Tâm trạng: của nhân vật trữ tình được thể hiện rõ qua câu thơ: Trơ cái hồng nhan với nước non - Với nghệ thuật đảo ngữ, từ “trơ” đặt đầu câu đã nhấn mạnh nỗi đau, sự trơ trọi, tủi hổ
Trang 1II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Bức tranh hiện thực trong phủ chúa:
1.1 Quang cảnh:
- Phải đi qua nhiều lần cửa, ở mỗi của đều có vệ sĩ canh gác, ai muốn ra vào phải có thẻ
- Vườn hoa: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, …
- Khuôn viên: có điếm Hậu mã quân túc trực…
- Nội phủ: Đại đường, Quyển bồng, Gác tía,…sơn son thếp vàng
Xa hoa, tráng lệ
1.2 Nghi thức sinh hoạt:
- Cách nói: lời lẽ, hành động phải cung kính, lễ phép
- Cách tiếp đón: vào phủ phải có thánh chỉ -> nghiêm ngặt
- Người hầu: đông đảo, luôn có phi tần chầu chực. không khí ngột ngạt, trang nghiêm
Cảnh sống xa hoa nhƣng ngột ngạt thiếu sinh khí uy quyền tột đỉnh của chúa Trịnh
2 Thái độ của tác giả:
- Ngạc nhiên
- Khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa
- Thái độ thờ ơ, dửng dưng trước những quyến rũ vật chất nơi đây
- Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi, nhưng thiếu khí trời và không khí
tự do
Trang 2TỰ TÌNH II
- Hồ Xuân Hương –
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả: HXH là một “thiên tài kì nữ” nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh, bà được
mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”
2 Tác phẩm: Bài thơ Tự tình được sáng tác theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật,
là một trong những bài thơ nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương Bài thơ là sự dồn nén từ nỗi cô đơn đến tủi nhục của nữ sĩ trong đêm khuya
thanh vắng
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Hai câu thơ đề: đã cho thấy tình cảnh cô đơn và nỗi niềm buồn tủi của nhân vật trữ tình:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non
+ Với nghệ thuật lấy động tả tĩnh, nhịp trống canh vẳng lại càng khắc sâu thêm sự tĩnh mịch của thời gian, không gian, khắc sâu thêm sự trống trải trong lòng nữ sĩ
Tâm trạng: của nhân vật trữ tình được thể hiện rõ qua câu thơ:
Trơ cái hồng nhan với nước non
- Với nghệ thuật đảo ngữ, từ “trơ” đặt đầu câu đã nhấn mạnh nỗi đau, sự trơ trọi, tủi hổ,
bẽ bàng của nhân vật trữ tình
Trang 3- Cụm từ “hồng nhan” dùng để chỉ nhan sắc của người phụ nữ Thế nhưng HXH lại sử
dụng từ “cái” trong cụm từ “cái hồng nhan” một cách gọi rất “đồ vật hóa” để chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ thì thật là rẻ rúng, mỉa mai và chì chiết
- Với bản lĩnh của mình, HXH đã đặt “cái hồng nhan” đối sánh với “nước non”:
+ “Nước non” kia có thể hiểu chính là vũ trụ, là cuộc đời và sự đối sánh đó đã thể hiện nỗi cô đơn của con người đang hiu quạnh, bấp bênh giữa cuộc đời và cũng thật trơ trọi,
2 Hai câu thơ thực: Từ nỗi cô đơn, thao thức không biết bày tỏ, tâm sự cùng ai ở
hai câu thơ đề, sang hai câu thơ thực, nhân vật trữ tình tỏ ra chán chường và đã cố tìm quên trong men rượu Nhà thơ muốn chìm ngập trong cơn say để quên đi thực tại xót xa,
tủi nhục nhưng thật trớ trêu:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
- Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, bế tắc của số phận , muốn mượn ruợu giải sầu nhưng sầu không vơi mà càng sầu thêm, duyên tình đã trở thành trò đùa
