1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)

97 85 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)Tản văn của Nguyễn Quang Thiều (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ NGỌC HẠNH NHUNG

TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ NGỌC HẠNH NHUNG

TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những nội dung

trong luận văn “Tản văn của Nguyễn Quang Thiều” là do tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Nguyễn Đức Hạnh Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong các công trình khác Mọi tham khảo trong luận văn đều được ghi trong mục tham khảo với tên tác giả, tên công trình và thời gian rõ ràng Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Tác giả Luận văn

Đỗ Ngọc Hạnh Nhung

Trang 4

Tác giả xin chân thành cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Thiều, tác giả cuốn

tản văn “Mùi của kí ức”; “Có một kẻ rời bỏ thành phố” đã cung cấp nhiều thông

tin và tư liệu quý báu để tôi hoàn thành cuốn luận văn này!

Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng

viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh, người thầy luôn tận tình hướng

dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn! Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả Luận văn

Đỗ Ngọc Hạnh Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ của luận văn 8

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1: TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 10

1.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Quang Thiều và các sáng tác của ông 10

1.1.1 Tiểu sử 10

1.1.2 Quá trình sáng tác và giải thưởng 11

1.1.3 Quan điểm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều 13

1.2 Tản văn của Nguyễn Quang Thiều trong bộ phận tản văn Việt Nam đương đại 16

1.2.1 Khái niệm về tản văn 16

1.2.2 Khái quát về tản văn Việt Nam đương đại 17

1.2.3 Tản văn Nguyễn Quang Thiều - Một tiếng nói độc đáo trong tản văn Việt Nam hôm nay 21

Tiểu kết Chương 1 24

Chương 2: HOÀI NIỆM VỀ VĂN HÓA LÀNG QUÊ VIỆT NAM VÙNG BẮC BỘ TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 25

2.1 Tình yêu và sự luyến tiếc cho những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam đang mai một 25

Trang 6

2.1.1 Văn hóa kiến trúc của làng quê trong quá trình đô thị hóa 26

2.1.2 Văn hóa ẩm thực của làng quê đồng bằng Bắc bộ 34

2.1.3 Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của làng quê đồng bằng Bắc bộ 45

2.2 Tình yêu và niềm tự hào dành cho những người dân quê - chủ thể sáng tạo, bảo tồn và truyền lại những giá trị văn hóa truyền thống 51

2.2.1 Người dân quê Bắc Bộ - chủ thể sáng tạo giá trị văn hóa truyền thống của làng quê 51

2.2.2 Người dân quê Bắc Bộ - chủ thể tiếp nhận, thưởng thức, lưu giữ và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống 53

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TỰ SỰ ĐẶC SẮC TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU. 57

3.1 Hình tượng người trần thuật 57

3.1.1 Hình tượng người trần thuật thi sĩ 58

3.1.2 Hình tượng người trần thuật triết luận 64

3.2 Biểu tượng nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Quang Thiều 69

3.2.1 Hình tượng làng Chùa - biểu tượng cho văn hóa làng quê đồng bằng Bắc Bộ 70

3.2.2 Hình tượng bà và mẹ - biểu tượng cho những người nông dân Bắc Bộ tài hoa và tình nghĩa 73

3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Quang Thiều 76

3.3.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ 76

3.3.2 Ngôn ngữ giàu chất chính luận 79

Tiểu kết Chương 3 81

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Nguyễn Quang Thiều là một trong những tên tuổi sáng giá nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông thành công trong cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi, ngoài ra ông còn là một họa sĩ không chuyên khá nổi tiếng trong nền hội họa Việt Nam đương đại Bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thường chú ý tìm hiểu và đánh giá về Nguyễn Quang Thiều ở tư cách một nhà thơ xuất sắc với nhiều cách tân mới mẻ, táo bạo Việc nghiên cứu các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều nói chung và các tập tản văn, tiểu luận nói riêng xét về mặt thành tựu còn rất khiêm tốn, chưa thực sự tương xứng với các giá trị tiềm ẩn trong các tác phẩm này Đặc biệt các tập tản văn và tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều mới chỉ được giới thiệu sơ lược ở một số bài báo mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào tìm hiểu đánh giá

toàn diện về nó Chính vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Tản văn của Nguyễn

Quang Thiều” để thực hiện luận văn của mình

2 Nguyễn Quang Thiều vừa là nhà thơ, nhà văn đồng thời ông còn là một họa sĩ Sự giao thoa giữa các đặc trưng thể loại khác nhau là một thực tế gợi mở nhiều vấn đề học thuật cần nghiên cứu Thơ văn Nguyễn Quang Thiều mang đậm nét của sự giao thoa đó Ở đây không chỉ là sự cộng sinh thể loại trong từng tác phẩm diễn ra như một quy luật tất yếu của văn học nghệ thuật từ ngàn đời, mà còn là dấu vết chủ nghĩa hậu hiện đại ít nhiều tác động đến sáng tác của Nguyễn Quang Thiều, và đã để lại những “dấu vết” trong hàng loạt cách tân táo bạo của ông Khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi muốn góp một tiếng nói nhỏ

bé nhằm nhận diện và lý giải sức sống, vẻ đẹp và cả sự phức tạp của dòng chảy văn xuôi Việt Nam đương đại, với sự vận động và biến đổi không ngừng của nó

do tác động của bối cảnh lịch sử, bối cảnh văn hóa ở thời đại hôm nay

3 Là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn ở trong nhà trường, nghiên cứu về tản văn của Nguyễn Quang Thiều sẽ cho chúng tôi có thêm tư liệu bổ ích để giảng dạy tốt hơn phần Văn học Việt Nam hiện đại

Trang 8

4 Văn xuôi Việt Nam đương đại là một bộ phận văn học đang vận động, biến đổi và chưa hoàn kết Việc nghiên cứu và đánh giá về nó bao giờ cũng khó khăn hơn việc nghiên cứu đánh giá những tác phẩm văn học đã được khẳng định trong quá khứ Với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp thêm một phần tư liệu tham khảo bổ ích cho công tác dạy và học phần văn học Việt Nam hiện đại trong nhà trường các cấp, cho những ai yêu thích và muốn tìm hiểu về

bộ phận sáng tác này

Chính vì những lí do kể trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tản văn

của Nguyễn Quang Thiều” để nghiên cứu và hoàn thành chương trình thạc sĩ

của mình

2 Lịch sử vấn đề

Đến với văn chương, Nguyễn Quang Thiều đã tự tạo cho mình một cây bút đa dạng, chưa bao giờ nhà văn chịu bó mình trong một thể loại nhất định Chính điều này đã tạo nên cho văn chương đương đại một cây bút đa dạng, tài hoa Nguyễn Quang Thiều được mệnh danh là kẻ đa tài Từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, tản văn và tiểu luận, ở thể loại nào Nguyễn Quang Thiều cũng thể hiện được một cá tính sáng tạo riêng Là một nghệ sĩ đa tài như vậy, Nguyễn Quang Thiều và sáng tác của ông đã có được sự quan tâm của rất nhiều bạn đọc và của giới nghiên cứu phê bình văn học Cho đến nay,

đã có không ít bài báo, tạp chí, các tiểu luận, các công trình nghiên cứu đánh giá về các tác phẩm của ông trên các lĩnh vực thơ, văn xuôi và dịch thuật Có rất nhiều tờ báo lấy Nguyễn Quang Thiều làm nguồn đề tài như các trang báo: Nhà báo và công luận, dân trí, vanvn.net, tạp chí sông Hương, Vnexpress, Giáo dục và thời đại… Đặc biệt là sau khi nhà văn nhận giải thưởng thơ Hàn Quốc thì tên tuổi ông trên các tờ báo càng nhiều

Trước hết về mảng thơ, trong cuộc tọa đàm khoa học “Thơ Việt Nam hiện

đại và Nguyễn Quang Thiều” nhân xuất bản tập thơ “Châu thổ” Nguyễn Đăng

Điệp khẳng định: “Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng nổi bật trong số

Trang 9

những cây bút từ sau 1975, với những cách tân ráo riết, táo bạo”[57] Trong

bài viết “Đám mây thơ trên cây ánh sáng” tác giả Nguyễn Việt Chiến đã viết:

“những đám mây thơ của anh vẫn cuồn cuộn sức sống thi ca nhưng lại thắp trên cái cây ánh sáng những ngọn lửa của ngôn ngữ tình yêu và khát vọng sống” [2], những cách tân trong thơ Nguyễn Quang Thiều là sự cần thiết cho

thơ ca Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa và có vai trò tạo ra một diện mạo

mới cho thơ ca Sau khi xuất bản tập “Sự mất ngủ của lửa” năm 1992, Nguyễn

Quang Thiều đã định hình một giọng điệu, ngôn ngữ riêng và mới trong thơ ca Việt Nam hiện đại Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn

Quang Thiều như: Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam

sau 1975 của Nguyễn Thị Hiền (2003); Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - thơ ca

có thể cứu rỗi thế giới của Phùng Hiệu (2015); Sự mất ngủ của lửa hay sự thao thức của một hồn thơ của Đông La Những ý kiến đánh giá về sự sáng tạo, cách

tân của Nguyễn Quang Thiều được đặt trong bối cảnh không ngừng vận động

và phát triển của văn học Việt Nam đương đại Trong số 45 gương mặt được điểm diện thì Nguyễn Quang Thiều được xem là xu hướng cách tân đích thực

và tích cực với những vần thơ được biết đến ở những năm 90 của thế kỉ XX, Nguyễn Quang Thiều đã góp phần làm cho thơ đương đại Việt Nam khởi hành

sang chặng đường mới Từ những bài viết trên cho thấy thơ Nguyễn Quang

Thiều luôn nhận được sự quan tâm và ủng hộ từ phía bạn đọc và giới phê bình văn học, điều đó khẳng định nhà thơ đã xác lập cho mình cá tính và phong cách riêng trong nền thơ ca Việt Nam

Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong mà ông còn là cây bút văn xuôi giàu sáng tạo và thành công, cho đến nay Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 15 tập văn xuôi với các tiểu thuyết và truyện ngắn xuất sắc Trong bài

Hộp đen - Nguyễn Quang Thiều in trên báo Văn nghệ số 17 +18 (24 - 8 -

2012), tác giả Thiên Sơn nhận định: “Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều

hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu kỳ ảo, chiều

Trang 10

sâu nhân văn và triết lý Anh thường tạo ra những chi tiết đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết Vượt qua biên giới lãnh thổ, thơ và truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều đã được in thành sách và được giới thiệu trên các tạp chí và báo ở các nước như Mỹ, Pháp, Nga, Úc, Ireland, Nhật, Hàn Quốc, Venezuela, Colombia, Na Uy, Thụy Điển, Malaysia ” [29]

