1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Lịch sử: Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1954

198 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 11,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1945 đến năm 1954. Trên cơ sở đó, nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong giai đoạn 1945- 1954, góp phần vào thực hiện công tác đối ngoại hiện nay.

Trang 1

PHẠM THỊ THANH MAI

ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

PHẠM THỊ THANH MAI

ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Phạm Thị Thanh Mai

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế qua các công trình

1.2 Kết quả của các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án

Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO TÌM KIẾM SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ

2.1 Sự cần thiết của tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế và chủ

2.2 Quá trình Đảng tìm kiếm, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế 40

Chương 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ

QUỐC TẾ, ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1950 - 1954) 71 3.1 Bối cảnh trong nước, quốc tế và chủ trương của Đảng 71 3.2 Quá trình Đảng chỉ đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế 81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế để xây dựng và phát triển đất nước luôn là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm Điều này không chỉ cần thiết đối với các nước lớn có tiềm lực về kinh tế, quân sự, mà còn vô cùng quan trọng, nhân thêm nguồn sức mạnh đối với các dân tộc nhỏ trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Ngay từ những năm tháng tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn khẳng định, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới và ai làm cách mạng trong thế giới đều là bạn bè, đồng chí của nhân dân Việt Nam Vì thế, phải giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân lao động, làm cho tinh thần yêu nước trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế Xuất phát từ quan điểm đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam hòa vào cuộc đấu tranh của nhân loại bị áp bức chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đương đầu với những khó khăn chồng chất Đó là những hậu quả về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục của chế độ

cũ để lại: nền kinh tế đình đốn, tài chính kiệt quệ; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp đe dọa đời sống của nhân dân, làm gần 2 triệu người chết đói; hơn 90% người dân không biết đọc, biết viết; các thế lực thực dân, đế quốc, phản động trong và ngoài nước cấu kết với nhau mưu đồ thủ tiêu chính quyền cách mạng nhằm nô dịch dân tộc Việt Nam một lần nữa Chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước một tình thế vô cùng khó khăn, một cuộc chiến không cân sức để bảo vệ nền độc lập của đất nước Do vậy, bên cạnh chủ

Trang 6

trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc trở thành yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam

Vừa lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, từng bước xây dựng, kiến thiết đất nước, Đảng vừa lãnh đạo tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp

đỡ quốc tế Đó là quá trình kết hợp xây dựng lực lượng với mở rộng quan hệ quốc tế để tìm kiếm bạn đồng minh, đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, kết hợp các hình thức đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em, các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, tạo thế và lực để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã bảo vệ và phát triển lên một bước mới những thành quả của Cách mạng Tháng Tám

Nghiên cứu về sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1954 đối với Việt Nam, không chỉ làm rõ thêm vai trò to lớn của Đảng, đứng đầu

là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bản lĩnh chính trị kiên cường, với đường lối đúng đắn, sách lược mềm dẻo, linh hoạt, đã tranh thủ, phát huy được sự ủng

hộ, giúp đỡ của quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại

để làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn góp phần đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc lịch sử của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm vào cách mạng Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Đảng tiếp tục phát huy nhân tố sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo tranh

thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1954” để nghiên

cứu và làm Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 7

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1945 đến năm 1954 Trên cơ sở đó, nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong giai đoạn 1945-

1954, góp phần vào thực hiện công tác đối ngoại hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ bối cảnh lịch sử và sự cần thiết phải tranh thủ sự giúp đỡ, ủng

hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam giai đoạn 1945-1954

- Nghiên cứu và hệ thống hóa quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; các hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

- Trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

- Nêu lên những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế giai đoạn 1945-1954

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự lãnh đạo của Đảng về tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến năm 1954

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 2-1951, được đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam (gọi tắt

Trang 8

là Đảng) lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế về chính trị, quân

sự, kinh tế, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

- Phạm vi về không gian: Việt Nam và các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế liên quan đến nội dung của luận án

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954 Ngoài ra, để làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu, luận án có đề cập một số vấn

đề liên quan đến trước và sau khoảng thời gian trên

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Cơ sở lý luận

Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết quốc tế; đường lối của Đảng về đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại

4.2 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu chính sau:

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các lãnh tụ Đảng, Nhà nước về vấn đề quan hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế

- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các Hiệp định quốc tế Việt Nam tham gia ký kết; các bài phát biểu, bài viết, trả lời phỏng vấn, thư, điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1945-1954 Khối tài liệu sưu tầm được từ Cộng hoà Pháp, Liên bang Nga, đặc biệt là khối bản thảo, bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến đề tài luận án hiện đang được lưu giữ tại kho

Cơ sở của Bảo tàng Hồ Chí Minh và các nguồn lưu trữ khác trong nước Đây

là nguồn tư liệu cơ bản giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu đề tài

- Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan về lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng, lịch sử ngoại giao Đây là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình thực hiện luận án

Trang 9

- Hồi ký, hồi ức của các cá nhân trong và ngoài nước, những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp của hai phương pháp này là những phương pháp chính được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu để làm rõ nội dung đề tài

5 Đóng góp của luận án

- Luận án góp phần làm rõ hơn sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới; của các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng như của những nước láng giềng đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954

- Bước đầu đưa ra nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế về những thành công, hạn chế; đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng về tranh thủ sự ủng hộ, giúp

đỡ quốc tế đối với cách mạng Việt Nam những năm 1945-1954, góp phần gợi

mở những nội dung về hoạt động đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề này Việc tập hợp, phân tích những tài liệu liên quan đến đề tài cũng góp phần nâng cao hiệu quả công tác trưng bày, thuyết minh tại các bảo tàng, di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh

6 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 VẤN ĐỀ TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ QUA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các công trình trong nước nghiên cứu về quan hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

1.1.1.1 Các công trình khoa học về Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng

và Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân từ trước đến nay Vì vậy, những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến này, trong

đó có vấn đề đoàn kết quốc tế đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến

Công trình "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1954)", tập 1 [175] và tập 2 [178] của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã

(1945-đánh giá tầm vóc, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Bộ sách đã phản ánh một cách có hệ thống diễn biến, các nội dung chủ yếu, các mốc lịch sử quan trọng, bước đầu nêu ra những quy luật của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, đồng thời lãm rõ các nhân tố thắng lợi dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Có thể nói, đây là một công trình thể hiện sự dày công nghiên cứu của các tác giả Công trình đã dành nhiều trang viết về liên minh chặt chẽ với Lào và Campuchia, phối hợp với Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế Song, vấn đề đó cũng mới chỉ đề cập một cách khái quát, chưa được hệ thống và đầy đủ

Trang 11

"Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946-1960)", tập 1 do Văn phòng Quốc

hội [162] tổ chức nghiên cứu, biên soạn Đây là một công trình khoa học lịch

sử về Quốc hội được biên soạn nghiêm túc và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam Các tác giả đã nêu rõ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) vốn là một Quốc hội lập hiến Song do hoàn cảnh cách mạng và kháng chiến nên Hiến pháp năm 1946 chưa được ban hành Quốc hội đã giao cho Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội căn cứ vào các nguyên tắc đã định của Hiến pháp để thực thi việc lập pháp Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội đã giải quyết mọi vấn đề của toàn quốc, lập hiến và lập pháp, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài, Quốc hội khoá I đã hoàn thành trách nhiệm của mình đối với một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước

Mười bốn năm hoạt động trong hoàn cảnh kháng chiến cực kỳ khó khăn gian khổ (1946-1960) là quá trình rèn luyện Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (khoá I) Liên quan đến vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội Khóa I, việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng được đề cập đến

Cuốn sách "Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội" [100] của Cốc Văn

