Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ phong cách thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ học, thấy được một bức tranh toàn cảnh về ba bình diện: đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp cũng như đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của thơ Nguyễn Bính. Các bình diện trên cũng đồng thời thể hiện những giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật ở các tác phẩm của ông, cho chúng ta thấy những đóng góp và những cống hiến, sáng tạo của Nguyễn Bính.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHOA NGÔN NGỮ HỌC
ĐỖ ANH VŨ
NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN BÍNH
(Dựa trên cứ liệu trước 1945)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Mã số: 9 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CHỪ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
cứ một công trình nào
Tác giả luận án
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Nhiệm vụ 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu của luận án 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi tư liệu 2
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 3
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 3
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 4
6.1 Ý nghĩa lí luận 4
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khái niệm “thơ” và ngôn ngữ thơ 5
1.1.1 Khái niệm “Thơ” 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ thơ 8
1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính 14
1.2 Cơ sở lí thuyết 16
1.2.2 Vần thơ (Thi vận) 17
1.2.5 Tín hiệu thẩm mỹ 21
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THƠ NGUYỄN BÍNH 25
2.1 Đặc điểm vần thơ Nguyễn Bính 25
2.1.1 Mức độ hòa âm trong vần thơ thất ngôn của Nguyễn Bính 25
2.1.2 Phân bố vần khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính 29
2.1.3 Những bài thơ thất ngôn trường thiên của Nguyễn Bính 31
2.1.4 Mức độ hòa âm trong vần thơ lục bát của Nguyễn Bính 33
2.1.5 Phân bố vần trong thơ lục bát của Nguyễn Bính 35
2.1.6 Những bài lục bát dùng vần chính tuyệt đối 36
2.2 Nhịp điệu trong thơ Nguyễn Bính 38
2.2.1 Nhịp điệu trong thơ lục bát 38
2.2.2 Nhịp điệu trong thơ thất ngôn 41
2.3 Cấu trúc nhan đề tác phẩm 43
2.4 Nghệ thuật biểu hiện dấu câu 46
2.4.1 Dấu ba chấm trong thơ Nguyễn Bính 46
2.5 Một số biện pháp tu từ cú pháp trong thơ Nguyễn Bính 53
2.5.1 Biện pháp tu từ điệp ngữ 53
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA THƠ NGUYỄN BÍNH 71
3.1 Các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính 71
3.1.1 Vai trò của không gian trong nhan đề tác phẩm 71
3.1.2 Những không gian chung 72
3.1.3 Những không gian nông thôn 76
3.1.4 Không gian thành thị 79
3.1.5 Không gian phiêu bạt 82
3.1.6 Những không gian gắn với địa danh 83
3.1.7 Những không gian tượng trưng – ước lệ 87
3.2 Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính 88
3.2.1 Thời gian của ngày 88
3.2.2 Thời gian của năm 97
Trang 43.2.3 Các biểu hiện khác của thời gian 101
3.3 Một số tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc trong thơ Nguyễn Bính 106
3.3.1 Tín hiệu thẩm mĩ “vườn” 106
3.3.2 Tín hiệu thẩm mỹ “bướm” 109
3.3.3 Tín hiệu thẩm mỹ “rượu” 114
3.4 Các yếu tố ngôn ngữ chỉ con người trong thơ Nguyễn Bính 119
3.5 Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính 123
3.5.1 Các yếu tố chỉ thực vật 123
3.5.2 Các yếu tố chỉ động vật 125
3.6 Từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính 127
3.6.1.Tổng quan về từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính 127
3.6.2 Phân loại và miêu tả từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính 131
3.6.3 Giá trị của việc sử dụng từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính 138
3.7 Tiểu kết 141
KẾT LUẬN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1: Số lượng các thể thơ Nguyễn Bính trước 1945
2 Bảng 2.2: Phân loại thể thất ngôn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
3 Bảng 2.3: : Số lượng các loại vần trong thể thất ngôn của thơ Nguyễn Bính trước 1945
4 Bảng 2.4: Bảng phân bố thanh điệu trong bài thơ Cô hái mơ
5 Bảng 2.5: Bảng phân bố thanh điệu trong bài thơ Gái xuân
6 Bảng 2.6: Tổng kết phân bố vần thơ thất ngôn Nguyễn Bính trước 1945
7 Bảng 2.7: Tổng kết các loại vần trong thơ lục bát Nguyễn Bính trước
1945
8 Bảng 2.8: Khảo sát các loại vần trong một số bài ca dao theo thể lục bát
9 Bảng 2.9: Tổng kết những nhịp ngắt phá cách trong thơ lục bát Nguyễn Bính trước 1945
10 Bảng 2.10: Tổng kết những nhịp ngắt mang tính phá cách trong thơ thất ngôn Nguyễn Bính trước 1945
11 Bảng 2.11: Bảng 2.10: Tổng kết những nhịp ngắt mang tính phá cách trong thơ thất ngôn Nguyễn Bính trước 1945
12 Bảng 2.12: Dung lượng nhan đề thi phẩm Nguyễn Bính trước 1945
13 Bảng 2.13: Vị trí dấu ba chấm trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
14 Bảng 2.14: Các loại câu hỏi trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
15 Bảng 2.15: Các loại điệp ngữ trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
16 Bảng 2.16: Tần số sử dụng hư từ trong các câu thơ
17 Bảng 2.17: So sánh tương quan chuyển loại thực từ - hư từ
18 Bảng 2.18: So sánh tình hình sử dụng hư từ trong thơ Nguyễn Bính và Huy Cận trước 1945
19 Bảng 3.1: Những không gian chung trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
20 Bảng 3.2: Các đơn vị không gian nông thôn mang tính chất văn hóa truyền thống trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
21 Bảng 3.3: Những không gian nông thôn cụ thể trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
22 Bảng 3.4: Không gian phiêu bạt trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
22 Bảng 3.5: Các địa danh cụ thể trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
Trang 624 Bảng 3.6: Địa danh điển tích trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
25 Bảng 3.7: Không gian ước lệ trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
26 Bảng 3.8: Thời gian ban ngày trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
27 Bảng 3.9: Biểu hiện của thời gian buổi chiều trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
28 Bảng 3.10: Biểu hiện của thời gian “đêm” trong thơ Nguyễn Bính trước
1945
29 Bảng 3.11: Biểu tượng của thời gian ban đêm trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
30 Bảng 3.12: Bốn mùa trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
31 Bảng 3.13: Bốn mùa trong thơ Nguyễn Bính căn cứ qua nhan đề tác phẩm
32 Bảng 3.14: Các tín hiệu từ vựng đặc trưng chỉ mùa thu trong thơ Nguyễn Bính trước 1945
33 Bảng 3.15: Thế giới nghệ thuật Nguyễn Bính qua ba tín hiếu thẩm mỹ đặc sắc
34 Bảng 3.16: Các yếu tố ngôn ngữ chỉ người trong thơ Nguyễn Bính trước
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi ca từ lâu đã trở thành đối tượng được quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học, trên thế giới cũng như Việt Nam Trên phân ngành phong cách học, các nhà Việt ngữ học luôn dành một khoảng đất cần thiết và tương đối rộng rãi để bàn về phần phong cách chức năng của văn bản nghệ thuật, trong đó không thể không nói đến tầm quan trọng và những đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ văn học nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng Cùng với những thành tựu của
lí luận ngôn ngữ, hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học – văn học càng được đẩy mạnh và thu được nhiều thành tựu Nhìn lại nền thơ ca Việt Nam thế
kỷ XX, phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) là một trong những thành tựu rực rỡ trong tiến trình văn học sử nước nhà với sự góp mặt của nhiều tên tuổi, mà Nguyễn Bính chính là một trong những đại diện tiêu biểu nhất, được mệnh danh
là thi sĩ chân quê với số lượng các ấn phẩm xuất bản trước 1945 nhiều nhất so với tất cả những thi sĩ đương thời Thơ Nguyễn Bính được đông đảo tầng lớp quần chúng nhân dân yêu mến, thuộc lòng và được truyền tụng một cách rộng rãi trên khắp các vùng miền của đất nước Cùng với thời gian, thơ Nguyễn Bính vẫn ngày càng khẳng định được giá trị bền vững của mình trong lòng độc giả, thậm chí có phần vượt cả Xuân Diệu, người vẫn được xem là hoảng từ của thời kỳ Thơ Mới
Ý thức về vị trí của thi tài Nguyễn Bính trong nền thi ca Việt Nam hiện
đại, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính (dựa trên
cứ liệu trước 1945) với mong muốn chỉ ra một cách hệ thống những đặc điểm
ngôn ngữ thi ca, thấy được những sáng tạo, đóng góp và cống hiến nghệ thuật của ông, đồng thời cũng chỉ ra được một phong cách không thể trộn lẫn trong mối tương quan với những thi sĩ sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn thời kỳ trước 1945 Công trình cũng sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi: Tại sao thơ Nguyễn Bính lại được nhiều người yêu thích, say mê và thuộc lòng đến như vậy
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ phong cách thơ Nguyễn Bính
từ góc độ ngôn ngữ học, thấy được một bức tranh toàn cảnh về ba bình diện: đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp cũng như đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của thơ Nguyễn Bính Các bình diện trên cũng đồng thời thể hiện những giá trị nội dung
tư tưởng và giá trị nghệ thuật ở các tác phẩm của ông, cho chúng ta thấy những đóng góp và những cống hiến, sáng tạo của Nguyễn Bính
2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là qua 272 bài thơ sáng tác trong giai đoạn trước 1945 của Nguyễn Bính, đi vào thống kê, miêu tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ học tiêu biểu thuộc cả ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa để thấy được bức tranh toàn cảnh về thế giới thơ Nguyễn Bính, thấy được phong cách riêng của thi sĩ chân quê cùng những đóng góp nghệ thuật, những sáng tạo cống hiến của ông
