Có thể nói, lý thuyết về cấu tạo chất, mà cơ sở của nó là hoá học lượng tử là một trong những nền tảng quan trọng nhất của hoá học hiện đại... Sau những phát minh quan trọng của vật lý
Trang 1Sự xuất hiện của lý thuyết lượng
tử Hoá học, đúng như tên của nó chỉ ra, là khoa
học về sự chuyển hóa và biến đổi của các chất
Nhưng hoá học ngày nay không chỉ dừng lại ở việc mô tả, giải thích và tìm quy luật cho các hiện tượng quan sát được mà đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các tương tác hoá học Các tương tác này do cấu tạo nguyên tử , phân tử quyết định Có thể nói, lý thuyết
về cấu tạo chất, mà cơ sở của nó là hoá học lượng tử
là một trong những nền tảng quan trọng nhất của hoá học hiện đại
Trang 2 Sau những phát minh quan trọng của vật lý ở cuối thế kỉ
19 và đầu thế kỉ 20 như hiện tượng phóng xạ, các hiệu ứng quang điện, hiệu ứng Compton, các hạt cơ bản
v.v thì các mẫu nguyên tử lần lượt ra đời Nhưng
những mô hình đó không đưa lại bức tranh toàn cảnh
phản ảnh đúng bản chất của cấu tạo nguyên tử và lẽ đư
ơng nhiên người ta phải tìm một giải pháp hữu hiệu
hơn
Người ta có thể nhận thấy là hệ vi mô có những tính
chất khác biệt, tuân theo những quy luật riêng , khác
hẳn với các hệ vĩ mô vốn là đối tượng của vật lý cổ
điển Việc mô tả và nghiên cứu chúng , do đó đòi hỏi phải có một ngành khoa học riêng và hoàn chỉnh hơn
Đó là cơ học lượng tử
Vào năm 1926, E Schroedinger- một nhà vật lý người
áo là người đầu tiên đề xuất ý kiến xây dựng cơ học lư ợng tử,
Trang 3Theo ông, ngành cơ học mới này phải được trang bị những công cụ toán học mới và phải có liên hệ tương thích với các phân ngành khác nhau của vật lý cổ điển như quang hình, quang lý và cơ học cổ điển Bản thân
ông, bằng cách sử dụng hệ thức de Broglie về sóng vật chất , đã tìm ra và đưa vào cơ học lượng tử như một
tiên đề phương trình chính tắc mang tên ông Những công trình của Heisenberg, Born, Dirac sau đó đã
góp phần biến cơ học lượng tử thành ngành khoa học tổng quát, hoàn chỉnh, có cơ sở lý thuyết hệ thống và nhất quán với giới hạn ứng dụng vượt ra ngoài thế giới
vi mô ban đầu
Vậy hệ cơ sở lý thuyết cơ bản ấy như thế nào?
Trước tiên ta xét các thuộc tính quan trọng của hệ vi mô
Trang 41.1 Sóng vật chất de Broglie.
Dựa trên các dữ kiện thực nghiệm, năm 1924, nhà bác học người Pháp Louis-de Broglie đã đưa ra một giả thiết quan trọng cho rằng: “Mọi dạng vật chất chuyển động đều liên kết (tương ứng) với một sóng, gọi là sóng vật chất de
Broglie”.
Như vậy, mọi dạng vật chất đều có bản chất sóng − hạt Bước sóng λ (tính chất sóng) và khối lượng m (tính chất hạt) của các hạt vật chất chuyển động có hệ thức liên hệ
( *):
trong đó: h - hằng số Planck; h = 6,6256.10−34 J.s
Trang 5 1.2 Nguyên lí bất định Heisenberg.
Trong cơ học cổ điển, khi khảo sát sự chuyển
động của hạt người ta nghĩ đến quĩ đạo, nghĩa là
thừa nhận rằng tại một thời điểm xác định hạt có một toạ độ xác định Tuy nhiên, khi nói đến tính chất sóng của hạt, thì khái niệm quĩ đạo không còn
ý nghĩa nữa
Điều đó có nghĩa là khi đã thừa nhận tính chất
sóng của các hạt vật chất chuyển động thì: “Toạ độ
và động lượng của các hạt (vi mô) không thể đồng thời có giá trị xác định”.
Kết luận trên được diễn tả qua một hệ thức bất
định Heisenberg (1927):
∆q ∆p ≥
Trang 6Ta cã thÓ tãm t¾t sù kh¸c nhau chÝnh gi÷a hai lo¹i c¬ häc nh sau :
Trang 7
Các đại lượng của hệ ở vào trạng thái không đồng thời xác đinh Như vậy sự mô tả ở đây có tính chất
thống kê
Cơ học lượng tử được xây dựng trên cơ sở một hệ các tiền đề, không chứng minh được bằng lí thuyết như
ng được kiểm định và được khẳng định sự đúng đắn của chúng bằng thực nghiệm Như vậy trước khi nói
đến hoá học lượng tử chúng ta phải trình bầy những cơ sở chính yếu của lý thuyết lượng tử dưới dạng một
hệ tiên đề Để xây dựng hệ tiên đề này người ta phải
sử dụng các công cụ toán học khác nhau Trước tiên
ta xem xét vấn đề này
Trang 8Những nguyên lí cơ sở của cơ học lượng tử
2.1 Toán tử.
2.1.1 Định nghĩa.Toán tử là một phương pháp toán học tác dụng lên một hàm bất kì chuyển nó thành một hàm khác.
 ψ (x) = ϕ (x)
2.1.2 Toán tử tuyến tính.
a Định nghĩa  là toán tử tuyến tính nếu chúng thỏa mãn các điều kiện:
Â(c ψ ) = c  ψ
Â( ψ 1 + ψ 2) = Â ψ 1 + Â ψ 2
Trang 9b Một số tính chất của toán tử
1) Tổng, hiệu, tích các toán tử
Â, B là các toán tử Nếu đối với một hàm bất
kì, ta có các hệ thức sau đây:
Sψ = Âψ + Bψ
Dψ = Âψ − Bψ
Pψ = Â (Bψ )
thì S gọi là tổng; D là hiệu và P là tích của
hai toán tử Â và B
2) Tích của hai toán tử nói chung là không giao
hoán (khác với tích của hai số): ÂB ≠BÂ Vì vậy khi viết biểu thức tích của hai toán tử cần chú ý đến thứ tự các thừa số
D
Trang 10 Hiệu ÂB − BÂ được kí hiệu là [Â,B] và gọi là giao
hoán tử của hai toán tử Â và B Khi đó:
Nếu  và B là giao hoán thì: [Â,B]=[ÂB−BÂ] = 0
Nếu  và B không giao hoán thì:[Â,B]=[ÂB−BÂ] ≠ 0
c) Hàm riêng và trị riêng của toán tử tuyến tính
Trong cơ học lượng tử, ta thường gặp những hàm mà
khi toán tử Â đã tác dụng lên, hàm này sẽ chuyển thành một hằng a nhân với chính nó
Âψ(x) = a ψ(x) trong đó: Â − toán tử tuyến tính, ψ(x) là hàm riêng của toán tử Â, a gọi là trị riêng của toán tử Â
Trang 11d) Điều kiện cần và đủ để hai đại lượng cơ học đồng thời
xác định là hai toán tử tương ứng phải giao hoán với nhau.
2.1.3 Toán tử Hermite
a) Định nghĩa.Có toán tử tuyến tính  và các hàm
φ(x), f(x) bất kì Toán tử Â gọi là toán tử Hermite
(hay toán tử tự liên hợp tuyến tính) nếu: