Dựa vào hình thể ngoài và cấu tạo, có thể chia xương thành bốn loại chính như sau: - Xương dài: phần lớn ở các chi như cánh tay, cẳng tay, đùi - Xương ngắn gồm các xương ở cổ tay, cổ châ
Trang 11
BÀI 1 NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌC
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1 Trình bày được định nghĩa, nội dung và phạm vi nghiên cứu của giải phẫu học
2 Trình bày được tư thế giải phẫu, các mặt phẳng giải phẫu, các thuật ngữ sử dụng trong giải phẫu và các động tác cơ bản của giải phẫu học
3 Trình bày được các nguyên tắc đặt tên và các hệ danh pháp giải phẫu học
NỘI DUNG
1 ĐỊNH NGHĨA
Giải phẫu học là môn khoa học nghiên cứu về hình thái và cấu trúc cơ thể con người, nghiên cứu cấu trúc của từng cơ quan và mối liên quan giữa giải phẫu với chức năng của cơ quan bộ phận đó
Giải phẫu học là một môn khoa học cơ sở, không những cho y học mà còn cho những ngành sinh học khác
2 LỊCH SỬ
Lịch sử nghiên cứu giải phẫu học có từ rất lâu, ở hầu hết các vùng của thế giới
Ở Trung Quốc, với quan niệm cho rằng tất cả mọi vật, kể cả con người đều tạo thành từ hai phần đối lập nhưng thống nhất là âm và dương Hệ thống kinh lạc và các huyệt châm cứu là bằng chứng rõ rệt nhất cho việc nghiên cứu giải phẫu học của các thầy thuốc Trung Quốc
Ở Hy Lạp cổ đại, Hippocrates (460 - 377 TCN), cha đẻ y học phương tây, đã đưa ra thuyết thể dịch về cấu tạo con người “các cơ quan được tạo thành từ các thành phần: máu, khí, mật vàng và mật đen, các cơ quan có cấu tạo khác nhau là do tỷ lệ các thành phần trên khác nhau”
Aristotle (384 – 322 TCN), được xem như cha đẻ của giải phẫu học so sánh, với định nghĩa con người “con người là động vật đứng thẳng, có hai tay, có lý trí và nói được”, ông là người đầu tiên sử dụng danh từ “anatome” (phẫu tích) trong giải phẫu, là người xây dựng nên hệ danh pháp giải phẫu đầu tiên trên thế giới
Trang 22
André Vésalius (1514 – 1564) được xem là cha đẻ của giải phẫu học hiện đại, với tác phẩm nổi tiếng “De humani corporis fabrica” Theo ông ta, việc nghiên cứu giải phẫu học bằng quan sát trực tiếp việc phẫu tích xác
Vào thế kỷ 18 – 19, sự ra đời của kính hiển vi đã thúc đẩy giải phẫu học phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong lĩnh vực giải phẫu học vi thể
Thế kỷ 20, rất nhiều công trình nghiên cứu giải phẫu học ra đời, một trong những thành công đáng kể là xây dựng một hệ thống thuật ngữ giải phẫu học quốc tế
3 NỘI DUNG VÀ PHẠM VI GIẢI PHẪU HỌC
Tùy theo mục đích nghiên cứu, giải phẫu học được chia thành những ngành chính:
3.1 Giải phẫu y học
Là ngành giải phẫu nghiên cứu cấu trúc, mối liên quan của các cơ quan và bộ phận
cơ thể người, phục vụ cho các môn học khác của y học để đào tạo nên các người làm nghề y Giải phẫu học y học chia thành nhiều chuyên ngành như giải phẫu định khu, giải phẫu hệ thống, giải phẫu lâm sàng, giải phẫu học chẩn đoán hình ảnh,
3.2 Giải phẫu mỹ thuật
Là ngành giải phẫu chú trọng đến việc nghiên cứu giải phẫu bề mặt con người phục
vụ cho việc đào tạo của các trường mỹ thuật
3.3 Giải phẫu học thể dục thể thao
André Vésalius (1514 – 1564)
Trang 33
Nghiên cứu về hình thái, đặc biệt là cơ quan vận động cũng như sự thay đổi hình thái khi vận động Phục vụ cho các trường thể dục thể thao
3.4 Giải phẫu học nhân chủng
Nghiên cứu đặc điểm các quần thể người còn sống cũng như các di cốt khảo cổ để tìm hiểu quá trình phát triển của loài người
3.5 Giải phẫu học nhân trắc
Đo đạc các kích thước của cơ thể để tìm ra các tỷ lệ, mối liên quan của các phần nhằm tạo ra các công cụ phục vụ đời sống và lao động, hay mối liên quan của các loại hình với bệnh tật
3.6 Giải phẫu học so sánh
Nghiên cứu so sánh từ động vật cấp thấp đến cấp cao, nhằm mục đích tìm ra quy
luật tiến hóa từ động vật thành loài người
4 TƢ THẾ GIẢI PHẪU
Việc xác định đúng tư thế giải phẫu rất quan trọng trong việc đặt tên và mô tả Tư thế giải phẫu là tư thế “người sống đứng thẳng, chi trên thả dọc theo thân mình, mắt và lòng bàn tay hướng ra trước”
5 CÁC MẶT PHẲNG GIẢI PHẪU
Hình 1.1 Các mặt phẳng quy chiếu
A Mặt phẳng đứng dọc B Mặt phẳng ngang
C Mặt phẳng đứng ngang
Trang 44
5.1 Mặt phẳng ngang
Là mặt phẳng thẳng góc với trục của cơ thể, chia cơ thể thành hai phần trên và dưới Khi sử dụng mặt phẳng này người ta thường xác định mốc giải phẫu đi kèm để thuận tiện trong việc mô tả
5.2 Mặt phẳng đứng dọc
Là mặt phẳng đứng trước sau, chia cơ thể làm hai phần phải và trái Một mặt phẳng đặc biệt trong các mặt phẳng này là mặt phẳng đứng dọc giữa chia cơ thể ra làm hai phần đối xứng
