1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luân án tiến sĩtái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước ngành xây dựng ở việt nam – nghiên cứu từ trường hợp của tổng công ty cổ phần vinaconex

23 572 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Thái Nguyên Đại học Southern Luzon State Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN Nước cộng hòa Philippines LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH TÁI CẤU TRÚC CÁC DOANH NGHIỆP

Trang 1

Trường Đại học Thái Nguyên Đại học Southern Luzon State

Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN Nước cộng hòa Philippines

LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TÁI CẤU TRÚC CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NGÀNH XÂY DỰNG Ở VIỆT

NAM – NGHIÊN CỨU TỪ TRƯỜNG HỢP CỦA TỔNG CÔNG TY

CỔ PHẦN VINACONEX (Bản Tóm Tắt )

Người hướng dẫn khoa học: Dr Melchor Melo O Placino Nghiên cứu sinh: Nguyen Phuc Huong

Researcher ID: SLSU-DBA12009-21 Date of birth: November 30, 1975 Course: SLSU-DBA1 (2009-2013)

Thái Nguyên, tháng 11/2013

Trang 2

Vừa qua ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020, trong đó tập trung tái cơ cấu đầu tư công, các tổ chức tín dụng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Thực hiện chủ trương đó, các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam nói chung và các Tổng công ty trong ngành xây dựng nói riêng cũng đã và đang thực hiện kế hoạch tái cơ cấu quá trình sản xuất kinh doanh của mình Tuy nhiên, thực tế việc tiến hành quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước diễn ra rất chậm

và chưa có hiệu quả rõ rệt

Vinaconex là một trong những Tổng công ty đứng đầu trong ngành xây dựng tại Việt Nam Tổng Công ty Vinaconex hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối (>51%) Vinaconex đã tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp từ khá sớm; tuy nhiên, trong quá trình tái cấu trúc này, Tổng Công ty Vinaconex đã đối mặt với nhiều vấn đề bất cập mà trước đó họ đã không lường trước được

Với bối cảnh và thực tế như nâu trên, tác giả đã chọn đề tài “Tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà nước trong nghành xây dựng ở Việt Nam – nghiên cứu từ trường hợp của Tổng Công ty cổ phần Vinaconex” để nghiên cứu

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm chỉ ra 5 mục đích sau đây:

- Đánh giá về nhận thức cũng như cách thức triển khai quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước của các nhà quản lý ở Việt Nam;

- Xác định các yếu tố/vấn đề chính ảnh hưởng đến quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp tại Tổng Công ty Vinaconex, từ đó khái quát/ứng dụng cho các doanh nghiệp trong ngành xây dựng tại Việt Nam;

- Đánh giá ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu vốn, cấu trúc cổ đông tới hoạt động của công ty và tới quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp;

- Đề xuất mô hình hợp lý cho Vinaconex sau khi tái cấu trúc doanh nghiệp;

- Đề xuất, kiến nghị chính sách với Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc triển khai quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các câu hỏi sau:

(1) Nhận thức và thực tế áp dụng của các nhà quản lý của Việt nam về tái cấu trúc doanh nghiệp ra sao?

(2) Khung lý thuyết nào (yếu tố/các vấn đề) được sử dụng trong phân tích tái cấu trúc trong các doanh nghiệp Nhà nước?

(3) Cổ đông nhà nước và cơ cấu sở hữu vốn ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước ngành xây dựng ra sao?

(4) Mô hình nào thích hợp cho Vinaconex sau khi tái cấu trúc doanh nghiệp?

(5) Chính sách nào được đề xuất để hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp?

