1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

File systems hệ thống thông tin trong linux

17 217 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 465 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lụcHệ thống tệp tin trên Linux1. Các thành phần của hệ thống tệp tin 2. Các tùy chọn trong File system 3. Tổ chức tệp tin trên Linux 4. Các thành phần trên tệp tin Linux 5. Kiểm tra dung lượng đĩa6. Quyền truy xuất File, thư mục

Trang 1

Mục lục

Hệ thống tệp tin trên Linux

1 Các thành phần của hệ thống tệp tin

2 Các tùy chọn trong File system

3 Tổ chức tệp tin trên Linux

4 Các thành phần trên tệp tin Linux

5 Kiểm tra dung lượng đĩa

6 Quyền truy xuất File, thư mục

TÀI LIỆU THAM KHẢO

HỆ ĐIỀU HÀNH UNIX – LINUX (2004)-NXB GIÁO DỤC

Trang 2

LINUX LPI-101 ISE ĐẠI HỌC HÀ NỘI

RUNNING LINUX (o’reilly)

GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ HỆ ĐIỀU HÀNH- ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN

THE LINUX DEVICE FILE- SYSTEM ( rechard gooch)

OPERATING SYSTEM CONCEPTS

THÀNH VIÊN VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

THÀNH VIÊN NHIỆM VỤ

Trang 3

Bàn Đức Thăng Tìm hiểu và nghiên cứu về: Tổ chức tệp tin trên

Linux và các thành phần trên tệp tin Linux

Phùng Văn Tin Tìm hiểu và nghiên cứu về: Kiểm tra dung lượng đĩa

và quyền truy xuất File, thư mục

Lê Đăng Quang Tìm hiểu và nghiên cứu về: Các thành phần của hệ

thống tệp tin và các tùy chọn trong File system

Trang 4

HỆ THỐNG TỆP TIN TRÊN LINUX

Tổng quan:

Mỗi hệ điều hành có cách tổ chức lưu trữ dữ liệu riêng Ở mức vật lý, đĩa được định dạng từ các thành phần sector, track, cylinder Ở mức logic, mỗi hệ thống sử dụng cấu trúc riêng, có thể dùng chỉ mục hay phân cấp để có thể xác định được dữ liệu từ mức logic tới mức vật lý Cách tổ chức như vậy gọi là hệ thống tập tin (file system)

Một hệ thống tập tin là thiết bị mà nó đã được định dạng để lưu trữ tập tin và thư mục

Hệ thống tập tin Linux bao gồm: đĩa mềm, CD-ROM, những partition của đĩa cứng

Những hệ thống tập tin thường được tạo trong quá trình cài đặt hệ điều hành Nhưng bạn cũng có thể thay đổi cấu trúc hệ thống tập tin khi thêm thiết bị hay chỉnh sửa những partition đã tồn tại Như vậy, việc biết và hiểu cấu trúc hệ thống tập tin trong Linux thật là quan trọng Linux có khả năng hỗ trợ nhiều loại file hệ thống nhất hiện nay với công nghệ được tích hợp vào bên trong bộ

kernel

1 Các thành phần của hệ thống tệp tin

+ Superblock

+ Inode

+ Storageblock

+ Loại tập tin

Super Block: là một cấu trúc được tạo tại vị trí bắt đầu hệ thống tập tin Nó lưu

trữ thông tin về hệ thống tập tin như: Thông tin về block-size, free block, thời gian gắn kết(mount) cuối cùng của tập tin

Trang 5

Inode (256 byte): Lưu những thông tin về những tập tin và thư mục được tạo ra

trong hệ thống tập tin Nhưng chúng không lưu tên tập tin và thư mục thực sự Mỗi tập tin tạo ra sẽ được phân bổ một inode lưu thông tin sau:

+ Loại tập tin và quyền hạn truy cập tập tin

+ Người sở hữu tập tin

+ Kích thước của tập tin và số hard link đến tập tin

+ Ngày và thời gian chỉnh sửa tập tin lần cuối cùng

+ Vị trí lưu nội dung tập tin trong hệ thống tập tin

Storageblock: Là vùng lưu dữ liệu thực sự của tập tin và thư mục Nó chia

thành những Data Block Dữ liệu lưu trữ vào đĩa trong các data block Mỗi block thường chứa 1024 byte Ngay khi tập tin chỉ có 1 ký tự thì cũng phải cấp phát 1 block để lưu nó Không có ký tự kết thúc tập tin