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính, bao gồm toàn bộ các đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa trong toàn bộ các sáng tác ở dạng bài thơ (không tính thể loại truyện thơ) của Nguyễn Bính, được viết trong thời kỳ trước 1945
3.2 Phạm vi tư liệu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là những bài thơ viết trước 1945 của
Nguyễn Bính, được xác lập qua việc căn cứ vào bộ sách Nguyễn Bính toàn tập
(NXB Văn học, Hà Nội, 2008) Các thi phẩm được sáng tác trước 1945 nằm trong 7 tập thơ trước cách mạng cùng một số bài thơ lẻ khác nằm ngoài các tập trên Danh sách 7 tập thơ cùng số lượng cụ thể mỗi bài trong tập như sau:
Lỡ bước sang ngang (Lê Cường, Hà Nội, 1940): 34 bài
Tâm hồn tôi (Lê Cường, Hà Nội, 1940): 39 bài
Hương cố nhân (Asiatia, 1941): 31 bài
Trang 9Một nghìn cửa sổ (1941): 43 bài
Mười hai bến nước (Mộng Hàm, 1942): 14 bài
Người con gái ở lầu hoa (Hương Sơn, 1942): 25 bài
Mây Tần ( Huơng Sơn, 1942): 28 bài
Cùng với 61 bài thơ lẻ đã in báo nằm ngoài các tập kể trên, sau khi trừ đi những bài thơ dịch (5 bài), tổng số các thi phẩm mà Nguyễn Bính sáng tác trước
1945 nằm ở con số 272 bài Đây sẽ là đối tượng và phạm vi nghiên cứu trọng tâm của luận án, mong muốn chỉ ra được những đặc điểm về ngôn ngữ học, cụ thể là: tu từ học, phong cách học, thi pháp học của thơ Nguyễn Bính từ nguồn cứ liệu nói trên
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp chủ đạo được chúng tôi là phương pháp miêu tả ngôn ngữ học Luận án đi vào miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trên tất cả các bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa Việc miêu tả được tiến hành chi tiết và kỹ lưỡng, từ hình thức bên ngoài (định lượng hóa) cho đến các giá trị được biểu đạt (định tính hóa) bởi nội dung tư tưởng tác phẩm Tuy vậy, ở mỗi khu vực ngữ âm/ngữ pháp/từ vựng ngữ nghĩa, chúng tôi sẽ chỉ chọn và phân tích những nội dung mang tính điển hình và đặc sắc nhất, phản ánh được những đóng góp, sáng tạo cũng như nét riêng biệt về phong cách của Nguyễn Bính
Các phương pháp và thủ pháp liên ngành khác được chúng tôi sử dụng là phân tích diễn ngôn, phân tích tu từ học, thống kê, so sánh và phân tích thể loại
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính từ góc nhìn ngôn ngữ học, bao quát cả hai mặt hình thức và ngữ nghĩa với các đặc điểm nổi bật về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa trong hệ thống thi phẩm sáng tác trước Cách mạng của thi sĩ chân quê Những kết quả của luận án sẽ góp phần khẳng định về một phong cách riêng không thể trộn lẫn của Nguyễn Bính, đồng thời mở ra một hướng tiếp cận mới về ngôn ngữ tác giả, phong cách văn bản nghệ thuật nói chung và phong cách nhà văn nói riêng
Trang 106 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
Luận án tiếp cận di sản thi ca của một tác gia tiêu biểu giai đoạn trước
1945 từ góc nhìn phong cách học và ngôn ngữ văn chương Những vấn đề liên ngành được đặt ra một cách thú vị bởi những giao thoa giữa ngôn ngữ học - văn học – từ vựng học – thi pháp học – ngữ âm học – ngữ pháp học – phong cách học Khẳng định vai trò và sự nghiệp văn học của Nguyễn Bính trong giai đoạn thơ ca lãng mạn 1930 – 1945, luận án cũng sẽ tiếp tục gợi mở cho những nghiên cứu theo mô típ phong cách ngôn ngữ những tác gia tiêu biểu trong nền thơ Việt Nam hiện đại
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học ở Việt Nam, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ thơ với lối tiếp cận ngôn ngữ học, gắn với việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ, đặt trong mối tương quan với các phân ngành khác
Luận án cũng đóng góp vào việc tìm kiếm và đổi mới cách dạy môn Văn
ở nhà trường phổ thông cũng như đại học và sau đại học, trước hết qua một trường hợp cụ thể Nguyễn Bính Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có thể được sử dụng trong việc giảng dạy và biên soạn các giáo trình về ngôn ngữ thơ nói riêng và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bảng, Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và Tài liệu tham khảo,
luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm hình thức thơ Nguyễn Bính
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa thơ Nguyễn Bính
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khái niệm “thơ” và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm “Thơ”
Văn học nói chung, thơ nói riêng, là người bạn đồng hành từ bao đời nay của nhân loại Đã có vô vàn những quan điểm, định nghĩa về thơ đứng từ nhiều góc độ khác nhau Nhà thơ quan niệm khác, nhà phê bình văn học quan niệm khác, nhà ngôn ngữ học quan niệm khác Trước khi đi đến một định nghĩa về thơ
để tiện cho làm việc, chúng ta cùng điểm lại những ý kiến, quan điểm nổi tiếng
về thơ
Ở phương Tây, từ thời cổ đại, Aristot trong cuốn Nghệ thuật thi ca đã quan niệm thơ như là một sự mô phỏng, nhưng phải là mô phỏng trong sáng tạo
Ở phương Đông, nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường có lẽ là một trong những người
sớm nhất đưa ra quan điểm riêng về thơ: “Cái gọi là thơ thì không gì cảm hóa nhân tâm bằng tình cảm Không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ Không gì thân thiết bằng âm thanh Không gì sâu sắc bằng nghĩa lý Gốc của thơ là tình cảm Lá của thơ là ngôn ngữ Hoa của thơ là âm thanh Quả của thơ
là nghĩa lý” [dẫn theo Nguyễn Thị Phương Thùy,13-14, 47] Ở Việt Nam, thời
hiện đại, mỗi nhà thơ gần như có một quan điểm riêng về thơ Tố Hữu thì nói:
“Thơ là cảm hứng Cảm hứng thì nên ghi lại” Ông phát biểu thêm trong một số lần khác: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”, “Thơ là cái nhụy của cuộc sống”, “Thơ là tiếng nói tri âm”, “Thơ là chuyện đồng điệu” Lưu Trọng Lư thì cho rằng: “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống” Thanh Tịnh thì nghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” Chế
Lan Viên thì phát biểu về thơ bằng chính thơ:
Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời
…
Trang 12Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm
Như cây xanh thẳng quá chim không về
Nhà thơ Lê Đạt quan niệm: “Thơ, chính là một trong những lĩnh vực lao động tạo ra các giá trị phi vật thể của một dân tộc Một cái cảnh nên thơ, không phải tự nó nên thơ, mà nó là do cái văn hóa mà các nhà thơ đã hình thành ra” Nhà thơ Trần Dần thì viết: “Thơ ca không nên là những tụng ca thời thượng, mà phải đi sâu vào tâm trạng con người Thơ cần phải liên tục đổi mới để đuổi kịp
sự phát triển của đời sống”
Các nhà phê bình ở Việt Nam cũng có ý kiến riêng về thơ Lê Hữu Trác từ
thời trung đại đã có quan điểm: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ Như thế mới là thơ có giá trị” Phạm Quang Trung cũng chia sẻ tinh thần trên của Lê Hữu Trác: “Thơ là tình, nhưng tình không tách rời ý Nếu chỉ là tình, dẫu là tình tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt bút” Còn Mã Giang Lân thì quan niệm: “Thơ là một thông báo thẩm mỹ trong đó kết hợp 4 yếu tố Ý – Hình – Tình – Nhạc.”
Các nhà ngôn ngữ học cũng có những quan điểm khá phong phú về thơ
Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên) thì viết: “Hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc” Phan Ngọc trong bài “Thơ là gì?” thì cho rằng: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” Ông đƣa ra một
định nghĩa về thơ gồm 3 điểm:
1 Có giá trị phổ quát, tức là áp dụng cho mọi hiện tượng gọi là thơ trên trái đất này, bất chấp ngôn ngữ, thời gian, tập quán, trường phái…
2 Mang tính hình thức giúp người ta nhận diện được ngay thơ, không cần phải có kinh nghiệm và hiểu biết nghệ thuật
3 Giúp người ta nắm được thực chất của thơ, để làm thơ, đọc thơ và giảng thơ có kết quả
Nguyễn Phan Cảnh trong công trình Ngôn ngữ thơ đƣa ra nhận xét: “ Rõ ràng là, trong văn xuôi, lặp lại là điều tối kỵ và phương trình không được dùng
Trang 13để xây dựng nên những thông báo Ấy thế mà chính cái điều văn xuôi cấm kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ Trong thơ, tính tương đồng giữa các đơn vị ngôn ngữ lại dùng để xây dựng các thông báo” Nhận xét này chính là cơ sở để Nguyễn Phan Cảnh đề cao một nguyên lí trong tổ chức ngôn ngữ thơ: nguyên lí song hành
Hữu Đạt trong tác phẩm Ngôn ngữ thơ Việt Nam thì đưa ra định nghĩa:
“Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật”
Các tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong công
trình Từ điển thuật ngữ văn học thì quan niệm: Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu Các tác giả còn cho rằng, dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình Dựa vào thể luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do Xét về mặt gieo vần
có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần Ngoài ra còn có thể phân loại thơ theo thời đại (thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý Trần ) hoặc theo nội dung (thơ tình yêu, thơ triết lý, thơ chính trị…)
Vì luận án này được thực hiện dưới góc nhìn của ngôn ngữ học nên chúng tôi thiên về ủng hộ quan niệm định nghĩa thơ của tác giả Hữu Đạt trong công
trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thơ có thể chấp
nhận những hình thức khá linh hoạt chứ không nhất thiết lúc nào cũng phải ngắn gọn và súc tích, chẳng hạn truyện thơ hay trường ca chính là những minh chứng điển hình Do đó, chúng tôi đi đến một định nghĩa về thơ để tiện cho thao tác làm
việc như sau: “Thơ là một thể loại văn học, là một chỉnh thể văn bản ngôn từ có
sự tương xứng giữa nội dung và hình thức biểu hiện Thơ mang đặc trưng của tư duy hình tượng với sự tham gia của vần điệu và các quy luật hòa phối ngữ âm trong từng ngôn ngữ, về nội dung có nhiệm vụ hướng con người đến Chân,