1.4 Giả thuyết

Giả thuyết sau đây được trình bày và thử nghiệm bằng cách sử dụng phương pháp thống

kê để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và định hướng cho cuộc điều tra và dữ liệu lựa chọn

Trang 4

H1: Tái cơ cấu sẽ cải thiện khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp trong việc hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp

H2: Tái cơ cấu sẽ cải thiện tình hình sở hữu hiện tại của doanh nghiệp

H3: Tái cấu trúc sẽ cải thiện sự lãnh đạo và quản lý nguồn nhân lực của Doanh nghiệp

1.5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là: Chủ yếu tập trung vào tổng công ty cổ phần Vinaconex (bao gồm Công ty mẹ và các các công ty con của Vinaconex)

- Số liệu điều tra thực tế trong thời gian từ tháng 5/2013 Các dữ liệu thứ cấp được dựa trên thống kê quốc gia và Báo cáo của Tổng công ty Vianconex từ năm 2010 đến 30/6/2013

1.6 Cấu trúc luận án

Luận án bao gồm 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu

- Chương 2: Các công trình nghiên cứu và tài liệu liên quan

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả và phân tích

- Chương 5: Phát hiện, kiến nghị và kết luận

Trang 5

Chương II: CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Việc tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước trong các doanh nghiệp quản lý nói chung và chuyên ngành nói riêng là một vấn đề quan tâm của các Nhà nghiên cứu, sinh viên và các nhà quản lý trong và ngoài nước Đây cũng là một chủ đề được đề cập, quan tâm tại các Hội nghị trong nước và quốc tế Một số nghiên cứu có liên quan như sau:

1.1 Các nghiên cứu quốc tế có liên quan

1.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan

1.3 Lý thuyết và khung khái niệm

Khái niệm “thay đổi cách quản lý” là khái niệm quen thuộc trong hầu hết các doanh nghiệp hiện nay, nhưng làm thế nào để các doanh nghiệp thay đổi cách quản lý (và làm thế nào để có thể thành công?) Khái niệm này rất khác nhau tùy thuộc theo sự thay đổi, tính chất của doanh nghiệp

và những người có liên quan Một phần quan trọng của sự thay đổi cách quản lý phụ thuộc vào người trong cuộc hiểu được quá trình của sự thay đổi đó

Một trong những mô hình nền tảng của sự thay đổi tổ chức đã được ông Kurt Lewin nghiên cứu và phát triển Lewin là một nhà vật lý và là nhà khoa học xã hội, ông đã giải thích sự thay đổi

tổ chức bằng cách sử dụng biện pháp phân tích theo hình dạng thay đổi của một tảng băng Thay

đổi mô hình quản lý Kurt Lewin bao gồm 3 giai đoạn thay đổi: Rã đông – Thay đổi – Đông lạnh

1.4 Khung lý thuyết

Tái cấu trúc doanh nghiệp liên quan đến những thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức để nâng cao “năng lực và hiệu quả” của doanh nghiệp (Bowman & Singh, 1993) Nó liên quan đến định hướng lại việc kinh doanh các đơn vị để sắp xếp lại các nguồn lực trong một công ty có năng lực tốt hơn Theo Gibbs (1993), có 3 loại tái cấu trúc doanh nghiệp gồm: (i) tái cấu trúc tài chính bao gồm

… và những thay đổi trong cơ cấu vốn; (ii) tái cơ cấu danh mục đầu tư liên quan đến tập trung vào kinh doanh lĩnh vực cốt lõi, dẫn đến sự thay đổi về tính đa dạng của các doanh nghiệp trong danh mục đầu tư của doanh nghiệp; và (iii) tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm cả tổ chức lại và chiến lược thay đổi kinh doanh

Trang 6

Tái cấu trúc doanh nghiệp là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng hoặc là một phần của kế hoạch, khởi đầu cho sự sống còn của doanh nghiệp Quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp là một quá trình kéo dài và thận trọng, yêu cầu nhiều nhiệm và thách thức, đòi hỏi phân tích các chi phí và lợi ích xã hội Nhiệm vụ khó khăn nhất là thuyết phục người thiệt hại hiểu được mong muốn của của

sự nỗ lực cải cách (Soon, 2004) Đồng thời, đánh giá chiến lược của chính sách tái cơ cấu, tái cấu trúc và chính sách tinh giảm biên chế được coi là mô hình quản lý chịu ảnh hưởng Từ đó, các doanh nghiệp có thể tận dụng hoàn toàn vào năng lực cốt lõi của họ trong việc tạo ra khả năng cạnh tranh cao nhất (Tony,1997)