5.3 Mặt phẳng đứng ngang
Là mặt phẳng thẳng góc hai mặt phẳng trên, chia cơ thể làm hai phần trước – sau
6 CÁC THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG MÔ TẢ
Khép là động tác hướng vào đường giữa Dạng là động tác đưa ra xa đường giữa
7.3 Xoay vào trong – xoay ra ngoài
Trang 57.5 Nghiêng trong và nghiêng ngoài
Hay sử dụng đối với gan bàn chân như nghiêng bàn chân vào trong, nghiêng bàn chân ra ngoài, động tác này xoay theo trục của bàn chân
8 THUẬT NGỮ GIẢI PHẪU HỌC
Một trong những vấn đề quan trọng của bất cứ ngành khoa học nào, đó là tên gọi Đối với giải phẫu học cũng vậy, vấn đề tên gọi cực kỳ quan trọng và đã có nhiều hệ thống thuật ngữ ra đời trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của giải phẫu học
Aristotle: người đã đặt nhiều tên cho các chi tiết giải phẫu học bằng cách so sánh với hình dạng của các vật xung quanh hay quan sát chi tiết đó, ví dụ: xương hộp, tá tràng, cơ đenta
André Vésalius: đã xây dựng hệ thống thuật ngữ giải phẫu học bằng tiếng La tinh đầu tiên trên thế giới
Hệ danh pháp BNA (1895): sử dụng trong các quốc gia sử dụng tiếng Đức Hệ danh pháp này tương đối hoàn thiện với các tiêu chuẩn gần giống tiêu chuẩn của danh pháp quốc tế sau này
Hệ danh pháp PNA ra đời 1955 có khoảng 5000 thuật ngữ giải phẫu học đã được sử dụng hầu hết trên thế giới và các sách giải phẫu xuất bản trước năm 1999, là hệ danh pháp quốc tế Việc đặt tên trong hệ danh pháp PNA dựa vào các nguyên tắc sau:
- Mỗi phần cơ thể chỉ mang một tên gọi, trừ các trường hợp ngoại lệ, ví dụ khẩu cái mềm còn gọi là màng khẩu cái
- Các từ dùng bằng ngôn ngữ Latinh, trừ trường hợp không có từ tương ứng trong tiếng Latinh
- Một từ dùng phải tượng hình, có ý nghĩa, càng ngắn, càng đơn giản càng tốt Tính
từ được sắp đặt theo cách đối nghịch nhau, chính và phụ, trên và dưới
Trang 6Ở Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa có một sự thống nhất về thuật ngữ giải phẫu học bằng tiếng Việt Tình hình sử dụng danh từ giải phẫu ở nước ta rất phức tạp Chịu ảnh hưởng của các nguồn sách tham khảo khác nhau nên thuật ngữ giải phẫu cũng khác nhau
Bộ sách giáo khoa đầu tiên của Giáo sư Đỗ Xuân Hợp được dịch nguyên theo hệ danh từ Pháp Các giáo trình của các trường ở miền Nam lại sử dụng cuốn Danh từ cơ thể học của giáo sư Nguyễn Hữu (dịch từ danh pháp PNA)
Năm 1983, Nguyễn Quang Quyền xuất bản cuốn “Danh từ Giải phẫu học” và 1986 xuất bản tài liệu “Bài giảng Giải phẫu học” Đây là những tác phẩm đã tuân thủ triệt để danh pháp PNA và phần lớn danh từ PNA đều có trong sách Hệ danh pháp này đã được dùng trong hầu hết các bộ môn Giải phẫu trong cả nước
Hệ thống danh pháp TA cho dù được các nước trên thế giới sử dụng nhiều, nhưng ở Việt Nam mới chỉ được sử dụng ở một số tài liệu giảng dạy của bộ môn Giải phẫu học của Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược Huế Mong sao Việt Nam sẽ có một hệ thống thuật ngữ thống nhất để thuận lợi trong công tác đào tạo và khám chữa bệnh
Trang 77
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
Câu 1 Tư thế giải phẫu đúng là:
A Người sống đứng thẳng, hai tay dang ngang, lòng bàn tay hướng ra trước
B Người sống đứng thẳng, chi trên thả dọc theo thân mình, mắt và lòng bàn tay hướng ra trước
C Người sống nằm ngữa, chi trên thả dọc theo thân mình, mắt và lòng bàn tay hướng ra sau
D Người sống đứng thẳng, chi trên thả dọc theo thân mình, mắt và lòng bàn tay hướng ra sau
Câu 2 Các mặt phẳng giải phẫu gồm:
A Là động tác hướng về phía mặt trước
B Là động tác hướng bàn tay ra sau
C Là động tác chuyển mặt bụng ra xa
D Là động tác đưa ra xa đường giữa
Câu 4 Ở chi dưới gấp là động tác:
A Hướng ra phía mặt lưng
B Hướng về phía mặt trước
C Hướng vào phía đường giữa
D Hướng ra xa đường giữa
Đáp án: 1B, 2C, 3D, 4A
Trang 88
BÀI 2
HỆ XƯƠNG - KHỚP
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1 Trình bày được các xương tạo cấu tạo nên cơ thể người
2 Trình bày được các chi tiết giải phẫu quan trọng của các xương
3 Trình bày được các đầu xương tạo nên các khớp
Bộ xương người gồm có 206 xương, được sắp xếp thành hai phần:
- Bộ xương trục có 80 xương: 22 xương đầu mặt, 1 xương móng, 6 xương nhỏ của tai và 51 xương thân (gồm 26 xương cột sống, 24 xương sườn và 1 xương ức)
- Bộ xương treo hay xương phụ có 126 xương: 64 xương chi trên và 62 xương chi dưới
Dựa vào hình thể ngoài và cấu tạo, có thể chia xương thành bốn loại chính như sau:
- Xương dài: phần lớn ở các chi như cánh tay, cẳng tay, đùi
- Xương ngắn gồm các xương ở cổ tay, cổ chân…
- Xương dẹt như các xương vòm sọ, xương vai…
- Xương không đều hay xương bất định là những xương hình thể phức tạp như xương thái dương, xương hàm trên, xương ở nền sọ, xương đốt sống…
Ngoài ra còn có xương vừng là những xương nhỏ nằm trong gân cơ, giúp cơ hoạt động được tốt hơn Ví dụ xương bánh chè là một xương vừng lớn nhất cơ thể Xương
có hốc khí là những xương có các xoang rỗng bên trong: ví dụ các xương quanh ổ mũi Khớp là nơi liên kết giữa hai hoặc nhiều xương Các khớp được phân loại theo cấu tạo và chức năng của chúng
Theo cấu tạo, các khớp được chia thành 3 loại:
Trang 99
- Khớp sợi: các khớp không có ổ khớp, các xương được giữ rất chặt với nhau bằng
mô liên kết sợi, không có hoặc có rất ít cử động giữa các xương tiếp khớp
- Khớp sụn: các khớp mà ở đó các xương tiếp khớp được liên kết chặt với nhau bằng sụn
- Khớp hoạt dịch: cấu tạo gồm mặt khớp, bao khớp, dây chằng, ổ khớp
Dựa vào mức độ vận động, có thể chia khớp làm 3 loại:
- Khớp bất động: khớp giữa các xương sọ
- Khớp bán động: khớp mu, khớp giữa các thân đốt sống
- Khớp động hay còn gọi là khớp hoạt dịch: khớp vai,
Các khớp hoạt dịch hay khớp động có các cử động gấp – duỗi, dạng – khép, quay tròn,…
1 XƯƠNG - KHỚP ĐẦU MẶT
Các xương đầu mặt gồm 22 xương, trong đó 21 xương khác dính với nhau tạo thành một khối bởi các khớp bất động Chỉ riêng xương hàm dưới tách rời, liên kết với khối xương sọ bởi một khớp động là khớp thái dương – hàm dưới
Người ta chia xương đầu mặt làm 2 loại:
- Khối xương sọ: tạo thành hộp sọ, hình bán cầu, gồm có vòm sọ có nhiệm vụ che phủ và bảo vệ não bộ, nền sọ nâng đỡ não và cho các cấu trúc như dây thần kinh, mạch
máu, đi qua
- Khối xương mặt: tạo thành sọ mặt, có những hốc mở ra phía trước như ổ mắt, ổ mũi, ổ miệng chứa các cơ quan thị giác, khứu giác, vị giác…
1.1 Khối xương sọ
Gồm có 8 xương: 4 xương đơn, 2 xương đôi
- Xương đơn: xương trán, xương sàng, xương bướm, xương chẩm
- Xương đôi: xương đỉnh, xương thái dương
Trang 1010
1.1.1 Xương trán
Xương trán tạo nên phần trước của vòm sọ và nền sọ gồm 3 phần:
- Trai trán: tạo nên phần trước của vòm sọ Mặt ngoài, nằm ngay trên bờ trên ổ mắt
có những gờ xương nhô lên gọi là cung mày, ở giữa hai cung mày có một chỗ lõm nhỏ gọi là điểm trên gốc mũi Mặt trong, trên đường giữa tử dưới lên có lỗ tịt, mào trán, rãnh xoang dọc trên
Hình 2.1 Xương đầu mặt nhìn từ trước
Hình 2.2 Xương đầu mặt nhìn từ bên
Trang 1111
- Phần mũi: tạo nên trần ổ mũi là một phần của nền sọ
- Phần ổ mắt: tạo nên trần ổ mắt, một phần của nền sọ Mặt dưới có hõm ròng rọc ở phía trước trong, hố tuyến lệ ở phía trước ngoài Mặt trên bị khuyết ở đường giữa thành khuyết sàng
Bên trong xương có hai xoang trán đổ vào ổ mũi ở ngách mũi giữa
1.1.2 Xương sàng
Nằm trên đường giữa, tạo nên phần trước nền sọ, thành ổ mắt và ổ mũi, có ba phần:
- Mảnh sàng: nằm ngang, ở giữa mặt trên nhô lên mỏm hình tam giác gọi là mào gà,
hai bên mào gà có lỗ sàng để các sợi thần kinh khứu giác lên não
- Mảnh thẳng đứng: thẳng góc với mảnh sàng, chạy xuống góp phần tạo nên vách
mũi
- Mê đạo sàng: là khối bên xương sàng, có hai khối bên Góp phần tạo nên thành
ngoài ổ mũi, có nhiều hốc nhỏ chứa không khí, tập hợp các hốc này gọi là xoang sàng Hai mảnh xương từ mặt trong mỗi mê đạo sàng nhô vào ổ mũi được gọi là các xoăn mũi trên và giữa
Trang 12+ Lỗ tròn: có thần kinh hàm trên đi qua
+ Lỗ bầu dục: có thần kinh hàm dưới đi qua
+ Lỗ gai: có động mạch màng não giữa đi qua
- Cánh nhỏ: cùng thân bướm giới hạn nên ống thị giác, góp phần tạo nên thành trên của ổ mắt Bờ sau của cánh nhỏ chạy theo một đường cong rồi tận cùng là mỏm yên trước
- Mỏm chân bướm: gồm hai mỏm, mỗi mỏm có một mảnh trong và một mảnh ngoài ngăn cách nhau bởi hố chân bướm, hướng xuống dưới tạo nên thành ngoài của lỗ mũi sau
1.1.4 Xương chẩm
Xương chẩm tạo nên phần sau của vòm sọ và nền sọ Ở giữa có một lỗ lớn là lỗ lớn
xương chẩm, thông thương giữa ống sống và hộp sọ có hành não đi qua Vây quanh lỗ
lớn là ba phần:
- Phần nền: ở trước lỗ lớn, mặt trên dốc đứng gọi là dốc
- Các phần bên: mỗi phần bên có 1 lồi cầu chẩm và 1 ống thần kinh hạ thiệt
- Trai chẩm: mặt trước có ụ chẩm trong, mào chẩm trong chạy từ ụ này tới lỗ lớn xương chẩm, hai rãnh xoang ngang chạy từ ụ sang hai bên liên tiếp với rãnh xoang sigma Mặt sau có ụ chẩm ngoài ở giữa
1.1.5 Xương đỉnh