của tạo hóa Từ lại có nghĩa là lặp lại, quay lại.Bởi lẽ sau mỗi lần tỉnh rượu, lại càng
thêm thấm thía nỗi đau thân phận
- Tình cảnh của HXH còn được thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ “vầng trăng”: Trăng sắp tàn (“bóng xế”) mà vẫn “khuyết chưa tròn” Tuổi xuân đã trôi qua mà duyên tình vẫn không trọn vẹn
Hai câu thơ đã góp phần thấy rõ nỗi xót xa, ê chề, cay đắng cho duyên tình lỡ làng của nhân vật trữ tình
3 Hai câu luận: Sang hai câu thơ luận là niềm phẫn uất, phản kháng trước cuộc đời
đồng thời cho thấy sự mạnh mẽ, sức sống mãnh liệt của HXH:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm tọc chân mây đá mấy hòn
Trang 4- Biện pháp đảo ngữ trong hai câu luận đã làm nổi bật sự phẫn uất của đất đá, cây cỏ và cũng là sự phẫn uất của nhân vật trữ tình
- Bên cạnh đó, những động từ mạnh như “xiên”, “đâm” được kết hợp với các bổ ngữ
“ngang”, “toạc” độc đáo đã thể hiện sự vươn lên, bứt phá mãnh liệt Rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây như đang oán hờn trời đất, đó không chỉ là phẫn uất mà còn
là phản kháng trước cuộc đời
- Những hình ảnh “rêu”, “đá” là những sự vật nhỏ bé, yếu ớt nhưng qua cái nhìn đầy tâm trạng của nhân vật trữ tình thì chúng trở nên mạnh mẽ, tràn đầy sức sống, bứt phá vươn lên đập tan mọi rào cản.Đó cũng chính là bản lĩnh, tâm hồn đầy sức sống, cõi lòng nhiều khát khao của HXH
Hai câu thơ thể hiện sức sống mãnh liệt của sự vật mà cũng chính là cái bản lĩnh rắn rỏi, sức phản kháng mạnh mẽ của nữ sĩ dù trong hoàn cảnh bi đát, đau khổ 4.Hai câu kết: Bài thơ kết lại bằng tâm trạng chán chường, tủi hổ, qua đó bộc lộ khát vọng mãnh liệt về hạnh phúc lứa đôi:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con
- Tâm trạng của Hồ Xuân Hương được thể hiện qua từ “ngán” đã cho thấy sự ngán ngẫm, chán chường trước nỗi đời éo le, bạc bẽo
- Cụm từ” xuân đi xuân lại lại” :
+ Mùa xuân của tự nhiên cứ tuần hoàn, đi rồi lại quay trở lại theo quy luật của tạo hóa + Trong khi đó tuổi xuân của con người đi qua sẽ không bao giờ trở lại
- Nghệ thuật tăng tiến theo chiều hướng giảm dần ở câu thơ cuối: mảnh tình – san sẻ –
tí – con con càng khắc họa rõ hơn sự nhỏ bé của thân phận, tăng dần nghịch cảnh đầy éo
le và khát vọng hạnh phúc lứa đôi
Qua hai câu thơ kết đã thể hiện bi kịch duyên phận: vừa buồn tủi, vừa cháy bỏng khát khao được sống hạnh phúc của nhân vật trữ tình Khát khao ấy cũng chính là khát khao của biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ
Trang 5CÂU CÁ MÙA THU
là Tam Nguyên Yên Đổ
- Nguyễn Khuyến là một con người tài năng, cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân, bày tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền thực dân Pháp
2 Tác phẩm:
- Xuất xứ: Bài thơ Câu cá mùa thu nằm trong chùm ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến
- Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật
- Hoàn cảnh sáng tác: sau khi NK cáo quan về quê ở ẩn
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Cảnh thu
* Điểm nhìn của tác giả:
- Tác giả ngồi trên thuyền phóng tầm mắt từ thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời (tầng mây) , tới ngõ trúc rồi trở lại với ao thu, với thuyền câu Cảnh thu được đón nhận từ gần đến xa rồi lên cao xa trở lại gần
- Từ một không gian hẹp, không gian thu, cảnh sắc thu được gợi ra từ nhiều hướng
Điểm nhìn khép kín, phù hợp với tâm trạng của tác giả