Miller và Friesen (1984) cho rằng sự thay đổi môi trường, thay đổi công nghệ, phát triển tổ chức và thay đổi lãnh đạo quản lý là những lý do dẫn đến tái cấu trúc Massimo và Delmastro (2002) thấy rằng sự thích nghi của công nghệ sản xuất tiên tiến và phương thức quản lý nguồn nhân lực mới phù hợp với thay đổi tổ chức Miles, Covin và Heeley (2000) cho rằng sự năng động của môi trường ảnh hưởng tới chiến lược lựa chọn của doanh nghiệp và ôn hoà mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức, chiến lược tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Moers (2000) cho rằng tái cấu trúc cũng liên quan đến thị trường cạnh tranh mạnh mẽ Jensen (1986) tin rằng việc tái cơ cấu có thể được mô tả như việc quay trở về dòng tiền tự do cho chủ sở hữu Nghiên cứu của Hariison (1991) cho rằng một số lượng đáng kể của tái cấu trúc có liên quan đến chiến lược đa dạng hoá nhiều, trong khi các nghiên cứu của Hoskisson và Turk’s (1990) kết luận rằng tái cấu trúc là nhằm vào khắc phục các vấn đề kiểm soát có liên quan đến đa dạng hoá và dẫn đến hiệu suất kém Điều đó được giải thích một phần do dòng tiền tự do bởi vì dòng tiền tự do có chức năng cơ hội đầu tư, hoạt động lưu chuyển tiền tệ, đa dạng hoá, đòn bẩy tài chính và quản trị doanh nghiệp Hill và Snell (1988) cũng đã phát hiện ra rằng tập trung quản lý có liên quan đến sự đa dạng hoá trong nghiên cứu và phát triển chuyên sâu các doanh nghiệp Do đó, sự mở rộng quyền sở hữu liên quan đến sự

đa dạng hoá Dựa trên các tài liệu này, tác giả đề xuất một khuôn khổ phân tích cho thấy mối quan

hệ giữa biến phụ thuộc (tái cấu trúc doanh nghiệp) và biến độc lập được giới thiệu tại hình sau:

Trang 8

Chương III: PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU

Chương này trình bày các phương pháp được sử dụng cho việc nghiên cứu Các phương pháp được sử dụng là sự kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Dữ liệu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê và dữ liệu chính từ các câu hỏi khảo sát

3.1 Tổng quan về Tổng công ty cổ phần Vinaconex

- Được htành lập ngày 27 tháng 9 năm 1988 thuộc Bộ Xây dựng, trước đây gọi là Công ty xây dựng và xuất khẩu nhân lực

- Năm 1995, Vinaconex đã trở thành Tổng công ty 90 thuộc Bộ Xây dựng, được gọi là : Tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam – Vinaconex

- Thực hiện Quyết định số 84/2004/QD-TTg ngày 13/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Vinaconex là một trong những công ty nhà nước đầu tiên thí điểm cổ phần hóa toàn bộ công

ty Ngày 27/11/2006, Đại hội cổ đông Tổng Công ty đã được thành lập, Vinaconex đã chính thức đi vào hoạt động theo hình thức công ty cổ phần

- Hiện nay, VINACONEX đã và đang tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp Tính đến 30/6/2013, Vinaconex có 58 đơn vị trực thuộc trong đó có 33 công ty con có vốn chi phối (trên 51%) hoạt động trên toàn quốc với đội ngũ nhân viên hơn 34.000 cán bộ , kỹ sư, chuyên gia và công nhân

- Lĩnh vực hoạt động: Hoạt động kinh doanh xây lắp, Bất động sản, vật liệu xây dựng, tư vấn thiết kế, cung cấp điện và nước, tài chính và ngân hàng, dịch vụ, thương mại, giáo dục

- Vốn điều lệ: 210,33 triệu đô la Mỹ (~4.417.000.000 VNĐ)

- Vốn chủ sở hữu: 233,24 triệu đô la Mỹ (~4.898.000.000 VNĐ)