Loại tập tin

Trong linux, tập tin dùng cho việc lưu trữ dữ liệu Nó bao gồm cả thư mục và các thiết bị lưu trữ

Một tập tin dữ liệu, hay một thư mục đều được xem là tập tin Khái niệm tập tin còn mở rộng dùng cho các thiết bị như máy in, đĩa cứng, ngay cả bộ nhớ chính cũng được coi như là một tập tin,các tập tin trong linux được chia ra làm 3 loại chính:

+ Tập tin chứa dữ liệu bình thường

+ Thư mục

+ Tập tin thiết bị

Tập tin dữ liệu: Đây là tập tin theo định nghĩa truyền thống, nó là dữ liệu lưu trữ

Trang 6

trên các thiết bị lưu trữ như đĩa cứng, CD-ROM, … Bạn có thể đưa bất cứ dữ liệu nào vào tập tin này như đoạn source chương trình, tập tin văn bản hay tập tin thực thi dạng mã máy, các lệnh của Linux cũng như tất cả các tập tin được tạo ra bởi người dùng

Tập tin thư mục: Thư mục không chứa dữ liệu, mà chỉ chứa các thông tin của những tập tin và thư mục con trong nó Thư mục chứa hai trường của một tập tin

là tên tập tin và inode number

Tập tin thiết bị: Chứa các file device để đại diện các hardware, chứa đựng các thông tin tài nguyên hệ thống (vd: /dev; /proc)

Trang 7

2. Các tùy chọn File System:

Có khá nhiều dạng file hệ thống trong Linux, và mỗi loại sẽ được áp dụng với từng mục đích riêng biệt Điều này không có nghĩa rằng những file hệ thống này không thể được áp dụng trong trường hợp khác, mà tùy theo nhu cầu và mục đích của người sử dụng, chúng ta sẽ đưa ra phương án phù hợp

- Ext - Extended file system: là định dạng file hệ thống đầu tiên được thiết kế

dành riêng cho Linux Có tổng cộng 4 phiên bản và mỗi phiên bản lại có 1 tính năng nổi bật Phiên bản đầu tiên của Ext là phần nâng cấp từ file hệ thống Minix được sử dụng tại thời điểm đó, nhưng lại không đáp ứng được nhiều tính năng phổ biến ngày nay Và tại thời điểm này, chúng ta không nên sử dụng Ext vì có nhiều hạn chế, không còn được hỗ trợ trên nhiều distribution

- Ext2 - The Second Extended File System: thực chất không phải là file hệ

thống journaling, được phát triển để kế thừa các thuộc tính của file hệ thống cũ, đồng thời hỗ trợ dung lượng ổ cứng lên tới 2 TB Ext2 không sử dụng journal cho nên sẽ có ít dữ liệu được ghi vào ổ đĩa hơn Do lượng yêu cầu viết và xóa

dữ liệu khá thấp, cho nên rất phù hợp với những thiết bị lưu trữ bên ngoài như thẻ nhớ, ổ USB Còn đối với những ổ SSD ngày nay đã được tăng tuổi thọ vòng đời cũng như khả năng hỗ trợ đa dạng hơn, và chúng hoàn toàn có thể không sử dụng file hệ thống không theo chuẩn journaling

- Ext3 về căn bản chỉ là Ext2 đi kèm với journaling Mục đích chính của Ext3 là

tương thích ngược với Ext2, và do vậy những ổ đĩa, phân vùng có thể dễ dàng được chuyển đổi giữa 2 chế độ mà không cần phải format như trước kia Tuy nhiên, vấn đề vẫn còn tồn tại ở đây là những giới hạn của Ext2 vẫn còn nguyên trong Ext3, và ưu điểm của Ext3 là hoạt động nhanh, ổn định hơn rất nhiều Không thực sự phù hợp để làm file hệ thống dành cho máy chủ bởi vì không hỗ trợ tính năng tạo disk snapshot và file được khôi phục sẽ rất khó để xóa bỏ sau này