Xương đỉnh là một mảnh xương hình vuông hơi lồi, tạo nên phần lớn mặt bên và vòm sọ Hai xương đỉnh tiếp khớp với nhau phía trên bằng một khớp hình răng cưa, gọi là khớp dọc, phía sau tiếp khớp với xương chẩm bằng khớp lambda, phía trước tiếp khớp với xương trán bởi khớp vành và với các xương thái dương tại các đường khớp trai Mặt trong của xương đỉnh lõm và có những rãnh để các mạch máu đi qua
1.1.6 Xương thái dương
Trang 1313
Xương thái dương góp phần tạo nên thành bên của vòm sọ và một phần của nền sọ
Có ba phần: phần đá, phần trai, phần nhĩ
- Phần trai: Tạo nên thành bên của hộp sọ, phía trên tiếp khớp với xương đỉnh, phía
trước với xương bướm, sau với xương chẩm Có mỏm gò má tiếp khớp với mỏm thái dương xương gò má, tạo nên cung gò má Hố lõm nằm ở mặt sau – dưới mỏm gò má
là hố hàm dưới và chỗ lồi tròn ở trước hố này là củ khớp Chúng là mặt khớp của khớp thái dương – hàm dưới
- Phần đá: hình tháp tam giác ba mặt: trước, sau và dưới, đỉnh ở trước trong, nền ở ngoài Phần này chứa tai giữa và tai trong và những ống cho động mạch cảnh trong và thần kinh mặt đi qua
+ Ðỉnh: nằm ở phía trước trong, có lỗ ra của động mạch cảnh trong
+ Nền: nằm ở phía ngoài, có lỗ ống tai ngoài, ở phía sau có một mỏm gọi là mỏm chũm để cho cơ ức đòn chũm bám
+ Mặt trước: nhìn ra trước, có một chỗ lõm ở phía trong là vết ấn của dây thần kinh sinh ba, để cho hạch sinh ba của thần kinh sinh ba nằm, bên ngoài có lồi cung và trần hòm nhĩ
+ Mặt sau: có lỗ ống tai trong để cho các dây thần kinh VII, VIII đi qua
Hình 2.4 Xương thái dương
Phần đá
Trang 14Gồm 14 xương: 6 xương đôi, 2 xương đơn
- Xương đôi: xương lệ, xương mũi, xương xoăn mũi dưới, xương khẩu cái, xương hàm trên, xương gò má
- Xương đơn: xương lá mía, xương hàm dưới
1.2.3 Xương xoăn mũi dưới
Xương xoăn mũi dưới mỏng cuộn lại và nhô vào ổ mũi ở dưới xương xoăn mũi giữa
1.1.4 Xương hàm trên
Xương hàm trên có một thân và bốn mỏm liên tiếp với thân Thân có bốn mặt: mặt
ổ mắt, mặt mũi, mặt dưới thái dương và mặt trước Các mỏm gồm: mỏm trán, mỏm gò
má, mỏm huyệt răng có các lỗ huyệt chân răng hàm trên, mỏm khẩu cái tạo nên hai
phần ba trước khẩu cái cứng Bên trong thân xương có xoang hàm thông với ngách
mũi giữa
1.1.5 Xương khẩu cái
Hình dạng hình chữ L, có 2 mảnh: mảnh ngang và mảnh thẳng đứng Mảnh ngang tạo thành phần sau khẩu cái cứng, mảnh thẳng đứng tạo nên thành ngoài của lỗ mũi sau
Trang 1515
1.1.6 Xương gò má
Xương gò má tạo nên phần dưới của bờ ngoài và phần ngoài của bờ dưới ổ mắt Xương có ba mặt, hai mỏm, tiếp khớp với các xương trán, xương hàm trên, xương bướm và xương thái dương
- Ngành hàm dưới: liên tiếp với thân tại góc hàm dưới Đầu trên có mỏm vẹt ở trước và mỏm lồi cầu ở sau, giữa hai mỏm là khuyết hàm dưới Mỏm lồi cầu có một chỏm tiếp khớp với hố hàm dưới và củ khớp của xương thái dương Ở mặt trong có lỗ
Hình 2.5 Sọ - Thiết đồ đứng dọc giữa
Trang 161.4 Khớp thái dương - hàm dưới
Là khớp động duy nhất của các xương đầu mặt
1.4.2 Phương tiện nối khớp: bao khớp và dây chằng
1.4.3 Bao khớp: gồm màng hoạt dịch lót mặt trong lớp xơ, lớp xơ bao quanh các
mặt khớp thái dương – hàm dưới
Hình 2.6 Xương hàm dưới
Trang 1717
1.4.4 Ðộng tác: nâng và hạ hàm dưới, đưa hàm dưới sang bên, ra trước và ra sau
Khi há miệng to chỏm hàm dưới có thể trượt ra trước củ khớp gây nên trật khớp và miệng không thể khép lại được
- 5 đốt sống cùng dính nhau tạo thành xương cùng
- 4 - 6 đốt sống cằn cỗi cuối cùng dính nhau tạo thành xương cụt
Hình 2.7 Khớp thái dương hàm dưới
Trang 1818
Nhìn trước sau cột sống trông thẳng đứng, nhưng nhìn nghiêng, cột sống có 4 đoạn cong lồi lõm xen kẽ nhau: đoạn cổ và đoạn thắt lưng cong lồi ra trước, còn đoạn ngực
và đoạn cùng cụt cong lồi ra sau
2.1.1 Cấu tạo chung của đốt sống
Nhìn chung mỗi đốt sống gồm có 1 thân đốt sống ở trước, 1 cung đốt sống ở sau và
1 lỗ đốt sống ở giữa
- Thân đốt sống: hình trụ dẹt lõm hai mặt và được liên kết với các thân đốt sống liền
kề bởi các đĩa gian đốt sống và các dây chằng Nằm ở phía trước, chịu đựng sức nặng của cơ thể
- Cung đốt sống: tạo nên các phần bên và sau của lỗ đốt sống, bao gồm 2 cuống, 2 mảnh và các mỏm Hai cuống nối cung đốt sống với thân đốt sống, hai mảnh từ các cuống chạy ra sau để gặp nhau ở đường giữa Ở bờ trên và bờ dưới cuống có khuyết sống trên và khuyết sống dưới, các khuyết này cùng với khuyết của các đốt lân cận tạo
Hình 2.8 Cột sống
Trang 1919
nên lỗ gian đốt sống khi hai đốt sống chồng lên nhau, để dây thần kinh gai sống chui
qua Có 7 mỏm gồm 2 mỏm khớp trên, 2 mỏm khớp dưới có các mặt khớp trên và dưới tiếp khớp lần lượt với các mỏm khớp dưới và trên của các đốt sống liền kề, 2 mỏm ngang tách ra từ chỗ nối cuống và mảnh và 1 mỏm gai ở giữa sau cột sống