Khang đã đi sâu phân tích cuộc đấu tranh gay gắt và quyết liệt giữa hai hệ thống chính trị xã hội đối lập nhau trên mọi lĩnh vực: tư tưởng chính trị; kinh

tế xã hội ; tác giả nêu lên những thành tựu to lớn mà các nước Xã hội chủ nghĩa đã đạt được, đồng thời vạch rõ những mặt hạn chế và sai lầm của các nước này trong quá trình xây dựng Xã hội chủ nghĩa

Trong "Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học" của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị [1],

các tác giả đã làm rõ nguyên nhân, ý nghĩa, kết quả, bài học của cuộc kháng chiến chống Pháp Đặc biệt, công trình đã tổng kết được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của quốc tế, Liên Xô, Trung Quốc đối với Việt Nam Tuy

Trang 12

nhiên, ở khía cạnh đối ngoại, cụ thể là vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế với cách mạng Việt Nam ở giai đoạn lịch sử này chưa

được đi sâu làm rõ

Trong cuốn hồi ức "Chiến đấu trong vòng vây" của Võ Nguyên Giáp

[71], tác giả đã giới thiệu với độc giả về Nguyễn Ái Quốc - Việt Minh - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kể lại tiến trình cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp từ ngày 19-12-1946 cho đến trước Chiến dịch Biên Giới năm

1950 mà Đại tướng là người tham gia trực tiếp Tác giả đã nói rõ về thời kỳ chiến đấu gian khổ trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và những yêu cầu cấp thiết kết nối với cách mạng thế giới của Việt Nam Cuốn sách đề cập đến chuyến đi bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc và Liên

Xô, những kết quả của chuyến đi qua báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ban Thường vụ Trung ương Đảng sau đó Đây là những thông tin, tư liệu quan trọng để tác giả luận án đi sâu nghiên cứu về hành trình, nội dung và kết quả chuyến đi này của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến hoạt động đối ngoại nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam

"Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 Thắng lợi và bài học"

của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị [3] đã đưa ra những tổng kết cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh cách mạng Nội dung được trình bày khái quát những sự kiện và tiến trình lịch sử, những nhận định, đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh cách mạng Việt Nam, đúc kết những bài học cơ bản trong sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, mở đầu thắng lợi bằng cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền trên cả nước Tiếp đó, được kế tục và hoàn thành vẻ vang bằng cuộc chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện, một cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước lâu dài và đây

Trang 13

chính là thời kỳ oanh liệt và hào hùng nhất trong lịch sử của dân tộc, đưa nước Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trọng đại, đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách sống còn; Nhân dân anh dũng chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc; kiên quyết và khôn khéo sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng; thực hiện mục tiêu: dân tộc độc lập,

Tổ quốc thống nhất, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đảng đã phát huy truyền thống yêu nước và lòng tự tôn dân tộc, xây dựng, củng cố, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân Việt Nam - những người làm chủ đất nước, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của các lực lượng cách mạng thế giới và của cả loài người tiến bộ, phân hoá, cô lập triệt để kẻ thù, thực hiện thắng lợi chiến lược

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công"

"Đảng Cộng sản Việt Nam, chặng đường qua hai thế kỷ (1930-2006)"

[97] Cuốn sách đã làm rõ thêm sự ra đời, các chặng đường lịch sử và hoạt động đấu tranh của Đảng, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc, nêu bật những thắng lợi, thành tựu và cả những hạn chế, khiếm khuyết, làm sáng tỏ những bài học về xây dựng Đảng, những vấn đề về lý luận của cách mạng Việt Nam, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, bồi dưỡng ý chí và tình cảm cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới Các tác giả đã đúc rút nên 6 kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó kinh nghiệm thứ năm là đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, Campuchia, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế

Trong cuốn "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới" của Đinh Xuân Lý [113] đã giúp cho người

nghiên cứu hiểu rõ hơn nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, một số thành tựu hoạt động đối ngoại của Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh; quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư

Trang 14

tưởng đối ngoại của Người trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay Tác giả

đã dành Chương I của sách để nói về cơ sở hình thành và các giai đoạn phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và thành tựu của đối ngoại Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh Các hoạt động tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được tác giả đề cập tới tuy chưa sâu, đặc biệt là những hoạt động tham dự của các phái đoàn đại biểu Việt Nam tại các hội nghị quốc tế, sự thiết lập các phòng thông tin tại bốn châu lục trong những năm 1947-1949 để liên lạc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa

Cuốn "Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh" của Nguyễn Dy Niên [135]

đã chỉ ra quá trình hình thành, nguồn gốc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; phân tích những nội dung chủ yếu của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đó là: Các quyền dân tộc cơ bản; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Giải quyết mọi vấn đề xung đột thông qua thương lượng hòa bình; Độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế; Hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới; Ngoại giao là một mặt trận; Phân tích về phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh

Cuốn "Lịch sử Việt Nam", tập 10 của Viện Sử học [187] nằm trong Bộ

sách gồm 15 tập, được hoàn thành trên cơ sở Chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam do Viện Sử học là

cơ quan chủ trì Nội dung sách phong phú, toàn diện, nhiều tư liệu mới có giá trị, bố cục chặt chẽ, được trình bày có hệ thống Các tác giả đã dành một phần nội dung của chương IV nói về đấu tranh ngoại giao và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế năm 1947 và quá trình đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, góp phần phá

vỡ thế bao vây của thực dân Pháp (1948-1950)

Trong cuốn sách "Lịch sử Việt Nam", tập 11 của Viện Sử học [188], tại

chương II, phần VI, giới thiệu về quá trình đấu tranh trên mặt trận ngoại giao

Trang 15

(1951-1952) và dành riêng chương VI viết về “Hội nghị Giơnevơ năm 1954

về Đông Dương, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi” Nội dung cơ bản về vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được các tác giả đưa ra, nhưng trong khuôn khổ một bộ thông sử, các tác giả không đi sâu về vấn đề này Tuy nhiên, những số liệu, sự kiện liên quan đến vấn đề tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Việt Nam

đã được các tác giả cập nhật dựa trên kết quả nghiên cứu mới nhất đến thời điểm dự thảo

Trên cơ sở những tư liệu mới được khai thác, sưu tầm, kế thừa những

thành tựu, kết quả nghiên cứu đã được công bố, "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954", tập 5 của Viện Lịch sử Quân sự Việt

Nam [181] đã được xuất bản, nằm trong bộ sách gồm 7 tập Nhóm biên soạn xây dựng kết cấu, bố cục của tập sách và trình bày nội dung lịch sử theo tiến trình lịch sử và vấn đề Theo đó, nội dung của tập sách này được thể hiện qua

4 chương (16, 17, 18, 19) Chương 16 trình bày về tình hình địch sau thất bại của chúng trong Thu Đông 1950; về các chủ trương, phương châm chiến lược, quyết sách mới của Đảng ta (thể hiện tập trung ở Đại hội Đảng lần thứ

II, tháng 2-1951); diễn biến của 3 chiến dịch tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ Chương 17, trình bày các vấn đề về xây dựng lực lượng, củng cố hậu phương kháng chiến, trong đó đi sâu vào các nội dung về củng cố Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể kháng chiến; xây dựng lực lượng

vũ trang nhân dân; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; hoạt động đối ngoại Chương 18 trình bày cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở vùng địch chiếm đóng trên khắp ba miền đất nước, mà quan trọng là ở Bắc Bộ nhằm giành, giữ vững thế chủ động chiến lược; đồng thời sử dụng một lực lượng nhất định để phối hợp, chi viện cho chiến trường Lào, Campuchia Chương 19 bao gồm các nội dung về tiến công địch ở Tây Bắc Bắc Bộ; hoạt động quân sự của cả nước trong Xuân - Hè 1953; về sự phối hợp với quân giải phóng Pa-thét Lào, chiến thắng địch ở Thượng Lào

Trang 16

Mặc dù không phải là các công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác đối ngoại nhưng vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong kháng chiến chống Pháp cũng được các tác giả đề cập tới Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo chính thống và hữu hiệu cho luận án Trên cơ sở đó, luận án tiếp tục nghiên cứu sâu và đầy đủ hơn các nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Đây là những công trình khoa học về quan hệ đối ngoại, vì vậy, vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ quốc tế đã được đề cập ở các mức độ khác nhau Do đó, đây chính là những nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình thực hiện luận án

Có thể kể ra như: "Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954)", tập 1 của Bộ Ngoại giao [27]; "Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954)", tập 2 của Bộ

Ngoại giao [28] Một số công trình đề cập đến mối quan hệ giữa Việt Nam và

Trung Quốc, Việt Nam và Liên Xô như: "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua" của Bộ Ngoại giao [29]; "Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung" của Nguyễn Huy Toàn và các cộng

sự [152]; "Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950-1980)" của Bộ Ngoại

giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Liên Xô [30]

Cuốn sách "Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao" của Viện Quan hệ

quốc tế [183] Cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao” tổng kết những bài học chủ yếu và kinh nghiệm quí báu trong lĩnh vực ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, nhà ngoại giao kiệt xuất của Việt Nam Theo nội dung cuốn sách, hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chia làm 4 thời kỳ: Giai đoạn từ 1941 đến

Trang 17

2.9.1945; Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao năm 1954-1964; Giai đoạn từ 1965 đến 1969 Nội dung sách khảng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và tiến hành một cách xuất sắc cuộc đấu tranh ngoại giao trong những giờ phút hiểm nghèo nhất của đất nước, từ đó rút ra những bài học cần thiết để vận dụng trong giai đoạn mới nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Tác giả Phan Ngọc Liên [107] trong cuốn "Hồ Chí Minh những hoạt động quốc tế" đã tóm tắt những hoạt động quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh

những năm đầu thế kỷ XX, với tư cách là một chiến sĩ cách mạng quốc tế Những hoạt động của Người trong hàng ngũ Đồng minh chống quân phiệt Nhật, trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp, đến kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong cuốn "Bao dung Hồ Chí Minh", của Nguyễn Văn Khoan [102]

đã viết về những yếu tố hình thành phong cách ứng xử, cách dùng người, những kế sách cứu nước và giữ nước; cách ứng xử ngoại giao của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, những ảnh hưởng của Nho giáo đối với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới, nét đẹp tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và những đóng góp của Hồ Chí Minh với thời đại

Cuốn sách "Ngoại giao Việt Nam 1945-2000" là một công trình nghiên

cứu khoa học công phu của tập thể các nhà ngoại giao, các chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế của Nguyễn Đình Bin [25] chủ biên Với 5 chương nội dung, cuốn sách đã phác họa những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong 55 năm, từ năm 1945 đến năm 2000, một thời kỳ đầy những biến động và đổi thay ở Việt Nam cũng như trên thế giới Các tác giả đã dành chương 1 và chương 2 nói về hoạt động ngoại giao của Việt Nam, từ ngoại giao góp phần giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng (1945-1946) đến ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947-1954)

Trang 18

Vấn đề ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được các tác giả chia thành các phân đoạn: Ngoại giao phá vây (1947-1949); Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế (1950-1953); Hội nghị quốc tế về Đông Dương và ký kết Hiệp định Geneva năm 1954 Với nguồn tài liệu phong phú và đáng tin cậy, với các luận chứng chặt chẽ và súc tích, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống và tổng hợp công tác ngoại giao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng đầy biến động này Tuy nhiên, đây là những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế ở giai đoạn này vẫn cần

có sự nghiên cứu mở rộng và chuyên sâu hơn

Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như:

"Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do 1975)" của Nguyễn Phúc Luân [110]; "Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp" của Đặng Văn Thái [147]

(1945-"Ngoại giao Việt Nam (1945-1995)" là một công trình nghiên cứu công

phu của Lưu Văn Lợi [109] Tác giả đã đưa ra sự đánh giá bao quát về nửa thế

kỷ hoạt động của ngoại giao Việt Nam, bắt đầu từ những năm 1945-1946, giai đoạn bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hai cuộc chiến tranh biên giới và quá trình phá thế

bị bao vây, cô lập để hội nhập thế giới trong các mối quan hệ hợp tác và phát triển đất nước Trong sách, tác giả chọn những sự kiện quan trọng nhất để thẩm tra và sắp xếp tư liệu nhằm thuật lại sự kiện, qua đó giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về 50 năm ngoại giao Việt Nam

Trong cuốn "Ngoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bạo",

tác giả Nguyễn Phúc Luân [111] khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người

đã vạch ra những định hướng cơ bản trong hoạt động quốc tế của cách mạng Việt Nam, đặt nền móng cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Tinh thần

Trang 19

nhân văn trong trong phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn làm khuất phục lòng người, đặc biệt là với đối phương

Trong cuốn "Ngoại giao Việt Nam, phương sách và nghệ thuật đàm phán" của Nguyễn Khắc Huỳnh [94], tác giả đã phân tích những sự kiện,

những chặng đường của ngoại giao Việt Nam, góp phần làm rõ những thành tựu, tính đặc sắc, bản lĩnh và trí tuệ của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Cuốn sách cũng nêu lên những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao từ năm 1945 đến năm 1969

* Trong các bài tạp chí, báo và hội thảo khoa học, vấn đề đối ngoại, hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được đề cập đến như:

“Âm mưu của Trung Quốc từ Điện Biên Phủ đến Giơnevơ” của Nguyễn Anh Thái [146]; Lê Giản, Văn Phong [68] trong cuốn “Những người cộng sản Pháp và chiến tranh ở Đông Dương (1944-1954)”; “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” của Phạm Hồng Chương, Phùng Đức

Thắng [37]; “Hà Nội tháng 12-1946, những toan tính từ phía bên kia” của Vũ Dương Ninh [137], nội dung bài viết tổng hợp những sự kiện đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946 Liên quan đến chủ đề này, tác giả

Vũ Dương Ninh [136] còn đề cập đến trong bài viết “Mục tiêu độc lập dân tộc trong đường lối đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh”

“Hồ Chí Minh và cuộc chiến tranh ở Việt Nam” trong hồi tưởng của Khrushchev” của Phạm Hồng Tung [160]; “Đọc hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” của Bùi Trọng Liễu [108]; “Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những năm 1954-1960” của Nguyễn Thị Mai Hoa [81]

"Cuộc hành trình vạn dặm" của Nguyễn Huy Hoan [83] Nội dung đề

cập đến Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mùa xuân Canh Dần 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc hành trình vạn dặm để mở đường quan hệ quốc tế

Trang 20

của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người đã góp sức xây dựng tình hữu

nghị của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc với nhân dân Việt Nam “Từ phá vây

về ngoại giao đến phá vây biên giới” của Nguyễn Khắc Huỳnh [95]

Trong bài “Chính sách đối ngoại của Đảng những năm sau Cách mạng Tháng Tám” của Nguyễn Thị Mai Hoa [82], tác giả đề cập đến thời điểm sau

Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã thực hiện các chính sách đối ngoại như: Đối thoại, thương lượng hòa bình vì sự tồn vong của chế độ mới,

nỗ lực thương lượng trên nền hòa bình mong manh, trên nền tảng hợp tác hữu nghị, tích cực phá vây tìm bạn bên ngoài

Trong bài “Góp phần tìm hiểu lý do đến tháng 1-1950, Liên Xô mới công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, trên cơ sở nghiên cứu

sâu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam, tác giả Nguyễn Mạnh Hà [77] đã đưa ra các lý do chủ yếu dẫn đến vấn đề của