Trang 14Thiện, Mỹ, đến những giá trị vững bền của đời sống; về hình thức cần đảm bảo các nguyên tắc: thẩm mỹ, công phu, sáng tạo”
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ văn chương nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng, có thể xem là vấn đề được quan tâm của nhiều ngành khoa học, trong đó nổi bật là hai ngành văn học và ngôn ngữ học Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về ngôn ngữ thơ có
thể nói đã được đặt ra từ nửa đầu thế kỷ XX với công trình Thi nhân Việt Nam
của Hoài Thanh – Hoài Chân và được tiếp bước trong những thập kỷ tiếp theo với hàng loạt công trình, bài viết của nhiều tác giả uy tín như Phan Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Lê Trí Viễn, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt Sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt có những tổng kết sơ bộ về việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ qua hai góc nhìn văn học và ngôn ngữ học
1.1.2.1 Tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ văn học
Có lẽ Hoài Thanh với lối phê bình ấn tượng là một trong những người tiên phong tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ văn chương Qua 46 gương mặt trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam, ông đã có nhiều lời nhận xét, phê bình tinh tế về phong cách của từng người cũng như những đặc sắc riêng của từng câu thơ, khổ thơ, bài thơ hoặc cả tập thơ Nhiều nhận xét của ông về những gương mặt ưu tú
của thi ca Việt Nam cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp,
ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Một thời đại trong thi ca) Lối
phê bình ấn tượng của Hoài Thanh tiếp tục nối dài trong nhiều thập kỷ sau đó, cho đến sau 1975, khi đất nước chấm dứt chiến tranh thì giới văn chương mới có nhiều điều kiện hơn để tìm kiếm, xây dựng những bộ lí thuyết khác nhằm đi vào tìm hiểu thế giới thi ca Nguyễn Đăng Mạnh (1980) là người đầu tiên đưa ra bộ công cụ gồm 4 thành tố để tiếp cận phong cách các tác giả, bao gồm cả tác giả
văn xuôi và tác giả thơ Bốn thành tố mà Nguyễn Đăng Mạnh đưa ra là: cách nhìn độc đáo vào thế giới, kết cấu/cấu trúc tác phẩm, ngôn ngữ và giọng điệu
Trang 15Từ một hướng đi khác, hướng đi thi pháp học, vấn đề ngôn ngữ thơ cũng được đặt ra, phân tích và lí giải, từ đó nhắm làm nổi bật phong cách của nhà văn cũng như những đóng góp cống hiến về mặt hình thức nghệ thuật cũng như nội dung tư tưởng của tác phẩm Người được coi là tiên phong và có nhiều đóng góp
ở những nghiên cứu từ góc độ thi pháp học là Trần Đình Sử Những tác phẩm
quan trọng và nổi bật của ông có thể kể đến là: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987,
1997, 2001), Thi pháp Truyện Kiều (2002, 2003, 2004, 2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1998, 2005), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995, 1996,
2001) Trong các tác phẩm nổi bật chúng tôi vừa kể tới, vấn đề ngôn ngữ thơ
được đưa ra phân tích, xem xét từ những điểm nhìn khác nhau như: thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, hình thức thể loại, chất tự sự, một số biện pháp tu từ Trong phần cuối chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử dành một tiểu mục mang tên Chất thơ và phương thức thể hiện, trong đó cố gắng làm nổi rõ một số đặc điểm mang dấu ấn ngôn ngữ tác giả như cách tạo mệnh đề (hỏi, phủ định, cảm thán, khẳng định, khêu gợi ), tạo đối thoại/độc thoại, các mảng từ ngữ, giọng điệu tác giả
Một số tác phẩm quan trọng khác gắn với ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ tác
giả/tác phẩm cũng cần được kể tới là: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974), Văn thơ Hồ Chí Minh (2000), Văn chương – tài năng và phong cách
(2001) của Hà Minh Đức
1.2.2.2 Tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ ngôn ngữ học
Nhà ngôn ngữ học phương Tây bàn nhiều đến thơ nhất trong thế kỷ XX
có lẽ là Roman Jakobson Theo ông, “chức năng thi ca đem nguyên lí tương
đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” Trong bài viết nổi tiếng Ngôn ngữ học và thi học (Tạp chí Ngôn ngữ số 14/2001, Cao Xuân Hạo dịch), Jakobson viêt: “Trước khi bắt tay vào nghiên cứu chức năng thi ca, ta phải xác định xem vị trí của nó giữa các chức năng khác của ngôn ngữ như thế nào” Ông
cho rằng những nhân tố hũu cơ khác nhau của việc giao tiếp ngôn ngữ có thể được trình bày bởi lược đồ:
Trang 16Chu cảnh Người gửi…Thông điệp…Người nhận
Tiếp xúc
Mã Theo ông, mỗi nhân tố trong 6 nhân tố trên sinh ra một chức năng ngôn ngữ khác nhau và chức năng thi ca chính là một trong 6 chức năng cơ bản của
việc giao tiếp ngôn ngữ Thứ tự 6 chức năng mà Jakobson đưa ra gồm: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động
Ông tiếp tục nhấn mạnh: “ Công việc nghiên cứu ngôn ngữ học về chức năng thi ca phải vượt ra ngoài giới hạn của thơ, và mặt khác, việc phân tích thơ
về phương diện ngôn ngữ học không thể tự bó hẹp trong chức năng thi ca Những đặc điểm của các thể loại thi ca khác nhau bao hàm sự tham gia, bên cạnh chức năng thi ca là chức năng chủ đạo của những chức năng ngôn ngữ khác, trong trật tự tôn ti có thể thay đổi tùy từng trường hợp Thơ sử thi, vốn tập trung vào ngôi thứ ba, sử dụng rất nhiều đến chức năng thể hiện Thơ trữ tình, vốn tập trung vào ngôi thứ nhất, thì lại gắn bó mật thiết với chức năng biểu cảm Thơ hiệu triệu, vốn tập trung vào ngôi thứ hai, cho thấy rõ chức năng tác động, nó có thể mang tính chất van xin hay động viên tùy ở chỗ ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai có cương vị cao hơn
Ông cho rằng “việc sử dụng những phương tiện thi ca để phục vụ một ý định xa lạ đối với thi ca không thể che lấp cái bản chất nguyên sơ của nó, cũng như những yếu tố ngôn ngữ biểu cảm được sử dụng trong thi ca không hề mất sắc thái biểu cảm của nó” Bản chất nguyên sơ mà ông muốn nhấn mạnh ở đây chính là nguyên lí mà chúng tôi đã nhắc đến ở phần đầu “đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”
Phần cuối cùng của bài viết là một nhận định quan trọng của Jakobson,
xứng đáng được coi là kim chỉ nam cho những ai nghiên cứu về thi ca: “Nói tóm lại việc phân tích câu thơ hoàn toàn thuộc lĩnh vực thi học và thi học có thể được định nghĩa là cái bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong
Trang 17mối quan hệ của nó với các chức năng khác của ngôn ngữ Thi học hiểu theo nghĩa rộng quan tâm đến chức năng thi ca không phải chỉ trong thơ ca, nơi mà chức năng này chiếm ưu thế so với các chức năng khác của ngôn ngữ mà cả bên ngoài thi ca, là nơi mà chức năng này hoặc một chức năng khác chiếm ưu thế hơn so với chức năng thi ca”
Trong một số bài viết đi vào phân tích một số bài thơ cụ thể như Sonnet của Joachim Du Beliay, Chán chường và Những con mèo của Baudelair (đã được tập hợp và đưa vào tuyển tập Thi học và ngữ học do Trần Duy Châu dịch,
NXB Văn học – Trung tâm nghiên cứu quốc học 2008), Jakobson thể hiện sự chú ý đồng đều tới tất cả các biểu hiện nghệ thuật của một tác phẩm thơ bao gồm
từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp
Một công trình khác bàn về ngôn ngữ thơ là tác phẩm Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu M Lotman Tác phẩm gồm 9 chương với các nội dung: nghệ thuật với tư cách ngôn ngữ, vấn đề nghĩa trong văn bản nghệ thuật, khái niệm văn bản, văn bản và hệ thống, những nguyên tắc kết cấu văn bản, các yếu tố và các cấp độ biến thái của văn bản nghệ thuật, trục cú đoạn của cấu trúc, kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, văn bản và các cấu trúc ngoài văn bản
Trong tác phẩm có một số phần bàn riêng về giá trị nghệ thuật của câu thơ
mà chúng tôi đánh giá rất cao như: nguyên lý của sự lặp lại, tính lặp lại ở cấp độ ngữ âm học, những lặp lại về nhịp điệu, tính lặp lại được và ý tưởng, các nguyên tắc phân đoạn dòng thơ, vấn đề cấp độ âm luật của cấu trúc thơ, những lặp lại thuộc ngữ pháp trong văn bản thơ, các thuộc tính cấu trúc của câu thơ trên cấp
độ ngữ nghĩa – từ vựng, câu thơ như một tổng thể giai điệu, câu thơ như một tổng thể ngữ nghĩa, các lặp lại siêu thơ, năng lượng của câu thơ, trình tự âm vị học trong câu thơ, cú đoạn học các đơn vị từ vựng ngữ nghĩa, vấn đề không gian nghệ thuật
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ đầu tiên cần được kể
tới là tác phẩm Ngôn ngữ thơ (1987) của Nguyễn Phan Cảnh Cuốn sách gồm 12 chương: Ngôn ngữ giao tế và ngôn ngữ nghệ thuật, Nghệ thuật ngôn ngữ và các loại hình nghệ thuật, Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi, Các tín hiệu đơn,
Trang 18Cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, Lắp ghép hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa
có tính chất hoán dụ, Nhạc thơ, Nét khu biệt và nét dư trong ngôn ngữ thơ, Thể loại hay ngưỡng âm tiết, Lục bát, Dịch thơ/ Thơ dịch, Động học của thi pháp hay sự giãn nở của ngôn ngữ thơ Nguyễn Phan Cảnh đã lấy điểm xuất phát từ tư
tưởng của Saussure, coi ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng, thực chất
là sự thể hiện hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, đó là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Tiếp đến, ông khẳng định về hai phương thức quan trọng bậc nhất khi đi vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ, đó chính là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện Các phần tiếp theo của cuốn sách giải quyết các vấn đề về tổ chức ngữ nghĩa trong thơ, những biểu hiện hình thức của thơ như vần, nhạc tính cùng một số vấn đề về thể loại Có thể xem đây là công trình mang tính tiên phong, tạo ra một nền móng tốt cho các công trình khác tiếp nối ở những thời kỳ sau