- Lỗ đốt sống: do thân và cung đốt sống tạo nên Khi các đốt sống chồng lên nhau, các lỗ đốt sống sẽ tạo nên ống sống, chứa đựng và bảo vệ tủy sống
2.1.2 Đốt sống cổ
Đỉnh của mỏm gai tách làm hai củ, mỏm ngang dính vào thân và cuống bởi hai rễ
giới hạn nên một lỗ gọi là lỗ ngang để cho động mạch đốt sống chui qua Lỗ đốt sống
hình tam giác, rộng hơn các lỗ đốt sống ngực và thắt lưng để chứa đoạn phình cổ của tủy gai và thích nghi với biên độ di động lớn của đốt sống cổ Ngoài ra còn có một số đốt đặc biệt sau:
Đốt sống cổ I (đốt đội) tiếp khớp với lồi cầu xương chẩm ở trên, không có thân đốt sống, có hình vòng tròn với hai khối bên được nối với nhau bởi cung trước và cung sau Cung trước ở trước lồi ra thành củ trước, phía sau hõm thành hố răng để khớp với mỏm răng của đốt sống cổ II Cung sau lồi ra thành củ sau
Hình 2.9 Cấu tạo chung của một đốt sống
Trang 2020
Đốt sống cổ II (đốt trục) là đốt dày và nhất trong các đốt sống cổ, đặc trưng bởi mỏm răng đi từ thân đốt sống chạy lên trên Ở phía trước mỏm răng có diện khớp trước để khớp với hố răng của đốt đội và có một diện khớp sau để khớp với dây chằng ngang đốt đội
2.1.3 Đốt sống ngực
Mỗi bên thân đốt sống ngực có hai hố khớp là hố sườn trên và hố sườn dưới để khớp với đầu xương sườn Mỗi mỏm ngang cũng có một mặt khớp nhỏ gọi là hố sườn ngang để tiếp khớp với lồi củ của xương sườn cùng số với nó
Hình 2.10 Đốt đội (C1) – Nhìn trên
Hình 2.11 Đốt trục (C2) – Nhìn trước
Trang 2121
2.1.4 Đốt sống thắt lưng
Do phải chống đỡ toàn thân và chuyển động nhiều nên đốt sống thắt lưng có các đặc điểm là thân rất lớn, cuống dày, mỏm gai có hình chữ nhật và hướng ra sau, mỏm ngang dài được xem như một xương sườn thoái hóa
2.1.5 Xương cùng
Xương cùng là một xương do năm đốt sống cùng dính lại với nhau Xương có hình tam giác dẹt đỉnh hướng xuống dưới, cong lõm về trước Mặt trước có 4 đôi lỗ cùng trước cho các dây thần kinh cùng chui ra Mặt sau có 4 đôi lỗ cùng sau cho ngành sau
cá dây thần kinh cùng chui ra Bờ trước đốt sống cùng I (S1) nhô ra trước và được gọi
là ụ nhô xương cùng Mỗi mặt bên có một mặt khớp lớn gọi là mặt loa tai Ống cùng là
sự tiếp tục của ống sống và tận cùng ở dưới tại lỗ cùng
2.1.5 Xương cụt
Phần tận cùng của cột sống là xương cụt, một xương do 4 – 6 đốt sống cụt dính với nhau và có hình tam giác ngược giống như xương cùng
Hình 2.12 Xương cùng và xương cụt – Nhìn trước
Trang 2222
2.2 Lồng ngực
2.2.1 Xương ức
Là một xương dẹt, nằm phía trước, giữa lồng ngực
Gồm ba phần: cán ức rộng ở trên, thân ức ở giữa, mỏm mũi kiếm ở dưới
Hình 2.14 Lồng ngực Hình 2.13 Xương cùng và xương cụt – Nhìn sau
Trang 23Mỗi xương sườn gồm có ba phần đầu, cổ và thân
Thân sườn dài, dẹt và cong từ sau ra trước, có hai mặt trong và ngoài, bờ trên nhẵn
và tròn, bờ dưới sắc Ở mặt trong gần bờ dưới có rãnh sườn
Đầu (chỏm) ở sau có hai mặt khớp chỏm sườn ngăn cách nhau bởi mào sườn
Cổ là một vùng dẹt và ngắn, ngăn cách chỏm với củ sườn
Củ sườn là phần nằm giữa cổ và thân, có mặt khớp với hõm sườn ngang của các đốt sống ngực
Có 12 đôi xương sườn chia làm 3 loại: các xương sườn thật gồm 7 đôi xương sườn trên, mỗi xương có một sụn sườn tiếp khớp trực tiếp với xương ức, các xương sườn giả gồm 3 đôi xương sườn VIII tới X tiếp khớp ở trước với xương ức qua sụn sườn VII, các xương sườn cụt gồm 2 đôi xương sườn XI và XII không tiếp nối ở trước với các xương sườn khác và xương ức
2.3 Khớp của cột sống
Các đốt sống nối với nhau thành cột sống bởi các khớp bán động giữa các thân đốt sống và khớp động giữa các mỏm khớp
3 XƯƠNG - KHỚP TỨ CHI
3.1 Xương khớp chi trên
Mỗi chi trên có 32 xương: 1 xương vai, 1 xương đòn, 1 xương cánh tay, 2 xương cẳng tay (xương quay và xương trụ) và 27 xương bàn tay (gồm 8 xương cổ tay, 5 xương đốt bàn tay và 14 xương đốt ngón tay) Xương đòn và xương vai tạo nên đai chi trên hay đai vai gắn các xương chi trên với xương trục, các xương còn lại tạo nên phần
tự do của chi trên
Trang 2424
3.1.1 Xương đòn
Xương đòn là một xương dài, dẹt, cong hình chữ S, có một thân và hai đầu: đầu ức
và đầu cùng vai
Đầu ức – đầu trong, có mặt khớp với cán ức tạo nên khớp ức – đòn
Đầu cùng vai – đầu ngoài, có diện khớp với mỏm cùng vai của xương vai
Thân xương có rãnh dưới đòn cho cơ dưới đòn bám ở mặt dưới
3.1.2 Xương vai
Xương vai là một xương dẹt hình tam giác, nằm phía sau bên của phần trên lồng ngực Xương có 2 mặt (trước và sau), 3 bờ (trên, trong, ngoài), 3 góc (ngoài, trên, dưới) và 2 mỏm (mỏm cùng vai và mỏm quạ)
- Mặt trước: lõm sâu và được gọi là hố dưới vai
- Mặt sau: có một gờ xương gọi là gai vai có đầu ngoài dẹt thành mỏm cùng vai Gai vai chia mặt này thành 2 hố: hố trên gai nhỏ ở trên và hố dưới gai lớn ở dưới
- Bờ trên có mỏm quạ ở phía ngoài và ngay trong mỏm quạ có khuyết vai
- Góc ngoài có một diện khớp hình soan, hơi lõm gọi là ổ chảo tiếp khớp với chỏm xương cánh tay
Hình 2.15 Xương đòn A Mặt trên B Mặt dưới
Trang 2525
3.1.3 Xương cánh tay
Xương cánh tay là một xương dài, lớn nhất chi trên, có một thân và hai đầu
- Ðầu trên (gần) xương cánh tay gồm chỏm, cổ giải phẫu, củ lớn, củ bé Đầu trên liên tiếp với thân xương tại cổ phẫu thuật, vị trí hay xảy ra gãy xương
Hình 2.16 Xương vai
Hình 2.17 Xương cánh tay
Trang 2626
- Thân xương: hình lăng trụ tam giác có ba mặt và ba bờ: các mặt trước ngoài, trước trong, sau; các bờ trong, ngoài và trước Ở khoảng giữa mặt trước ngoài có lồi củ delta
Ở mặt sau có rãnh thần kinh quay
- Ðầu dưới (xa) dẹt theo hướng trước sau có lồi cầu xương cánh tay mang hai mặt khớp: chỏm con ở ngoài và ròng rọc ở trong; mỏm trên lồi cầu trong; mỏm trên lồi cầu ngoài và các hố quay, hố vẹt ở trước, hố khuỷu ở sau
3.1.4 Các xương cẳng tay
Gồm xương quay và xương trụ, là hai xương dài có một thân nằm giữa hai đầu Khi bàn tay ở tư thế giải phẫu, chúng nằm song song với nhau và xương quay nằm ngoài xương trụ
3.1.4.1 Xương quay:
- Ðầu trên: nhỏ gọi là chỏm xương quay, chỏm bao gồm vành khớp ở xung quanh và hõm khớp ở mặt trên Dưới chỏm là cổ xương quay, là nơi thắt hẹp
- Thân xương: có 3 mặt là mặt trước, mặt sau và mặt ngoài; 3 bờ là bờ trước, bờ sau
và bờ gian cốt Ở mặt trong ngay dưới cổ có một ụ lồi gọi là lồi củ quay
- Đầu dưới: mặt ngoài đầu dưới xương thấp tạp thành mỏm trâm quay Mặt trong có một mặt khớp gọi là khuyết trụ Mặt khớp ở mặt xa là mặt khớp cổ tay
Hình 2.18 Xương cẳng tay
Trang 2727
3.1.4.2 Xương trụ:
- Ðầu trên: to, gồm mỏm khuỷu, mỏm vẹt, khuyết ròng rọc và khuyết quay
- Thân xương: có 3 mặt: mặt trước, mặt sau và mặt trong; 3 bờ: bờ trước, bờ sau và
bờ gian cốt
- Ðầu dưới: lồi thành một chỏm gọi là chỏm xương trụ có vành khớp ở ngoài và mỏm trâm trụ ở trong
3.1.5 Các xương cổ tay
Khối xương cổ tay gồm 8 xương ngắn xếp thành 2 hàng
- Hàng trên từ ngoài vào trong có 4 xương: xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp và xương đậu
- Hàng dưới từ ngoài vào có 4 xương: xương thang, xương thê, xương cả và xương móc
3.1.6 Các xương bàn tay – đốt ngón tay
Có 5 xương đốt bàn tay, được đánh số theo thứ tự từ ngoài vào trong là từ I đến V Mỗi xương bàn tay là một xương dài có thân và hai đầu Đầu gần là nên có các mặt khớp để tiếp khớp với xương cổ tay, tạo nên các khớp cổ tay – đốt bàn tay, và với các xương đốt bàn kế cận Đầu xa là chỏm hình bán cầu tiếp khớp với nền đốt gần của
ngón tay tương ứng, tạo nên khớp đốt bàn tay – đốt ngón tay
Hình 2.19 Xương của bàn tay
Trang 2828
Mỗi ngón tay có 3 đốt là đốt gần, đốt giữa và đốt xa, riêng ngón cái không có đốt giữa Như vậy có tất cả 14 xương đốt ngón tay ở mỗi bàn tay Mỗi xương đốt ngón tay đều có: thân đốt, nền đốt ở đầu gần và chỏm đốt ở đầu xa Xương đốt giữa khớp với xương đốt gần tại khớp gian đốt ngón gần, với xương đốt xa tại khớp gian đốt ngón xa
+ Bao hoạt dịch: lót mặt trong bao khớp, chứa chất hoạt dịch để giúp cho cử động của khớp được dễ dàng
+ Động tác: khớp vai có động tác rộng rãi hơn bất kì khớp nào của cơ thể Các động tác tại khớp vai là gấp, duỗi, dạng, xoay trong, xoay ngoài và quay tròn
Hình 2.20 Thiết đồ đứng ngang qua khớp vai
Trang 2929
- Khớp khuỷu: kết nối đầu dưới xương cánh tay với đầu trên xương quay và xương trụ, đồng thời liên kết đầu trên xương quay và xương trụ với nhau Khớp khuỷu là một khớp phức hợp gồm 3 khớp là khớp cánh tay trụ, khớp cánh tay quay và khớp quay trụ trên
Các mặt khớp gồm các cặp của khớp:
+ Cánh tay quay là chỏm con xương cánh tay và hõm khớp của chỏm quay
+ Cánh tay trụ là ròng rọc xương cánh tay và khuyết ròng rọc của xương trụ
+ Quay – trụ gần là vành khớp của chỏm xương quay và khuyết quay của xương trụ Bao khớp bọc cả ba mặt khớp đi từ đầu dưới xương cánh tay đến đầu trên xương quay và trụ Dây chằng góp phần nối, giữ cố định các xương lại với nhau
Động tác: khớp cánh tay – trụ – quay là gấp và duỗi, khớp quay – trụ gần là sấp và ngửa cẳng tay khi phối hợp với khớp quay – trụ xa
- Ngoài ra còn có các khớp quay trụ dưới, khớp quay cổ tay, các khớp gian xương
cổ tay, các khớp cổ tay – bàn tay, các khớp ở bàn tay
3.2 Xương khớp chi dưới
Mỗi chi dưới có 31 xương: 1 xương chậu, 1 xương đùi, 1 xương bánh chè, 1 xương chày, 1 xương mác, 7 xương cổ chân, 5 xương đốt bàn chân và 14 xương đốt ngón chân Xương chậu ở hai bên cùng với xương cùng tạo nên đai chi dưới, các xương còn lại tạo nên phần tự do của chi dưới
3.2.1 Xương chậu
Hình 2.21 Khung chậu
Trang 3030
Xương chậu là một xương đôi, hình cánh quạt, xương chậu bên này nối tiếp với xương chậu bên đối diện và xương cùng phía sau tạo thành khung chậu Khung chậu hình cái chậu thắt ở giữa, chỗ thắt là eo chậu trên Khung chậu có nhiệm vụ chứa đựng các tạng và chuyển trọng lượng thân mình xuống chi dưới
Mỗi xương chậu của trẻ mới sinh bao gồm ba xương ngăn cách nhau bằng sụn, là xương cánh chậu ở phía trên, xương mu ở phía trước – dưới, xương ngồi ở phía sau – dưới Về sau, sụn được cốt hóa và ba xương dính lại với nhau ở quanh ổ cối
Xương chậu là xương dẹt có 2 mặt và 4 bờ và 4 góc
- Mặt ngoài: ở giữa có hố lõm hình chén gọi ổ cối Ổ gồm phần tiếp khớp chỏm xương đùi gọi là mặt nguyệt, phần không tiếp khớp là hố ổ cối, trên viền xương bao quanh ổ cối có khuyết ổ cối ở dưới Trên ổ cối là diện mông để các cơ mông bám Dưới ổ cối là lỗ bịt, có màng bịt che phủ, phía trước lỗ bịt có rãnh (ống) bịt để cho mạch máu và thần kinh bịt đi qua
- Mặt trong: được đường cung chạy chếch từ trên xuống dưới ra trước chia thành hai phần trên và dưới Ở trên đường cung có hố chậu, mặt loa tai (diện nhĩ) khớp với xương cùng và lồi củ chậu Dưới đường cung có diện xương nhẵn và vuông tương ứng với đáy ổ cối ở mặt ngoài
- Các bờ: Bờ trên: là mào chậu, nơi cao nhất của mào chậu ngang mức đốt sống thắt lưng 4 Bờ dưới: do ngành xương ngồi hợp với ngành dưới xương mu tạo thành Bờ trước và bờ sau có nhiều chi tiết xương quan trọng Ở bờ trước, tử trên xuống lần lượt có: gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, lồi chậu mu và củ mu Ở bờ sau có: gai chậu sau trên, gai chậu sau dưới, khuyết ngồi lớn, gai ngồi, khuyết ngồi bé và ụ ngồi là nơi chịu toàn bộ trọng lượng cơ thể khi ngồi
- Các góc: góc trước trên là gai chậu trước trên, góc sau trên là gai chậu sau trên, góc trước dưới là củ mu, góc sau dưới là ụ ngồi
3.2.2 Xương đùi
Xương đùi là xương dài nhất, to nhất và khỏe nhất cơ thể Xương gồm có một thân
và hai đầu
Trang 31- Ðầu dưới: các mép đường ráp tách xa nhau, giới hạn nên diện khoeo Đầu dưới tiếp khớp với xương chày bằng lồi cầu trong và lồi cầu ngoài Hai lồi cầu nối với nhau
ở trước bằng mặt bánh chè tiếp khớp với xương bánh chè và ngăn cách nhau ở sau bằng hố gian lồi cầu Trên mặt ngoài của lồi cầu ngoài có mỏm trên lồi cầu ngoài Trên mặt trong của lồi cầu trong có mỏm trên lồi cầu trong, ở sau trên mỏm có củ cơ khép
3.2.3 Xương bánh chè
Là một xương dẹt, hình tam giác, đáy ở trên đỉnh ở dưới Xương bánh chè nằm trong gân cơ tứ đầu đùi nên gọi là xương vừng Có vai trò trong động tác duỗi cẳng chân
3.2.4 Các xương cẳng chân
Hình 2.22 Xương đùi
Trang 3232
3.2.4.1 Xương chày
Xương chày là xương cẳng chân duy nhất tiếp khớp với xương đùi, chịu gần toàn bộ sức nặng cơ thể từ trên dồn xuống Xương chày là một xương dài có một thân và hai đầu
- Ðầu trên: loe rộng để đỡ lấy xương đùi, có lồi cầu trong và lồi cầu ngoài Mặt trên mỗi lồi cầu có một diện khớp trên tương ứng để tiếp khớp lồi cầu xương đùi
Phía dưới và sau của lồi cầu ngoài có diện khớp mác để tiếp khớp đầu trên xương mác
Mặt trước của hai lồi cầu nằm ngay dưới da là lồi củ chày, nơi bám của dây chằng bánh chè
- Thân xương: hình lăng trụ tam giác hơi cong lồi ra trước Có ba mặt (trong, ngoài, sau) và ba bờ (trước, trong, gian cốt) Mặt trong phẳng, sát da Bờ trước sắc, sát da Phần trên của mặt sau thân có đường cơ dép
- Ðầu dưới: nhỏ hơn đầu trên có mặt khớp dưới tiếp khớp với xương sên và khuyết mác ở ngoài tiếp khớp với đầu dưới xương mác, mặt trong có mắt cá trong
3.2.4.2 Xương mác: là xương dài, nằm ngoài xương chày, khớp với xương chày ở
hai đầu Đầu trên phình to gọi là chỏm mác Thân xương có ba mặt và ba bờ Đầu dưới
Hình 2.23 Xương chày
Trang 33- Các xương cổ chân: gồm 7 xương sắp xếp thành hai hàng:
+ Hàng sau có hai xương là xương sên và xương gót
+ Hàng trước: có 5 xương là xương ghe, xương hộp và 3 xương chêm
- Xương đốt bàn chân: có 5 xương đốt bàn đánh số từ I - V Mỗi xương có nền, thân
+ Mặt khớp: ổ cối xương chậu, chỏm xương đùi, sụn viền ổ cối
+ Phương tiện nối khớp: bao khớp đi từ vành ổ cối tới cổ xương đùi, dây chằng