Ngoài ra, còn một số luận án nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nghiên cứu về đường lối, chính sách chiến tranh của Pháp ở Việt

Nam, tiêu biểu như: “Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh ngoại giao Việt - Pháp

từ 2-9-1945 đến 19-12-1946” của Lê Kim Hải [78]; “Chính sách chính trị,

Trang 21

quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954 và nguyên nhân thất bại của chúng” của Nguyễn Mạnh Hà [75]; “Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945-1946” của Nguyễn Thị Kim Dung [43]

Luận án “Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong giai đoạn 1930-1954” của Lê Văn Thịnh [151] Luận án gồm 3 chương đi dọc

chiều dài của mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô từ năm 1930 đến năm 1945: Bước khởi đầu của quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô, Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong những năm Việt Nam đấu tranh giành độc lập (1930-1945), Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) Tác giả đã ghi nhận, phân tích và đánh giá cao sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam trong những năm 1945-1954 Tuy nhiên, tác giả cũng

đi đến nhận định, ngay cả khi công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Liên Xô vẫn kiên trì mục tiêu hòa bình

và ổn định trong quan hệ quốc tế, tránh dính líu trực tiếp vào những cuộc tranh chấp khu vực Từ đó, Liên Xô không muốn công khai hóa mạnh mẽ mối quan hệ mật thiết với cách mạng Việt Nam Nhiều hoạt động hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam, đặc biệt là về vật chất thường được Liên Xô thực hiện qua Trung Quốc,

Luận án “Hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945”

của Nguyễn Thị Huyền Trang [155] đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học về quá trình định hình đường lối đối ngoại của Đảng giai đoạn 1930-1945 Tác giả đã phân tích, góp phần làm sáng tỏ những hoạt động đối ngoại của Đảng với cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 Qua đó, khẳng định đường lối và hoạt động đối ngoại đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong giai đoạn lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền,…

Tuy cùng nghiên cứu trên lĩnh vực Lịch sử Đảng, Lịch sử Quân sự, Hồ Chí Minh, song đề tài, nội dung nghiên cứu của các luận án nói trên không

Trang 22

trùng lặp với đề tài luận án Đây cũng là một trong những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện luận án

1.1.2 Một số công trình nước ngoài đề cập đến sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Nhiều tác giả nước ngoài đã nghiên cứu về cuộc chiến tranh này cũng như các vấn đề liên quan Phần lớn trong số đó là các tướng lĩnh, học giả người Pháp, Mỹ, đặc biệt là một số phóng viên chiến trường, có mặt trực tiếp tại Việt Nam trong thời gian này Do đó, các tác giả có điều kiện khai thác và cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu liên quan đến vấn đề này từ phía bên kia Tuy nhiên, trừ một số ít các tác giả có mặt trực tiếp tại Việt Nam, do sự khác nhau về thế giới quan và giới hạn bởi nguồn tư liệu một phía, các công trình này chỉ có thể là các nguồn tư liệu bổ sung và hỗ trợ cho quá trình tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài Có thể kể ra như:

“Đồng chí Hồ Chí Minh như tôi được biết” của Lê-ô Phi-ghe (Le’o

Figuères) [105] đã kể về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt

là lần ông gặp Người năm 1950 ở Việt Nam với tư cách là Tổng Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng hoà Pháp, vừa là Chủ nhiệm tờ báo Tiền phong (của Đoàn Thanh niên Cộng hoà Pháp) Lê-ô Phi-ghe được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hai lần tại nơi ở của Người nơi chiến khu giữa núi rừng Việt Bắc Ông nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rất cặn kẽ những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Pháp chống chiến tranh (của bọn thực dân Pháp) ở

Đông Dương Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi ông: "Nhân dân Pháp có bị ảnh

hưởng vì sự tuyên truyền của bọn thực dân Pháp không? Người Pháp có hiểu

rằng chúng tôi không thù ghét gì họ không?" Từ nhân cách Hồ Chí Minh và

thực tế cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, Lê-ô Phi-ghe đặt câu hỏi vì sao nhân dân Việt Nam đã thắng trong cuộc chiến tranh Đông Dương và ông tự trả lời:

Trang 23

Đó là vì họ có tinh thần yêu nước nồng nàn và vì họ có tinh thần sáng tạo Nhưng cũng cần phải nói là còn vì lối sống của họ, vì lòng

hy sinh của họ, vì quyết tâm chịu đựng gian khổ của họ, vốn là đặc tính sẵn có từ trước đến nay trong quá trình chiến đấu của họ Tất cả các đức tính đó của dân tộc Việt Nam, đồng chí Hồ Chí Minh đều

có cả và ở mức độ rất cao [105]

"Đối diện với Hồ Chí Minh" của J Xanhtơni (Jean Sainteny) [99] Lần

đầu tiên, Jean Sainteny gặp Hồ Chí Minh vào tháng 10 năm 1945 Được sự ủy quyền của Chính phủ Pháp, Jean Sainteny trở thành nhân vật trung gian cho những cuộc tiếp xúc Pháp - Việt Ông cũng là một trong những nhân vật chủ trương và nỗ lực hợp tác hoà bình với Chính phủ Hồ Chí Minh để dẫn đến việc ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 Năm 1946, Jean Sainteny cũng là người tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là một nguyên thủ quốc gia sang thăm nước Pháp và đã từng đón tiếp Hồ Chí Minh như những người bạn bè tại gia đình của mình Tháng 9-1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, J.Sainteny có mặt tại Hà Nội, ông là người đứng đầu một phái đoàn chính thức duy nhất của một nhà nước Phương Tây (Chính phủ Cộng hoà Pháp) dự

lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh Những cảm xúc của ông qua những lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện khá rõ nét trong cuốn sách về một

“ông già hiền từ và bé nhỏ” nhưng lại chính là người có sức mạnh, đẩy nước Pháp trở về với hình lục lăng bé nhỏ ban đầu Điều đó muốn nói lên vai trò của Hồ Chí Minh, người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh làm thất bại âm mưu bành trướng của chủ nghĩa thực dân Pháp

Một số cuốn sách cũng đề cập đến quan điểm, chính sách của các nước

với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp như: “Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Ních - xơn” của A Pulơ [141]

Trang 24

Cuốn sách “Tại sao Việt Nam” (Why Vietnam?) của L.Archimedes

Patti [138], một sĩ quan tình báo Mỹ, người đã có mặt và liên quan đến những biến động của lịch sử Việt Nam ở vào thời điểm bước ngoặt quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Patti không đi thẳng vào những vấn

đề còn đang nóng bỏng tính thời sự của thập kỷ 70 để giải đáp câu hỏi "Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam?" mà lại đi ngược thời gian lên thập kỷ 40 để giải đáp câu hỏi "Tại sao nước Mỹ đã từng sát cánh với những người cách mạng, những người cộng sản Việt Nam trên một trận tuyến chung chống chủ nghĩa phát xít?" Tác giả đã gợi lại ký ức của một thời mà những người cách mạng Việt Nam, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng đưa những tư tưởng của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ lên trang mở đầu của bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam Câu trả lời cũng là cách vạch ra những sai lầm của giới cầm quyền Mỹ sau cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ II

đã đẩy nhân loại vào cuộc chiến tranh lạnh, từ bỏ những giá trị tiến bộ của chính bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 để dấn thân vào sự thù địch với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, cũng là chuốc lấy những thất bại cay đắng trên chiến trường Việt Nam sau này

Ngoài ra, phải kể đến các cuốn sách như: “Thời sự Đông Dương” của Đácgiăngliơ (D'Argenlieu) [45], Bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh; Đông Dương hấp hối (hồi ký) của Navarre [130]; “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của Wilfred Burchett [190]; “Paris, Sài Gòn, Hà Nội” - Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947 của Philippe Devillers [41]; “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” của Hoàng Tranh [156]; “Liên bang Xô viết và chiến tranh Việt Nam” của Ilya V Gaiduk [98]

J William Duiker [191], một học giả nước ngoài hàng đầu nghiên cứu

về cuộc đời Hồ Chí Minh Ông đã dành gần 30 nǎm để nghiên cứu và viết nên

Trang 25

cuốn sách “Hồ Chí Minh - Một cuộc đời” với lời đề Kính tặng nhân dân Việt Nam J William Duiker bắt đầu chú ý, nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ giữa

những nǎm 1960 khi đang là một sĩ quan trẻ làm việc tại đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, ông lấy làm khó hiểu trước việc các du kích Việt Cộng chiến đấu trong rừng rậm tỏ ra có kỷ luật và động cơ cao hơn đội quân Đồng minh chính quy

và ông đã có câu trả lời là do vai trò của nhà khởi xướng và là nhà chiến lược bậc thầy cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh Ông cho rằng:

Khó tưởng tượng ra một cuộc cách mạng Việt Nam không có sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh Mặc dù xu hướng lịch sử hiện tại nhấn mạnh tầm quan trọng của những lực lượng xã hội lớn trong việc tạo ra những sự kiện lớn của thời đại chúng ta, điều rõ ràng là trong nhiều trường hợp như trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vich và cuộc nội chiến của Trung Quốc, vai trò cá nhân đôi khi rất lớn Điều đó cũng đúng với Việt Nam Ông Hồ không chỉ là người sáng lập Đảng và sau này là Chủ tịch nước, mà ông còn là một nhà chiến lược chủ chốt và là một biểu tượng giành được nhiều cảm tình nhất Một nhà tổ chức tài năng cũng như là một nhà chiến lược tinh tế và một nhà lãnh đạo lôi cuốn Hồ Chí Minh là một nửa Lênin và một nửa Gandhi Đó là một sự kết hợp sống động Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là một sự thực không thể phủ nhận làm thay đổi số phận của mỗi cá nhân, nếu không có ông thì có thể nó đã trở thành một vấn đề hoàn toàn khác và một kết cục hoàn toàn khác [191, tr.389]

Nhà văn người Mỹ, Lady Borton, lần đầu tiên nghe tên Hồ Chí Minh vào giữa năm 1954, khi bà đang là nữ sinh lớp sáu một trường ở quận ngoại ô Washington, khi thầy giáo ra đầu bài dựa vào bài viết về Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ đăng trên một tờ báo thiếu niên của Hoa Kỳ 15 năm

Trang 26

sau, bà có mặt ở Việt Nam khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam đang diễn ra ác liệt Trong vòng hơn 35 năm, Lady Borton đã gặp gỡ, nghe những người từng quen biết và làm việc với Chủ tịch

Hồ Chí Minh, các nhà sử học, các học giả quốc tế, nhân viên lưu trữ và cả những người dân thường để nghe họ kể chuyện về Người Một trong những

kết quả của quá trình nghiên cứu đó là cuốn sách “Hồ Chí Minh: Một hành trình” của Lady Borton [103] Cuốn sách có một nửa nội dung là tranh ảnh,

một nửa là văn viết, được trình bày sáng sủa, đơn giản, mạch lạc về cuộc đời

Hồ Chí Minh, trong đó có nhiều tư liệu liên quan đến hoạt động đối ngoại của

Hồ Chí Minh do Lady Borton sưu tầm được Nhà văn Hữu Ngọc nhận xét, đây là một công trình hữu ích dành cho những ai muốn tìm hiểu thân thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Một số các bài báo và tạp chí viết về vấn đề này như: “Quan hệ Pháp -

Mỹ - Hoa những ngày tháng 8-1945” [114]; “Vận động ngoại giao của Pháp năm 1945 để thực hiện kế hoạch quay trở lại Việt Nam” của D.Marr [115] Đây là một đoạn trong chương 8 của cuốn sách “Việt Nam năm 1945: cuộc tranh đoạt chính quyền” của David Marr xuất bản năm 1995, phản ánh những

hoạt động khôn khéo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu

là Chủ tịch Hồ Chí Minh để bảo vệ nền độc lập non trẻ trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp lúc đó

“Paris - Bắc Kinh - Hà Nội, ba cuộc gặp với Hồ Chí Minh để tìm kiếm

hòa bình” của Raymond Aubrac [142] Bài viết nêu rõ mong muốn ngăn chặn

chiến tranh bằng con đường hòa bình để giành độc lập, thống nhất cho Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua lời kể của ông Raymond Aubrac, một nhân chứng trực tiếp gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào các năm 1946, 1955, 1967

Các công trình trên là nguồn tư liệu tham khảo, bổ sung và hỗ trợ quan trọng cho quá trình tiếp cận vấn đề nghiên cứu của luận án

Trang 27

1.2 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT

1.2.1 Kết quả các công trình nghiên cứu về nội dung liên quan đến

- Tầm quan trọng của việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam

- Vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chỉ đạo và là một nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

- Sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 qua một số công trình nghiên cứu: sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo,… mặc dù chưa được các tác giả hệ thống và nghiên cứu chuyên sâu nhưng đã đề cập đến ở các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau

- Các công trình đều khẳng định vai trò và tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại, của sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế cũng như sự cần thiết phải tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam

Những kết quả trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, giúp cho tác giả luận án có một tổng quan cơ bản về những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó, luận án xác định rõ nhiệm vụ và lựa chọn phương pháp để quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả

Trang 28

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

- Làm rõ sự cần thiết phải tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp

- Vai trò của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tìm hướng đi và giải pháp trong quan hệ đối ngoại nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp

đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954

- Quá trình Đảng lãnh đạo toàn dân vừa tranh thủ vừa phát huy sự ủng

hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 Quá trình này được chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn 1945-1949: Việt Nam chiến đấu trong vòng vây, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kết hợp mở rộng mối quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế để phá vây, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế

Giai đoạn 1950-1954: cánh cửa hậu phương quốc tế rộng mở, Đảng tăng cường các hoạt động đối ngoại kết hợp với ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế Cách mạng Việt Nam từng bước có được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc

và các lực lượng hòa bình dân chủ trên thế giới

- Làm rõ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước anh em, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Nhận xét và rút ra những kinh nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế ở giai đoạn lịch sử này

Trang 29

Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TÌM KIẾM SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ

TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1949

2.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ QUỐC TẾ

VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG

2.1.1 Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Lúc này, Việt Nam có những thuận lợi hết sức căn bản:

Cách mạng Tháng Tám đã đem lại cho cách mạng Việt Nam thế và lực mới Nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, 5 năm bị phát xít Nhật chiếm đóng và hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến Hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập hầu khắp trên cả nước từ Trung ương đến địa phương, trực tiếp tổ chức và điều hành sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc Nước Việt Nam độc lập, nhân dân Việt Nam với tư thế là người chủ nhân để đón quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đảng cầm quyền, uy tín chính trị của Đảng ngày càng được củng cố và phát triển Lực lượng vũ trang nhân dân được hình thành trong cách mạng, tuy còn ít về số lượng, vũ khí trang

bị còn thô sơ, nhưng đã được tổ chức chính quy và trở thành lực lượng quan trọng bảo vệ chế độ mới Toàn dân tin tưởng, phấn khởi tham gia các hoạt động xây dựng cuộc sống mới, ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Đây là điều kiện thuận lợi để Đảng tổ chức, huy động sức người, sức của cả dân tộc để kháng chiến, kiến quốc, đồng thời là vũ khí sắc bén để trấn áp bọn phản cách mạng

Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố thuận lợi nói trên là những khó khăn, thử thách mà cách mạng Việt Nam phải đối mặt ngay sau Cách mạng Tháng Tám:

Trang 30

Về kinh tế: sản xuất nông nghiệp bị đình trệ Mùa màng liên tục bị lũ lụt, hạn hán tàn phá Nạn đói do hậu quả bóc lột của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật đã làm cho khoảng 2 triệu người chết đói trước đó chưa chấm dứt, nay lại tiếp tục đe dọa trực tiếp cuộc sống của nhân dân Sản xuất công nghiệp yếu kém Hàng hóa tiêu dùng khan hiếm, giá cả tăng vọt Hàng vạn công nhân bị thất nghiệp, đời sống rất khó khăn Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng Ngân hàng Đông Dương vẫn do người Pháp quản lý và không ứng tiền cho Chính phủ Việt Nam

Về chính trị - xã hội: Chính quyền Nhà nước vừa ra đời còn non trẻ chưa được củng cố vững chắc Lực lượng vũ trang cách mạng đang trong thời kỳ hình thành, các công cụ bạo lực khác chưa được xây dựng, hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội cũ như nghiện rượu, cờ bạc, hút xách, mê tín

dị đoan,… trầm trọng và phổ biến Việt Nam chưa được quốc gia hay tổ chức quốc tế nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao Đây là khó khăn rất lớn, bởi không chỉ chưa được biết tên, chưa được công nhận mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong con mắt của nhiều người nước ngoài như là một tổ chức chính quyền không tồn tại một cách hợp pháp ở Đông Dương

Song, khó khăn hơn cả là nạn thù trong giặc ngoài Chính quyền cách mạng vừa mới ra đời đã phải chịu sức ép từ mọi phía Sau chiến tranh thế giới thứ hai, theo Hiệp ước của Hội nghị Pốtxđam (17-7 đến 02-8-1945), các đội quân Đồng Minh, lực lượng thắng trận của cuộc chiến tranh được giao trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật lần lượt vào Việt Nam Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1945, ở Bắc vĩ tuyến 16, dưới danh nghĩa quân Đồng minh, gần

20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc đã kéo vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật Mặc dù ngày 24-8-1945, Tưởng Giới Thạch tuyên bố: Trung Quốc không có tham vọng lãnh thổ ở Việt Nam, nhưng khi vào đến Hà Nội, Tướng

Lư Hán lại tuyên bố thời gian quân đội Tưởng ở Việt Nam là không hạn định

Thực chất âm mưu của họ là “diệt cộng, cầm Hồ”, tiêu diệt Đảng ta, phá tan

Việt Minh và giúp các lực lượng phản động lật đổ chính quyền nhân dân, lập

Trang 31

một chính phủ làm tay sai cho chúng Ngoài ra, theo chân quân đội Trung Hoa dân quốc vào miền Bắc còn có các thế lực phản động người Việt lưu vong ở Trung Quốc, thuộc hai tổ chức: Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) của Vũ Hồng Khanh và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần đứng đầu

Lợi dụng ảnh hưởng của quân đội nước ngoài, các lực lượng phản động trong nước, gồm số thân Trung Hoa dân quốc, thân Nhật, thân Pháp, chống phá cộng sản,… ngóc đầu dậy, ra sức hoạt động chống phá chính quyền cách mạng Chúng tập hợp địa chủ, tư sản phản động xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Việt Minh, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân do Đảng lãnh đạo Chúng còn tổ chức mít tinh, biểu tình chống Chính phủ, vu cáo Chính phủ ta là “Việt gian thân Pháp”, đòi Chính phủ phải từ chức và yêu cầu Cố vấn Vĩnh Thụy đứng ra thành lập chính phủ mới Với sự giúp đỡ tích cực của quân Trung Hoa dân quốc, các tổ chức chính trị Việt Quốc, Việt Cách tiến hành đánh chiếm một

số thị xã Ở những nơi như Vĩnh Yên, Móng Cái, Yên Bái, lực lượng Việt Quốc, Việt Cách còn lập được chính quyền của chúng

Ở Nam vĩ tuyến 16, ngày 6-9-1945, các đơn vị đầu tiên của quân đội Anh cùng một bộ phận quân Pháp đi theo đã tới Sài Gòn, chiếm trụ sở Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ Ngay lập tức, chúng mở nhà tù giải thoát cho tù binh Pháp vốn bị quân Nhật giam giữ sau ngày đảo chính Pháp (9-3-1945), lôi kéo quân đội Nhật vào việc chống phá cách mạng Việt Nam Mục tiêu của quân Anh ngoài việc tước vũ khí và hồi hương quân Nhật, còn có ý đồ tiêu diệt chính quyền cách mạng và giúp thực dân Pháp quay lại nô dịch Việt Nam một lần nữa

Có thể nói, chưa bao giờ cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều loại kẻ thù như thời điểm này Chúng có thể mâu thuẫn với nhau về lợi ích, nhưng đều thống nhất với nhau trong âm mưu chống cộng sản, thủ tiêu chính quyền cách mạng, xoá bỏ thành quả mà cuộc Cách mạng Tháng Tám vừa giành được Chính quyền dân chủ nhân dân và vận mệnh đất nước lúc này rơi vào thế

Trang 32

“ngàn cân treo sợi tóc” Đây chính là tình thế đặc biệt hiểm nghèo của cách mạng Việt Nam

Tình hình khó khăn trên đã đặt ra trước Đảng và nhân dân Việt Nam những nhiệm vụ nặng nề và cấp bách Chúng ta vừa phải xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở các cấp, vừa phải khôi phục kinh tế, giải quyết nạn đói, nạn thất học, đặc biệt vừa phải đấu tranh với các thế lực thù địch để bảo

vệ chính quyền cách mạng và khẳng định vị thế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhìn tổng thể về kinh tế, tài chính, quân sự, tương quan lực lượng giữa ta và các thế lực thù địch có sự chênh lệch rất lớn, không có lợi cho ta

Do đó, bên cạnh những giải pháp nhằm phát huy nội lực, vấn đề tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế lúc này trở thành một yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam

Với sự giúp đỡ của Liên Xô, một loạt các nước ở Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari,…cũng giành được độc lập, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân Hệ thống xã hội chủ nghĩa dần hình thành và lớn mạnh, tác động đến sự phát triển của xã hội loài người Sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa và những ảnh hưởng tích cực của nó đối với phong trào cách mạng thế giới khiến chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất chi phối nền chính trị toàn cầu

Trang 33

Phong trào giải phóng dân tộc đã bùng lên ở châu Á, châu Phi Các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Inđônêxia, Philippin, Ấn Độ, và nhiều nước ở khu vực Mỹ Latinh, Trung Đông đã liên tục đứng lên chống đế quốc, thực dân Đặc biệt, nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương,

đã đấu tranh giành được độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chủ nghĩa thực dân cũ đứng trước nguy cơ bị phá sản

Cùng đó, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước đế quốc, mà nòng cốt là giai cấp công nhân do các đảng cộng sản lãnh đạo, đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống, diễn ra ngày một sôi nổi và rộng lớn Ở một số nước như Italia, Pháp, đảng cộng sản đã có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước

Tình hình các nước đế quốc chủ nghĩa cũng có nhiều biến động Ba nước phát xít: Đức, Italia, Nhật đã bị lực lượng Đồng minh đánh bại, hậu quả chiến tranh nặng nề: kinh tế kiệt quệ, tiềm lực quốc phòng suy giảm, chính trị

- xã hội khủng hoảng, đời sống nhân dân khó khăn Anh, Pháp tuy là những nước thắng trận nhưng cũng thiệt hại về kinh tế và quân sự, vị thế quốc tế giảm sút nghiêm trọng