- Ext4: cũng giống như Ext3, lưu giữ được những ưu điểm và tính tương thích ngược với phiên bản trước đó Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng kết hợp các phân vùng định dạng Ext2, Ext3 và Ext4 trong cùng 1 ổ đĩa trong Ubuntu để tăng hiệu suất hoạt động Trên thực tế, Ext4 có thể giảm bớt hiện tượng phân mảnh dữ liệu trong ổ cứng, hỗ trợ các file và phân vùng có dung lượng lớn Thích hợp với ổ SSD so với Ext3, tốc độ hoạt động nhanh hơn so với 2 phiên bản Ext trước đó, cũng khá phù hợp để hoạt động trên server, nhưng lại không bằng Ext3

- BtrFS – thường phát âm là Butter hoặc Better FS, hiện tại vẫn đang trong giai

đoạn phát triển bởi Oracle và có nhiều tính năng giống với ReiserFS Đại diện

Trang 8

cho B-Tree File System, hỗ trợ tính năng pool trên ổ cứng, tạo và lưu trữ

snapshot, nén dữ liệu ở mức độ cao, chống phân mảnh dữ liệu nhanh chóng được thiết kế riêng biệt dành cho các doanh nghiệp có quy mô lớn

Mặc dù BtrFS không hoạt động ổn định trên 1 số nền tảng distro nhất định, nhưng cuối cùng thì nó vẫn là sự thay thế mặc định của Ext4 và cung cấp chế độ chuyển đổi định dạng nhanh chóng từ Ext3/4 Do vậy, BtrFS rất phù hợp để hoạt động với server dựa vào hiệu suất làm việc cao, khả năng tạo snapshot nhanh chóng cũng như hỗ trợ nhiều tính năng đa dạng khác

Bên cạnh đó, Oracle cũng đang cố gắng phát triển 1 nền tảng công nghệ nhằm thay thế cho NFS và CIFS gọi là CRFS với nhiều cải tiến đáng kể về mặt hiệu suất và tính năng hỗ trợ Những cuộc kiểm tra trên thực tế đã chỉ ra BtrFS đứng sau Ext4 khi áp dụng với các thiết bị sử dụng bộ nhớ Flash như SSD, server database

- ReiserFS: có thể coi là 1 trong những bước tiến lớn nhất của file hệ thống

Linux, lần đầu được công bố vào năm 2001 với nhiều tính năng mới mà file hệ thống Ext khó có thể đạt được Nhưng đến năm 2004, ReiserFS đã được thay thế bởi Reiser4 với nhiều cải tiến hơn nữa Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, phát triển của Reiser4 khá “chậm chạp” và vẫn không hỗ trợ đầy đủ hệ thống kernel của Linux Đạt hiệu suất hoạt động rất cao đối với những file nhỏ như file log, phù hợp với database và server email

- XFS được phát triển bởi Silicon Graphics từ năm 1994 để hoạt động với hệ

điều hành riêng biệt của họ, và sau đó chuyển sang Linux trong năm 2001 Khá tương đồng với Ext4 về một số mặt nào đó, chẳng hạn như hạn chế được tình trạng phân mảnh dữ liệu, không cho phép các snapshot tự động kết hợp với nhau, hỗ trợ nhiều file dung lượng lớn, có thể thay đổi kích thước file dữ liệu nhưng không thể shrink – chia nhỏ phân vùng XFS Với những đặc điểm như vậy thì XFS khá phù hợp với việc áp dụng vào mô hình server media vì khả năng truyền tải file video rất tốt Tuy nhiên, nhiều phiên bản distributor yêu cầu phân vùng /boot riêng biệt, hiệu suất hoạt động với các file dung lượng nhỏ không bằng được khi so với các định dạng file hệ thống khác, do vậy sẽ không thể áp dụng với mô hình database, email và một vài loại server có nhiều file log Nếu dùng với máy tính cá nhân, thì đây cũng không phải là sự lựa chọn tốt nên

so sánh với Ext, vì hiệu suất hoạt động không khả thi, ngoài ra cũng không có gì nổi trội về hiệu năng, quản lý so với Ext3/4