và bao hoạt dịch Các dây chằng gồm có: dây chằng chậu đùi, dây chằng mu đùi, dây chằng ngồi đùi, dây chằng vòng đùi và dây chằng chỏm đùi
+ Động tác: biên độ rất lớn: gấp, duỗi, dạng, khép, xoay ngoài, xoay trong
Hình 2.24 Khớp hông
Trang 34+ Phương tiện nối khớp: bao khớp bám vào rìa các mặt khớp của xương chày, xương đùi, các bờ xương bánh chè và vào bờ chu vi các sụn chêm Các dây chằng: dây chằng bên chày, dây chằng bên mác, dây chằng chéo trước, dây chằng chéo sau Màng hoạt dịch lót mặt trong bao khớp và quanh các dây chằng chéo
+ Động tác: gấp, duỗi cẳng chân
- Ngoài ra còn có các khớp ở cổ - bàn chân
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Chọn một câu trả lời đúng nhất cho các câu hỏi sau:
Câu 1 Xương nào sau đây không thuộc khối xương sọ:
Câu 2 Các xương của hộp sọ thuộc loại:
Hình 2.25 Khớp gối
Trang 3535
Câu 3 Xương ức khớp với xương nào sau đây:
Câu 4 Mặt sau xương cánh tay có một rãnh xoắn, trong đó có:
A Động mạch cánh tay sâu, dây TK quay
B Động mạch cánh tay sâu, dây TK giữa
C Động mạch cánh tay, dây TK quay
D Động mạch cánh tay, dây TK trụ
Câu 5 Khớp gối được cấu tạo bởi các xương:
A Đầu dưới xương đùi + đầu trên xương chày + xương bánh chè
B Đầu dưới xương đùi + đầu trên xương chày + xương mác
C Đầu trên xương mác + xương đùi + xương bánh chè
D Xương bánh chè + xương mác + xương chày + xương đùi
Câu 6 Mốc giải phẫu quan trọng ở bờ trước xương chậu là:
C Gai chậu trước trên D Mào chậu
Sử dụng hình sau để trả lời câu 7 và câu 8:
Câu 7 Chi tiết số 3 là:
Trang 36Sử dụng hình sau để trả lời câu 9 và câu 10:
Câu 9 Chi tiết số 1 là:
Câu 10 Chi tiết số 4 là:
A Ổ chảo xương vai B Hố trên vai
Đáp án: 1D, 2C, 3C, 4A, 5A, 6C, 7B, 8C, 9D, 10B
Trang 3737
BÀI 3
HỆ CƠ
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1 Trình bày được các cơ chính ở vùng đầu mặt cổ, thân mình, chi trên và chi dưới
2 Trình bày được chức năng của các nhóm cơ chính trong cơ thể
3 Trình bày được thần kinh chi phối của một số nhóm cơ chính trong cơ thể
Cơ vân được gọi tên dựa vào hình dạng, số đầu nguyên ủy, số bụng cơ, cách sắp xếp
bó sợi cơ và chức năng
Cơ mặt được chia thành các nhóm:
- Nhóm cơ trên sọ: có hai cơ là cơ chẩm trán và cơ thái dương đỉnh
Trang 3838
- Nhóm cơ mắt: có ba cơ là cơ vòng mắt, cơ cau mày và cơ hạ mày Trong đó cơ vòng mắt là cơ quan trọng có nhiệm vụ khép mắt, nên khi thần kinh chi phối cơ này là thần kinh mặt bị tổn thương thì mắt không thể nhắm được
- Nhóm cơ mũi: có ba cơ là cơ mảnh khảnh, cơ mũi (phần ngang và phần cánh) và
cơ hạ vách mũi
- Nhóm cơ tai: có ba cơ kém phát triển là cơ tai trên, cơ tai trước và cơ tai sau
- Nhóm cơ miệng: gồm rất nhiều cơ như cơ nâng môi trên cánh mũi, cơ nâng môi trên, cơ nâng góc miệng, cơ gò má bé, cơ gò má lớn, cơ mút, cơ cười, cơ vòng miệng,
cơ hạ góc miệng, cơ hạ môi dưới, cơ cằm, cơ ngang cằm
1.1.2 Các cơ nhai
Gồm có bốn cơ với các đặc điểm như nguyên ủy ở khối xương sọ, bám tận ở xương hàm dưới, dây thần kinh hàm dưới chi phối vận động, có tác dụng vận động xương hàm dưới
- Cơ thái dương: nguyên ủy ở hố thái dương, bám tận ở mỏm vẹt xương hàm dưới, hình nan quạt, che phủ gần hết mặt bên vòm sọ
Hình 3.1 Cơ vùng đầu mặt
Trang 3939
- Cơ cắn: nguyên ủy ở cung gò má, bám tận ở mặt ngoài ngành hàm và góc hàm
- Cơ chân bướm ngoài: nguyên ủy ở mặt ngoài mỏm chân bướm, bám tận vào cổ hàm dưới và bao khớp của khớp thái dương – hàm dưới
- Cơ chân bướm trong: nguyên ủy ở mặt trong của mảnh ngoài mỏm chân bướm, bám tận vào mặt trong của ngành hàm và góc hàm
1.2 Cơ vùng cổ
Cơ vùng cổ được chia thành hai vùng có ranh giới là bờ ngoài cơ thang Vùng sau là vùng cổ sau hay còn gọi là vùng gáy gồm rất nhiều cơ Vùng trước là vùng cổ trước thường hay gọi là vùng cổ
Dựa vào chức năng và vị trí mà người ta chia các cơ vùng cổ trước thành các nhóm: các cơ nông vùng cổ bên, các cơ trên móng và các cơ dưới móng, các cơ trước cột sống và các cơ bên cột sống
1.2.1 Các cơ nông vùng cổ bên
Có hai cơ là cơ bám da cổ và cơ ức đòn chũm
Cơ ức đòn chũm là một mốc giải phẫu quan trọng ở vùng cổ Nguyên ủy ở xương
ức và xương đòn, các sợi cơ chạy lên trên và ra sau đến bám tận ở mỏm chũm và xương chẩm, được chi phối vận động bởi dây thần kinh phụ Khi cơ co thì có tác dụng xoay đầu và kéo đầu về phía bên đó Nếu co cả hai bên thì có tác dụng làm ngữa đầu
1.2.2 Các cơ trên móng và các cơ dưới móng
Hình 3.2 Các cơ nhai
Trang 401.2.3 Các cơ trước cột sống và các cơ bên cột sống
Gồm các cơ dài đầu, cơ dài cổ, cơ thẳng đầu trước, cơ thẳng đầu bên, cơ bậc thang trước, cơ bậc thang giữa và cơ bậc thang sau