Riêng với nước Mỹ, mặc dù Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng các tập đoàn tư bản Mỹ lại giàu lên nhờ sản xuất và bán được nhiều vũ khí, kỹ thuật quân sự, thu lợi nhuận khổng

lồ Mỹ trở thành nước cung cấp hàng hóa cho các nước châu Âu và là chủ nợ lớn nhất của các nước này Nền kinh tế Mỹ lúc này trở nên lớn mạnh nhất thế giới Sức mạnh về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quân sự đã đưa Mỹ lên vị trí đứng đầu phe tư bản chủ nghĩa Dựa vào thế mạnh đó, Mỹ ra sức lôi kéo, tập hợp lực lượng phản động ở các nước đế quốc chống lại các lực lượng cách mạng trên thế giới và ngày càng bộc lộ rõ tham vọng “lãnh đạo thế giới”

Đối với thực dân Pháp, bất chấp những sự kiện đã và đang diễn ra ở Đông Dương, Pháp quyết tâm khôi phục chế độ thực dân ở Việt Nam và các nước Lào, Campuchia Âm mưu đó được Pháp chuẩn bị rất khẩn trương cả về

Trang 34

chính trị, quân sự và ngoại giao ngay từ khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc

Về chính trị, ngày 24-3-1945, chỉ 15 ngày sau cuộc đảo chính của phát xít Nhật ở Đông Dương, Chính phủ lâm thời Pháp, do Sáclơ Đờ Gôn đứng đầu,

đã tuyên bố chính sách cơ bản về vấn đề Đông Dương: duy trì sự thống trị của Pháp cả về chính trị, kinh tế và quân sự, ngoại giao và tiếp tục thực hiện chính sách chia cắt nước Việt Nam Tháng 4 năm 1945, Chính phủ Pháp cử J Xanhtơni (J Sainteny) phụ trách đài phát thanh của Pháp ở Côn Minh (Trung Quốc) Thực chất đây là cơ quan do thám, chuẩn bị kế hoạch cụ thể cho việc quay lại Đông Dương của Pháp Ngày 16-8-1945, Chính phủ Pháp bổ nhiệm

Đô đốc Đácgiăngliơ (D’Argenlieu) làm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương Bằng hành động này, thực dân Pháp đã tự ý khẳng định quyền lực của mình ở Đông Dương, trong khi trên thực tế, Pháp chẳng còn quyền hành gì sau cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 của phát xít Nhật

Về quân sự, ngày 17-8-1945, Chính phủ Pháp cử tướng Lơcơléc (Leclerc) làm Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông với nhiệm vụ cụ thể là chuẩn bị cho việc quân Pháp trở lại Đông Dương càng sớm càng tốt

Về ngoại giao, tháng 12-1944, Pháp đã ký với Liên Xô Hiệp ước Xô - Pháp có thời hạn trong vòng 20 năm Trong đó, điều 5 của Hiệp ước quy định: hai bên cam kết không can dự vào công việc nội bộ của nhau, không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia Với Hiệp ước này, Pháp trở thành đồng minh của Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống phát xít Ngày 22-8-1945, Tổng thống Sáclơ Đờ Gôn sang Mỹ và sau đó sang Anh vận động Chính phủ các nước này ủng hộ việc quay trở lại Đông Dương của Pháp Kết quả là, Tổng thống Mỹ Truman đã chính thức thừa nhận chủ quyền của nước Pháp tại Đông Dương Tháng 10-1945, đồng thời với việc rút các nhân viên cơ quan OSS của

Mỹ tại Việt Nam, Chính phủ Mỹ chỉ thị cho tướng Gallagher - đại diện của Mỹ tại Hà Nội, làm sao để cho quân Trung Hoa Dân quốc giúp đỡ quân Pháp lập

Trang 35

lại được một nhà nước tại Hà Nội Còn đế quốc Anh, với mục đích lôi kéo Pháp chống lại âm mưu của Mỹ muốn phi thực dân hoá các thuộc địa cũ, nên Chính phủ Anh đã tích cực ủng hộ thực dân Pháp quay lại và xác lập quyền lực

ở Đông Dương

Những nét cơ bản của tình hình thế giới trên đây đã tác động đến hầu hết các khu vực trên thế giới Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới nên đã chịu tác động lớn từ cuộc đối đầu gay gắt và phức tạp trên Khi phân tích tình hình, Đảng đã nhận định, phong trào cách mạng thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến cách mạng một nước Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải được hòa trong nhịp đập chung của phong trào cách mạng thế giới Cuộc kháng chiến của Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc kháng chiến chính nghĩa để bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình không chỉ cho Việt Nam

mà còn cho cả thế giới, vì thế, các nước cần phải ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam Xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp không chỉ vi phạm thô bạo chủ quyền dân tộc Việt Nam, mà còn đối lập với các trào lưu dân chủ, hoà bình thế giới Chống lại dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp cũng đồng thời chống lại nhân dân yêu chuộng hoà bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới Chính vì lẽ đó, cuộc chiến đấu của Việt Nam, của các dân tộc Đông Dương không bị lẻ loi, trái lại

nó có sự hậu thuẫn rộng lớn của phe dân chủ chống đế quốc trên thế giới quan tâm, giúp đỡ

2.1.3 Sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế với cách mạng Việt Nam trước năm 1945

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam bước đầu đã có được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế Vào những năm 1930-1931, 1936-1939, khi phong trào cách mạng ở Việt Nam bùng nổ mạnh mẽ, giai cấp công nhân Pháp và các nước thuộc địa Pháp cũng phối hợp đấu tranh đòi thả tù chính trị, đòi độc lập cho Việt Nam

Với tư cách là một phân bộ, chi bộ trực thuộc Quốc tế Cộng sản, cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 36

Cộng sản Đông Dương luôn nhận được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản Một số Đảng Cộng sản như: Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn đồng hành cùng cách mạng Việt Nam Trung Quốc là nơi Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) hoạt động những năm 1924-1927, 1938-1940, mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ cách mạng, sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, là nơi diễn ra Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-

1930, Đại hội lần thứ I của Đảng năm 1935, nơi đứng chân của Ban Chỉ huy

ở ngoài của Đảng (thành lập tháng 3-1934), là nơi gây dựng các cơ sở cách mạng của Việt Nam,…

Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra, với mong muốn đứng về phía các lực lượng Đồng minh chống phát xít và tìm kiếm sự ủng hộ của các nước Đồng minh đối với Việt Nam, tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Việt Nam sang Trung Quốc tìm cách liên hệ với đại diện Mỹ tại đây, nhưng không may trên đường

đi, Người bị chính quyền Trung Hoa Dân quốc (Chính quyền Tưởng Giới Thạch) bắt giam 14 tháng, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943

Nhận được tin Hồ Chí Minh bị bắt, nhân danh các đoàn thể cứu quốc, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết một loạt kiến nghị bằng tiếng Hán và tiếng Pháp, gửi tới chính quyền Tưởng Giới Thạch, các cơ quan quốc tế

ở Trùng Khánh như Sứ quán Mỹ, Đoàn cố vấn Liên Xô, các cơ quan thông tấn báo chí phát động chiến dịch đòi thả Hồ Chí Minh, đại biểu của phong trào cách mạng Việt Nam Thiếu tá A.Patti, Trưởng phòng Đông Dương thuộc Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) cho rằng, Sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh đã chuyển về Washington các bản kiến nghị trên

Tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được thả tự do Ra khỏi tù, Người tiếp tục liên lạc với lực lượng Đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ của họ Lúc này,

ở Đông Dương, đã có các thành viên của lực lượng OSS (tiền thân của CIA) Hoa Kỳ để chuẩn bị cho kế hoạch phản công lại Nhật sau trận Trân Châu Cảng tháng 12-1941 Các thành viên phái bộ của OSS đến Đông Dương đã có một số