Trên website

http://nico-paris.com/tin-tuc-170/chiec-binh-ruou-cua-nguyen-quang-thieu.vhtm trong bài viết “Chiếc bình rượu của Nguyễn Quang Thiều”, tác giả bài viết có nhắc đến nhận xét của Denis Billboz đánh giá “Với phong

cách viết nhẹ nhàng, trong sáng chảy xuyên yên ả như sông Đáy chở ta đi giữa dòng yêu thương, tươi mát và tràn đầy xúc cảm, tác giả tìm kiếm một nơi ẩn ngụ thanh bình Vẻ thanh bình, giản dị và tươi mát kia chỉ là một phần hiển hiện từ một tảng băng giấu che những vết thương chưa lành hẳn, những kỷ niệm nặng nề, những nỗi đau còn sót lại của một cuộc chiến Nhưng, như con phượng hoàng, dân tộc Việt Nam hôm nay đang gắng làm sống lại từ tro bụi một kỷ nguyên mới thanh bình”[55] Như vậy, cũng giống như ở mảng thơ, văn

xuôi của Nguyễn Quang Thiều hấp dẫn và lôi cuốn độc giả bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo, đồng thời đóng góp những cách tân mới mẻ cho nền văn xuôi đương đại

Cho đến nay các có thể kể đến luận án, luận văn nghiên cứu về Nguyễn

Quang Thiều như: Luận án Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ

Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Hiền, ở luận án này tác giả nghiên cứu đặc

điểm thơ Nguyễn Quang Thiều ở phương diện nội dung và hình thức nghệ

thuật Các luận văn Đặc điểm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều qua truyện

ngắn và ký của tác giả Phạm Thị Thảo Tác giả luận văn đi sâu khai thác truyện

ngắn của Nguyễn Quang Thiều đồng thời nghiên cứu đặc điểm nội dung, nghệ

thuật trong cách viết truyện ngắn và ký của ông Truyện ngắn Nguyễn Quang

Thiều nhìn từ góc độ thể loại là luận văn của tác giả Tăng Thị Hoàn khai thác

về truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều dưới góc độ thể loại Truyện ngắn

Trang 11

Nguyễn Quang Thiều dưới góc nhìn trần thuật học - luận văn của tác giả

Nguyễn Thị Sen khai thác về truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều dưới góc

nhìn trần thuật học với hình thức tổ chức tự sự Cái tôi trữ tình trong thơ

Nguyễn Quang Thiều của tác giả Lý Thị Nhiên lại đi sâu tìm hiểu, phân tích

phong cách sáng tạo của cái tôi Nguyễn Quang Thiều trong thơ Luận văn của

Nguyễn Thu Hằng với đề tài Truyện ngắn, tản văn Nguyễn Quang Thiều từ góc

nhìn phê bình sinh thái, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích để làm

sáng rõ những đóng góp của truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều

từ góc nhìn phê bình sinh thái Trong khóa luận tốt nghiệp Đại học, tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nguyên đã chọn cho mình đề tài Đặc điểm thơ văn xuôi của

Nguyễn Quang Thiều và Mai Văn Phấn Bên cạnh đó còn có rất nhiều tác giả

đã chọn thơ, văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều làm đối tượng nghiên cứu Không chỉ thành công ở lĩnh vực thơ và văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình qua những năm tháng đói khổ chiến tranh, những ám ảnh trong tiềm thức, sự trải nghiệm đa dạng trong đường đời cùng những suy ngẫm đậm chất thế sự đã góp phần đánh thức mảng tản văn Ông ngợi ca vẻ đẹp văn hóa Việt Đó là vẻ đẹp của sự Chân - Thiện - Mỹ, vẻ đẹp về những số phận, những cuộc đời, những con người, những nét văn hóa

mang đậm truyền thống dân tộc Với các tập tản văn Có một kẻ rời bỏ thành

phố (2010); Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (2015); Mùi của ký ức (2017) Nguyễn Quang Thiều đưa độc giả đến thế giới vẻ đẹp của

một thời quá vãng, gợi lên không khí trầm mặc, suy tư và đầy hoài niệm Trong

buổi tọa đàm giới thiệu về tác phẩm Người kể chuyện lúc nửa đêm và những

giấc mộng (2015), họa sĩ Lê Thiết Cương quan niệm rằng: “dù là văn chương hay hội họa, thì một tác phẩm ấn tượng là tác phẩm phải tạo được ám ảnh cho người đọc, và cuốn sách này đã làm được điều đó”[51] Để nói về tác phẩm

mới của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “ Tác giả

đã khắc họa một không gian âm tính đậm nét Văn phong của Nguyễn Quang Thiều là sự giao thoa giữa trường phái văn học hiện đại và văn học hậu hiện

Trang 12

đại” [51] Còn Chu Văn Sơn chia sẻ: “Tôi là người đọc văn Nguyễn Quang Thiều rất sớm và khá trọn vẹn Trong văn của anh hình ảnh sông Đáy trở đi trở lại như một ám ảnh Nhưng ám ảnh sâu nhất trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều lại là ám ảnh về cái chết Trong cuốn sách này ta sẽ bắt gặp hàng loạt các sự vật, hiện tượng đối lập nhau cùng tồn tại như: bóng tối- ánh sáng,

sự sống- cái chết Dường như Nguyễn Quang Thiều quan tâm nhiều đến “phần âm” của cuộc sống Nói về nó là cách anh khơi gợi lên sự phục sinh và cội nguồn của cuộc sống” [51] Nguyễn Quang Thiều đến với văn chương bắt đầu

từ thơ, cho nên trong tản văn của ông luôn tràn đầy sự lãng mạn, tư duy hình ảnh, suy ngẫm, tưởng tượng và thấm đẫm chất thơ

Qua khảo sát các bài báo, đề tài, luận văn, luận án, các nhận định đánh giá

về các tác phẩm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và tản văn của Nguyễn Quang Thiều, một thực tế cho thấy tản văn của ông khá nhiều, tuy nhiên nếu như mảng thơ và truyện ngắn và tiểu thuyết của ông có những nhận xét, đánh giá xác đáng

và có hệ thống thì tản văn lại chưa nhận được nhiều sự chú ý từ các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Chúng tôi thấy chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về tản văn của Nguyễn Quang Thiều, hoặc có chăng những nhận xét đánh giá đó còn mang tính khái quát chứ chưa đi vào cụ thể, chi tiết và

hệ thống Đó là những khoảng trống, những dấu hỏi còn bỏ ngỏ, gợi dẫn cho chúng tôi lựa chọn tản văn Nguyễn Quang Thiều làm đối tượng nghiên cứu Đến với đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra những kiến giải riêng về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài “Tản văn của Nguyễn Quang Thiều”

với một số vấn đề nổi bật trong phạm vi nội dung của tản văn như: Bức tranh hiện thực xã hội và hình ảnh con người gắn với văn hóa làng quê, văn hóa tâm linh, văn hóa ẩm thực, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của người Việt Một số vấn đề nổi bật ở phương diện hình thức nghệ thuật như: hình tượng người trần

Trang 13

thuật, chất thơ và chất chính luận, biểu tượng nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung nghiên cứu tản văn của Nguyễn Quang Thiều qua các

tập: Có một kẻ rời bỏ thành phố (2010); Mùi của ký ức (2017) Ngoài ra chúng

tôi có mở rộng so sánh với một số tác phẩm văn xuôi khác của chính Nguyễn Quang Thiều, với tản văn của một số nhà văn khác như: Y Phương, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Hữu Quý

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tác giả: Để hiểu một tác phẩm cần phải có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về tác giả và phong cách nghệ thuật của nhà văn Bởi lẽ phong cách nghệ thuật của tác giả chi phối toàn bộ nội dung và hình thức của tác phẩm Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tác giả để khai thác, tìm hiểu về nhà văn Nguyễn Quang Thiều ở các phương diện: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và quan điểm nghệ thuật của ông

- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Mỗi một tác phẩm đều thuộc vào một thể loại văn học khác nhau Nguyễn Quang Thiều là một cây bút đa tài Ông sáng tác trên nhiều thể loại như: thơ, truyện ngắn, tiểu

thuyết, tản văn Với đề tài “Tản văn của Nguyễn Quang Thiều”, vấn đề cơ bản

cần khai thác, tiếp cận chính là thể loại tản văn của ông Vì vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại như là một phương pháp chính, hỗ trợ đắc lực cho luận văn của mình Phương pháp này sẽ giúp khai thác sâu hơn về thể loại tản văn, những vấn đề xoay quanh tản văn ở

cả nội dung và nghệ thuật

- Phương pháp thi pháp học: Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm nghiên cứu văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức

Trang 14

mang tính nội dung của tác phẩm văn học như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Sử dụng phương pháp này, chúng tôi phân tích, thẩm bình tản văn của Nguyễn Quang Thiều, đi từ hình thức đến nội dung của tản văn Nguyễn Quang Thiều

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (dân tộc học; văn hóa học…): Phương pháp nghiên cứu liên ngành là việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng nhiều cách thức dựa trên dữ liệu của nhiều chuyên ngành Tản văn của Nguyễn Quang Thiều không chỉ là tác phẩm văn học mà còn liên quan đến văn hóa tâm linh, tín ngưỡng phong tục tập quán, yếu tố lịch sử địa lí, dân tộc… Chính vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để đặt tản văn Nguyễn Quang Thiều trong nhiều hướng tiếp cận có tính liên ngành, từ đó đối tượng nghiên cứu được “soi sáng” và “đào sâu” hơn với các giá trị văn hóa, lịch

5 Nhiệm vụ của luận văn

1 Khái lược về tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, quan điểm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều Đặc biệt quan tâm đến thể loại tản văn trong sáng tác của nhà văn, đặt nó trong sự đối sánh với tản văn Việt Nam thời kỳ hiện đại

2 Tập trung nghiên cứu một số phương diện đặc sắc nhất trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều như hiện thực xã hội và con người gắn kết với văn hóa làng quê Việt Nam, một số phương diện văn hóa đặc sắc nhất được nhà văn quan tâm tái hiện: văn hóa tâm linh; văn hóa ẩm thực Cảm hứng ngợi ca đan xen hoài niệm luyến tiếc của nhà văn khi chứng kiến nhiều giá trị văn hóa của làng quê Việt Nam đang mai một dần

Trang 15

3 Chúng tôi tập trung nghiên cứu một số phương diện hình thức nghệ thuật trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều: Hình tượng người trần thuật có một tình yêu sâu nặng và một tri thức uyên bác với văn hóa làng quê Việt ở Bắc

bộ, ngôn ngữ có sự giao thoa ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ thơ, một số biểu tượng nghệ thuật có sức lay động và ám ảnh, từ đó chúng tôi khẳng định phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều qua những tản văn đặc sắc của ông