- Tổng tài sản: 1.353,14 triệu đô la Mỹ (~28.415.000.000 VNĐ)

3.2 Xác định mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu tại các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng, một số tổng công ty, đặc biệt là tập trung vào Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam - VINACONEX và các công ty thuộc Tổng công ty Vinaconex

Tác giả sử dụng công thức Slovin để xác định số lượng mẫu cho cuộc điều tra:

Trang 9

N: Tổng số người (hơn 34 nghìn nhân viên của Vincaonex)

e: Xác suất lỗi cam kết do việc sử dụng các mẫu thay vì số người Mức độ lỗi trong điều tra mẫu được chọn là ở mức 5%

Do đó, số lượng mẫu của cuộc điều tra là 400

3.3 Thiết kế nghiên cứu

- Các câu hỏi đã được phát triển dựa trên khung phân tích nêu trên

- Có 35 phân tích chi tiết liên quan đến từng lĩnh vực như: cạnh tranh, tài chính, quản trị doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh mới, quản lý nguồn nhân lực, xung đột, quyền sở hữu, lãnh đạo, phát triển công nghệ để có được kiến thức chuyên sâu về các vấn đề

- Sử dụng thang đo Five-level Likert điển hình cho nghiên cứu này (Mức độ đồng ý: 1 = rất không đồng ý, 2 = không đồng ý, 3 = nửa đồng ý và nửa không đồng ý, 4 = đồng ý, 5 = đồng

ý cao)

- 400 câu hỏi đã được gửi đến các cán bộ quản lý cấp cao, quản lý cấp trung và nhân viên được lựa chọn của Vinaconex, doanh nghiệp xây dựng nhà nước khác và một số lãnh đạo, viên chức của Bộ Xây dựng Việt Nam

- Sử dụng phần mềm SPSS và EXCEL để xử lý dữ liệu

Trang 10

Chương IV: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 4.1 Mô tả kết quả khảo sát

Bảng trên cho thấy đa số đối tượng điều tra là nam (chiếm tới 91,25%) chỉ có 8,75 % là

nữ (35/400 người) Trong đó có tới trên 52,6% nam giới ở độ tuổi từ 50 trở lên (cao hơn mức chung 50%) và chỉ có gần 23% nữ ở độ tuổi này

Về vị trí công tác: có tới 27,75% là bộ phận lãnh đạo cao cấp (Tổng GĐ, Phó tổng GĐ,

GĐ, PGĐ, Chủ tịch Công đoàn…), 32% là lãnh đạo quản lý (gồm GĐ nhân sự, GĐ tài chính, GĐ ban, PGĐ ban, trưởng ban, trưởng phòng…) và 40,25% là chuyên viên (như Đội trưởng, kế toán, chuyên viên trong các phòng ban…) Điều này cho thấy trong mẫu điều tra hầu hết là những người liên quan đến việc tái cấu trúc lại các DN, và có tới gần 60% là lãnh đạo các cấp Có thể nói với mẫu này, kết quả nghiên cứu phù hợp với thực tế và kết quả phân tích sẽ là bức tranh phản ánh tương đối tin cậy về thực trạng vấn đề nghiên cứu

Đồ thị 1: Cơ cấu độ tuổi theo vị trí công tác

Trang 11

 Bảng trên đã cho thấy rằng cán bộ lãnh đạo cao cấp có tuổi đời bình quân nhiều hơn đáng

kể so với cán bộ lãnh đạo quản lý và chuyên viên Do vậy, có nhiều ý kiến khách nhau về việc tái cấu trúc lại doanh nghiệp này

4.2 Kiểm định thang đo

Toàn bộ nội dung bảng hỏi (trừ phần thông tin chung về đối tượng điều tra) đều dùng thang đo Likert (thang đo thứ bậc) cho 35 mục với 5 mức độ phản ánh sự đồng tình của người được hỏi

Kết quả kiểm định cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha > 0,6, chứng tỏ thang đo được sử dụng trong bảng hỏi là đáng tin cậy, chúng ta có thể sử dụng dữ liệu đã thu thập được để phân tích