* Bức tranh thu:
- Hình ảnh: Mở đầu bài thơ là những hình ảnh: ao, thuyền câu, ngõ trúc, bèo đây là những hình ảnh bình dị, gần gũi và vô cùng quen thuộc ở làng quê Việt Nam
Trang 6- Khí thu: Với cụm từ “lạnh lẽo” đủ cảm nhận không khí se lạnh đặc trưng của tiết trời mùa thu
- Sắc thu: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt, và xen vào đó là chiếc lá vàng.(gam màu chủ đạo là màu xanh, chấm phá thêm chút màu vàng)
Sắc xanh của bầu trời hoà lẫn cùng sắc xanh của nước, của cảnh vật tạo nên một không gian xanh trong, dịu nhẹ, chấm phá một chút sắc vàng của lá rụng trên cái nền xanh ấy khiến cảnh thu, hồn thu càng thêm phần sống động
- Đường nét, chuyển động: sóng - hơi gợn tí, lá - khẽ đưa vèo, tầng mây - lơ lửng, cá –đớp động dưới chân bèo Nghệ thuật lấy động tả tĩnh Cảnh vật chuyển động đều khẽ, nhẹ không đủ tạo ra âm thanh, chỉ có tiếng cá đớp động càng làm tăng thêm sự yên
ả, tĩnh lặng, thanh sơ, dịu nhẹ và đượm buồn
Cảnh thu mang nét riêng của làng quê Bắc Bộ, rất dân dã, giản dị, là cảnh “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”
Trang 7THƯƠNG VỢ
- Trần Tế Xương-
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả: Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương, là nhà thơ hiện thực trào phúng
xuất sắc của nền văn học Việt Nam
2 Tác phẩm: “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay nhất và cảm động nhất của
ông viết về bà Tú Qua bài thơ, Trần Tế Xương bày tỏ sự tri ân, lòng trân trọng cũng như
tình yêu thương của ông dành cho sự vất vả, hi sinh của bà Tú
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1.Hình ảnh bà Tú qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú: (6 câu thơ đầu)
1.1 Hai câu đề: Kể về công việc làm ăn và gánh nặng mà bà Tú phải đảm đương:
* Câu thơ đầu tiên đã nói đến hoàn cảnh làm ăn của bà Tú:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
- Thời gian: “Quanh năm” là suốt cả năm, không trừ ngày nào, khép kín về thời gian , từ ngày này sang ngày khác , tháng này qua tháng khác và năm nào cũng vậy , bất kể mưa nắng Cụm từ “quanh năm” đã cho ta thấy được nỗi vất vả, khó nhọc của bà Tú
- Công việc: Trong khoảng thời gian không ngơi nghỉ đó , bà Tú phải miệt mài với công việc “buôn bán” Đó là công việc rất cực nhọc, vất vả, lời lãi chẳng được bao nhiêu nhưng phải bon chen ở chốn đầu sông cuối bãi
- Địa điểm làm việc: Hai từ “mom sông” cụ thể hóa không gian làm việc của bà Tú , đó
là là phần đất nhô ra phía lòng sông , ba bề là nước đã cho thấy sự chênh vênh, chật hẹp
và đầy nguy hiểm
* Câu thơ thứ hai đã nói đến gánh nặng mà bà Tú phải đảm đang vì chồng vì con:
Nuôi đủ năm con với một chồng
- Nguy hiểm, khó nhọc là thế nhưng bà vẫn đảm đang, chịu thương, chịu khó để “nuôi
đủ” được một gia đình “năm con với một chồng”:
+ Cụm từ “nuôi đủ” có thể hiểu là nuôi vừa đủ, không thừa cũng không thiếu Đã cho thấy sự đảm đang, tháo vát, đồng thời khẳng định vai trò trụ cột của bà Tú
+ Nghệ thuật tiểu đối: năm con với một chồng:
Trang 8 Chồng đặt ngang hàng với con, gánh nặng đức ông chồng bằng cả năm đứa con
Từ “với” như đôi quang gánh đè nặng lên đôi vai của bà Tú
Cách nói dí dỏm nhưng đầy chua xót của Tú Xương ẩn sau tấm lòng tri ân, sự thấu hiểu của ông đối với sự vất vả, nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của bà Tú
1.2 Hai câu thực: đã đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông."
- Từ láy kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ: “lặn lội”, “eo sèo” đứng trước danh từ chủ thể ,
một lần nữa đã tô đậm nỗi vất vả, bươn chải ngược xuôi của bà Tú
- Nghệ thuật ẩn dụ “thân cò”: Tú Xương mượn hình ảnh “thân cò” - một hình ảnh quen
thuộc trong thơ ca Thông qua hình ảnh ẩn dụ đã gợi lên một bà Tú nhỏ bé, lam lũ, vất
vả, đáng thương, tội nghiệp
- Nghệ thuật đối: “khi quãng vắng” >< “buổi đò đông”
+ Bà Tú phải “lặn lội” bươn chải ngựơc xuôi “khi quãng vắng” – gợi lên một không gian heo hút, rợn ngơp, đầy bất chấp nguy hiểm
+ Không những vậy, bà còn phải “eo sèo”, kì kèo ở “buổi đò đông” bon chen, giành giật, nhốn nháo, phức tạp
Bằng việc vận dụng sáng tạo ca dao, nghệ thuật đối đã làm nổi bật sự vất vả, gian truân của bà Tú Đổng thời, thể hiện lòng thương vợ sâu sắc của ông Tú qua những công việc mà bà Tú phải làm hàng ngày
1.3 Hai câu luận: đã cho thấy bà Tú là người giàu đức hi sinh
Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công”
- “duyên” là hạnh phúc , còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề Bà Tú lấy ông Tú
duyên thì ít nợ thì nhiều.Thế nhưng bà không hề than phiền, ngược lại bà còn lặng lẽ chấp nhận, hi sinh tất cả vì chồng vì con
- Cách sử dụng số từ theo cấp số nhân “một” – “hai” – “năm” – “mười” đã cho thấy sự
vất vả, gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó của bà Tú
- Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười
mưa” nhằm nhấn mạnh nỗi cơ cực, nhọc nhằn của bà Tú
-
Trang 9 Hình ảnh bà Tú – chân dung điển hình của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, yêu thương chồng con.Qua đó, đồng thời thấy được tấm lòng yêu thương, cảm phục và sự tri ân sâu sắc của ông Tú dành cho
bà Tú
2 Tình cảm của ông Tú
- Thói đời: cái thói xấu của người đời, quan niệm khắt khe của xã hội
- “ăn ở bạc”: cách cư xử của cá nhân con người
- Có chồng hờ hững…: tự xỉ vả mình, tự trách sự vô dụng của bản thân
Tác giả thay lời bà Tú chửi thói đời đen bạc và cả sự vô tích sự của mình Qua đó thể hiện nhân cách cao đẹp, sự ăn năn rất chân thành
Trang 10- Ơng là người tài năng, nhiệt huyết ở nhiều lĩnh vực, là người yêu nước thương dân
- Ơng sáng tác chủ yếu bằng chữ Nơm, cĩ cơng lớn trong việc hồn thiện thể hát nĩi
2 Tác phẩm
- Hồn cảnh: sau khi tác giả nghỉ hưu (1848)
- Thể loại: hát nĩi là (1 trong hơn 40 làn điệu của ca trù.)
- Nội dung: tổng kết, đánh giá về cuộc đời của ơng
- Ý nghĩa từ “ngất ngưởng”
-Nghĩa đen: chỉ tư thế ngả nghiêng, không vững chắc
-Nghĩa trong bài thơ: thể hiện bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống
II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1 Ngất ngưởng của Nguyễn Cơng Trứ khi làm quan (6 câu đầu)
- Mở đầu: Vũ trụ nội mạc phi phận sự: Khẳng định quan niệm, ý thức về vai trị, bổn phận của kẻ sĩ
- Ơng Hi Văn: thái độ tự trào, tự tơn độc đáo
- Vào lồng: mất tự do nhưng là phương diện để ơng thể hiện tài năng và hồi bão → Ý thức cống hiến cao đẹp
- Điệp từ khi + Thủ pháp liệt kê:
+ Thủ khoa: học vị
+ Tham tán, phủ dỗn, tổng đốc: chức tước
+ Bình tây, đại tướng: chiến tích
Trang 11→ Tài năng lỗi lạc, văn võ song toàn Ngất ngưởng là lời tự khẳng định, sự đánh giá cao tài năng, nhân cách và phong cách tài tử, phóng túng
2.Ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi về hưu ( 10 câu tiếp theo)
- Giải tổ chi niên: cáo lão về hưu, quyết định rất dứt khoát và dũng cảm
- Thái độ: thay lọng, ngựa bằng bò → Ngạo nghễ, trêu ngươi, coi thường dư luận, đạt đến
độ cao của phẩm cách và tài trí
- Sự chuyển đổi cuộc đời: kiếm cung → từ bi
- Sự chuyển đổi tâm trạng: thanh thản, nhẹ nhỏm → ngậm ngùi
- Lối sống:
+ lên chùa cùng đào hát→ khác người, khác đời
+ Hưởng lạc: cầm, kì, thi, tửu
+ Được - mất: dương dương +Khen chê: phơi phới → Lẽ thường tình ở đời
+ Không vướng tục
Cuộc sống tự do tự tại, phóng khoáng vƣợt lên mọi thói tục của một bản lĩnh vững vàng, một nhân cách cứng cỏi
3 Đánh giá tổng kết về cuộc đời (3 câu cuối)
- Chẳng Trái, Nhạc cũng là phường Hàn, Phú: đặt mình ngang hàng với các bậc công thần, danh tướng→ tự hào về sự đóng góp cho đất nước
- Nghĩa vua tôi- vẹn đạo sơ chung: khẳng định tấm lòng trung quân ái quốc
Tự hào, sảng khoái, tự tin thể hiện cái tôi cá nhân tài năng, bản lĩnh có lối sống độc đáo
Trang 12BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT
( Sa hành đoản ca)
- Cao Bá Quát - I.TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
- Cao Bá Quát ( 1809 - 1855 ) Quê: làng Phú Thị, Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội )
- Là người có tài, nổi tiếng văn hay chữ tốt và có uy tín lớn trong giới trí thức đương thời
- Là người có khí phách hiên ngang, có tư tưởng tự do, ôm ấp hoài bão lớn, mong muốn sống có ích cho đời
2 Bài thơ
- Hoàn cảnh sáng tác: Cao Bá Quát đi thi Hội Trên đường vào kinh đô Huế, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng( Quảng Bình, Quảng Trị) (hình ảnh bãi cát dài, sóng biển, núi là những hình ảnh có thực gợi cảm hứngcho nhà thơ sáng tác bài thơ này)
- Thể thơ: thể ca hành( thơ cổ Trung Quốc được tiếp thu vào Việt Nam )
II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1 Hình ảnh "bãi cát và con người đi trên bãi cát:
- “Bãi cát dài lại bãi cát dài” : mênh mông dường như mênh mông bất tận
→ Hình ảnh tả thực: đẹp nhưng dữ dội, khắc nghiệt đã gợi ý cho nhà thơ sáng tác bài thơ này → Hình ảnh biểu tượng: con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi
- Hình ảnh người đi trên bãi cát:
+ Đi một bước như luì một bước: nỗi vất vả khó nhọc
+ Không gian đường xa, bị bao vây bởi núi sông, biển
+ Thời gian: mặt trời lặn vẫn còn đi
+ Nước mắt rơi → khó nhọc, gian truân
Sự tất tả, bươn chải dấn thân để mưu cầu công danh, sự nghiệp
2 Tâm trạng và suy nghĩ của lữ khách khi đi trên bãi cát:
- “Không học được….giận khôn vơi” Nhịp điệu đều, chậm, buồn: tác giả tự giận mình không có khả năng như người xưa, mà phải tự hành hạ mình, chán nản mệt mỏi vì công danh- lợi danh
Trang 13- “Xưa nay phường….bao người” : Câu hỏi tu từ, hình ảnh gợi tả → Sự cám dỗ của danh lợi đối với con người Vì công danh, lợi danh mà con người bôn tẩu ngược xuôi.Danh lợi cũng là thứ rượu thơm làm say lòng người
Sự chán ghét, khinh bỉ của Cao Bá Quát đối với phường danh lợi Ông đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, côn đường công danh đương thời vô nghĩa, tầm thường
- “ Bãi cát dài…ơi…” Câu hỏi tu từ cũng là câu cảm thán thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại?
- Khúc đường cùng : ý nghĩa biểu tượng → nỗi tuyệt vọng của tác giả Ông bất lực vì không thể đi tiếp mà cũng không biết phải làm gì Ấp ủ khát vọng cao cả nhưng ông không tìm được con đường để thực hiện khát vọng đó Hay đó là niềm khao khát thay đổi cuộc sống - Hình ảnh thiên nhiên: phía bắc, phía nam đều đẹp nhưng đều khó khăn, hiểm trở
- “Anh đứng làm chi trên bãi cát? ” câu hỏi mệnh lệnh cho bản thân → phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa Nhịp điệu thơ lúc nhanh, lúc chậm lúc dàn trả, lúc dứt khoát→ thể hiện tâm trạng suy tư của con đường danh lợi mà nhà thơ đang đi
Hình tượng kẻ sĩ cô độc, lẻ loi đầy trăn trở nhưng kì vĩ, vừa quả quyết vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí đầy chông gai
Trang 14VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Hoàn cảnh ra đời
2 Thể loại Văn tế
3 Bố cục của văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:
II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1 Phần lung khởi (câu 1-2): Khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và ý nghĩa cái chết
bất tử của người nông dân - nghĩa sĩ
* Mở đầu “Hỡi ôi!” : tiếng than thể hiện tình cảm thương xót với người đã khuất Tiếng
than lay động lòng người, nỗi xót xa, đau đớn trong lòng tác giả
+ Hình ảnh không gian to lớn “đất”, “trời” ; động từ “rền”, “tỏ” gợi sự khuếch tán âm
thanh, sự phô trương của ánh sáng
Khái quát tình thế căng thẳng, bão táp của thời đại: Sự đụng độ giữa thế lực xâm lược hung bạo có vũ khí tối tân với ý chí chiến đấu của nhân dân ta
- Câu 2
><
(người nông dân) (người nghĩa sĩ – bất tử)
Nghệ thuật đối lập, từ ngữ mộc mạc cho thấy sức vùng dậy đấu tranh mau lẹ của người
dân yêu nước, những người bình thường làm việc phi thường Tinh thần quật khởi, sự hi sinh anh dũng của người nông dân
một trận nghĩa đánh Tây Mười năm công vỡ ruộng
Trang 152 Phần thích thực (câu 3 – câu 15): Hình tượng người nông dân - nghĩa sĩ
2.1 Trước khi thực dân Pháp xâm lược:
- Nghĩa sĩ Cần Giuộc là những người nông dân suốt đời cần mẫn, lam lũ, “cui cút” làm ăn vất vả quanh năm Họ chỉ biết, chỉ quen với công việc nhà nông, đồng ruộng, thế giới họ biết là không gian làng xã: “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ” , “việc cuốc, việc cày, biệc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” , “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”
- Họ sống theo phong tục, thói quen và hoàn toàn xa lạ với binh đao, trận mạc: “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung” , “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”
Bằng thủ pháp tương phản, liệt kê, điệp từ kết hợp với từ ngữ mộc mạc , Nguyễn Đình Chiểu đã giới thiệu một cách cụ thể về nguồn gốc xuất thân của người nghĩa sĩ: Họ xuất thân
từ tầng lớp nông dân lao động nghèo khổ, cần mẫn, chất phác, hiền lành, chỉ quen công việc đồng áng, cuốc cày xa lạ với binh đao trận mạc
2.2 Khi thực dân Pháp xâm lược:
a Thái độ, tình cảm: Khi thực dân Pháp xâm lược bờ cõi, đất đai của cha ông, họ đã có
những chuyển biến lớn về thái độ, tình cảm:
- Đầu tiên, đối với triều đình nhà Nguyễn, họ hồi hợp, lo lắng, trông ngóng, chờ đợi “trông tin quan như trời hạn trông mưa” họ trông chờ vào thái độ và hành động đánh giặc cứu dân, cứu nước của triều đình nhà Nguyễn nhưng hoàn toàn vô vọng
- Sau đó, là sự căm ghét tận xương tủy đến nỗi “muốn tới ăn gan” , “muốn ra cắn cổ”, “ghét thói mọi ngư nhà nông ghét cỏ” , bằng nghệ thuật so sánh, nghệ thuật đối kết hợp với động
từ mạnh cho thấy lòng căm thù giặc đến tột cùng
b Nhận thức, ý chí:
- Họ đã nhận thức đúng đắn về sự thống nhất , toàn vẹn lãnh thổ, đất nước ta là một quốc gia độc lập “một mối sa thư đồ sộ”, “hai vầng nhật nguyệt chói lòa”, tác giả đã sử dụng từ Hán Việt thể hiện sự trân trọng, tôn vinh, ngưỡng vọng đối vối đất nước linh thiêng
- Tác giả cũng đã vạch trần tội ác của kẻ thù, lũ bán nước cầu vinh “há để ai chém rắn đuổi hươu”, “đâu dung lũ treo dê bán chó” ,đồng thời thể hiện rõ trách nhiệm bản thân, ý chí quyết tâm đánh giặc
Trang 16- Và từ đó,với lòng căm thù giặc cao độ cùng nhận thức sâu sắc đã nảy sinh khát vọng đánh giặc cứu nước “ mến nghĩa làm quân chiêu mộ” với hành động hoàn toàn tự nguyện: “Nào đợi ai…” , “ra sức đoạn kình ” , “chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi”, “dốc ra tay” , “không chờ…”… Tác giả đã sử dụng một loạt câu khẳng định mang hình thức phủ định đã nhấn mạnh tinh thần tự nguyện, đầy quyết tâm của những người nông dân – nghĩa sĩ
Với nghệ thuật so sánh, cách sử dụng động từ mạnh, kết hợp với những những cụm
từ giàu sắc thái biểu cảm để khẳng định ý thức độc lập dân tộc và tinh thần trách nhiệm của nông dân đối với Tổ quốc
c Trang bị vũ khí:
- Họ đánh giặc bằng những vật dụng thô sơ, sẵn có trong sinh hoạt và lao động hàng ngày.Với “manh áo vải” mà họ vẫn mặc, với “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi” thường ngày mang ra đồng, với lưỡi dao phay” thường ngày họ vẫn dùng để chặt cây, đốn củi,
- Họ bước vào cuộc chiến với tất cả cuộc đời nghèo khó của mình, qua đó càng thấy được tinh thần hăng hái chống giặc bất chấp khó khăn, thiếu thốn Nhưng với tấm lòng mến nghĩa cao cả đã khiến họ làm được những việc “kinh thiên động địa”
d Khí thế chiến đấu:
- Tuy vũ khí chiến đấu là những vật dụng thô sơ trong khi kẻ thù được trang bị các phương tiện ciến tranh tối tân, hiện đại Thế nhưng, những người nông dân nghĩa sĩ đã chiến đấu với một tinh thần quật khởi, oanh liệt, đạp lên đầu kẻ thù mà xốc tới, mạnh mẽ như vũ bão
- Với giọng điệu câu văn nhanh mạnh, dồn dập, âm hưởng hào hùng, sử dụng hệ thống động
từ mạnh như: đánh, đốt, đạp, xô, xông,…cùng với hệ thống từ ngữ chỉ sự dứt khoát :đốt xong, chém rớt, đã thể hiện khí thế tưng bừng xung trận quyết liệt, đầy hào hùng của những
người con người yêu đất nước mà xả thân quên mình
e Kết quả:
- Với sức mạnh dữ dội, mãnh liệt của người nghĩa sĩ nông dân, họ đã giành chiến thắng: đốt
xong nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Pháp, làm chủ đồn giặc hai ngày
- Những người nông dân nghĩ sĩ dũng mãnh như những chiến binh thật sự, khí thế áp đảo làm cho kẻ thù phải kinh hồn khiếp sợ, chiến công của những họ là biểu tượng cho thành quả của thời kì “khổ nhục nhưng vĩ đại”
Trang 17 Bằng những chi tiết chân thật, bình dị, đậm chất Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một tượng đài nghệ thuật về vẻ đẹp hiên ngang, bất khuất, kiên cường xả thân
vì nghĩa lớn,… Có thể nói, lần đầu tiên trong nền văn học dân tộc, người nông dân - nghĩa sĩ chống ngoại xâm được xây dựng thành một tượng đài nghệ thuật bất tử
3 Phần ai vãn : Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ:
- Hình ảnh gia đình tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến
- Tiếng khóc giọt lệ xót thương đau đớn của tác giả, gia đình thân quyến người anh hùng, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước khóc thương những người ra đi, khóc thương cho thân phận những người nô lệ
Tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lịch sử
4 Phần kết : Ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ
- Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước
- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế
Khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ
Trang 18CHIẾU CẦU HIỀN I.TÌM HIỂU CHUNG