước là không thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ việc lựa chọn các khuônmẫu cạnh tranh nhau căn cứ vào các tiêu chí của khoa học chuẩn

Cách mạng khoa học: sự thay đổi cái nhìn về thế giới

Sự thay đổi khuôn mẫu, như vừa nói, có thể dẫn đến sự thay đổi - sự xácđịnh lại - của khoa học đã tạo ra khuôn mẫu đó Mặt khác, sự thay đổi của khuônmẫu còn dẫn đến sự thày đổi của thế giới mà các nhà nghiên cứu đã “nhìn" nó vì

"vị trí" nhìn đã thay đổi Nói cách khác, sau cách mạng khoa học, nhà khoa họcđứng trước một thế giới khác

Nhiều người có thể nghĩ rằng những gì thay đổi đối với một khuôn mẫu cóthể chỉ là sự thay đổi cách giải thích của nhà khoa học đối với các quan sát mànhững quan sát này thì đã được cố định bởi bản chất của môi trường và các dụng

cụ dùng để nhận biết đối tượng Priestley và Lavoisiel đều nhìn thấy oxy nhưng họ

Trang 25

giải thích khác nhau về các quan sát của họ Aristotle và Galileo cùng quan sát cáccon lắc nhưng khác nhau về cách giải thích cái mà hai ông đã nhìn thấy Quanđiểm này có cái đúng của nó song điều quan trọng là cần thấy rằng các cách giảithích đều dựa trên một khuôn mẫu đã được giả định từ trước Chúng là những phầncủa khoa học chuẩn - những hoạt động mà nội dung là đi sâu vào chi tiết, mở rộng

ra và làm rõ thêm một khuôn mẫu đã có Giải thích chính là làm rõ khuôn mẫusong chỉ có thể là làm rõ khuôn mẫu chứ không thể "sửa lại" khuôn mẫu Cáckhuôn mẫu là không thể sửa được bằng khoa học chuẩn Khoa học chuẩn cuốicùng chỉ có thể dẫn đến thừa nhận các dị thường và khủng hoảng Các dị thường vàkhủng hoảng sẽ kết thúc song không phải bằng giải thích mà bằng một biến cốtương đối bất ngờ, một "chớp sáng trực giác" nào đó

Nhà khoa học và cả những người khác đều hiểu biết về thế giới không phảitheo từng phần của nó mà là trên toàn bộ Sự thay đổi sự hiểu biết về thế giới khithay đôi khuôn mẫu là sự thay đổi trên toàn bộ Những người "sống và làm việc"theo khuôn mẫu Copernicus chẳng hạn, khi từ bỏ sự hiểu biết trước đó về Mặt Trờithì đồng thời cũng từ bỏ cái nhìn cũ về tất cả các thiên thể và về thế giới

Sự tiến bộ của khoa học

Chúng ta đã nói đến sự phát triển của khoa học như là một quá trình baogồm sự thay đổi một khuôn mẫu này bằng một khuôn mẫu khác nhằm loại bỏnhững dị thường không thể khử bỏ được trong khuôn mẫu cũ Vấn đề cần tiếp tụcđược bàn cãi là: Sự phát triển đó có phải là tiến bộ - một số tốt hơn lên - hay chỉ là

sự thay đổi? Trong thời kỳ của khoa học chuẩn, các kết quả đạt được khi giải quyếtcác vấn đề được xác định bởi khuôn mẫu đã chấp nhận rõ ràng là một sự tiến bộ ởđây không có vấn đề gì phải bàn cãi Vấn đề lớn là cách mạng khoa học một khiđược thực hiện có phải là một sự tiến bộ hay không? Sự thừa nhận nhân tố "cộng

Trang 26

đồng" trong việc lựa chọn khuôn mẫu như đã nói ở trên cho phép ta đưa ra câu trảlời khẳng định cho vấn đề này.