Cronbach's Alpha

Cronbach's Alpha Based on Standardized Items

N of Items

4.3 Phân tích từng vấn đề liên quan đến tái cấu trúc DNNN ngành xây dựng

Các nội dung liên quan đến tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước ngành xây dựng được nhóm lại trong 10 vấn đề chính bao gồm:

4.3.1 Lý do các DNNN ngành xây dựng ở Việt nam tiến hành tái cấu trúc:

Nghiên cứu đã cho thấy đa số người được hỏi đều hoàn toàn đồng tình với lý do là: Tái cấu trúc xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của chính doanh nghiệp với mục tiêu để tháo gỡ cho doanh nghiệp thoát ra khỏi tình trạng suy thoái hoặc nguy cơ phá sản Mức độ trung bình là 4,62/5 một mức độ tập trung cao Tính chung thì có tới 362/400 người được hỏi (chiếm hơn 90%) đồng ý với

lý do này

Như vậy, có thể kết luận rằng mục tiêu để tháo gỡ cho doanh nghiệp thoát ra khỏi tình

Trang 12

lại doanh nghiệp Dễ dàng nhận thấy tỷ lệ lãnh đạo cao cấp hoàn toàn đồng tình với lý do trên là rất cao (83,73%), nhưng tỷ lệ này lại giảm dần từ lãnh đạo quản lý đến chuyên viên Hy vọng rằng từ sự đồng thuận về nhận thức lý do tái cấu trúc như vậy, họ có thể dễ dàng hợp tác trong quá trình thực hiện tái cấu trúc

4.3.2 .Vấn đề cạnh tranh

Về vấn đề cạnh tranh khi các doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc, đa số ý kiến đồng tình với nhận định rằng tái cấu trúc giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào thị trường và sản phẩm mà mình có thế mạnh với mức đồng tình trung rất cao là 4,64

Ngược lại, đa số ý kiến (trên 75%) lại không đồng tình với nhận định tái cấu trúc giúp doanh nghiệp cải thiện hình ảnh, thương hiệu Đây là dấu hiệu đáng mừng trong nhận thức của các cán bộ trong ngành xây dựng, họ nhận thức rằng tái cấu trúc không phải là hình thức, hay là hình ảnh mà phải là thực chất và tạo nên thế mạnh cho doanh nghiệp

Như vậy, trong vấn đề cạnh tranh thì mục tiêu cần hướng tới khi tái cấu trúc doanh nghiệp chính là giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào thị trường và sản phẩm mà mình có thế mạnh Vì vậy, cần có sự chia sẻ về tình hình và chủ trương để mọi người hiểu và thống nhất cùng nhau thực hiện

4.3.3 Vấn đề chiến lược

Có thể thấy rõ, có tới 315 người cho rằng trong điều kiện của Việt Nam, các doanh nghiệp ngành xây dựng chỉ nên tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi liên quan đến chuyên ngành xây dựng, mức độ đồng tình trung bình là trên 4

Ngược lại nhiều người được hỏi không đồng ý với quan điểm về chiến lược trong tái cấu trúc là cần mạnh mẽ trong việc sáp nhập hoặc đóng cửa các đầu mối kinh doanh và giảm hoặc rút khỏi các địa bàn không mang lại lợi nhuận Cũng tương tự như vậy với chiến lược cho rằng các doanh nghiệp ngành xây dựng của Việt nam cần mở rộng thị trường sang các nước đang phát triển mà ở đó hạ tầng kỹ thuật, các công trình xây dựng còn chưa phát triển

Ngày đăng: 24/07/2014, 07:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy đa số đối tượng điều tra là nam (chiếm tới 91,25%) chỉ có 8,75 % là - tóm tắt luân án tiến sĩtái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước ngành xây dựng ở việt nam – nghiên cứu từ trường hợp của tổng công ty cổ phần vinaconex
Bảng tr ên cho thấy đa số đối tượng điều tra là nam (chiếm tới 91,25%) chỉ có 8,75 % là (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w