Sau Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh 11 năm, giới Việt ngữ có thêm công trình Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998) của Hữu Đạt Tác giả đứng trên quan
điểm của phong cách học để phân tích những biểu hiện của ngôn ngữ thơ Cuốn sách gồm 42 tiểu mục, 6 phần và 11 chương Hữu Đạt cũng kế thừa quan điểm của Nguyễn Phan Cảnh về phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện trong ngôn ngữ thơ, từ đó, ông nhấn mạnh hơn nữa vào tính hình tượng của tác phẩm thi ca cũng như những biểu hiện quan trọng về hình thức như tính tương xứng trong ngôn ngữ thơ và tính nhạc Ông dành một phần riêng để viết về nghệ thuật chơi chữ trong thi ca và tỏ ra khá chú ý đến vấn đề phong cách tác giả, phong cách thi ca của mỗi thời kỳ lịch sử và các vấn đề khác về thể loại
Bên cạnh hai công trình có tính chất tổng quan khá toàn diện, chú ý đến nhiều mặt của ngôn ngữ thơ, còn phải kể đến những chuyên luận đi sâu vào một
khu vực nào đó của tác phẩm thi ca dưới góc nhìn ngôn ngữ học Tác phẩm Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (1991, 2005) của Mai Ngọc Chừ đi
sâu phân tích về vai trò, chức năng, tầm quan trọng của vần thơ, từ đó đi đến phân loại vần thơ, xét về vị trí hoạt động của vần và các xu hướng phát triển của
Trang 19vần Tác phẩm Nhịp điệu ngôn ngữ thơ văn Việt Nam (2015) của Vũ Thị Sao Chi
đi sâu vào nhận diện nhịp điệu, đưa ra các tiêu chí và cách thức tổ chức nhịp điệu, khẳng định giá trị và tầm quan trọng của nhịp điệu trong văn chương nói
chung, trong thi ca nói riêng Tác phẩm Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều
(2015) của Lý Toàn Thắng đi sâu vào vấn đề tổ chức ngữ âm của thơ, cụ thể là vần (thi vận), thi tiết, thi điệu (nhịp điệu), thi âm (kết hợp thanh âm) trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Một công trình khác ra mắt gần đây
hơn cả là chuyên luận thi học Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca (2017) của hai
tác giả Nguyễn Quang Hồng – Phan Diễm Phương Đây cũng là một tác phẩm tập trung miêu tả vào vấn đề tổ chức ngữ âm của thơ với một quan niệm khá rộng rãi về các thể loại thi ca trong tiếng Việt (gồm ba loại lớn: ngôn từ thi ca truyền miệng, ngôn từ thi ca thành văn và các thể loại khác, bao gồm cả giải trí, ứng dụng, diễn ca quảng cáo…)
Cũng trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, giới Việt ngữ học còn có một số chuyên luận hoặc giáo trình khác, bàn chung về ngôn ngữ văn chương, trong đó có dành một phần quan trọng cho thơ Có thể kể đến các tác phẩm như
Ngôn ngữ văn chương (2011) của Hoàng Kim Ngọc – Hoàng Trọng Phiến, Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán Giáo trình của Hoàng Kim Ngọc –
Hoàng Trọng Phiến dành trọn vẹn Chương 2 (162 trang) để bàn về ngôn ngữ thơ, trong đó nhấn mạnh vào ba thành phần của ngôn ngữ thơ với các biểu hiện mang
tính đặc trưng riêng biệt, đó là ngữ âm thơ, từ vựng ngữ nghĩa thơ và ngữ pháp thơ Chuyên luận của Bùi Minh Toán nhấn mạnh về tính giao tiếp của ngôn ngữ
văn chương và các vấn đề về tín hiệu thẩm mỹ trong thi ca
Từ sau năm 2000 trở lại đây, còn phải kể tới một số luận án tiến sĩ, luận văn cao học làm về ngôn ngữ thơ, vấn đề ngôn ngữ tác giả/tác phẩm Có thể kể
tới ba luận án tiêu biểu (hai trong số đó đã được in thành sách): So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (Hoàng Kim Ngọc, 2003), Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (Hồ Văn Hải, 2004 ), Nghiên cứu sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX (Nguyễn Thị Phương Thùy, 2008)…
Trang 20Những luận văn thạc sĩ về ngôn ngữ thơ trong khoảng 10 năm trở lại đây xuất hiện khá nhiều và thường chia làm 3 chương Ngoài chương mở đầu mang tính chất lí luận, hai chương sau một chương đi vào miêu tả hình thức tác phẩm (vần, nhịp, thể thơ), chương còn lại đi vào miêu tả ngữ nghĩa (các lớp từ vựng,
các biện pháp tu từ) Có thể kể ra một số luận văn tiêu biểu như: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Giang Nam (Dương Thị Hương, Đại học Vinh, 2007), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong Vết thời gian (Trần Thị Mai, Đại học Vinh, 2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Huy Cận trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca (Đại học Vinh, 2009), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị Thanh Bình, Đại học Vinh, 2008), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng (Trần Đình Thạo, Đại học Vinh, 2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ (Ngô Văn Huỳnh, Đại học Vinh, 2001) Một loạt các tác giả tên tuổi
khác trong nền thơ Việt Nam thế kỷ XX cũng được chọn làm đổi tượng để khảo sát và nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ khác của Đại học Vinh như: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Tản Đà, Thu Bồn, Hữu Thỉnh
1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính
Những nghiên cứu, hay nói đúng hơn là những nhận định, đánh giá đầu tiên về Nguyễn Bính có lẽ thuộc về Hoài Thanh – Hoài Chân trong tuyển tập Thi
nhân Việt Nam: “Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta (…) Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ như thế này có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí, một điều đáng quý vô ngần: hồn xưa của đất nước”
Cùng thời với Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại cũng đã chỉ ra thứ “tình quê xác thực” được toát lên từ
những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính
Vũ Ngọc Phan cũng đã đánh giá rất cao những bài thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính
Trang 21Sau những nhận định đánh giá của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính nói riêng cũng như các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới nói chung bị hạn chế ở miền Bắc trong nhiều thập kỷ, một phần vì lí do chiến tranh, phần khác vì do quan niệm tư tưởng của ta trong một thời gian dài không muốn đề cập đến văn thơ lãng mạn Nhưng cũng ở miền Nam trong những thập niên 60, thơ Nguyễn Bính và việc nghiên cứu thơ ông được chú ý hơn Thơ Nguyễn Bính được đưa vào giáo trình của Đại học Văn khoa Sài Gòn
Có thể kể đến phần viết về Nguyễn Bính của Trần Tuấn Kiệt trong Thi ca Việt Nam hiện đại (Sài Gòn, 1967), phần viết về Nguyễn Bính của Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển Thượng) (NXB Sống mới, Sài Gòn, 1968), phần viết về Nguyễn Bính của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quốc học tùng thư xuất bản, Huế, 1961) Nhìn chung, các tác
giả nói trên mới chỉ dừng lại ở những miêu tả bề mặt của nội dung thơ Nguyễn Bính như: chất làng quê trong thơ Nguyễn Bính, hình tượng người phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính, nỗi buồn trong thơ Nguyễn Bính Sau 1975, ở miền Bắc, những nghiên cứu về Nguyễn Bính xuất hiện nhiều hơn Đỗ Lai Thuý với tập
Con mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới, 1992) đã có một chương khá thú vị
về Nguyễn Bính Chu Văn Sơn với Ba đỉnh cao Thơ mới (2003) đã đánh giá
Nguyễn Bính như một nhân vật không thể không nhắc đến khi bàn về giai đoạn văn học nửa đầu thế kỷ XX Đoàn Đức Phương lại có một công trình khác về
Nguyễn Bính mang tên Nguyễn Bính – hành trình sáng tạo thi ca (NXB Giáo
dục, 2005), thực chất là sự công bố luận án tiến sĩ văn học bảo vệ trước đó không lâu Ở hải ngoại mấy năm gần đây, Thụy Khuê là người có những bài viết về
Nguyễn Bính đáng lưu ý nhất, trong đó nổi lên hai bài Thi pháp Nguyễn Bính và Nguyễn Bính mười hai bến nước
Nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ cấp độ luận văn thạc sĩ đã có một số đề tài được thực hiện nhưng chủ yếu từ góc nhìn của chuyên ngành văn học, có thể
kể đến một số đề tài tiêu biểu như sau: Giá trị của một số tín hiệu thẩm mỹ tiêu biểu trong thơ Nguyễn Bính (Bùi Tấn Văn, 2011), Một số phương diện chủ yếu trong phong cách thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 (Nguyễn Thị Kim Dung,
Trang 222016), Mặc cảm tha hương trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng (Lê Thị Thu Hiến, 2006), Hệ thống biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng (Lê Thị Hằng, 2008)
Những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn
ngữ học có ít hơn, có thể kể tới các đề tài: Từ đồng nghĩa trong thơ Nguyễn Bính
(Vũ Thị Hoà, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học, ĐHKHXH&NV, HN,
2007), Những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật (dựa trên cứ liệu thơ
Nguyễn Bính ) (Đỗ Anh Vũ, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ, Khoa Ngôn ngữ, ĐHKHXH&NV, HN, 2008), Chất chân quê trong thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ (Trần Yến Ngọc, 2010)
Nhìn chung, các luận văn trên đều tiếp cận thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ tác giả và/hoặc ngôn ngữ tác phẩm, cố gắng làm rõ phong cách riêng của Nguyễn Bính trong tương quan với các nhà thơ lãng mạn cùng thời Khung lí thuyết được các tác giả vận dụng chủ yếu vẫn đi theo con đường phong cách học truyền thống với phương pháp miêu tả làm chủ đạp Tóm lại, chưa có một công trình nào nghiên cứu về sự nghiệp thơ Nguyễn Bính giai đoạn trước 1945 từ góc nhìn ngôn ngữ học một cách thực sự toàn diện và đầy đủ
1.2 Cơ sở lí thuyết
Đứng trước tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ nói chung, tác phẩm của Nguyễn Bính nói riêng như đã trình bày phía trên, luận án của chúng tôi quyết định tiếp cận thế giới thơ của Nguyễn Bính trên ba bình diện: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa Ở mỗi phần, chúng tôi đều có sự kế thừa và vận dụng một phần lý thuyết tương ứng của những tác giả đi trước trong giới Việt ngữ học
1.2.1 Ngôn ngữ thơ là gì?
Xuất phát từ một định nghĩa về thơ như chúng tôi đã trình bày trong phần trước, ngôn ngữ thơ, theo đó, cần được hiểu là ngôn ngữ của tác phẩm thi ca, được dùng trong thi ca Ngôn ngữ thơ vì thế, được xem là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật có độ trau chuốt từ hình thức đến nội dung Về hình thức, phải đảm bảo được các tính chất như vần, nhịp, hòa âm Về nội dung, ngôn ngữ của thơ
Trang 23phải thể hiện được tính chất đặc trưng là tư duy bằng hình tượng, cũng như thể hiện được nguyên lý đem trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp theo tinh thần của Jakobson Sự kết hợp hài hòa nhuẫn nhuyễn giữa phần hình thức và phần nội dung của ngôn ngữ thơ sẽ tạo ra những tác phẩm với nội dung tích cực, khẳng định những giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống con người Tìm hiểu ngôn ngữ thơ nói chung, ngôn ngữ thơ của một tác giả nói riêng, sẽ kéo theo một loạt các khái niệm cơ bản mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày trong những phần tiếp theo dưới đây: vần thơ (thi vận), nhịp điệu (thi điệu), tín hiệu thẩm mỹ, các lợp
từ trong tiếng Việt
phân chia vần thành 3 loại là: vần chính, vần thông và vần ép với những miêu tả
Trang 24Kiểu 2: Khác nhau hoàn toàn ở âm đệm, thanh điệu đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn: loan – lan, hoài – hài…
Kiểu 3: Khác nhau ở thanh điệu nhƣng vẫn nằm trong phạm vi đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn: dài – dai, bồ - bô…
Kiểu 4: Khác nhau vừa âm đầu vừa âm đệm, thanh điệu đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn: quan – tan, oan – lan…
- Vần thông
Hai âm tiết đƣợc coi là hiệp vần với nhau theo kiểu vần thông nếu chúng đáp ứng đƣợc ba yêu cầu sau:
- Thanh điệu đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trƣng tuyền điệu
- Âm cuối trong hai âm tiết hiệp vần hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất đặc trƣng vang, hoặc đồng nhất đặc trƣng vô thanh
- Âm chính trong cặp vần hoặc đồng nhất đặc trƣng âm sắc (cùng bổng, cùng trầm vừa hoặc cùng trầm), hoặc đồng nhất đặc trƣng âm lƣợng (cùng âm lƣợng lớn, cùng âm lƣợng trung bình hoặc cùng âm lƣợng nhỏ)
Các cặp vần thông lại có thể có các dạng nhƣ sau:
Kiểu 1: Chỉ khác nhau ở âm chính, các thành phần còn lại đồng nhất hoàn toàn, ví dụ: quên – quen, chua – chƣa, hôn – hơn…
Kiểu 2: Khác nhau ở âm chính và một hoặc một số thành phần khác:
- Khác nhau ở âm chính và âm đầu: quên – hoen, mƣa - tua
- Khác nhau ở âm chính và âm cuối: quân – quang, cốc – cúp
- Khác nhau ở âm chính và âm đệm: toàn – tần, chuyến – chín
- Khác nhau ở âm chính và thanh điệu: mùa – mƣa, toan – tuần
- Khác nhau ở âm chính, âm đầu và âm đệm: tuyết – hét, tuần – hàn
Kiểu 3: Khác nhau ở tất cả các thành phần, chỉ đồng nhất những đặc trƣng ngữ âm nhất định mà thôi Ví dụ: quầng – lan, em – chuyền, tuất – lộc
Trang 25Kiểu 4: Âm chính đồng nhất, thanh điệu đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trưng tuyền điệu, âm cuối giống nhau về đặc trưng ngữ âm nhưng không được đồng nhất Ví dụ: làng – làm
Xe đi xe đi mù trời không dứt
Xẻng cuốc bi đông chạm nhau lách cách
(Ghi chép ở đại đội – Bằng Việt)
Xin cảm ơn những ngày gian khổ
Những ngày rét khiến ta tìm ra lửa
(Xin cảm ơn những ngày gian khổ - Dương Hương Ly)
1.2.3 Nhịp điệu (Thi điệu)
Chúng tôi tán thành quan điểm của Vũ Thị Sao Chi trong công trình Nhịp điệu ngôn ngữ thơ văn Việt Nam và sử dụng định nghĩa sau về nhịp điệu : “Nhịp điệu là cách thức diễn ra lặp lại đều đặn theo chu kì của hiện tượng ngôn ngữ nào
đó trong tác phẩm văn chương, gây ấn tượng về sự chuyển động nhịp nhàng, hài hòa, cân đối Nhịp là những khoảng, đoạn đều đặn, nối tiếp và lặp lại nhiều lần theo chu kỳ nhất định, còn điệu chính là tính chất, đường nét vận động của nhịp”
Để nhận diện về nhịp có thể thông qua bộ tiêu chí gồm 9 điểm: ngừng/ngắt nhịp, trường độ, cao độ, tốc độ, cường độ, điểm nhấn, đường nét, hiệp vần (hòa âm) và phối hợp thanh điệu (hòa thanh)
Tuy thế, chúng tôi cũng cho rằng, để tránh rườm rà và cồng kềnh, có thể gộp các tiêu chí 3 (cao độ), 7 (đường nét) và 9 (phối hợp thanh điệu) lại trong một tiêu chí, tạm gọi tên là “cao độ và đường nét” Sở dĩ có thể gộp ba tiêu chí
Trang 26này lại, là vì theo chúng tôi, ba tiêu chí này đều dựa vào vai trò cốt yếu của thanh điệu trong việc góp phần làm nên giá trị về nhịp điệu của tác phẩm văn chương Sau cùng, chúng tôi cho rằng chỉ cần 7 tiêu chí là đủ để nhận diện nhịp điệu của
tác phẩm thi ca: ngừng/ngắt nhịp, trường độ, cao độ và đường nét, tốc độ, cường
độ, điểm nhấn và hiệp vần
Ngoài bộ tiêu chí 7 yếu tố gắn với cái gọi là nhịp điệu âm của một tác phẩm, thì bên cạnh đó, chúng ta cũng cần bàn tới nhịp điệu ý của mỗi tác phẩm Theo đó, nhịp điệu ý được hiểu là sự lặp lại có tính chất chu kỳ của các yếu tố thuộc bình diện nội dung ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật như hình ảnh, sự kiện, trạng thái, cảm xúc hay một motip nào đó Đứng từ một góc nhìn khác, nhịp điệu
ý rất gần gũi với thủ pháp điệp (hoặc trùng điệp, đồng hướng) trong văn chương
Chẳng hạn trong bài thơ Tràng giang nổi tiếng của Huy Cận, cảm giác - ấn
tượng về không gian vũ trụ rộng lớn, rợn ngợp, mênh mông bộc lộ qua một loạt
hình ảnh - từ ngữ như: sóng gợn tràng giang, nước song song, sầu trăm ngả, nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng, bờ xanh tiếp bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc Tương phản với vũ trụ rộng lớn là cái bé nhỏ, mong manh, cô đơn côi cút của kiếp người, được thể hiện qua các hình ảnh: con thuyền, cành củi, cồn nhỏ, bến cô liêu, chim nghiêng cánh nhỏ
Trong một bài thơ tiền chiến khác có tên Sầu xuân (Hàn Mặc Tử), một
loạt các hình ảnh thiên nhiên xuất hiện đều gợi cảm giác trống vắng, buồn bã,
hao khuyết: đêm xuân lạnh, bóng xuân tàn, trời xuân vắng vẻ, sông xuân lặng lẽ
1.2.4 Trường từ vựng và trường nghĩa
Vấn đề trường từ vựng và trường nghĩa đã được một số nhà Ngữ học người Đức bàn tới từ nửa đầu thế kỷ trước như J Trier và L Weisgerber, nó tiếp tục được kế thừa và phát triển ở Việt Nam với các quan điểm của Đỗ Hữu Châu (1998) và Nguyễn Thiện Giáp (1985, 1996, 2015) Tư tưởng về trường từ vựng ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu có vài điểm nổi bật đáng lưu ý, đó là việc lưỡng phân thành hai loại: trường từ vựng ngữ nghĩa biểu vật và trường từ vựng ngữ nghĩa biểu niệm, vấn đề ngoại vi của trường từ vựng và vấn đề tổ hợp tuyến
Trang 27tính của trường từ vựng Còn Nguyễn Thiện Giáp thì đề xuất sự phân biệt rạch ròi giữa trường nghĩa và trường từ vựng, trong đó trường nghĩa là “tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa”; còn trường từ vựng là “tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ
sở cùng thuộc trường nghĩa này” Như vậy, theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp, khái niệm “trường nghĩa” sẽ có nội hàm lớn hơn khái niệm “trường từ vựng” Ở chương 3 của luận án, chúng tôi tập trung khảo cứu miêu tả một số trường từ vựng nổi bật trong thơ Nguyễn Bính, đó là các trường từ vựng về không gian, thời gian, con người và thiên nhiên
1.2.5 Tín hiệu thẩm mỹ
Một phần của chương 3 đi vào miêu tả một số tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc trong thơ Nguyễn Bính Nói đến tín hiệu thẩm mĩ là nói đến một vấn đề lí luận mang tính liên ngành, có thể nói, đây là một thuật ngữ chung có thể dùng trong nhều bộ môn nghệ thuật nhưng có lẽ nổi lên và quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến tín hiệu thẩm mĩ như sự thể hiện của những tín hiệu ngôn ngữ được đặt trong mối quan hệ với tác phẩm văn chương Với một tín hiệu ngôn ngữ thông thường, nhưng khi đi vào tác phẩm thi ca và nhờ sự tài hoa của người nghệ sĩ, nó lập tức được chuyển hoá thành tín hiệu nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ – ngôn ngữ hay cũng gọi là tín hiệu văn chương Chúng tôi theo quan niệm của các
tác giả Đỗ Ngọc Thư – Bình Thành [56] về tín hiệu thẩm mĩ như sau: “Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, các yếu
tố của chất liệu màu sắc với hội hoạ, các yếu tố của chất liệu âm thanh, nhịp điệu với âm nhạc…) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ” Tín hiệu thẩm mĩ sẽ được thể hiện ở cả bình diện trừu tượng
lẫn bình diện cụ thể Nếu như ở bình diện trừu tượng là những hằng thể, nguyên mẫu có tính cố định, bất biến thì ở bình diện cụ thể là sự thể hiện muôn màu muôn vẻ của tín hiệu ấy, có khi được lồng cả vào đó những quan niệm về nghệ
Trang 28thuật, nhân sinh quan và thế giới quan Người ta gọi hệ lưỡng phân trên là cấu trúc của một tín hiệu thẩm mĩ Ngoài ba tín hiệu thẩm mỹ vườn - bướm - rượu được dành một tiểu mục riêng, các tín hiệu thẩm mĩ khác cũng được khảo sát và phân tích, trải khắp trong các khu vực: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các yếu tố ngôn ngữ chỉ thiên nhiên và các yếu tố ngôn ngữ chỉ con người
1.2.6 Các lớp từ
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, các lớp từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có thể phân chia dựa trên các tiêu chí về nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ sử dụng và phong cách học Lớp từ ngữ điển tích điển cố trong thơ Nguyễn Bính mà chúng tôi dành một tiểu mục riêng
để bàn đến trong chương 3 có thể xếp vào nhóm từ ngữ cổ/ từ ngữ lịch sử nếu dựa trên tiêu chí mức độ sử dụng, hoặc xếp vào nhóm từ vựng sách vở nếu dựa trên tiêu chí phong cách học
1.3 Đôi nét về thân thế sự nghiệp Nguyễn Bính
Nguyễn Bính được giới văn chương Việt Nam biết đến và nhớ tới với tư cách một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945 Ông
có tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, sinh vào cuối xuân đầu hạ năm Mậu Ngọ
1918 tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hoà), huyện
Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nhà nho nghèo Nguyễn Bính không
hề học ở trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi
Năm 1932, Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội, trình làng bằng bài Mưa xuân (1936) trên tờ Ngày nay và nổi tiếng từ bài Cô hái mơ (1937) Cũng trong năm
1937, ông nhận được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn, một giải
thưởng văn chương danh giá đương thời Tập thơ đầu tiên của Nguyễn Bính là
tập Lỡ bước sang ngang (Lê Cường, Hà Nội, 1940), tiếp theo đó ba năm (1940 – 1942), ông cho ra mắt liên tiếp 6 tập thơ: Tâm hồn tôi (Lê Cường, 1940), Hương
cố nhân (Asiatia, 1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến nước (Mộng Hàm, 1942), Người con gái ở lầu hoa (Hương Sơn, 1942) và Mây Tần (1942)
Tính cho đến năm 1941, theo Hoài Thanh, Nguyễn Bính đã làm được gần 1000 bài thơ 7 tập thơ vừa kể trên đã tạo cho Nguyễn Bính một vị trí vững vàng,
Trang 29không thể nhoà lẫn trong những khuôn mặt thi ca sáng giá nhất của phong trào Thơ Mới Cũng vẫn trong thời kỳ trước 1945, Nguyễn Bính còn đoạt Giải nhất
văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà (1944)
Trong Cách mạng tháng 8 và suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giao giữ những trách nhiệm trọng yếu: phụ trách Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá, sau làm ở Ban văn nghệ thuộc Phòng Tuyên huấn Quân khu Tám Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, công tác ở Hội nhà văn Việt
Nam, năm 1956 làm chủ bút tuần báo Trăm Hoa Đầu năm 1964, sau một số sự
vụ rắc rối xảy ra ở báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính chuyển công tác về Ty văn hoá
Nam Hà (cũ) Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 29 Tết năm Ất Tỵ, năm đó không có ngày 30 Tết (tức ngày 20 tháng 1 năm 1966), tại thôn Mạc Hạ, huyện
Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Cũng giống như nhiều nhà thơ khác của văn học Việt Nam thế kỷ 20, chặng đường thi ca của Nguyễn Bính chia làm hai giai đoạn lớn: trước 1945 và sau 1945
Trong giai đoạn trước 1945, ngoài 7 tập thơ và một truyện thơ đã nói đến
ở phần trên, Nguyễn Bính còn có hai truyện thơ nữa là Cô gái Ba Tư (1943) và Thạch xương bồ (1944), 2 tập kịch thơ Bóng giai nhân (viết chung với Yến Lan, 1942), Nguyễn Trãi (1943) và 3 tập truyện: Ngậm miệng (1940), Không nhan sắc (1942) và Không đất cắm dùi (1944)
Sau 1945, Nguyễn Bính vẫn chủ yếu là sáng tác thơ nhưng các tác phẩm của ông dường như không còn đặc sắc như thời kỳ trước cách mạng nữa Vì lẽ
đó, phạm vi tư liệu của chúng tôi trong luận văn này chỉ tập trung vào những tác phẩm trước cách mạng của Nguyễn Bính mà thôi Các tác phẩm trong thời kỳ
sau 1945 của Nguyễn Bính gồm có: Tập thơ yêu nước (thơ, 1947), Sóng biển cỏ (thơ, 1947), Ông lão mài gươm (thơ, 1947), Sang máu (truyện, 1947), Trăng kia
đã đứng ngang đầu (thơ, 1953), Những dòng tâm huyết (thơ, 1953), Mừng Đảng
ra đời (thơ, 1953), Trả ta về (thơ, 1955), Đồng Tháp Mười (thơ, 1955), Gửi người vợ miền Nam (thơ, 1955), Cách làm thơ lục bát (lý luận sáng tác, 1955),
Trang 30Nước giếng thơi (thơ, 1957), Trông bóng cờ bay (truyện thơ, 1957), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ, 1958), Tình nghĩa đôi ta (thơ, 1960), Cô Son (kịch bản chèo, 1961), Đêm sao sáng (thơ, 1962), Người lái đò sông Vị (kịch bản chèo,
1964)
Như vậy, trong cuộc đời 30 năm sáng tác (1936 – 1966), Nguyễn Bính đã
để lại một di sản khá đồ sộ gồm khoảng 33 tập tác phẩm trong đó có 19 tập thơ,
5 truyện thơ, 2 kịch thơ, 4 tập truyện, 2 kịch bản chèo và một tập lí luận sáng tác Trong những di sản Nguyễn Bính để lại thì những tác phẩm thơ vẫn là thể loại chiếm số lượng đông đảo nhất và như đã nói, tinh hoa thơ Nguyễn Bính chủ yếu nằm trong những sáng tác trước cách mạng
Cuộc đời Nguyễn Bính là điển hình cho một kiếp sống tài hoa và đậm chất giang hồ lãng tử Ông yêu nhiều, lấy vợ muộn và có lẽ cuộc sống gia đình cũng không mấy hạnh phúc bởi cả cuộc đời Nguyễn Bính sống trong nghèo túng Nhưng những vần thơ ông để lại cho đời thì mãi mãi thì mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá, in sâu vào trí nhớ, vào trái tim của bao thế hệ người Việt Sau Nguyễn Du của thời kỳ trung đại, Nguyễn Bính xứng đáng được coi là ông vua lục bát của nửa đầu thế kỷ XX
Năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1.4 Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã làm một miêu tả tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ nói chung, nghiên cứu Nguyễn Bính nói riêng, cũng như những khái niệm cơ bản làm tiền đề lí thuyết cho việc khảo tả các đặc điểm thơ Nguyễn Bính trong các chương tiếp theo Những nghiên cứu về Nguyễn Bính từ trước đến nay rõ ràng mới chỉ dừng lại từ góc độ văn học chứ thực sự chưa có những khảo sát kỹ lưỡng từ góc nhìn ngôn ngữ Bởi thế, dựa trên những cơ sở lí thuyết
đã trình bày, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, miêu tả và phân tích cả bình diện hình thức lẫn bình diện ngữ nghĩa đối với ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính, nhằm
đi đến một bức tranh toàn cảnh về thế giới thơ của Nguyễn Bính trước 1945
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THƠ NGUYỄN BÍNH
2.1 Đặc điểm vần thơ Nguyễn Bính
Trong sự nghiệp thơ ca trước 1945, với 272 bài thơ để lại, hai thể loại thơ được Nguyễn Bính ưa dùng hơn cả là lục bát và thất ngôn 5 thể loại khác ít được dùng hơn gồm: ngũ ngôn, tự do, bốn chữ, hát nói và song thất lục bát
Số lượng các bài thơ tương ứng với mỗi thể loại cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Số lượng các thể thơ Nguyễn Bính trước 1945:
Lục
bát
Thất ngôn
Ngũ ngôn
Bốn chữ
Tự
do
Hát nói
Song thất lục bát
Tổng cộng
bài Nhóm Thất ngôn lại có thể chia nhỏ thành 4 tiểu nhóm như sau:
Bảng 2.2: Phân loại thể thất ngôn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945:
Thất ngôn bát cú Thất ngôn
bốn câu
Thất ngôn nhiều khổ
Thất ngôn trường thiên
Do hai thể loại thất ngôn và lục bát chiếm phần đại đa số trong các sáng tác của Nguyễn Bính 252/272 (chiếm 93%) và cũng là hai thể loại hội tụ gần như đẩy đủ các kiệt tác của Nguyễn Bính nên chúng tôi sẽ chỉ tập trung khảo sát, miêu tả và phân tích đặc điểm vần thơ ở hai thể loại này Những bài thơ thuộc
các thể loại khác chỉ nhắc đến khi cảm thấy thực sự cần thiết
2.1.1 Mức độ hòa âm trong vần thơ thất ngôn của Nguyễn Bính
Trong bốn tiểu nhóm của thơ thất ngôn Nguyễn Bính như đã nói phía trên, chúng tôi tách tiểu nhóm thất ngôn trường thiên sang một bên để dành một phần riêng bàn về chúng Ở ba tiểu nhóm còn lại là thất ngôn bát cú, thất ngôn bốn câu
và thất ngôn nhiều khổ, chúng tôi thổng kê được có tất cả 1137 cặp/lần hiệp vần trong đó vần chính gồm 652 cặp, vần thông gồm 485 cặp và không có vần ép Có thể tổng kết các loại vần trong thể thất ngôn cùng tỉ lệ của chúng theo bảng sau:
Trang 32Bảng 2.3: Số lượng các loại vần trong thể thất ngôn của thơ Nguyễn Bính trước 1945:
vần chính một cách tuyệt đối Trong đó có một bài thơ chữ Hán và 3 bài, Cô hái
mơ, Gái xuân và Đề thơ trên mảnh quạt vàng
Bài thơ chữ Hán có tựa đề Lời một người sư nữ nhớ nhà với nguyên văn như sau: Bạch phát thời nhân sổ quá quan/Ngã quy cố tự bất thanh nhàn/Ni cô tảo giá Bồng Lai quốc/Hòa thượng vân du Yên Tử san/Cố quận mẫu thân do chức cẩm/Dương thời tiểu muội dĩ tài lan/Ký như tráng sĩ Yên Kinh khứ/Nhất quá mê tân bất nhẫn hoàn
Theo đúng luật thơ Đường ở bài thất ngôn bát cú, các chữ cuối cùng của những câu 1, 2, 4, 6, 8 phải hiệp vần với nhau Ở bài thơ của Nguyễn Bính, các
vị trí nói trên đã được hiệp vần một cách nghiêm chỉnh, hơn nữa lại được hiệp theo lối vần chính, tạo nên sự chuẩn mực về mặt hình thức và thấm đẫm phong
vị cổ xưa Như vậy, các chữ quan, nhàn, san, lan, hoàn đã góp phần tạo ra một
tính liên kết chặt chẽ cũng như tạo một mỹ cảm mang tính cổ điển cho thi phẩm
Dĩ nhiên bên cạnh đó, còn phải thấy đây là một bài thơ có ý tình mới mẻ, được viết ra bởi một con người mang ý thức cá nhân rõ nét của thời kỳ hiện đại
Với 3 bài thất ngôn còn lại được gieo vần chính một cách tuyệt đối, chúng
tôi muốn nhấn mạnh vào 2 bài Cô hái mơ và Gái xuân hơn cả Bởi chúng tôi
cho rằng, chính giá trị của vần chính trong bài thơ này kết hợp cùng sự phân bố thanh điệu đã làm cho hai thi phẩm đầy ắp nhạc tính, mang đến một độ rung cảm
Trang 33mạnh mẽ để những người nhạc sĩ làm nên những ca khúc có sức sống mãnh liệt
Trước tiên xin đọc lại bài Cô hái mơ: Thơ thẩn đường chiều một khách thơ/Say
nhìn qua rặng núi xanh lơ/Khí trời lặng lẽ và trong trẻo/Thấp thoáng rừng mơ
cô hái mơ/Hỡi cô con gái hái mơ già/Cô chửa về ư đường thì xa/Mà ánh trời hôm dần một tắt/Hay cô ở lại về cùng ta/Nhà ta ở dưới gốc cây dương/Cách động Hương Sơn nửa dặm đường/Có suối nước trong tuôn róc rách/Có hoa bên suối ngát đưa hương/Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi/Chẳng trả lời nhau lấy một lời/Cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng/Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi
Bài thơ có 4 khổ với bốn lần hiệp vần chính Khổ 1 tạo ra sự hiệp vần theo
kiểu vần chính giữa các đơn vị thơ – lơ – mơ Khổ 2 tạo ra sự hiệp vần theo kiểu vần chính giữa các đơn vị già – xa – ta Khổ 3 tạo ra sự hiệp vần theo kiểu vần chính giữa các đơn vị dương – đường – hương Khổ 4 tạo ra sự hiếp vần theo kiểu vần chính giữa các đơn vị ơi – lời – rơi Các đơn vị nói trên ngoài giá trị về
mặt hòa âm tuyệt đối còn có giá trị ngữ âm trong việc tạo những âm hưởng khác nhau, phù hợp với tâm trạng cảm xúc của chủ thể trữ tình Cụ thể, âm hưởng bay
xa được tạo ra bởi các đơn vị mang vần /ơ/, /a/ vốn có độ mở lớn Âm hưởng vang vọng được tạo bởi các đơn vị mang vần /ương/ vốn có phụ âm /ng/ là phụ
âm mang tính chất mũi, tạo độ vang vọng Cuối cùng, lúc bóng người con gái dần xa khuất chính là lúc bán nguyên âm /i/ xuất hiện để kết thúc âm tiết trong các đơn vị hiệp vần mang vần /ơi/ Độ mở của vần /ơi/ này thấp hơn cả so với các đơn vị hiệp vần ở trên, như muốn diễn tả một bức tranh dần khép lại, một bóng người dần mờ khuất không còn thấy rõ, chỉ có lá vàng hiu hắt rơi giữa rừng thu…Nếu ta kết hợp với quan sát về phân bố thanh điệu, sẽ thấy bài thơ có nhiều điểm đặc biệt Có thể tổng kết qua bảng dưới đây:
Bảng 2.4: Bảng phân bố thanh điệu trong bài thơ Cô hái mơ:
Bằng Trắc Đứt gẫy Không đứt
gẫy
Âm vực cao
Âm vực thấp
Trang 34Ta thấy, tỉ lệ thanh bằng áp đảo thanh trắc, thanh điệu không đứt gẫy áp đảo thanh điệu có tính đứt gẫy, thanh điệu mang âm vực cao áp đảo thanh điệu mang âm vực thấp Tất cả những điều này cộng hưởng cùng lối hiệp vần theo kiểu vần chính đã làm nên một nhạc tính độc đáo cho bài thơ Cô hái mơ Điều này dẫn đến việc có tới ba bản nhạc phổ cho cùng một thi phẩm, trong đó có hai bản nổi tiếng của Phạm Duy phổ năm 1942 và Hoàng Thanh Tâm phổ năm
1973 Bản thứ ba của tác giả Đỗ Xuân Thịnh
Gái xuân tiếp tục là một bài thơ đặc biệt khác với kiểu hiệp vần theo lối
vần chính trong tất cả các khổ thơ: Em như cô gái hãy còn xuân/Trong trắng thân chưa lấm bụi trần/Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/Gái xuân giũ lụa trên sông Vân/Lòng xuân lơ đãng má xuân hồng/Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng/Đôi tám xuân đi trên mái tóc/Đêm xuân cô ngủ có buồn không?
Khổ 1 hiệp vần theo lối vần chính bởi các đơn vị xuân – trần – Vân Khổ
2 hiệp vần theo lối vần chính bởi các đơn vị hồng – chồng – không Các đơn vị
hiệp vần nói trên đều kết thúc bằng những phụ âm mang tính chất mũi, tạo độ vang là /n/ và /ng/ Tỉ lệ phân bố thanh điệu theo các tiêu chí bằng/trắc, đứt gẫy/không đứt gẫy/, âm vực cao/âm vực thấp cũng tương tự như bài Cô hái mơ, thậm chí các yếu tố mang nhạc tính cao đều áp đảo nếu so sánh về mặt tỉ lệ Nói một cách khác, nhạc tính của bài Gái xuân còn “đậm đà” hơn so với bài Cô hái
Âm vực thấp
Tóm lại, cách hiệp vần theo lối vần chính trong bài Gái xuân kết hợp cùng sự phân bố thanh điệu cũng đã làm nên một nhạc tính mạnh mẽ cho thi phẩm Bài hát Gái xuân do nhạc sĩ Từ Vũ phổ nhạc từ bài thơ Gái xuân của Nguyễn Bính đã khẳng định được sức sống lâu bền của nó trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, là ca khúc không thể thiếu được mỗi dịp Tết đến xuân về
Trang 35Trong các khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính, các đơn vị hiệp vần chủ yếu đều là những tiếng mang thanh bằng Tuy nhiên cũng có 3 trường hợp các đơn vị hiệp vần lại mang thanh trắc Đây rõ ràng là những dụng ý nghệ thuật, mang giá trị như những điểm nhấn đặc biệt khi ta đặt các khổ thơ này trong mối
tương quan với các khổ còn lại của toàn bộ bài thơ: Nhưng vẫn vô tình như
chẳng biết/Người mà khách vẫn yêu tha thiết/Ngẩn ngơ hôn những cánh hoa tươi/Và ngẩn ngơ nhìn tàn lá biếc (Vô tình),Trên ngọn xoan đào cao chót
vót/Một con chim khuyên đang nhảy nhót/Như đùa với đám lá xanh xanh/Làm
rơi những hạt sương còn sót…Lá kia đã có chim làm bạn/Hoa này có miệng ta mơn trớn/Còn ta đâu hỡi người yêu đương/Trong ánh ban mai trời xán lạn
(Trong vườn cúc)
2.1.2 Phân bố vần khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính
Không tính 02 bài thất ngôn bát cú, thơ Nguyễn Bính trước 1945 có tất cả 610 khổ thất ngôn trên tổng số 120 bài thơ (105 bài thất ngôn nhiều khổ và
15 bài thất ngôn bốn câu) Các khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính có ba hình thức phân bố vần: AABA, BACA và BABA (các chữ cái giống nhau tương ứng với vị trí các âm tiết được hiệp vần nằm ở cuối mỗi câu thơ)
2.1.2.1 AABA
Đây là hình thức chủ đạo, chiếm số lượng lớn nhất trong các khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính Có tới 441 khổ thơ phân bố vần theo mô hình này,
chiếm tỉ lệ 72% trong tổng số 610 khổ thơ: Chiều nay… thương nhớ nhất chiều
nay/Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy/Tôi uống cạn em và uống cả/Một trời
quan tái mấy cho say(Một trời quan tái)
Nhiều bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính đều sử dụng mô hình gieo vần
này trong suốt bài thơ hoặc nhiều khổ của bài thơ như Hoa với rượu, Xuân về, Mưa xuân, Ghen, Nhạc xuân, Cô lái đò, Cô hái mơ, Gái xuân, Những bóng người trên sân ga…
2.1.2.2 BACA
Hình thức gieo vần này chiếm số lượng lớn thứ hai trong các khổ thơ thất ngôn của Nguyễn Bính Nhóm này gồm 157 khổ, chiếm 26% trong tổng số 610
Trang 36khổ thơ: Em là con gái trong khung cửi/Dệt lụa quanh năm với mẹ già/Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/Mẹ già chưa bán chợ đường xa(Mưa xuân), Một bông cúc
nở trong vườn vắng/Gió lạnh ngàn phương lướt thướt về/Lá úa dần mòn rơi rụng hết/Sương mờ giăng mắc lụa lê thê(Đôi nhạn)
2.1.2.3 BABA
Hình thức này tạo nên hai cặp hiệp vần trong cùng một khổ thơ Loại này
chỉ có 12 trường hợp, chiếm tỉ lệ 2% trong tổng số 610 khổ thơ: Anh ơi! Em nhớ
em không nói/Nhớ cứ đầy lên cứ rối lên/Từ đó về đây xa quá đỗi!/Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền(Nhớ), Cánh cửa vườn hoang từ dạo ấy/Mấy dòng
tơ nhện trắng niêm phong/Ai đi qua đấy, về qua đấy/Hãy xóa giùm tôi lấy một
dòng(Vườn hoang)
Thực ra trong những bài tứ tuyệt của Nguyễn Bính còn có một hình thức phân bố vần nữa là ABBA Nhưng trường hợp này chỉ xảy ra đúng một lần trong một bài tứ tuyệt có hai câu đầu bảy chữ và hai câu sau tám chữ Có nhà nghiên cứu còn hình thức phân bố này là “vần ôm nhau”, phân biệt với “vần liền” và
vần “gián cách”: Tâm hồn tôi là bình rượu nhỏ/Rót lần rót mãi xuống nàng
Oanh/Không xua tay nhưng nàng đã vô tình/Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ(Tâm hồn tôi)
Tóm lại, hình thức AABA là hình thức được Nguyễn Bính ưa chuộng nhất Hình thức này tạo ra độ phong phú và ổn định về vần, khiến cho người đọc
dễ nhớ, dễ thuộc, dễ tri nhận Theo ý kiến chúng tôi, hình thức phân bố vần này chính là hậu thân của bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật hoặc 4 câu đầu của bài Thất ngôn bát cú Đường luật Đây là một biểu hiện về hình thức để chứng minh rằng thơ Nguyễn Bính mang đậm phong vị cổ điển Bản thân ông cũng vẫn còn làm thơ chữ Hán thất ngôn bát cú Đường luật, thơ thất ngôn bát cú quốc ngữ
và thể loại thất ngôn trường thiên mà chúng tôi tiếp tục trình bày dưới đây chính
là một dấu ấn đậm nét nữa của phong cách cổ điển ảnh hưởng từ thơ Đường Có thể tổng kết sự phân bố vần thơ thất ngôn Nguyễn Bính qua bảng dưới đây:
Bảng 2.6: Tổng kết phân bố vần thơ thất ngôn Nguyễn Bính trước 1945:
Trang 37AABA BACA BABA Tổng số
2.1.3 Những bài thơ thất ngôn trường thiên của Nguyễn Bính
Nguyễn Bính có tất cả 8 bài thất ngôn trường thiên Hình thức của thể loại này là không chia khổ hoặc có chia khổ nhưng mỗi khổ có rất nhiều câu thơ và
số lượng các câu thơ trong mỗi khổ không cố định Song điều đặc biệt là ở những bài thơ này, rất ít có sự thay đổi về khuôn vần Có đến 6/8 bài thơ chỉ dùng một vần từ đầu đến cuối bài thơ Tình hình cụ thể như sau:
1 Bài Tạ Từ gồm 34 câu, chỉ sử dụng khuôn vần “an” - “ang”
2 Bài Đêm mưa đất khách gồm 38 câu, sử dụng khuôn vần “a” và đây
cũng là bài thơ hiệp vần theo lối vần chính trong suốt cả bài thơ
3 Bài Hành phương Nam gồm 43 câu, 32 câu đầu dùng một khuôn vần
“ay” và 11 câu sau dùng một khuôn vần “ơi”
4 Bài Bài thơ vần Rẫy gồm 44 câu, sử dụng duy nhất một khuôn vần
“ây”
5 Bài Trời mưa ở Huế gồm 60 câu, sử dụng duy nhất một khuôn vần
“ay”
6 Bài Oan nghiệt gồm 72 câu, 40 câu đầu dùng khuôn vần “ôi” – “ơi”,
20 câu tiếp theo dùng khuôn vần “a”, 12 câu cuối dùng khuôn vần “on”
7 Bài Xuân vẫn tha hương gồm 96 câu, sử dụng một khuôn vần duy
nhất: “ương”
8 Bài Xuân tha hương gồm 100 câu, sử dụng duy nhất một khuôn vần
“ong” – “ung” – “ông”
Về mặt nguồn gốc, chúng tôi cho rằng những bài thơ theo hình thức nói trên xuất phát từ thể loại cổ phong của thơ Đường Thể cổ phong của thơ Đường chấp nhận những bài thơ có độ dài không giới hạn, thường gọi là ngũ ngôn cổ thể trường thiên hoặc thất ngôn cổ thể trường thiên Những bài thơ tiêu biểu nhất
cho thể loại này có thể kể đến là Tỳ bà hành và Trường hận ca của Bạch Cư
Dị Tỳ bà hành gồm 88 câu thất ngôn và có sự thay đổi về vần qua mỗi khổ thơ
Trang 38Trường hận ca gồm 120 câu thơ viết liền một mạch không chia khổ và cũng có
sự thay đổi về hiệp vần
Lựa chọn thể trường thiên nói trên qua 8 bài thơ, theo tôi Nguyễn Bính đã chứng tỏ hai điều Điều thứ nhất, hình thức của thơ ông gợi sự hoài niệm, nó gắn liền với phong cách cổ điển của bao áng văn chương lẫy lừng trong thi ca truyền thống Điều thứ hai, hình thức một vần là cơ hội để phô diễn tài năng và sáng tạo
của người nghệ sĩ Một bài thơ dài tới 100 câu như Xuân tha hương hay Xuân vẫn tha hương chỉ dùng một vần duy nhất mà thơ vẫn hay là điều không hề đơn
giản Bên cạnh đó, việc dùng một vần tạo được một cảm giác triền miên dai dẳng
ào ạt về mặt cảm xúc và tâm trạng Bài thơ như một con suối không ngừng chảy vào lòng người Hãy khoan nói tới nội dung, nhưng chính cái cảm giác một vần
ấy đã rất thành công trong việc gợi một ám ảnh và khơi một ấn tượng đậm nét đối với mỗi người đọc So sánh với các nhà thơ cùng thời, không có ai viết những bài thơ dài độc vận như Nguyễn Bính Các bài thơ dài nhất của Huy Cận trong tập Lửa thiêng và Xuân Diệu trong hai tập Thơ thơ và Gửi hưong cho gió đều không vượt quá 40 câu/dòng thơ Chẳng hạn bài thơ dài nhất của Huy Cận
trong tập Lửa thiêng là bài Nhạc sầu với 37 câu Bài thơ dài nhất của Xuân Diệu trong tập Thơ thơ là bài Vội vàng với 39 câu
Về mặt hòa âm, các đơn vị hiệp vần trong 8 bài thất ngôn trường thiên nói trên đều hiệp vần theo lối vần chính và vần thông, không có vần ép Các vần chính và vần thông bên cạnh giá trị hòa âm còn có những giá trị biểu cảm đáng
kể về mặt tâm trạng cảm xúc Chẳng hạn bài Đêm mưa đất khách dùng vần
chính “a” xuyên suốt bài thơ gợi cảm giác trải rộng về không gian, cái lạnh của đêm mưa dường lan tỏa khắp nơi, nổi bật cái lạnh giá và cô đơn trong tâm hồn
con người: Một thân lận đận nơi trời xa/Nằm nghe mưa rơi trên mái nhà/Gió bắt vào thu đầy tiếng lá/Đời tàn, mộng đẹp, tiếc xuân qua/Long tọng mưa nhỏ theo từng giọt/Ắng lặng không nao một giọng gà/Chờ nửa vầng trăng, trăng chẳng lại/Đêm dài đằng đẵng đêm bao la…
Bài Xuân tha hương và Xuân vẫn tha hương sử dụng các đơn vị hiệp
vần có âm cuối mang tính chất mũi, gợi sự vang vọng, tạo nhiều dư âm khắc
Trang 39khoải Bài thơ vần Rẫy lại là một dụng ý nghệ thuật khác của tác giả khi muốn
nhấn mạnh chữ Rẫy, vừa có ý nghĩa “nương rẫy” như một đặc trưng của Hà Tiên, nơi lưu giữ những kỷ niệm của Nguyễn Bính cùng Mộng Tuyết; vừa có ý nghĩa “phụ rẫy”, “rẫy bỏ” thể hiện sự chua chát, tiếc nuối, đắng cay của nhà thơ
với nhiều câu chuyện đời: Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên/Chiều chiều cùng chị
về trong Rẫy/Đường mòn bóng nhạt soi tà tà/Biển khơi gió mặn thổi hây
nói đến chuyện nhân duyên/Chị có cô cháu tuổi mười bảy/Tóc dài chấm gót má hồng tươi/Mi vòng cánh cung mắt đen láy/Chị ơi! Trôi nổi là thân tôi/Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải/ Than ôi! Không có tám mươi thành/ Để đổi cho tròn viên Ngọc ấy!
2.1.4 Mức độ hòa âm trong vần thơ lục bát của Nguyễn Bính
Trong 122 bài thơ lục bát của Nguyễn Bính, bài ngắn nhất là bài Hoa cỏ may chỉ gồm 2 câu, bài dài nhất là bài Lỡ bước sang ngang gồm 110 câu Như
vậy, số cặp hiệp vần tối thiểu trong một bài thơ lục bát của Nguyễn Bính là 01 cặp và số cặp hiệp vần tối đa trong một bài thơ lục bát của Nguyễn Bính là 109 cặp Tổng kết 122 bài thơ lục bát, chúng tôi thu được 1899 cặp hiệp vần trong đó hiệp vần theo kiểu vần chính có 1094 cặp, chiếm 58%, hiệp vần theo kiểu vần thông có 805 cặp, chiếm 42% Vần ép không xuất hiện Phân bố và tỉ lệ các cặp
hiệp vần dựa trên tiêu chí hòa âm có thể tổng kết qua bảng dưới đây:
Bảng 2.7: Tổng kết các loại vần trong thơ lục bát Nguyễn Bính trước
Trang 40lệ 61%, còn lại 42 cặp hiệp theo lối vần thông, chiếm tỉ lệ 39% Thế nhưng, hầu hết các cặp hiệp vần thông trong Lỡ bước sang ngang nói riêng cũng như trong thơ lục bát Nguyễn Bính nói chung đều xuất hiện với dạng lí tưởng, chỉ có rất ít các cặp vần thông hiệp vần theo nguyên tắc không đồng nhất hoàn toàn một thành phần (âm vị) nào mà chỉ đồng nhất các đặc trưng ngữ âm nhất định (trong toàn bộ thơ lục bát của Nguyễn Bính chỉ có 4 lần như thế1) Ta hãy thử xem xét một số cặp vần thông tiêu biểu trong Lỡ bước sang ngang: …Là tan vỡ giấc
mộng vàng từ đây/Rượu hồng em uống cho say/Vui cùng chị một vài giây cuối cùng/(Rồi đây sóng gió ngang sông…)/…Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em/Đêm qua là trắng ba đêm/Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn/…Em đừng khóc nữa em ơi/Dẫu sao thì sự đã rồi, nghe em
Đặc điểm này của lục bát Nguyễn Bính có thể nói rất gần gũi với ca dao Phải chăng đây chính là một lí do quan trọng nữa về mặt hình thức khiến nhiều người từ xưa đến nay vẫn cho rằng, thơ Nguyễn Bính đậm phong vị cổ điển, đậm chất ca dao, chất thôn quê Quả thế, chúng tôi đã thử khảo sát ngẫu nhiên 97 bài
ca dao (có độ dài từ 2 đến 4 dòng lục bát) trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (từ trang 95 đến trang 105, NXB Văn học, HN, 2004) Kết quả cho thấy như sau:
Bảng 2.8: Khảo sát các loại vần trong một số bài ca dao theo thể lục bát:
Ta thử đọc một số câu/bài ca dao có lối hiệp vần theo kiểu vần chính: Vua
Ngô ba sáu tàn vàng/Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì/Chúa Chổm đánh chén tì tì/Thác xuống âm phủ kém gì vua Ngô hay: Tò vò mà nuôi con nhện/Đến khi nó lớn nó quện nhau đi/Tò vò ngồi khóc tỉ ti/Nhện ơi nhện hỡi mày đi đằng
nào.Đọc tiếp một số câu/bài ca dao có lối hiệp vần theo kiểu vần thông: Đánh