“Cộng đồng" chúng ta nói ở đây là "cộng đồng khoa học" - một nhóm khoahọc chuyên nghiệp với những đặc điểm của nó Nhà khoa học, thành viên củanhóm, hiển nhiên quan tâm giải quyết các vấn đề về sự diễn biến của tự nhiên Anh

ta có thể quan tâm đến tự nhiên trên quy mô tổng thể, song những vấn đề mà anh tanghiên cứu phải là những vấn đề về chi tiết Điều quan trọng hơn là những lời giảithỏa mãn anh ta không thể chỉ có tính chất cá nhân mà còn phải được chấp nhậnbởi nhiều người khác, những người này không thể được lựa chọn một cách ngẫunhiên từ xã hội mà phải là những người ngang hàng về nghề nghiệp với nhà khoahọc trong một cộng đồng xác định Có một quy tắc rất mạnh mẽ của cuộc sốngkhoa học không được viết ra là: cấm không được yêu cầu sự ủng hộ của nhữngngười đứng đầu Nhà nước hay của quần chúng nhân dân về phương diện nội dungkhoa học Các thành viên của một cộng đồng như vậy, do vừa là những cá nhânvừa là những người cùng chia sẻ kết quả đào tạo và kinh nghiệm, phải là nhữngngười sở hữu duy nhất về các quy tắc của trò chơi hoặc một số cơ sở tương đương

về đánh giá không mập mờ Nếu có ai nghi ngờ những cơ sở để đánh giá củanhững người như vậy thì điều đó có nghĩa là họ đã cho ràng có tồn tại những tiêuchuẩn không tương hợp về thành tựu khoa học Sự "cho rằng” này không thể tránhđược dẫn đến vấn đề chân lý trong khoa học có phải chỉ có một hay không

Những đặc điểm trên đây của cộng đồng khoa học đã được rút ra từ thực tiễncủa khoa học chuẩn, song cũng đã tính đến nhiều đặc điểm của sự ứng phó củacộng đồng trong cách mạng khoa học và đặc biệt là trong tranh cãi về khuôn mẫu.Một cộng đồng với những đặc điểm như vậy chắc chắn phải thấy rằng thay đổikhuôn mẫu là tiến bộ

Trang 27

Một vấn đề cần xét thêm: Sự tiến bộ của khoa học, mà bây giờ chúng ta hiểu

là sự thay đổi khuôn mẫu, phải chăng sẽ đưa chúng ta ngày càng gần hơn đến chânlý? Trong tác phẩm của Kuhn, câu trả lời không phải là khẳng định Theo ông,

"quá trình phát triển" như đã mô tả "là một quá trình tiến hóa từ những cái bắt đầunguyên thủy - một quá trình mà các giai đoạn nối tiếp nhau được đặc trưng bằng sựhiểu biết ngày càng chi tiết hơn và tinh vi hơn về tự nhiên Nhưng không một điều

gì đã nói hay sẽ nói là làm cho nó trở thành một quá trình tiến hóa tiên đến một cái

gì đó" Ông cũng nói thêm rằng quan niệm của ông về sự tiến hóa của các tư tưởngcủa khoa học tương tự như sự tiến hóa của các sinh vật trong lý thuyết của Darwin:chọn lọc tự nhiên do cạnh tranh giữa các sinh vật để sống còn có thể đã tạo ra conngười, quan niệm này trái với lý thuyết tiền Darwin theo đó tiến hóa là một quátrình được hướng theo một mục tiêu Giải quyết các cuộc cách mạng khoa học là,qua xung đột trong cộng đồng khoa học, lựa chọn cách phù hợp nhất để làm khoahọc trong tương lai Kết quả của một chuỗi những chọn lọc cách mạng như vậy,được ngăn cách bởi những thời kỳ của nghiên cứu chuẩn, là một tập hợp các công

cụ được thích nghi hóa một cách kỳ diệu mà chúng ta gọi là kiến thức khoa họchiện đại Các giai đoạn nối tiếp nhau trong quá trình phát triển đó được đánh dấubằng sự gia tăng mức độ làm rõ và chuyên môn hóa Và toàn bộ quá trình có thểxảy ra mà không cần phải có một mục tiêu được đặt ra, một chân lý khoa học cốđịnh thường trực Điều sau này còn cần phải bàn cãi nhưng đó là cả một lĩnh vựcrộng lớn vượt ra ngoài phạm vi của bài này