6 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, toàn diện về tản văn của Nguyễn Quang Thiều Qua việc nghiên cứu một số phương diện đặc sắc trong nội dung

và hình thức nghệ thuật của tản văn Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi mong muốn phân tích lý giải và làm sáng rõ những giá trị tiềm ẩn trong tác phẩm, phong cách nghệ thuật độc đáo và đóng góp của nhà văn đối với nền văn xuôi Việt Nam đương đại Cũng qua việc nghiên cứu này, chúng tôi góp phần nhận diện và lý giải xu thế vận động, sự giao thoa thể loại trong tản văn Việt Nam đương đại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Tản văn của Nguyễn Quang Thiều trong tản văn Việt Nam đương đại

Chương 2 Hoài niệm về văn hóa làng quê Việt Nam vùng Bắc bộ trong tản văn Nguyễn Quang Thiều

Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật tự sự đặc sắc trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Quang Thiều và các sáng tác của ông

1.1.1 Tiểu sử

Là một cây bút đa tài xuất hiện thường xuyên trên thi đàn, văn đàn và với vai trò một nhà truyền bá nền văn học hiện đại Việt Nam ra thế giới, Nguyễn Quang Thiều đã tự khẳng định tên tuổi sáng giá của mình Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13/2/1957 trong một gia đình viên chức tại vùng quê mộc mạc, giản dị bên bờ sông Đáy, ngôi làng quê ông đầu tiên mang tên là làng Tía Hạ, sau đó gọi là làng Chùa, sau này mới gọi là làng Hoàng Dương, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (cũ) Đây là một vùng đất từ bao đời nay nổi tiếng với truyền thống hiếu học, trọng đạo đức và trọng thơ ca Sinh ra và lớn lên trong một môi trường như vậy, Nguyễn Quang Thiều nhanh chóng nối tiếp truyền thống văn hóa quê hương Quãng thời gian tuổi thơ của ông là chuỗi tháng ngày sống với thiên nhiên hoang dã và trong một cuộc sống còn nhiều gian khó Chính thiên nhiên hoang dã cùng cái đói, cái nghèo đã nuôi lớn ông

để đến tận bây giờ khi nhắc lại tuổi thơ, ông vẫn không quên câu nói:“Nghe

vọng lại mùa châu chấu đói/ Xòe cánh bay qua vòm họng người nghèo” [40,

tr9] Mẹ ông là giáo viên - một người phụ nữ đã để lại trong ông nhiều yêu thương vì từ những lời hát ru, những câu chuyện kể của mẹ đã khơi dậy bao cảm hứng sáng tạo Sau này tản văn ông viết về làng Chùa, hình ảnh người mẹ luôn xuất hiện và bao trùm lên toàn bộ kí ức ông Sớm rời quê đi học, Nguyễn Quang Thiều đã nhanh chóng thành tài nhờ sự chăm chỉ, kiên trì Sau khi tốt nghiệp đại học ở Cuba, ông trở về nước công tác ở ngành an ninh Ông công tác tại Bộ công an và bắt đầu sự nghiệp báo chí: ông tham gia báo Văn nghệ, báo An ninh thế giới, Cảnh sát toàn cầu, sáng lập tờ Nghệ thuật mới những

Trang 17

mong mang hết tài năng của mình để cống hiến cho nước nhà Ông là Ủy viên Hội đồng thơ, Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Sáng tác, Giám đốc Trung tâm Dịch thuật văn học Hội nhà văn Việt Nam khoá VIII, Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á - Phi và Mĩ latinh, Giám đốc Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam Hiện nay ông giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam khóa VIII

Như vậy, cả cuộc đời Nguyễn Quang Thiều là một chuỗi tháng ngày phấn đấu, kết tinh, kế thừa truyền thống văn hóa của quê hương đồng thời tự bản thân miệt mài học tập, rèn luyện để trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trên văn đàn, thi đàn và cả trong linh vực hội họa

1.1.2 Quá trình sáng tác và giải thưởng

Hiện nay, trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, cái tên Nguyễn Quang Thiều không còn xa lạ với bất kì những ai yêu văn học, yêu hội họa Ông là một cây bút bắt đầu sự nghiệp văn thơ khá sớm (26 tuổi), Nguyễn Quang Thiều nhanh chóng khẳng định mình là cây bút đa năng và sung sức, thường xuyên xuất hiện và được nhắc đến trên văn đàn, thi đàn, báo chí Với tài năng thiên bẩm, ông không chỉ thành công trên một lĩnh vực, một thể loại mà ông tiếp cận, làm quen và thử sức ở khá nhiều loại hình nghệ thuật và ở nhiều thể loại văn học khác nhau Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều khá đồ sộ, cho tới nay ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tiểu thuyết và truyện ngắn, 10 cuốn sách dịch, sách thiếu nhi và hơn 500 bài báo, bút ký, ghi chép, phê bình, tản văn Thơ ca của Nguyễn Quang Thiều đã từng khơi dậy nhiều tranh luận, dẫn đến những ý kiến, những đánh giá trái chiều trên thi đàn, văn đàn và trong bạn

đọc Khi tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” được Hội Nhà văn trao giải, sóng gió đã

nổi lên từ đó Một bên cho thơ ông là một thứ thơ cách tân, đi đầu cho hàng

ngũ tiên phong trong sự đổi mới, ngược lại, một bên cho là “lai căng”, là rất

“non kém về nghệ thuật” Kể từ đó sau mỗi tác phẩm khác ông cho ra đời, sự

tranh luận ấy vẫn tiếp diễn, tuy âm thầm nhưng không kém phần gay gắt Thơ

Trang 18

Nguyễn Quang Thiều có tầm bao quát rộng, có những cách tân táo bạo về thi pháp, để hiểu hết thi pháp thơ ông là một điều không dễ dàng Ông luôn vật lộn trăn trở tìm kiếm ngôn ngữ riêng để thể hiện tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của mình Chính sự đổi mới trong cách viết đã khiến ông khá thành công ở mảng

thơ ca và được độc giả yêu quý, đón đọc Tác phẩm chính: Ngôi nhà tuổi 17, 1990; Sự mất ngủ của lửa, 1992; Những người đàn bà gánh nước sông, 1995;

Những người lính của làng, 1996; Thơ Nguyễn Quang Thiều, 1996; Nhịp điệu châu thổ mới, 1997; Bài ca những con chim đêm, 1999; Thơ tuyển cho thiếu nhi, 2004; Cây ánh sáng, 2009; Châu thổ, 2010

Không chỉ nổi tiếng về thơ, ông còn để lại dấu ấn về văn xuôi, tiểu luận, dịch thuật và góp phần quan trọng quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới Ông

là người tích cực hoạt động, làm cầu nối giữa các văn nghệ sĩ Việt Nam và các văn nghệ sĩ cựu binh Mỹ Trong sáng tác của mình ông quan tâm đến những mảnh đời, những số phận khác nhau của con người thời hậu chiến như: người lính; những người phụ nữ trong chiến tranh Ông quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng của xã hội như vấn đề sinh thái; vấn đề môi trường; lối sóng hiện đại của giới trẻ cũng như những những điều tưởng như nhỏ nhặt bình dị, gần gũi như: bến sông, cổng làng, bờ đê, cánh đồng nhưng lại ẩn sâu bên trong

các đề tài ấy lại là những vấn đề văn hóa lớn lao Tác phẩm chính: Mùa hoa cải

bên sông, 1989; Cái chết của bầy mối, 1991; Đứa con của hai dòng họ, 1996; Thành phố chỉ sống 60 ngày, 1991; Vòng nguyệt quế cô đơn, 1991; Cỏ hoang,

tiểu thuyết, 1992; Tiếng gọi tình yêu, 1993; Kẻ ám sát cánh đồng, 1995; Người

đàn bà tóc trắng, truyện ngắn, 1996; Đứa con của hai dòng họ, truyện ngắn,

1997; Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, 1998; Người cha, truyện thiếu nhi, 1998; Bí mật hồ cá thần, truyện thiếu nhi, 1998; Con quỷ gỗ, truyện thiếu nhi, 2000; Ngọn núi bà già mù, truyện thiếu nhi, 2001; Người nhìn thấy trăng thật,

truyện ngắn, 2003; Ba người, chân dung văn học (in chung) Các tập tản văn cùng tiểu luận: Có một kẻ rời bỏ thành phố, 2010; Người kể chuyện lúc nửa

Trang 19

đêm và những giấc mộng, 2015; Mùi của ký ức, 2017 Sách dịch: Khoảng thời gian không ngủ, thơ Mỹ, 1997; Chó hoàng Đingô, truyện ngắn Úc, 1995; Năm nhà thơ hiện đại Hàn Quốc, 2002 Ngoài ra, ông còn viết kịch bản sân khấu,

viết báo… ở thể loại nào ông cũng đạt được thành công lớn Gần đây nhất ông còn có nhiều thành công trong hội họa và tham gia vào lĩnh vực điện ảnh, sân khấu

Với những đóng góp to lớn trong suốt chặng đường sáng tác hơn 30 năm, ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế Năm 1993-1994

ông đạt giải 3 cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội Giải thơ hay 1993

của báo văn nghệ Hồ Chí Minh cho tập thơ Những người đàn bà gánh nước

sông; Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tác phẩm“Sự mất ngủ của lửa” (1992) Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2017 với các tác phẩm: “Sự mất ngủ của lửa” (1992), “Những người đàn bà gánh nước sông” (1995) và “Mùa hoa cải bên sông” (1989) Giải thưởng của Hội

các nhà dịch giả văn học Quốc gia Mỹ 1998 Giải thưởng Final cho tập thơ The Women Carry River Water của The National Literary Translators Association

of America năm 1998

Đáng tự hào hơn nữa, tháng 9/2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được trao Giải thưởng Changwon KC International Literary Prize (Giải thưởng văn học quốc tế Hàn Quốc Changwon) năm 2018 Đây là giải thưởng được trao cho những tác giả trong độ tuổi từ 50 - 65 có những cống hiến, đóng góp to lớn trong việc sáng tạo văn học nghệ thuật ở cả trong nước và nước ngoài Chia sẻ

về giải thưởng này, Nguyễn Quang Thiều cho biết ông vô cùng xúc động và hạnh phúc Giải thưởng văn học uy tín này không chỉ mang lại vinh dự cho Nguyễn Quang Thiều mà còn đem đến vinh quang cho đất nước Việt Nam của chúng ta

1.1.3 Quan điểm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều

Trang 20

Mỗi một nhà thơ, nhà văn khi đã chọn cho mình sứ mệnh của người cầm bút thì họ luôn có quan điểm sáng tác và quan niệm nghệ thuật riêng Nguyễn Quang Thiều cũng vậy, ngay từ khi cầm bút ông cho rằng nhà thơ, nhà văn phải

là người có ý thức, có trách nhiệm trước các sáng tác của mình Sáng tạo văn chương là một hoạt động nghệ thuật vì vậy người sáng tạo ra các tác phẩm văn học không được cẩu thả, và phải có những tác phẩm có giá trị phục vụ cuộc sống Để có thể viết được những tác phẩm hay thì chính bản thân nhà văn, nhà thơ phải là những người trải nghiệm, phải suy ngẫm, trăn trở, tác phẩm ra đời phải từ sự đam mê, không vụ lợi Quan niệm như vậy về nghệ thuật nên cả cuộc đời Nguyễn Quang Thiều đều cố gắng hướng và đi đúng quan niệm này Ông luôn trăn trở nhằm phát hiện những vẻ đẹp bình dị trong đời sống, hay cảm nhận nỗi đau của thân phận con người trong và sau chiến tranh để truyền

đi, gợi mở những thông điệp nhân văn cho mọi người Ông quan niệm phải mang đến những tiếng nói nghệ thuật mới, giai điệu mới đầy sức sống và khai

mở, sáng tạo là sức mạnh lớn nhất của nhà thơ

Trên trang website http://special.vietnamplus.vn/nguyen_quang_thieu tác

giả Phương Mai với bài viết “Đa tài và đa mang” có đoạn: “Trong một buổi

trò chuyện định hướng nghề nghiệp cho các bạn trẻ với chủ đề “Làm thế nào

để trở thành một nhà văn chuyên nghiệp,” tôi có nói rằng, các bạn đừng đặt ra mục tiêu phải trở thành nhà văn của một vạn hay một triệu độc giả Thay vào

đó, trước hết, các bạn phải trở thành nhà văn của một bạn đọc - chính bản thân mình Đó là điều rất quan trọng.Việc người cầm bút nghĩ rằng, phải viết để có cái danh, để đến một lúc nào đó sẽ “thống trị” toàn bộ bạn đọc, trong khi không giải quyết được những vấn đề nội tại của chính mình là một điều sai lầm Xuất phát điểm như vậy sẽ không thể đưa đến những tác phẩm nghệ thuật thực sự Người cầm bút phải viết như một nhu cầu, thói quen hàng ngày, coi đó

là một lẽ đương nhiên, một việc cần phải làm Còn nếu viết chỉ như một cuộc chơi, một sự giải tỏa ẩn ức, phiền muộn tức thời hay để ám chỉ một cá nhân, sự

Trang 21

việc nào đó thì không bao giờ đến được văn chương đích thực Đây không phải

là nguyên lý tôi tự nghĩ ra mà đã được các nhà triết học, văn hóa lớn của thế giới đề cập từ những năm đầu Công nguyên” [54] Ông cũng cho rằng ở Việt

Nam hiện nay, trong lực lượng sáng tác, có người quá thiên về hình thức, cầu

kỳ trong nghệ thuật thể hiện, khiến những câu hỏi lớn của đời sống bị lu mờ Bên cạnh đó, có người lại quá chú tâm vào nội dung mà quên đi những cách thức biểu hiện, vẻ đẹp quan trọng của nghệ thuật thi ca Hai yếu tố đó cần phải được kết hợp hài hòa, khéo léo Quan điểm nghệ thuật của ông về tác giả - người cầm bút là một quan điểm đúng đắn, nó xuất phát từ một người cầm bút

có tâm, có tài và có tầm văn hóa cao

Đối với quan niệm về thơ, như đã nói ở trên, thơ của Nguyễn Quang Thiều

dẫn tới những tranh luận trái chiều khá gay gắt từ khi ông công bố tập thơ: “Sự

mất ngủ của lửa” Cuối cùng những tranh cãi hay mâu thuẫn cùng được giải

quyết và thơ ông được đánh giá là thơ có vai trò cách tân thơ hiện đại Để đạt được điều đó, bản thân Nguyễn Quang Thiều có quan niệm khá rõ ràng đối với thơ Ông quan niệm thơ ca là nơi duy nhất để ông giải phóng ông và để ông trú

ẩn Một điều ông muốn nói đến là những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới Ông đến với thơ là để giải phóng chính ông, thơ giúp ông thoát khỏi cuộc sống tầm thường của vật chất, thơ giúp ông sống với một xã hội tốt đẹp ở đó có những làng xóm chất phác, mộc mạc, ở đó có bóng dáng cuộc sống xưa, yên bình Thơ sẽ cứu rỗi thế giới, khiến thế giới đẹp hơn Muốn làm được điều đó thì mỗi bài thơ dù ngắn hay dài thì mục đích cuối cùng của nó phải tạo ra những sự kiện tâm hồn cho chính nhà thơ và cho bạn đọc Chỉ như vậy cuộc Cách mạng về Mỹ học trong tác phẩm nghệ thuật mới được thực thi

Bên cạnh đó ông cho rằng quan điểm thi ca của ông là làm sống lại những cái đã chết và làm mới lại những cái đã cũ, đó chính là quan điểm không ngừng

Trang 22

sáng tạo, đổi mới, tránh sự lặp lại, sáo mòn bởi lặp lại người khác hay lặp lại chính mình là “cái chết” của văn học nghệ thuật

Nhìn chung, quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều đã định hướng sự nghiệp thơ, văn và làm nên một Nguyễn Quang Thiều tài năng, không ngừng sáng tạo và đổi mới

1.2 Tản văn của Nguyễn Quang Thiều trong bộ phận tản văn Việt Nam đương đại

1.2.1 Khái niệm về tản văn

Ở Việt Nam cách gọi tản văn đến nay còn chưa được sự thống nhất về mặt nội hàm của khái niệm Còn nhiều ý kiến khi định danh về thể loại này Ở Trung Quốc, khái niệm tản văn được dùng với ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi, tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ và kịch, tản văn

là một thể loại văn học Đầu thế kỉ XX, tản văn trong quan niệm của nhiều người vẫn được hiểu theo nghĩa là văn xuôi, lối văn không đối nhau và không

có vần

Theo Từ điển Thuật ngữ Văn học, tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn

gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, nhẹ nhàng, không nhất thiết đòi hỏi phải có “cốt truyện” phức tạp, “nhân vật” hoàn chỉnh nhưng nó có “cấu tứ” độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả Theo Nguyễn Quang Thiều, công thức của tản văn là: hiện thực cộng với cảm xúc, tư duy và ngôn ngữ Nhà văn quan sát đời sống và cảm xúc sinh ra từ hiện thực đời sống, sau đó nhà văn ghi lại cảm xúc của mình trong ý thức của tư duy và bằng một thứ ngôn ngữ của thơ ca Đây là định nghĩa riêng của Nguyễn Quang Thiều về tản văn với tư cách một nhà thơ, và quả thực các tản văn của ông là những minh chứng sinh động cho định nghĩa của ông Tản văn được hình thành

Trang 23

từ khá sớm, trong những năm đầu của thế kỉ XX trong các sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trác Ban đầu tản văn ra đời chủ yếu đăng trên báo chí tuy nhiên còn khá mờ nhạt Tản văn mang đặc điểm riêng biệt: Mang ý nghĩa sâu sắc thâm thúy, giàu tính trữ tình, cảm xúc chân thành, Ngôn từ đẹp

đẽ, lời lẽ cô đọng, súc tích, Thể hiện cảm nhận của tác giả về cuộc sống xung quanh Dựa vào nội dung và tính chất của tản văn, có thể phân ra mấy loại sau: Kể chuyện, tự sự, trữ tình, tả cảnh, triết lý

Tản văn được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tản văn chính là khái niệm chỉ tất cả các thể loại văn bản hành chính công vụ, văn bản khoa học, tác phẩm văn học Theo nghĩa hẹp thì tản văn chỉ đơn thuần là một thể loại bên cạnh tiểu thuyết, kịch, thơ ca Tản văn chính là một thể loại giao thoa giữa thơ và truyện ngắn Hiểu theo nghĩa này, tản văn là những tác phẩm văn xuôi khá ngắn gọn, hàm súc, có hoặc không có cốt truyện (tùy vào cách xây dựng của tác giả) Đặc trưng của tản văn chính là dấu ấn cá nhân, là cái tôi cá nhân tác giả Đọc một tản văn người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả với tâm trạng, cảm xúc rất thật Kết cấu của tản văn phóng khoáng, không máy móc, rập khuôn, phụ thuộc vào cảm xúc, suy nghĩ của tác giả Tác giả thỏa

ý thể hiện tâm trạng, cái nhìn, cách cảm về nhân sinh quan xã hội Do sự phức tạp của nội hàm khái niệm tản văn, chúng tôi hiểu khái niệm tản văn theo cuốn

Từ điển Thuật ngữ Văn học của nhiều tác giả định nghĩa: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, giọng điệu cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm,

ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả” [6, tr293]

1.2.2 Khái quát về tản văn Việt Nam đương đại

Trang 24

Nhìn lại chặng đường lịch sử lâu dài, tản văn từ khi ra đời đến nay đã trải qua những biến đổi và dần hoàn thiện mình Nhìn tổng quát có thể thấy, tản văn trải qua các giai đoạn sau;

Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn tiếp xúc văn hóa phương Tây Đây là giai đoạn đã đánh dấu sự hình thành và phát triển của thể loại tản văn Việt Nam Giai đoạn hai là giai đoạn chiến tranh và hậu chiến ( từ năm 1945 đến năm 1986) Nếu như giai đoạn trước là giai đoạn hình thành và phát triển thì giống như một quy luật tất yếu, đây là giai đoạn tản văn bị phân hóa do môi sinh văn hóa, hoàn cảnh lịch sử và dần rơi vào trạng thái trầm lắng

Giai đoạn ba là giai đoạn đổi mới và hội nhập Tản văn được hồi sinh mạnh mẽ, đầy sức sống

Như vậy, từ thập niên thứ hai của thế kỉ XX đế năm 1945, khi đất nước ta

có sự giao thoa với văn hóa phương Tây thì tản văn hình thành và bước đầu phát triển Các nhà văn thời kì này chịu ảnh hưởng của lối viết phương Tây, tiếp nhận và bắt đầu viết tản văn Quá trình mở đầu này giống như một cuộc tập dượt, một cuộc thử nghiệm thể loại mới Báo chí chính là nơi đề đăng các sáng tác này hay nói cách khác, báo chí chính là diễn đàn đầu tiên cho tản văn xuất hiện Từ năm 1945 - 1986, trong hơn ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, do sự quy định của bối cảnh lịch sử, điều kiện thời chiến, thể loại tản văn hầu như bị lãng quên Tản văn giai đoạn này rơi vào trạng thái trầm lắng Nhưng sau sự trầm lắng đó, theo sự thay đổi của đất nước, từ năm 1986 đến nay tản văn hồi sinh mạnh mẽ Bởi lẽ đây là giai đoạn đất nước hội nhập và phát triển, tản văn lại bắt đầu được chú ý và ngày càng có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội Chính vì được chú ý như vậy nên sự hồi sinh của tản văn

vô cùng mạnh mẽ Giống như một sự bứt phá, tản văn vượt trội về số lượng sáng tác, đề tài, chủ đề Đề tài trong giai đoạn này rất đa dạng, gắn liền với hoàn cảnh của đất nước: vẻ đẹp phong cảnh thiên nhiên, những hương vị của quê hương, phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa của dân tộc hay các vấn đề

Trang 25

mang tính xã hội, văn học nghệ thuật Tất cả đã làm cho tản văn trở thành một thể loại nổi bật, độc đáo, đa dạng, nhận được nhiều sự quan tâm và đón nhận từ phía độc giả Cách thức biểu hiện, cảm quan sáng tác của tác giả cũng có sự thay đổi rõ rệt Nếu như ở giai đoạn trước, khi đất nước còn khói lửa chiến tranh, tản văn thường biểu đạt cảm quan triết luận, cảm thời, ưu hoài, thì sau năm 1986, đất nước bắt tay vào công cuộc đổi mới, khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh, tản văn Việt Nam đương đại đa dạng về đề tài, phong phú

về bút pháp nghệ thuật

Ngôn ngữ trong tản văn cũng có sự gia tăng của khẩu ngữ, ngôn từ dân dã,

tự nhiên, đời thường, ngôn ngữ “vỉa hè”, ngôn ngữ mạng Tản văn giai đoạn đương đại được viết ngắn, hàm súc, biểu hiện những ý tưởng độc đáo của tác giả đồng thời phù hợp với nhịp sống hối hả, nhộn nhịp của thời bình Giai đoạn này, thành tựu của tản văn không hề nhỏ: Đội ngũ tác giả viết tản văn ngày càng đông đảo phải kể đến như: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Khắc Phê , Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Lập, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Đỗ Chu, Mai Văn Tạo, Y Phương, Băng Sơn, Tô Hoài,

Lê Minh Hà, Thanh Thảo, Tạ Duy Anh, Đỗ Phấn Nhắc đến đến Y Phương chúng ta nhắc đến một nhà thơ Tày đã đến và chinh phục những người yêu tản

văn với “Tháng giêng, tháng giêng, một vòng dao quắm” Tản văn của ông đậm

chất dân tộc Tày từ phong tục tập quán đến bản sắc văn hóa Bởi lẽ bản thân ông là dân tộc, dường như hơi thở, cuộc sống, phong cách sống của ông trong từng trang văn đều mang đặc điểm của dân tộc mình Không thể không kể đến tác giả Hoàng Việt Hằng luôn canh cánh tâm sự trên những dòng chữ trong tản

văn “Người cho đã không nhớ”, hay một Nguyễn Ngọc Tư với cuộc sống con người miền Tây sông nước nhẹ nhàng, giàu tình cảm trong “Gáy người thì

lạnh” Đỗ Bích Thúy lại khác Chị khắc khoải nỗi nhớ Nỗi nhớ của một con

người rời quê xa lên thành phố lập nghiệp trong “Trên căn gác áp mái” và Phong Điệp với tập “Bay trên mái nhà thành phố” Một Nguyễn Quang Lập

Trang 26

nói những Chuyện đời vớ vẩn nhưng thật sâu sắc Những sáng tác của họ góp

phần tạo nên một bộ mặt mới cho tản văn đương đại

Tản văn đương đại luôn sáng tác theo hai khuynh hướng: Khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynh hướng văn hóa Khuynh hướng thế sự - đời tư là khuynh hướng rộng, tất cả các vấn đề của cuộc sống thường nhật đều được các tác giả lấy làm đề tài chẳng hạn như: Tình yêu, nỗi nhớ, lòng người, thân phận

con người…Tiêu biểu phải kể đến: Đong tấm lòng, yêu người ngóng núi, Biển

của mỗi người, Gáy người thì lạnh của Nguyễn Ngọc Tư; Đàn bà uống rượu, Con giai phố cổ của Nguyễn Việt Hà, Kí ức vụn, Chuyện đời vớ vẩn của

Nguyễn Quang Lập… Khuynh hướng các vấn đề văn hóa phải kể đến Y

Phương với tản văn Tháng giêng, một vòng dao quắm, KungFu người Co Xàu,

Củi tết, Cao Huy Thuần với Chuyện trò, sợi tơ nhện, Nguyễn Quang Thiều với

tản văn Trong ngôi nhà của mẹ, mùi của kí ức…

Cùng với sự phát triển sôi động, đổi mới của tản văn cũng cần phải nói đến các diễn đàn - nơi tản văn ra mắt bạn đọc Trước hết, tản văn xuất hiện trên

nhiều tờ báo, tạp chí: Hà Nội mới cuối tuần, Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Thanh

niên, Người lao động, Đại đoàn kết, Văn nghệ quân đội, Giáo dục và thời đại…

Các tờ báo luôn dành một “mảnh đất” riêng cho thể loại tản văn Thứ hai, tản văn xuất hiện trên các báo mạng, trên các trang cá nhân, các chương trình truyền hình, kênh VOV phát thanh…Tản văn có mặt rộng khắp và nhận được nhiều sự quan tâm từ phía bạn đọc Đối tượng tiếp nhận của tản văn đương đại cũng đa dạng về lứa tuổi Từ lứa tuổi thanh thiếu niên đến lứa tuổi trung niên

và các cụ già Ai cũng yêu thích và lựa chọn cho mình tản văn mang nội dung

và đề tài phù hợp

Đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung từ đó dung lượng của tản văn cũng có sự khác biệt Về cơ bản, tản văn là thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc chính vì vậy các tản văn thường có dung lượng nhỏ Tùy vào tác giả, cảm xúc

và phong cách của tác giả mà có giới hạn nhất định cho một tác phẩm của

Trang 27

mình Chính vì dung lượng ngắn nên tản văn dễ thích nghi với các hình thức xuất bản Thông thường tản văn được in ấn trên các trang báo, in thành sách - đây là hình thức cơ bản nhất Ngoài ra, tản văn còn được post lên các trang mạng, được lưu trữ bằng các trang blog, website Như vậy, theo quá trình đổi mới, vận động của đời sống, tản văn đương đại trải qua quá trình “từ sách lên mạng” và “từ mạng xuống trang sách” Ngắn gọn, hàm súc, dễ xuất bản đó chính là ưu điểm của tản văn

Như vậy, tản văn trong bước đường phát triển của nó đã thật sự “lột xác”

và được coi trọng Trong xu thế đất nước đi vào hội nhập, hiện đại, guồng quay của cuộc sống khiến con người sống thực dụng hơn thì thể tản văn lại là món

ăn tinh thần bồi đắp sự thiếu hụt về cảm xúc, tình cảm của con người Tản văn đương đại đạt phát triển vượt bậc và trong tương lai không xa, thể tản văn sẽ đạt thành tựu to lớn cả về nội dung và nghệ thuật

1.2.3 Tản văn Nguyễn Quang Thiều - Một tiếng nói độc đáo trong tản văn Việt Nam hôm nay

Tản văn Nguyễn Quang Thiều đặt trong hệ thống tản văn hôm nay đã trở thành một tiếng nói độc đáo Cái độc đáo trong tản văn của ông thể hiện trong

cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật

Sự độc đáo trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều trước hết là ở vấn đề

đề tài Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn Tất cả những vấn đề như: lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, nhân sinh, sự kiện, cảnh vật, tình cảm, tinh thần, ngôn luận, thiên văn, địa lí, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, triết học, có thể

là những vấn đề rộng như biển, nhỏ như cây cỏ, không có gì là không thể đưa vào ngòi bút của người viết tản văn, do đó người ta gọi tản văn là “viện bảo tàng của cuộc sống” Trước vô vàn đề tài như vậy, Nguyễn Quang Thiều chọn riêng cho mình một phong cách độc đáo, đó là sự giao thoa, kết hợp hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất là khuynh hướng thế sự - đời tư, khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng văn hóa Hai khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynh

Trang 28

hướng văn hóa thực ra được rất nhiều nhà văn khai thác Tuy nhiên điều đặc biệt cần nhấn mạnh đó là ở tản văn của Nguyễn Quang Thiều sự kết hợp hai khuynh hướng này rất “đậm đặc” Văn hóa hay chuyện thường nhật đều có hết

trong đề tài làng quê Ông chọn cho mình đề tài về làng Chùa “Một thế giới

hoang dã” Bản chất làng Chùa cũng giống bao làng quê khác ở Việt Nam,

nhưng qua ngòi bút nhà văn làng Chùa lại trở thành một làng quê ngời sáng vẻ đẹp, vẻ đẹp mang màu sắc huyền thoại, cổ tích, thơ mộng, yên ả, thanh bình với những nét văn hóa truyền thống đặc sắc Ông đã dựng lại cho chúng ta - những con người sống trong xã hội hiện đại, chưa từng thấy hoặc mới chỉ nghe qua trong sách vở được biết về bức tranh làng quê, nông thôn Việt Nam xưa có vẻ đẹp văn hóa như thế nào Nguyễn Quang Thiều- người con của làng Chùa đã dùng con mắt của ký ức, của trí tưởng tượng phong phú để phục dựng lại nét đẹp của làng quê một thời, phục dựng lại hình bóng của những người thân đã khuất, phục dựng lại cả hồn vía của tổ tiên Đọc những trang viết của ông hẳn người đọc chỉ ước được một lần quay về nơi đó, trở về với quá khứ tuy nghèo khó mà giàu có nghĩa tình ấy để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của dòng sông Đáy, vẻ đẹp mùa hoa cải, được trèo khế, trèo me những buổi trưa hè, bắt cua, bắt ốc, tìm trứng vịt trứng gà, được ăn món ngon của làng quê Không chỉ khai thác vấn đề ẩm thực, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ông còn đi sâu vào thế giới tâm linh của con người Vẫn khai thác đề tài chung nhưng ông có cái nhìn

và cách thể hiện độc đáo Ông viết bằng cả nỗi niềm, cảm xúc trào dâng và bằng nỗi nhớ quê xưa da diết với một bút pháp nghệ thuật tài hoa Chỉ bằng tấm lòng và nghệ thuật tự sự đặc sắc ấy, tản văn của ông nổi lên trong dòng tản văn của nước nhà Không chỉ là kí ức về làng Chùa, ông còn viết về quá trình đô thị hóa, sự thay đổi của con người trong nhịp sống hiện đại Như vậy đề tài ông lựa chọn là một đề tài gần gũi, thân thuộc với chính bản thân mình, đồng thời qua

đó nói lên tâm sự, nỗi lòng của những con người yêu quê hương, đất nước khi

Trang 29

thấy mặt trái của quá trình đô thị hóa làm thay đổi tất cả Chỉ trong một đề tài nhưng lại có sự kết hợp nhuần nhuyễn hai khuynh hướng thế sự - đời tư và văn hóa, đồng thời làm say đắm người đọc nhưng cũng lấy đi không ít nước mắt, gợi bao suy nghĩ nơi độc giả về cuộc sống của con người hôm nay

Không chỉ độc đáo ở nội dung, tản văn của Nguyễn Quang Thiều còn đặc sắc ở nghệ thuật Như đã nói ở trên, tản văn mang đậm dấu ấn của tác giả, mang cái “tôi” cá nhân tác giả, chính vì vậy đọc tản văn chúng ta thường thấy giàu cảm xúc, đậm chất trữ tình và mang quan điểm, ý kiến cá nhân tác giả Tản văn của Nguyễn Quang Thiều có sự giao thoa giữa chất thơ, chất văn xuôi

và chất chính luận Đọc hai tập tản văn “Mùi của kí ức”, “Có một kẻ rời bỏ

thành phố” của ông, chúng ta ngỡ như đang đọc những bài thơ, nhẹ nhàng đằm

thắm, nhưng cũng giống như đang đọc một câu chuyện kể về đời sống thôn quê, và hơn nữa lại là những bài tiểu luận mang quan điểm, ý kiến, sự lí giải, phân tích của nhà văn trước các vấn đề nóng bỏng về cuộc sống thường nhật

So với các tác giả cùng viết tản văn, chẳng hạn như Nguyễn Hữu Quý thì tản văn của Nguyễn Quang Thiều có khá nhiều điểm khác biệt Nguyễn Hữu Quý cũng viết về đề tài làng quê, cũng khai thác những nét đẹp văn hóa truyền thống tín ngưỡng, tập tục, văn hóa nhưng đồng thời ông đi sâu vào các vấn đề lịch sử, cách mạng, truyền thống, về quê hương miền Trung gió Lào cát trắng,

về người lính trong nhịp sống hiện đại Còn bản thân Nguyễn Quang Thiều, tản văn của ông viết về làng quê với vẻ vừa yên bình vừa “giông tố” Giông tố này xuất phát từ sự đổi thay ít niềm vui và nhiều nỗi buồn của làng quê Giông tố nổi lên trong lòng ông, khiến ông lang thang trong những giấc mơ tìm kiếm về

quá khứ, giống như hình tượng con người trốn chạy trong tản văn Có một kẻ

rời bỏ thành phố

Như vậy trong bộ phận tản văn ngày hôm nay, trước khối lượng tác phẩm tản văn đồ sộ với sự góp mặt của rất nhiều tên tuổi thì Nguyễn Quang Thiều có một tiếng nói riêng, có những tản văn độc đáo, ghi dấu ấn trong lòng độc giả

Trang 30

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, chúng tôi giới thiệu khái quát về tiểu sử, quá trình sáng tác, quan điểm sáng tác của Nguyễn Quang Thiều Chúng tôi đi sâu vào bức tranh tản văn Việt Nam đương đại, khái lược về hai khuynh hướng sáng tác chính trong bộ phận sáng tác này: - Khuynh hướng Thế sự - Đời tư và khuynh hướng các vấn đề văn hóa Đặt tản văn của Nguyễn Quang Thiều vào dòng chảy ấy, chúng tôi khẳng định sự độc đáo của tản văn Nguyễn Quang Thiều:

Đó là sự kết hợp biến ảo, tài hoa khi vừa khai thác phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi Thế sự - Đời tư vừa nghiền ngẫm, làm nổi bật những vấn đề nóng bỏng thuộc phạm trù văn học của đất nước ta hiện nay Qua đó nhà văn

gửi gắm những thông điệp nghệ thuật giàu tính nhân văn

Trang 31

Chương 2 HOÀI NIỆM VỀ VĂN HÓA LÀNG QUÊ VIỆT NAM VÙNG BẮC BỘ

TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

Văn hóa đồng bằng Bắc Bộ có từ rất lâu đời Bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau là bấy nhiêu tuổi của nền văn hóa Văn hóa làng quê Bắc Bộ thực chất là

hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức, hành vi những phong tục, tập quán, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình tổ chức, giữ gìn cuộc sống của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành từ lâu đời và suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, người dân sống theo xóm, làng, xã, tạo thành một thể thống nhất gọi là cộng đồng làng xã Cộng đồng đó cùng sinh sống, ăn, ở và có những thói quen, phong tục, tập quán riêng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên một bản sắc văn hóa Văn hóa đồng bằng Bắc Bộ được bộc lộ trong lối sống, phong tục, tâm tính con người, trong kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng - tôn giáo, hương ước Nó thể hiện ra ở đình, chùa, miếu, lũy tre, cây đa, bến nước Những yếu tố vật thể và phi vật thể trên không đứng đơn lập mà hòa quyện vào nhau, tích hợp lại thành bản chất, đặc trưng văn hóa làng, lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhưng ngày ngay, khi đất nước thay đổi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làng quê dần bị đô thị, chính vì vậy con người thay đổi thói quen, nếp sống và văn hóa làng cũng dần thay đổi

2.1 Tình yêu và sự luyến tiếc cho những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam đang mai một

Giá trị văn hóa làng quê Việt Nam vô cùng quan trọng và cần được gìn giữ, bởi lẽ nó giống như một điểm tựa giúp con người chinh phục thiên nhiên, cải tạo cuộc sống, chống quân xâm lược và tạo nên sự đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng Tình yêu làng quê luôn thường trực trong mỗi con

“người quê” Ngày nay, theo sự phát triển của xã hội, mặt trái quá trình đô thị hóa làm mai một giá trị văn hóa làng quê Chính vì vậy trong mỗi trang tản văn

Trang 32

của Nguyễn Quang Thiều đều nóng hổi hơi thở của tình yêu và sự luyến tiếc những giá trị văn hóa truyền thống đó

2.1.1 Văn hóa kiến trúc của làng quê trong quá trình đô thị hóa

Kinh thành Thăng Long xuất hiện ở nước ta vào thế kỉ XI- thời Lí, Trần là một trong những đô thị đầu tiên ở nước ta Ngay từ khi ra đời, nó mang đặc điểm rõ nét của một đô thị Hiểu theo nghĩa nôm na thì đô thị nghĩa là một khái niệm phân tách rõ giữa “đô” và “thị” “Đô” chính là từ chỉ không gian chính trị, khu vực có tường bảo vệ, bao bọc (đô thành) “Thị” nghĩa là chợ Vậy khái niệm đô thị có thể hiểu là khu vực có tường thành bao bọc bảo vệ và bên cạnh

là chợ - nơi tấp nập người mua bán Hiểu rộng ra thì đó là một nơi có sự giao thương buôn bán, cuộc sống của con người tấp nập, ổn định, phát triển và sung túc hơn những nơi khác Chính vì vậy kinh thành Thăng Long xưa là mầm mống đầu tiên của đô thị Rồi dần dần theo sự phát triển của xã hội cũng đồng thời do sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử đất nước, đô thị dần được mở rộng, dẫn đến hiện tượng đô thị hóa

“Đô thị hóa” chính là sự thay đổi theo hướng đô thị, trở thành đô thị Đứng trên phương diện của ngành địa lí học mà nói thì đô thị hóa chính là sự

mở rộng của đô thị, sự thay đổi, sự phát triển rộng rãi lối sống thành thị thể hiện qua chất lượng cuộc sống, mật độ dân số…Đô thị hóa được tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của vùng, khu vực đó Hiện tượng đô thị hóa bắt đầu từ việc dịch chuyển dân

cư từ nông thôn ra thành thị hoặc sự nhập cư đến thành thị Ngày nay người ta định nghĩa chính xác về quá trình đô thị hóa như sau: Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội mà biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy

mô của các đặc điểm dân cư đô thị, sự tập trung dân cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị Quá trình đô thị hóa cũng sẽ có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của xã hội

và môi trường

Trang 33

Văn học chính là tấm gương chân thực phản ánh hiện thực khách quan Soi mình vào văn học, cuộc sống con người sẽ hiện rõ nét và sống động Văn học luôn phản ánh kịp thời sự thay đổi của xã hội và kịp thời cảnh báo, nhắc nhở con người Có rất nhiều nhà thơ, nhà văn đề cập và theo sát bước chuyển dịch của xã hội Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa Có người vui mừng, cổ vũ và tự hào khi thấy đất nước đổi thay, có người lại hoài niệm về một thời xa xưa của đất nước và để lại trên mỗi câu từ một nỗi buồn khắc khoải Chúng ta không còn quá xa lạ với một nhà thơ được xem là

“người vắt mình qua hai thế kỉ”, “người dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa” Ông là gạch nối giữa thơ cũ và thơ mới Nhà thơ đó không ai khác là Tản Đà Sinh ra ở cuối thể kỉ XIX nửa đầu thê kỉ XX, Tản Đà chứng kiến các đô thị chuyển động dần theo hướng đô thị hiện đại, phương Tây Ông buồn tiếc nên gửi gắm tất cả nỗi niềm vào thơ Sự thay đổi đó được ông ghi lại trong thơ của mình khá rõ Chẳng hạn bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” Ông chạy trốn trần thế, chạy trốn thực tại để tìm cho mình một chốn bình yên, chốn đó không đâu khác chính là cõi tiên Một nhà thơ nữa đã dành

cả cuộc đời để đi thi nhưng chỉ đỗ đến Tú Tài, ông từng tự trách bản thân mình

vô dụng, nhà thơ ấy chứng kiến cảnh đô thị hóa mà đau lòng - không ai khác đó chính là Tú Xương Ông luôn ý thức được tài năng của mình, tuy nhiên cuộc sống xô bồ, xã hội lố lăng, Á Âu lẫn lộn ấy đã vùi dập tài năng của ông Ông chỉ còn biết gửi gắm tâm sự của mình qua những vần thơ Đau lòng trước cảnh

xã hội đổi thay, ông thốt lên:

“Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”

Mầm mống của sự hiện đại hóa chính là sự thay đổi trong lối sống của con người, lối sống đó một phần là do sự tự thay đổi với những nhu cầu tự thân,

Trang 34

một phần là do sự ảnh hưởng và học tập lối sống phương Tây mà thực dân Pháp đem tới Sự di dân từ nông thôn ra thành thị đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Còn trong xã hội Việt Nam đương đại, quá trình đô thị hóa trước hết là một tín hiệu vui nhưng mặt trái của nó là sự mai một bản sắc văn hóa làng quê

Vì thế Nguyễn Quang Thiều trong tập tản văn “Mùi của kí ức” và “Có một kẻ

rời bỏ thành phố” đã phần nào làm rõ hơn sự thay đổi của làng quê, của nông

thôn Việt Nam

Nguyễn Quang Thiều sinh ra và lớn lên tại làng Chùa Đây là một ngôi làng cổ, ở đó, người dân từ bao đời nay sống sau lũy tre làng, sống với mái đình cổ kính và nếp sống đầy lề lối riêng Ở đó, người dân trọng đạo đức, trọng thơ văn và trọng tình nghĩa Làng Chùa quê ông cũng như bao làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có những quan niệm và tình yêu với văn hóa làng quê,

có chuẩn mực đạo đức, có lối sống, phong tục, tâm tính con người, có tín ngưỡng, tôn giáo, hương ước Văn hóa làng được truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như lớp tre già măng mọc Nguyễn Quang Thiều lớn lên trong một cái nôi mà ở đó, trong kí ức của ông đó là ngôi làng với hai thế giới: Thiên nhiên hoang dã và một số nét đặc sắc trong văn hóa làng quê vùng Bắc Bộ - trong văn hóa làng có cả những mỹ tục và hủ tục thuộc lễ giáo phong kiến Những ấn tượng về làng trong ông còn nguyên vẹn dù đã trở thành công dân của đô thị từ lâu Đến bây giờ khi thấy làng thay đổi, ông bồi hồi nhớ lại, lục lại trong kí ức

xưa để tìm về, thủy chung với một thời đã qua: “Suốt trong những năm tháng

thơ ấu cho đến khi rời làng đi học xa, cũng như những đứa trẻ trong làng, tôi lớn lên trong hai thế giới: Thiên nhiên hoang dã và lề thói phong kiến Vào những năm chiến tranh, hầu hết những người đàn ông lành lặn của làng đều đi vào mặt trận, bởi thế mà phần lớn những gì chúng tôi học được cho cuộc dời sau này là từ thiên nhiên hoang dã ấy và từ những người đàn bà như bà nội tôi,

mẹ tôi, các cô, các dì, các chị những người đàn bà trong làng Họ dạy chúng tôi mọi thứ để sinh tồn như mò cua, bắt cá Cấy lúa, trồng rau, chăn gà vịt, tự

Trang 35

chăm sóc bản thân và cả cách tuốt chứng chấy và bắt rận Từ lúc lên năm, sáu tuổi, chúng tôi đã phải nâu ăn Bởi thế tất cả những món ăn của người làng Chùa tôi đều biết cách nấu như mổ lợn, mổ gà vịt, gói giò xào, nấu thịt đông, nấu canh cua cá, kho cá, nướng cá, làm tương, muối cà, đồ xôi, làm bánh…”[40,tr8] Trong trí nhớ của Nguyễn Quang Thiều, làng quê xưa hiện về

nguyên vẹn Từ hình ảnh người bà, người mẹ, những người dân quê chất phác thật thà, từ những tập tục, nét văn hóa, cuộc sống mưu sinh, ông đều nhớ rất rõ Ông thấy rằng tuổi thơ của những đứa trẻ sống sau lũy tre làng đó là một cuộc sống tự lập Chúng tự lớn lên, được học cách tự trưởng thành như cây cỏ thiên nhiên Chúng biết tất cả mọi thứ, sành sỏi như một người lớn Làng quê Việt Nam xưa cũng vậy, con người tự lập, thích nghi để tồn tại và phát triển mạnh

mẽ, dẻo dai Họ gắn bó với thiên nhiên nhưng thiên nhiên xưa cũng thuần hậu

và hiền lành Trong kí ức của Nguyễn Quang Thiều, làng quê Việt Nam nói chúng và làng Chùa quê ông nói riêng còn mang một đặc trưng nổi bật, đó là cái đói, cái nghèo Nghèo đói là cụm từ quen thuộc khi nhắc tới những người dân quê Nghèo đói bởi vì đông con, nghèo đói bởi vì kinh tế tự cung tự cấp, làm ra gì ăn nấy, nghèo đói cũng bởi vì con người thuần hậu, chân chất, đậm

chất quê “Trong suốt tuổi thơ, có một ngọn gió không bao giờ ngưng thổi qua

cuộc đời những đứa trẻ thôn quê như tôi - ngọn gió của đói rét Lúc nào chúng tôi cũng đói, lúc nào chúng tôi cũng rét như ông bà, cha, mẹ chúng tôi Lúc nào chúng tôi cũng sống trong ngôi nhà ẩm thấp, mù tối và tiếng chó sủa đêm Chúng tôi ăn đủ thứ tìm thấy để lớn lên như rau dại, quả dại, côn trùng…”

[40,tr9] Ngọn gió luôn thổi qua những mảnh đời mù tối của những người dân quê đó là ngọn gió của cái đói, cái nghèo Cơn gió đó thổi qua là mỗi lần những người dân quê da mặt bủng beo, mặt mày xám xịt, cái đói, cái nghèo hiện rõ trên từng hốc mắt, từng gò má Nhưng trong cái đói, cái nghèo người ta vẫn vui, vẫn hạnh phúc Trẻ con mang trong mình một “tuổi thơ dữ dội”, nhưng kí

ức đó sẽ là hành trang cho chúng bước vào cuộc đời Đó chính là hồi ức về một

Trang 36

bức tranh làng quê được Nguyễn Quang Thiều phác họa bằng vài nét chấm phá giản đơn Bức tranh đó giản dị mà bình yên Dần dần, qua từng dòng chữ, qua từng trang viết, bức tranh ấy đầy đủ và rõ nét hơn với vẻ đẹp mộc mạc, trong trẻo tồn tại bền bỉ trong nghèo đói Tuy nhiên làng quê xưa là vậy, còn giờ đây, văn hóa làng quê đang bị đô thị hóa Văn hóa làng bao gồm nếp sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt vật chất, tinh thần, thuần phong

mĩ tục, hương ước… Khái niệm văn hóa làng rất rộng, bao gồm nhiều phạm trù Phạm vi văn hóa mà Nguyễn Quang Thiều đi sâu phản ánh đó chính là đời sống vật chất, tinh thần của người dân làng Chùa bắt đầu thay đổi Rõ nét nhất

đó chính là sự thay đổi của kiến trúc làng quê ông

Nói đến kiến trúc của làng quê, từ bao đời nay luôn gắn liền với cây đa, giếng nước sân đình Làng sẽ được bao bọc trong những lũy tre làng kiên cố, trong làng sẽ có những ngôi đình, ngôi chùa, những con đê, cái ao, con đường Ngày xưa, ông cha ta xây nhà bằng đất, bằng gạch tổ ong và ngôi nhà thường phủ lớp rêu cổ kính Bây giờ thì sao? Làng Chùa quê Nguyễn Quang Thiều cũng nằm trong mạch chảy đô thị hóa, đã và sẽ thay đổi Nhưng vì nó nằm ở ven thủ đô Hà Nội nên tốc độ đô thị hóa khá nhanh Ông sinh vào giữa thế kỉ

XX vậy mà chỉ khoảng năm mươi năm sau, khi nhìn lại, ông hốt hoảng giật mình bởi một thế giới quanh ông xa lạ, ồn ào Với ông, để tìm về chốn bình yên chỉ có thể tìm trong kí ức, hoài niệm

Đô thị bắt đầu từ phương diện nào của những không gian làng quê? Từ con đường quê Con đường đất mà trước kia nhỏ xíu, lầy lội khi trời mưa giờ được

bê tông hóa, trở nên hiện đại: “Khi tâm hồn ta vắng những giấc mơ, khi đôi cánh

của tâm hồn chúng ta không còn đập da diết, thì chúng ta bắt đầu trở về thế giới của hoang thú ngay trên những con đường hiện đại siêu tốc của chúng ta Chúng

ta tưởng chúng ta đang bay lên về phía ánh sáng nhưng thực tế là chúng ta đang mỗi ngày chìm vào bóng tối của dục vọng”[37,tr7] Con đường quê giờ trong cái

nhìn của ông là một con đường hiện đại siêu tốc Đó không còn là con đường đi

Trang 37

bộ ngày xưa, không còn là con đường mà mỗi người dân đạp xe đi làm trong cái khung cảnh yên bình của làng quê thuần phác Giờ đây đó là con đường của ô tô, của xe máy, của những con tàu, ngày đêm xình xịch, bấm còi inh ỏi mỗi khi tắc đường Con đường nhỏ thân quen, hai bên bờ là những cánh đồng hay những cái

áo làng ngày xưa giờ biến thành những ngõ hẻm thiếu ánh mặt trời, nhà cao tầng san sát Thật đúng với câu nói: “Đất chật người đông” để rồi tình người ngày một khô cạn khi lối sống thực dụng lên ngôi

Con đường nhỏ lại là do con người đã xây những ngôi nhà tầng cao vút Ngôi nhà mà họ cứ nghĩ rằng tiện nghi, hiện đại thực chất đó chỉ là những ngôi

nhà mệt mỏi: “Hàng triệu đứa trẻ lớn lên từ những ngôi nhà mệt mỏi của

chúng ta Nhiều lúc, chúng ta trở về nhìn thật sâu vào ngôi nhà của chính mình Chúng ta mới giật mình kinh hãi vì sự hoang vắng của ngôi nhà Hoang vắng bởi ở đó chỉ là một cánh rừng của những vô cảm: Tủ lạnh, tivi, đồ gỗ, máy rử rau quả, lò vi sóng, máy giảm béo, hàng thời trang…”[37,tr8] Thế giới

mà con người đang xây dựng là một thế giới tôn sùng vật chất Ở đó, chỉ có sự

vô cảm, biến cái tính cách vốn thuần hậu, giản đơn của con người trở nên cáu kỉnh, điên rồ, nổi loạn, mệt mỏi…Nhưng chính bản thân chúng ta lại chẳng hiểu những tính cách đó sinh ra từ đâu? Thế hệ trẻ tương lai sẽ ra sao khi sống

và lớn lên trong ngôi nhà mệt mỏi và hoang vắng đó Thật ra, ngôi nhà cao tầng

đó không hề nhỏ, trong ngôi nhà đó không hề hoang vắng mà vô cùng chật chội bởi các đồ đạc tiện nghi Nhưng dù hiện đại đến mấy, cái ngôi nhà thiếu là tình cảm con người Nếu như làng Chùa xưa, dù đói, dù no, dù đầy đủ, hay túng thiếu, mẹ cha vẫn bên con trong bữa cơm chiều nghi ngút khói, người làng Chùa vẫn cười nói, hỏi han mỗi khi ra đường gặp nhau… thì giờ đây thứ tình cảm đó thay bằng sự im lặng, bận rộn của nhịp sống đô thị hóa gấp gáp Trẻ con sẽ bớt tiếng cười hồn nhiên, bớt những trò chơi tuổi thơ, mà giờ đây, chúng

như những cỗ máy: “Chúng ta đổ vào những đứa trẻ mọi thứ vật chất tốt nhất

như quần áo, thực phẩm, đồ chơi và cả các thầy cô Tại sao tôi lại gọi thầy cô

Trang 38

là một thứ vật chất? Bởi không ít thầy cô chỉ coi những đứa trẻ như một cái ổ cứng computer hay một cái USB để nạp tất cả những gì từ giáo án giáo trình của họ Họ chỉ truyền vào những đứa trẻ những công thức và những định nghĩa

vô cảm giống như người ta cài đặt chương trình cho một cái máy” [37,tr8]