- JFS được IBM phát triển lần đầu tiên năm 1990, sau đó chuyển sang Linux

Điểm mạnh rất dễ nhận thấy của JFS là tiêu tốn ít tài nguyên hệ thống, đạt hiệu suất hoạt động tốt với nhiều file dung lượng lớn và nhỏ khác nhau Các phân vùng JFS có thể thay đổi kích thước được nhưng lại không thể shrink như

ReiserFS và XFS, tuy nhiên nó lại có tốc độ kiểm tra ổ đĩa nhanh nhất so với các phiên bản Ext

Trang 9

- ZFS hiện tại vẫn đang trong giai đoạn phát triển bởi Oracle với nhiều tính

năng tương tự như Btrfs và ReiserFS Mới xuất hiện trong những năm gần đây

vì có tin đồn rằng Apple sẽ dùng nó làm file hệ thống mặc định Phụ thuộc vào thỏa thuận điều khoản sử dụng, Sun CDDL thì ZFS không tương thích với hệ thống nhân kernel của Linux, tuy nhiên vẫn hỗ trợ toàn bộ Linux’s Filesystem

in Userspace – FUSE để có thể sử dụng được ZFS Người sử dụng có thể gặp khó khăn khi cài đặt hệ điều hành Linux vì có yêu cầu FUSE và có thể không được hỗ trợ bởi distributor

- Swap có thể coi thực sự không phải là 1 dạng file hệ thống, bởi vì cơ chế hoạt

động khá khác biệt, được sử dụng dưới 1 dạng bộ nhớ ảo và không có cấu trúc file hệ thống cụ thể Không thể kết hợp và đọc dữ liệu được, nhưng lại chỉ có thể được dùng bởi kernel để ghi thay đổi vào ổ cứng Thông thường, nó chỉ được sử dụng khi hệ thống thiếu hụt bộ nhớ RAM hoặc chuyển trạng thái của máy tính về chế độ Hibernate

Journaling là gì?

Điểm trước tiên cần tìm hiểu ở đây chính là Journaling trước khi chúng ta

nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này Điều duy nhất các bạn cần nhớ về journaling

là tất cả các loại file hệ thống ngày nay đều phải sử dụng journaling theo nhiều dạng khác nhau trên nền tảng laptop hoặc desktop với Linux

Journaling chỉ được sử dụng khi ghi dữ liệu lên ổ cứng và đóng vai trò như những chiếc đục lỗ để ghi thông tin vào phân vùng Đồng thời, nó cũng khắc phục vấn đề xảy ra khi ổ cứng gặp lỗi trong quá trình này, nếu không có journal thì hệ điều hành sẽ không thể biết được file dữ liệu có được ghi đầy đủ tới ổ cứng hay chưa

Chúng ta có thể hiểu nôm na như sau: trước tiên file sẽ được ghi vào journal, đẩy vào bên trong lớp quản lý dữ liệu, sau đó journal sẽ ghi file đó vào phân vùng ổ cứng khi đã sẵn sàng Và khi thành công, file sẽ được xóa bỏ khỏi

journal, đẩy ngược ra bên ngoài và quá trình hoàn tất Nếu xảy ra lỗi trong khi thực hiện thì file hệ thống có thể kiểm tra lại journal và tất cả các thao tác chưa được hoàn tất, đồng thời ghi nhớ lại đúng vị trí xảy ra lỗi đó

Tuy nhiên, nhược điểm của việc sử dụng journaling là phải “đánh đổi” hiệu suất trong việc ghi dữ liệu với tính ổn định Bên cạnh đó, còn có nhiều công đoạn khác để ghi dữ liệu vào ổ cứng nhưng với journal thì quá trình không thực sự là như vậy Thay vào đó thì chỉ có file metadata, inode hoặc vị trí của file được ghi lại trước khi thực sự ghi vào ổ cứng

3 Tổ chức tập tin trên Linux

Trang 10

Nếu như một người dùng đã sử dụng quen trên môi trường Window, thì khi chuyển sang môi trường Linux sẽ phân vân và khó hiểu về cấu trúc file system của nó Ở bài này mình sẽ phân biệt và hiểu vai trò của các thư mục ở cấp độ cao trong linux Mỗi hệ thống file có cấu trúc giống như một cái cây dựng ngược Gốc của cây được đặt trên cùng và bên dưới là lá của nó Như đã