………

2 Logic phát triển của công nghệ (thầy Dũng sẽ viết)

Trang 28

- con đường hình thành của công nghệ

- Chu kỳ của mọt công nghệ

- Chu kỳ phát triển của các thế hệ công nghệ

- Sự phát triển nhảy vọt của công nghệ hiện đại

3 Vai trò của nhà nước trong chính sách và chiến lược KH&CN (theo Mr.Đàm)

- Chức năng của nhà nước

- Lịch sử về vai trò của nhà nước trong chính sách và chiến lược KH&CN

- Hệ thống tổ chức chính sách khoa học quốc gia

Quản lý khoa học và công nghệ, là một hoạt động bao trùm, có tính chất vĩ

mô, bao gồm những động tác như hoạch định chiến lược phát triển khoa học vàcông nghệ, kế hoạch và quy hoạch dài hạn, xây dựng chính sách, thể chế cho hoạtđộng khoa học và công nghệ, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khoa học

và công nghệ, sắp xếp tổ chức mạng lưới các cơ quan khoa học, thực hiện cácchương trình nghiên cứu khoa học, quản lý và áp dụng rộng rãi các thành quả thuđược, chuyển giao công nghệ, cùng những hoạt động về quản lý thu phí, quản lýnguồn nhân lực khoa học và công nghệ, quản lý vật tư phục vụ nghiên cứu khoahọc, thông tin khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ,thanh tra khoa học và công nghệ và nhiều nội dung khác nữa Luật khoa học vàcông nghệ nước ta ban hành tháng 6 – 2000 và có hiệu lực từ 1-1-2001, có dành cảmột chương (Chương VI) quy định những nội dung của quản lý nhà nước về khoahọc và công nghệ

Trang 29

Theo nghĩa đó, quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ hiệnđại là sự vận dụng có ý thức bởi chủ thể quản lý, những quy luật và đặc điểm củaphát triển tự thân của khoa học và công nghệ và tác động qua lại của khoa học vàcông nghệ với toàn bộ các hoạt động khác của xã hội Các quy luật này được kháiquát hóa từ các nghiên cứu của một số bộ môn như xã hội học, lý thuyết thông tin,điều khiển học, lý thuyết hệ thống, Quản lý hoạt động khoa học công nghệ suycho cùng cũng là nhằm thực hiện một cách hữu hiệu nhất mục tiêu phát triển khoahọc và công nghệ và các mục tiêu của công cuộc phát triển kinh tế xã hội Nói tómlại, quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm những hoạtđộng về ra quyết định và việc thực hiện các quyết định trên các mặt chiến lược,chính sách, kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, phối hợp, kiểm tra, thanh tra vàđiều chính đối với công tác khoa học và công nghệ

Các nguyên tắc quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

Cũng giống như trong quản lý kinh tế, quản lý khoa học và công nghệ cónhững nguyên tắc chỉ đạo nhất định Trên cơ sở những nhận thức trên đây, có thểrút ra những nguyên tắc trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Nhữngnguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của đối tượng quản lý là hoạt động khoa học

và công nghệ Mỗi nguyên tắc trên thực tế không vận dụng riêng rẽ mà phối hợpnhuần nhuyễn với các nguyên tắc khác mới có thể phát huy trong thực tế:

Nguyên tắc về sự thống nhất giữa khoa học và kinh tế: (xem tiếp trang 9)

- Đặc điểm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước là quản lý công việc đấtnước thông qua một nền hành chính công Nhà nước thực hiện những chứcnăng cơ bản như việc giữ gìn hòa bình, đảm bảo hạ tầng cơ sở pháp luật, cáclợi ích công như quyền sở hữu, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ mội trường,

Trang 30

phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, kiểm soát các đại dịch bệnh truyềnnhiễm, bảo hiểm xã hội, xóa đói giảm nghèo, phân phối lại phúc lợi xã hội.Nhà nước là người bảo về quyền lợi cộng đồng dân tộc trong bối cảnh cạnhtranh toàn cầu, hội nhập kinh tế quốc tế