Đô thị hóa sẽ đánh mất đi vẻ đẹp yên bình vốn có của làng quê Việt Nam

xưa “Nhưng có một lúc nào đó khi bạn đang chen chúc để đi qua những dòng

xe máy hỗn loạn trên phố cùng với sự thật của một thời đại kiến trúc hỗn loạn của Hà Nội bạn bỗng phát hiện ra một Hà Nội xưa còn sót lại với một lí do nào

đó làm bạn nao lòng Đó có thể chỉ là một cây hoàng lan già, một cái cổng nhà rêu phong, một mái ngói đặc trưng phố cổ, một ô cửa sổ gỗ mòn bạc…Đó là một phần những di sản còn sót lại của đất Thăng Long” [37,tr 61] Nguyễn

Quang Thiều đã từng lặng người trước một cây hoàng lan, một cổng nhà rêu phong hay đơn giản chỉ là một góc cửa đã mòn bạc Bởi lẽ tất cả những điều đó

đã gợi cho ông về một thế giới diệu kì xưa Giờ đây, sống trong sự hiện đại, ông cảm thấy mình lạc lõng, bơ vơ Ông như thuộc về một thế giới khác, thế giới cách ông 50 năm trước Thế giới của những gì đã cũ, đã mòn, đã rêu phong

cổ kính Thế giới của lớp người xưa trầm lặng, không vội vã, ồn ào, trọng tình nghĩa hơn vật chất, và đặc biệt là biết yêu thương nhau, yêu thương và bảo vệ môi trường sống của chính mình

Từ sự thay đổi về kiến trúc sẽ dẫn đến sự thay đổi về tâm tư, tính cách của những con người sống trong các tổ hợp kiến trúc đô thị ấy Điều mà người ta đang lo ngại nhất chính là học sinh - thế hệ trẻ tương lai Nguyễn Quang Thiều

đau lòng khi thấy cảnh “Những nam nữ học sinh bỏ nhà đi lang thang và khuya

thì chui vào nhà nghỉ Chúng là những kẻ vô gia cư chăng? Không Chúng là những đứa con của không ít gia đình khá giả Những nam thanh niên tháo bỏ phanh xe máy và lao vào cuộc đua trên những đường phố và sẵn sàng chết Họ

là những kẻ mắc bệnh tâm thần chăng? Không Nhiều người trong họ là những trai thanh gái tú Những cô bé học sinh buộc tay vào nhau và nhảy xuống sông

Trang 39

tự vẫn? Chúng là những đứa trẻ tuyệt vọng chăng? Không Chúng đang được nuôi nấng khá đầy đủ về vật chất và chưa phải lo lắng chuyện gì trong đời này

[37, tr93] Cái chúng thiếu không phải là vật chất mà là sự yêu thương, quan

tâm của cha mẹ, của người thân Sống trong một đô thị bắt đầu băng giá tình người, chúng sẽ vô cảm và tự kỉ sẽ nổi loạn mà có lẽ cũng không hiểu vì sao Con người vẫn thường tự hào về những gì mình đang làm Họ tự hào vì mình đã biến một làng quê nghèo nàn thành một khu đô thị sang trọng, hiện đại Họ biến con đường làng nhỏ hẹp thành những con đường lớn, bê tông hóa, nhựa hóa Họ biến những ngôi nhà tổ ong rêu phong cổ kính hay những ngôi nhà đất lợp lá thành những chung cư cao tầng Họ biến những ngôi đình, ngôi làng - nơi tôn nghiêm và được xem là nơi linh thiêng, trang trọng của làng quê xưa thành nơi ồn ã, đầy rẫy những vụ lợi cá nhân Nhưng giỏi hơn nữa là việc

họ biến những đứa trẻ hàng ngày chăn trâu, thổi sáo thả diều, sống trong những tiếng cười, sự yêu thương chở che thành những đứa trẻ câm lặng, suốt ngày chỉ lao đầu vào chiếc coputer, smartphone…Biến đổi cả một thế hệ con người như vậy thành những “rô bốt” bằng da bằng thịt mới thật đau đớn và xót xa?! Nhưng có biết đâu càng hiện đại bao nhiêu thì càng nhiều hệ lụy bấy nhiêu Trong mỗi trang văn của Nguyễn Quang Thiều, trên mỗi dòng chữ là những dòng tâm sự lúc ẩn kín, lúc phô bày một cách trực tiếp với bao trăn trở đầy trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ tâm huyết với con người và cuộc đời Và nếu nhà văn nào trở thành vô cảm, danh hiệu nghệ sĩ vẫn còn nhưng trái tim nghệ sĩ đích thực đã chết!

Quá trình đô thị hóa là một quy luật tất yếu trong sự phát triển của xã hội

Đô thị hóa không phải là xấu và cũng không nên phê phán Đô thị hóa có mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó Xét về mặt tích cực: Quá trình đô thị hóa làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội, cải thiện đời sống của người dân đồng thời giải quyết nhu cầu việc làm của họ Tuy nhiên đô thị hóa quá nhanh, ồ ạt sẽ dẫn đến

sự chênh lệch giàu nghèo, mất cân bằng xã hội và kéo theo nhiều hậu quả khác:

Trang 40

thất nghiệp, mù chữ, ô nhiễm môi trường Trong tản văn của Nguyễn Quang Thiều ông không nói nhiều đến những tác hại lớn đó Tuy nhiên ông cũng mạnh dạn nói lên suy ngẫm, sự trăn trở của mình trước sự thay đổi của làng quê Ông buồn khi hương vị ẩm thực không còn như xưa, món ăn dân dã đổi vị, hình bóng người xưa xa khuất, khung cảnh yên bình trôi xa Ông buồn vì thói quen, lề lối, kể cả những lề thói phong kiến có giá trị tích cực ăn sâu từ bao đòi nay vào tiềm thức của người dân cũng dần thay đổi, để thay vào đó là một làng quê mang dáng dấp mới Ông buồn vì kiến trúc của làn quê mất đi cũng đồng nghĩa với văn hóa làng quê cũng mất đi Làm sao để đô thị hóa mà vẫn giữ được tinh hoa văn hóa làng? Giữ được tình người như cũ? Đó chính là thông điệp nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi tới bạn đọc

2.1.2 Văn hóa ẩm thực của làng quê đồng bằng Bắc bộ

Mỗi địa phương, mỗi làng quê Việt Nam đều có những món ẩm thực riêng Chúng ta không còn xa lạ gì với những tên địa danh gắn với tên ẩm thực chẳng hạn như: Phở bò Nam Định, bánh Cáy Thái Bình, cơm cháy, gà đồi, dê núi Ninh Bình, bánh cu đơ Hà Tĩnh… Trong văn học không hiếm các nhà thơ, nhà văn dùng cả đời mình nuôi dưỡng các giác quan của độc giả bằng văn hóa

ẩm thực Thạch Lam, Nguyễn Tuân là những tên tuổi nổi bật khi nhắc tơi mảng

ẩm thực này Một cốm làng Vòng đưa con người ta vào chốn si mê của hương

vị trời đất kết tinh trong cốm Một chén trà được nấu bằng những giọt sương sớm đọng trên lá sen, rau muống lớn lên trong vỏ con ốc khi luộc lên xanh mướt có hương vị của thôn quê ngọt lành…Tất cả những điều đó đánh thức tình yêu, niềm tự hào về tinh hoa văn hóa Việt trong “mảng” ẩm thực con người dù chỉ là qua trang viết

Ẩm thực của làng quê Bắc bộ phong phú và dân dã trong những dòng tản văn của Nguyễn Quang Thiều Bằng trí nhớ và hồi tưởng, ông đã dựng lại một bức tranh làng quê sinh động, gợi nhắc lại tình người thấm vào trong các món

ăn Món ăn làng Chùa quê ông phong phú: Canh cua nấu cải, bánh khúc, bánh

Ngày đăng: 19/12/2019, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2014), Làng quê đang biến mất, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng quê đang biến mất
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2014
2. Nguyễn Việt Chiến (2011), Đám mây thơ trên cây ánh sáng, http://thanhnien.vn, ngày 22/5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám mây thơ trên cây ánh sáng
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2011
3. Nguyễn Đăng Điệp (2013), Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều, http://vienvanhoc.vass.gov.vn, ngày 10/1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2013
4. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Nguyễn Quang Thiều: nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông, http://talawas.org, ngày 15/4/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều: nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
5. Lê Thu Hà (2013), Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều, Luận văn thạc sĩ, ĐH KHKH &NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn của Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 2013
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
7. Nguyễn Thị Hiền (2003), Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975, Luận án, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2003
8. Phùng Hiệu (2015), Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - thơ ca có thể cứu rỗi thế giới, http://congluan.vn, ngày 26/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - thơ ca có thể cứu rỗi thế giới
Tác giả: Phùng Hiệu
Năm: 2015
9. Tăng Thị Hoàn (2012), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại, Luận văn thạc sĩ, ĐH KHKH & NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại
Tác giả: Tăng Thị Hoàn
Năm: 2012
10. Nguyễn Thị Bích Hợp (2008), Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ 1990 - 2000, Luận văn thạc sĩ, ĐH KHKH & NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ 1990 - 2000
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hợp
Năm: 2008
11. Châu Minh Hùng (2009), Tự do cho thơ tự do, http://tapchisonghuong, ngày 20/1/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do cho thơ tự do
Tác giả: Châu Minh Hùng
Năm: 2009
12. Jean Chevalier - Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier - Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
13. Đông La (2010), Về tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều, http://tapchisonghuong.com.vn, ngày 13/4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Đông La
Năm: 2010
14. Đông La (2011), Văn Nguyễn Quang Thiều - những khúc bi ca về tình yêu bất tử, http://nhavantphcm, ngày 24/11/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Nguyễn Quang Thiều - những khúc bi ca về tình yêu bất tử
Tác giả: Đông La
Năm: 2011
15. Đông La (2012), Sự mất ngủ của lửa hay sự thao thức của một hồn thơ, http:///nhavantphcm, ngày 29/6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự mất ngủ của lửa hay sự thao thức của một hồn thơ
Tác giả: Đông La
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Loan (2011), Nguyễn Quang Thiều miền tâm linh ngập tràn châu thổ, http://nhavantphcm, ngày 25/8/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều miền tâm linh ngập tràn châu thổ
Tác giả: Nguyễn Thị Loan
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Loan (2011), Những cách tân nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Nguyễn Thị Loan
Năm: 2011
18. Nguyễn Thành Linh (2017), Những khắc khoải làng quê trong mùi của ký ức,https://nguyenthanhlinh.com,ngày 1/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thành Linh (2017), "Những khắc khoải làng quê trong mùi của ký ức
Tác giả: Nguyễn Thành Linh
Năm: 2017
19. Lý Thị Nhiên (2015), Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Tác giả: Lý Thị Nhiên
Năm: 2015
20. Nhiều tác giả (1997), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w