đề cập ở trên, mỗi phân vùng khi được tạo ra đều có thể có một mount point Công việc này thường được thi hành trong quá trình cài đặt Để hiểu kỹ hơn về vấn đề này, hãy quan sát kiến trúc phân cấp của một hệ thống file trong Linux dưới đây:

Hình 2.1.Tổ chức tệp tin trên Linux

Trong hình trên, gốc của kiến trúc phân cấp này là thư mục gốc

“/” Nó gần tương tự như “C:\” trong DOS ngoại trừ việc “C:\” chính là phân vùng đầu tiên của đĩa cứng đầu tiên, trong khi thư mục gốc “/” của Linux có thể là ánh xạ của bất kỳ phân vùng nào

Trang 11

Các thư mục cơ sở là những thư mục con cấp 1 nằm ngay dưới thư mục gốc “/”

Chúng được tạo ra bởi một gói thường có tên là filesystem

Tiến trình khởi động sẽ ánh xạ thư mục gốc đầu tiên nhằm giúp

đỡ tất cả các thao tác tiếp theo như kiểm tra phân vùng, nạp module cho nhân…vv vì khi ánh xạ thư mục gốc xong thì các

chương trình như: fsck, insmod hay mount mới có thể được

sử dụng

Để đảm bảo cho quá trình khởi động diễn ra chính xác, các thư

mục /dev, /bin,

/sbin, /etc và /lib bắt buộc phải là thư mục con của “/” và

không thể là ánh xạ của bất kỳ phân vùng nào khác

4 Các thành phần trong tệp tin Linux

4.1/Root

-Mỗi một file và thư mục đều bắt đầu từ root directory

-Chỉ có user root có quyền trên các thư mục ở cấp bên dưới

-Còn /Root là home directory của user root

4.2/bin –User Binary

-Chứa các file thực thi dạng binary

-các lệnh sử dụng thông thường trong linux được sử dụng single-user mode được đặ dưới cấu trúc này

-các câu lệnh được sử dụng bởi tất cả các user trong hệ thống sẽ được đặt trong đây Ví dụ một số lệnh như ps, ls, ping, grep, cp

4.3/sbin – System Binaries

-Giống như /bin, bên trong / sbin cũng chứa đựng các file thực thi dạng binary Các lệnh bên trong /sbin thường được sử dụng bởi system administrator và dùng cho các mục đích là duy trì quản trị hệ thống

-Một số lệnh trong đây ví dụ như iptablas, reboot, ifconfig…

Trang 12

4.4/ect – Configuration Files

-Thông thường ở /ect sẽ chứa file cấu hình cho các chương trình hoạt động

-Ở /ect cũng thường chứa các scripts dùng để start, stop, kiểm tra status cho các chương trình

-Ví dụ /ect/ resolv.conf (cấu hình dns-server), hay /ect/network dùng để quản lý dịch vụ network

4.5 /dev – Device Files

- chứa các file device để đại diện các hardware

- Ví dụ /dev/tty1 hay /dev/sda

4.6 /proc – process information

-Chứa đựng thông tin về quá trình xử lý của hệ thống

- Đây là một pseudo filesystem chứa đựng các thông tin về các process đang chạy

- Đây là một virtual filesystem chứa đựng các thông tin tài nguyên hệ thống ví dụ: /proc/cpuinfo cung cấp cho ta thông số kỹ thuật của CPU

4.7 /var – Variable files

- Chứa đựng các file có sự thay đổi trong quá trình hoạt động của hệ điều hành -ví dụ system log sẽ được đặt tại vị trí này

+system log file/var/log

+database file /var/lib

+email /var/mail

+các pint queue /var/spool

+lock file /var/lock

+các filetamj thời cần cho quá trình reboot /var/tmp

4.8 /tmp – Temporary Files

-Thư mục này chứa các file được tạo ra bởi hệ thống và user

-Các file bên dưới thư mục này được xóa đi khi hệ thống reboot

4.9 /usr – User Programs

-chứa các file binary, library, tài liệu ,source-code cho các chương trình

Ngày đăng: 27/12/2019, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w