Mọi lĩnh vực, bất kể tính chất phức tạp đến đâu, nếu có quan hệ tới lợi íchquốc gia, nhà nước đều chủ trương quản lý ở những mức độ khác nhau Bêncạnh những lĩnh vực như kinh tế, an ninh, quốc phòng, tài nguyên, môitrường, thì khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành nhân tố quyết định

vị thế cạnh tranh, sức mạnh của đất nước, và do đó cũng trở thành lĩnh vựcnhà nước phải quản lý Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp vớinghĩa nó quyết định năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và dịch vụ,hiệu quả của quản lý xã hội, yếu tố quyết định chất lượng cuộc sống và pháttriển bền vững của một dân tộc Người ta quen nói: công nghệ là biến sốchiến lược của sự phát triển Ai nắm trong tay công nghệ, nhất là công nghệcao, người đó có thể chi phối các đối tác phát triển của mình, có ưu thế tuyệtđối trong quan hệ kinh tế, quân sự, ngoại giao, có cơ sở để theo đuổi mộtchính sách đối ngoại, đối nội tương ứng Vì thế các siêu cường trên thế giớibằng mọi cách duy trì tiềm lực khoa học và công nghệ vượt trội của mìnhlàm thế đàm phán, mặc cả trong quan hệ với các nướ khác Các nước đnagphát triển ở những mức độ khác nhau đều cố vươn tới những trình độ nhấtđịnh về khoa học và công nghệ để thoát khỏi lạc hậu và nghèo đói, thoátkhỏi ách nô dịch và lệ thuộc một chiều vào bên ngoài Quá trình toàn cầuhóa đang diễn ra một cách năng động và rất phức tạp, có ảnh hưởng rất lớnmục tiêu, cơ cấu phương châm của các chính sách khoa học và công nghệquốc gia trong thời đại hiện nay

Trang 31

Điều đó giải thích tại sao khoa học và công nghệ đã trở thành đối tượng của

sự can thiệp có ý thức và sự quản lý của các nhà nước hiện đại Mỗi quốc giađương đại theo các cách thích hợp đều thiết lập cho mình bộ máy hànhchính, có chính sách, phương thức và phương tiện khống chế vĩ mô và cả vi

mô các hoạt động trực tếp và gián tiếp liên quan đến tiềm năng công nghệ,khoa học quốc gia Công việc này vượt qua khả năng của các công ty haynhững tổ hợp kinh tế - kỹ thuật, cho dù là hùng mạnh đến đâu, và trở thànhđại sự quốc gia, quốc sách hàng đầu của các chính quyền đương nhiệm

Mặc dù khoa học và ứng dụng khoa học, do tính không chắc chắn của côngcuộc tìm tòi, khám phá cái mới, không giống các hoạt động ổn định, lặp đilặp lại trong sản xuất thông thường, là một hoạt động có nhiều yếu tố rủi ro

so với các hoạt động khác của con người, ngày nay thực tế đã chứng minhrằng việc quản lý khoa học và công nghệ là một việc có thể làm được vàđang được làm một cách có hiệu quả Điều cần lưu ý là quản lý khoa học vàcông nghệ là một lĩnh vực rất đặc thù, khác nhiều với các hoạt động kháctrong đời sống Việc quản lý khoa học và công nghệ đòi hỏi tuân thủ nhữngquy luật riêng của hoạt động khoa học và công nghệ Các quy luật có tínhđặc thù này đã được từng bước nghiên cứu đúc rút và tổng kết thông qua cáchoạt động nghiên cứu và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới

Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ

- Bộ Khoa hoch và Công nghệ

Ngày 19/5/1003, chính phủ đã ban hành nghị định

Trang 32

%2Fapp%3Fid%3D3383780962604598%26itemId%3D1017510%26lang%3Dvie

%26nopassword%3Dtrue%26service%3Dblob%26suite

%3Ddef#locale=vie&gridView=true (trang 29)

III Tổ chức khoa học và công nghệ

(Tiềm lực và vai trò khoa học - công nghệ Việt Nam / B.s.: Huỳnh Văn Hoàng, Trần Thế Trọng - T.1: Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Giới thiệu cơ cấu tổ chức mạng lưới của liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, các tổ chức đào tạo, các tổ chức hoạt động khoa học công nghệ, thông tin về cá nhân hoạt động khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh )

1 Các tổ chức Khoa học và Công nghệ

- Nghiên cứu cá nhân đơn lẻ

- các labo tư nhân

- labo trong công nghiệp

- Tổ chức nghiên cứu khoa học trong g đại học

- Tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài đại học

- Tổ chức nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp

- Tổ chức dịch vụ KH&CN

2 Các hình thức tổ chức khoa học hiện đại

- Liên hợp nghiên cứu và triển khai

- Đặc khu khoa học và công nghệ

- Đặc khu công nghiệp và công nghệ

Ngày đăng: 03/03/2020, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w