Trang 37

cuộc gặp gỡ với Việt Minh Hồ Chí Minh đã gặp gỡ Thiếu tá Patti của OSS và thống nhất các kế hoạch đánh Nhật Theo thỏa thuận giữa OSS và Việt Minh, Hoa Kỳ hỗ trợ vũ khí, các khí tài và huấn luyện quân sự cho Việt Minh, đổi lại, Việt Minh sẽ giúp đỡ, bảo vệ các phi công Mỹ hoặc quân nhân Mỹ thoát khỏi

sự kiểm soát, truy bắt của quân đội Nhật

Cuối năm 1944, một chiếc máy bay của lực lượng không quân Mỹ đóng tại Trung Quốc bị rơi trên địa phận Việt Nam Viên phi công tên Shaw đã được đưa tới gặp Hồ Chí Minh Shaw đã được đối xử tử tế, được Hồ Chí Minh trực tiếp đưa về với đơn vị tại Trung Quốc an toàn Tháng 3-1945, Hồ Chí Minh đã gặp tướng Mỹ, Claire Chennault Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh

đã cứu thoát viên phi công và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể Về phần mình,

Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng minh chống phát xít Tướng Chennault đã trao cho Người thuốc chữa bệnh và tiền để tặng những người Việt Nam đã cứu sống Shaw Người chỉ nhận thuốc men, không nhận tiền Hành động, cử chỉ của Hồ Chí Minh khiến phía

Mỹ đánh giá cao nhân cách cao thượng của người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh [42] Trước yêu cầu của Việt Minh cần Mỹ cung cấp phương tiện chiến đấu: cố vấn, vũ khí, phương tiện thông tin liên lạc… các nhân viên OSS đã giúp chuyển thư đề nghị của Người đến các nhà lãnh đạo Đồng minh

Tháng 6-1945, khi OSS đề nghị Việt Minh bố trí cho một sân bay dã chiến để máy bay cỡ nhỏ có thể lên xuống, Người đã giao nhiệm vụ này cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và sân bay đã được chuẩn bị tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Đội công tác “Con nai” của Cục tình báo chiến lược Hoa Kỳ do Thiếu tá Thomas chỉ huy, đã nhảy dù xuống làng Kim Long, chiến khu Tân Trào cùng một số vũ khí, khí tài thông tin liên lạc, thuốc men, Sau đó, một số chuyến bay tiếp tục chở vũ khí, đạn dược đến cho Việt Minh Cũng trong thời gian này, OSS đã hỗ trợ, tổ chức huấn luyện cho trên 2000 cán bộ, chiến sỹ của Việt Nam Giải phóng quân [42]

Trang 38

Tuy không nhiều, nhưng trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, Việt Nam Giải phóng quân lại vừa mới được thành lập, chưa được trang bị và huấn luyện đầy đủ, thì sự giúp đỡ trên rất thiết thực, có ý nghĩa quan trọng, góp phần đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám

Từ kinh nghiệm và sự giúp đỡ của quốc tế trước năm 1945, trong hoàn cảnh của Việt Nam lúc này, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế là vấn đề cấp thiết để kiến quốc, xây dựng nguồn lực chống lại thực dân Pháp, một kẻ thù mạnh hơn nhiều lần về tài chính và phương tiện chiến tranh Chưa bao giờ, cách mạng Việt Nam ở trong điều kiện khó khăn như vậy Sức mạnh của sự ủng hộ về tinh thần và vật chất của quốc tế sẽ tiếp thêm động lực để Việt Nam vững vàng bước vào cuộc kháng chiến

2.1.4 Chủ trương của Đảng

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới, những khó khăn và thuận lợi của cách mạng Việt Nam, dự đoán đúng xu thế phát triển của thời đại cũng như tầm quan trọng của việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt dùng hoạt động đối ngoại, công tác ngoại giao như là một vũ khí lợi hại nhằm tấn công, kiềm chế, phân hoá thế lực thù địch, cô lập kẻ thù, kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ

từ bạn bè bên ngoài để phá vòng vây hãm

Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài lúc này nhằm mục đích tạo hoàn cảnh quốc tế, dư luận quốc tế thuận lợi để bồi dưỡng thực lực của ta và cô lập kẻ thù ngay trên hậu phương của chúng cũng như trước quốc tế; giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước; mở rộng quan hệ ngoại giao, nâng cao vị thế của Việt Nam với quốc tế Mọi chủ trương, chính sách cũng như các hoạt động lúc này đều nhằm vào mục tiêu cơ bản, quan trọng hàng đầu, đó là độc lập dân tộc, đây là điều “bất biến”

Đối với quân Tưởng ở Miền Bắc, Đảng chủ trương: hòa hoãn tránh xung đột, giao thiệp thân thiện, nhân nhượng cho chúng một số quyền lợi về kinh tế

và chính trị như nhận cung cấp lương thực thực phẩm, nhận tiêu tiền mất giá

Trang 39

của chúng, nhường cho tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế

trong chính phủ không qua bầu cử Sự sáng tạo này đã làm thất bại âm mưu của

Tưởng, đồng thời vô hiệu hóa các hoạt động chống phá của bọn tay sai của Tưởng, ta có điều kiện tập trung lực lượng chống Pháp ở miền Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng dành sự quan tâm đặc biệt đến việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Đường lối đó được thể hiện rất rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ngay trước và sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập

như: Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng (họp từ ngày 14 đến ngày 1945); Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945); Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hoà Việt Nam (3-10-1945); Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về kháng chiến, kiến quốc (25-11-1945); Tuyên ngôn của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-3-1946)

15-8-Trong các văn kiện trên, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là độc lập dân tộc, hoà bình và hữu nghị với nhân dân thế giới, nhằm đưa nước nhà đến độc lập hoàn toàn, và góp phần cùng các nước Đồng minh chống phát xít, trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ được các nước thừa nhận, nhằm xây đắp lại nền hoà bình thế giới.Về phương châm chỉ đạo hoạt động đối ngoại, Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải triệt để khai thác mâu thuẫn giữa các tập đoàn đế quốc, tránh khả năng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc; phải tranh thủ

sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới; phải kết hợp hoạt động đối ngoại với xây dựng và củng cố lực lượng

Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày

15-8-1945 tại Tân Trào, Tuyên Quang, khẳng định:

2 Hiện nay, về chính sách ngoại giao Việt Nam chúng ta cần phải nhận định cho rõ hai điều này:

a) Sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh, Pháp và Mỹ, Tàu về vấn đề Đông Dương là một điều ta cần lợi dụng

Trang 40

b) Sự mâu thuẫn giữa Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh

- Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương

3 Chính sách chúng ta phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước

ta và đặt Chính phủ của Pháp Đờ Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc

Bởi vậy, cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục địa vị cũ ở Đông Dương và mưu

mô của một số quân phiệt Tàu định chiếm nước ta

4 Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh

5 Đối với các nước nhược tiểu và dân chúng Tàu và Pháp, chúng ta phải liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của họ [51, tr.427]

Trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2-9-1945, sau khi tuyên bố sự ra đời

của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không nhận quyền độc lập của dân Việt Nam [124, tr.3]

Phương châm hoạt động nói trên được khẳng định rõ hơn trong Chỉ thị

Kháng chiến, kiến quốc (25-11-1945):

Về ngoại giao, kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ Phải đặc biệt chú ý những điều này: Một là, thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết

và nhiều bạn đồng minh hơn hết; hai là, muốn ngoại giao được thắng lợi phải biểu dương thực lực [52, tr.27]

Trong các văn bản như Chỉ thị “Tình hình và chủ trương” ngày

03-3-1946, Chỉ thị “Hòa để tiến” ngày 09-3-03-3-1946, Nghị quyết Hội nghị quân sự

toàn quốc của Đảng ngày 19-10-1946, Đảng tiếp tục khẳng định phương châm trên, nhấn mạnh việc liên lạc ngay với Đảng Cộng sản Pháp để phối hợp hành

Ngày đăng: 10/01/2020, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm