1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi

18 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhà thơ Nguyễn Đình Thi
Tác giả Nguyễn Đình Thi
Trường học Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 255,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Sơn, 12/1974 Việt Nam quê hương ta Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Quê hương biết mấy thân

Trang 1

Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Đình Thi (20 tháng 12, 1924 – 18 tháng 4, 2003) là một nhà

văn và nhạc sĩ Việt Nam

Nguyễn Đình Thi (20 tháng 12, 1924 – 18 tháng 4, 2003)

Ông sinh năm 1924 ở Luông Phabăng (Lào) Quê ở làng Vũ Thạch (nay

là phố Bà Triệu), Hà Nội Cha là viên chức Sở bưu điện Đông Dương có sang làm việc ở Lào

Ông thuộc thế hệ các nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp Ông viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận phê bình Ông được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996

Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam Từ năm1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật

Ông mất năm 2003 tại Hà Nội

Tác phẩm

Trang 2

Xung kích (1951)

Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957)

Vào lửa (1966)

Mặt trận trên cao (1967)

Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970)

Tiểu luận

Mấy vấn đề văn học (1956)

Công việc của người viết tiểu thuyết (1964)

Thơ

Người chiến sỹ (1958)

Bài thơ Hắc Hải (1958)

Dòng sông trong xanh (1974)

Tia nắng (1985)

Đất nước (1948- 1955)

Kịch

Con nai đen

Hoa và Ngần

Giấc mơ

Rừng trúc

Nguyễn Trãi ở Đông Quan

Tiếng sóng

Nhạc

Người Hà Nội

Diệt phát xít

Trang 3

Đất nước

Trang 4

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha!

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm ngát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

Trang 5

Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da

Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà!

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng

Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh.

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Trang 6

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Mây và sóng Tác giả: Nguyễn Đình Thi , Rabindranath Tagore

Mẹ ơi, kìa ai đang gọi con trên mây cao.

Họ bảo: “Chúng ta vui chơi từ tinh mơ đến hết ngày

Chúng ta giỡn với sớm vàng rồi lại đùa cùng trăng bạc”

Con hỏi: “Nhưng mà làm thế nào tôi lên trên ấy được ?”

Họ trả lời: “Con hãy đi đến hết cõi đất, rồi giơ tay lên trời con sẽ bay bổng lên mây”

Nhưng con nói: “Mẹ tôi đợi tôi ở nhà, tôi có lòng nào bỏ được mẹ tôi”

Họ bèn mỉm cười, và lơ lửng họ bay đi mất

Nhưng con biết trò chơi còn hay hơn của họ

Con làm mây nhé, mẹ làm mặt trăng,

Hai tay con ôm mặt mẹ, còn mái nhà ta là trời xanh

Mẹ ơi, kìa những ai đang gọi con dưới sóng rì rào

“Chúng ta ca hát sớm chiều, chúng ta đi mãi mãi, không biết là đi qua những đâu”

Con hỏi: “Nhưng làm thế nào tôi đuổi được theo bây giờ ?”

Họ bảo: “Cứ đi, con cứ đi đến bờ biển, đứng im, con nhắm mắt lại, sóng sẽ cuốn con đi”

Con trả lời: “Nhưng đến tối mẹ tôi nhớ thì sao? Tôi làm thế nào mà rời mẹ tôi được ?”

Họ bèn mỉm cười, và nhảy nhót, họ dần đi xa

Nhưng con biết trò chơi còn hay hơn của họ

Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển,

Con lăn, lăn như làn sóng vỗ, tiếng con cười giòn tan vào gối mẹ

Và không ai trên đời này biết được là mẹ con ta đang ở đâu!

Lá đỏ

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương

Vai ác bạc quàng súng trường.

Trang 7

Ðoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy cười đôi mắt trong.

(Trường Sơn, 12/1974)

Việt Nam quê hương ta

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

Quê hương biết mấy thân yêu

Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

Mặt người vất vả in sâu

Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

Ðất nghèo nuôi những anh hùng

Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

Ðạp quân thù xuống đất đen

Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.

Việt Nam đất nắng chan hòa

Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

Mắt đen cô gái long lanh

Yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung

Ðất trăm nghề của trăm vùng

Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem

Tay người như có phép tiên

Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

Nước bâng khuâng những bến đò

Ðêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi

Ðói nghèo nên phải chia ly

Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường

Ta đi ta nhớ núi rừng

Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ

Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô

Bát cơm rau muống quả cà giòn tan…

Trang 8

Những bài viết khác về Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Đình Thi - người nghệ sĩ đa tài

Nguyễn Đình Thi quê ở Hà Nội nhưng sinh ở Luang Prabang (Lào) Đến năm tuổi, Nguyễn Đình Thi theo bố mẹ trở về nước và đi học ở Hà Nội rồi Hải Phòng Từ nhỏ, Nguyễn Đình Thi đã nổi tiếng thông minh, học rất giỏi tất cả các môn, đặc biệt là môn Triết Đang đi học mà ông đã viết

sách triết học như "Triết học nhập môn" (1942), "Triết học Căng" (1942),

"Triết học Nitsơ" (1942), "Triết học Anhxtanh" (1942), "Siêu hình học"

(1942) và cùng một số người bạn học bí mật nghiên cứu chủ nghĩa Mác Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông học Luật ở Đại học Đông Dương và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Hội Văn hoá Cứu quốc Là trí thức yêu nước, Nguyễn Đình Thi đã sớm trở thành người chiến sĩ cách mạng trung kiên Ông đã từng là đại diện của Việt Minh trong Đảng Dân chủ Hai lần bị kẻ thù bắt bớ, tra tấn, mua chuộc nhưng ông vẫn một lòng thuỷ chung với cách mạng Tháng 7.1945, Nguyễn Đình Thi được đi dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào và được cử vào Uỷ ban Dân tộc giải

phóng Việt Nam Từ đó cho đến cuối đời, Nguyễn Đình Thi liên tục đảm nhận những cương vị quan trọng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật: Tổng thư ký Hội Văn nghệ, Tổng thư ký Hội Nhà văn, Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam

Nguyễn Đình Thi là người hoạt động chính trị, đã từng là sĩ quan quân đội, nhưng nhắc đến ông là mọi người nghĩ đến một nghệ sĩ đa tài Ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng

Trước hết về thơ, đây là lĩnh vực ông dành nhiều tâm huyết nhất, ông luôn trăn trở tìm tòi hướng sáng tạo nhằm đổi mới diện mạo thơ ca Nhờ

Trang 9

tài năng và bản lĩnh sáng tạo, Nguyễn Đình Thi có một phong cách thơ riêng, độc đáo và hiện đại Thơ ông dạt dào cảm hứng yêu thương sâu lắng về đất nước "vất vả, gian nan, tươi thắm vô ngần" Đất nước đau thương và quật khởi, con người vất vả và anh hùng là chủ đề quán xuyến trong thơ Nguyễn Đình Thi Với tình cảm gắn bó tha thiết với đất Việt yêu thương, với niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc,

Nguyễn Đình Thi đã cho ra đời những bài thơ bất hủ như "Đất nước",

"Nhớ", "Bài thơ Hắc Hải", "Lá đỏ" Những câu thơ tha thiết lắng đọng giàu

chất triết lý chiêm nghiệm về sự kỳ diệu của sự sống, của tình yêu, của sức mạnh tiềm ẩn trong con người Việt Nam hiền lành đôn hậu Thơ Nguyễn Đình Thi hàm súc và giản dị, đằng sau từng lời thơ đều như có

dư ba, đều có khả năng gợi không khí, gợi hình ảnh và tâm trạng Câu thơ của ông phóng khoáng tự do, không câu nệ vần, thậm chí không vần nhưng vẫn giàu nhạc điệu Mỗi bài thơ đều có chất nhạc riêng không lẫn được Chính những nỗ lực đổi mới thơ ca, chính những tìm tòi thể

nghiệm táo bạo của Nguyễn Đình Thi đã khiến thơ ông trở thành đề tài gây tranh luận ngay từ năm 1949 Trong suốt một thời gian dài sau đó, ông vẫn cô đơn, âm thầm một mình bước lặng lẽ trên con đường thơ mà ông đã lựa chọn Không ít những lời gièm pha, không ít những lời kỳ thị của đồng nghiệp nhưng ông vẫn tin tưởng, vẫn kiên trì một lối đi riêng bởi đó là "niềm tha thiết nhất" của ông Và thời gian chính là sự khẳng định rõ ràng nhất cho chân lý của cuộc sống Thực tế phát triển của thơ ca tiếng Việt đã chứng minh những cách tân của ông về nghệ thuật thơ ca là hoàn toàn đúng đắn và hợp quy luật Cho đến bây giờ thế hệ các nhà thơ trẻ Việt Nam đã, đang kế thừa và phát huy những thành tựu và những hướng tìm tòi của Nguyễn Đình Thi

Trong địa hạt văn xuôi, Nguyễn Đình Thi cũng có những đóng góp rất đáng trân trọng Có thể khẳng định rằng cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi gắn bó chặt chẽ với cuộc đời hoạt động cách mạng bền

bỉ của ông Nguyễn Đình Thi là nhà văn nhạy cảm và luôn có mặt trên dòng thời cuộc của dân tộc Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đình Thi là sự phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta

trong các cuộc kháng chiến "Xung kích" - tiểu thuyết đầu tay của ông đã

tái hiện sinh động cuộc chiến đấu của một đại đội xung kích trong chiến thắng trung du (1951) Tác phẩm này đã đạt giải thưởng văn nghệ 1951 -

1952 "Thu đông năm nay" (1954),"Bên bờ sông Lô" (1957), "Vào

lửa" (1966), "Mặt trận trên cao"(1967), đều là những tác phẩm mang tính

thời sự nóng hổi về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ Những tác phẩm ấy đã kịp thời cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân dân ta Nhưng không

Trang 10

phải vì thế mà nó mất đi giá trị văn chương đặc sắc, lâu dài.

Thành công lớn nhất ở thể loại văn xuôi phải kể đến hai tập của tiểu

thuyết "Vỡ bờ" Bộ tiểu thuyết này đã tái hiện bức tranh nhiều chiều của xã

hội Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945 Nó thể hiện khát vọng của nhà văn muốn vươn tới khái quát một phạm vi rộng lớn từ đô thị cho tới nông thôn, để có thể đạt tới tính chất tổng hợp quá trình vận động của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, thông qua sự thăng trầm của những số phận đại diện cho một số tầng lớp xã hội trước biến cố lớn lao của lịch sử dân tộc Tuy còn một số hạn chế không thể tránh khỏi nhưng bộ tiểu

thuyết "Vỡ bờ" vẫn là thành công của Nguyễn Đình Thi trong thể loại tiểu

thuyết có tính chất sử thi

Không những làm thơ, viết truyện mà Nguyễn Đình Thi còn là một cây bút viết lý luận, phê bình văn học khá sắc sảo và có phong cách riêng Ông viết nhiều tiểu luận tiến bộ dưới ảnh hưởng của quan điểm văn nghệ

mác xít Tiểu luận "Nhận đường" của ông đã giúp thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ tìm ra con đường đi đúng đắn: "Văn nghệ phụng sự chiến đấu

nhưng chính chiến đấu đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, sắt lửa mặt trận đang đúc lên văn nghệ mới của chúng ta" ("Nhận đường") Cuộc

kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyễn Đình Thi cùng với một thế hệ các nhà văn cách mạng như Tô Hoài, Nam Cao, Trần Đăng đã hăng hái tham gia kháng chiến, hoà vào dòng chảy của lịch sử dân tộc, vừa cầm bút vừa cầm súng đi chiến đấu chống quân thù

Tuy không phải là một người chuyên viết kịch bản nhưng cho đến nay hàng chục vở kịch của Nguyễn Đình Thi đã để lại dấu ấn sâu sắc trên sân khấu kịch Việt Nam Ông mang đến cho kịch tiếng nói mới mẻ Từ vở

"Con nai đen" (1961) đến "Hoa và Ngần" (1975), "Giấc mơ" (1983),

"Rừng trúc" (1978), "Nguyễn Trãi ở Đông Quan" (1979), "Người đàn bà

hóa đá" (1980), "Tiếng sóng" (1980), "Cái bóng trên tường" (1982),

"Trương Chi" (1983), và "Hòn Cuội" (1983 - 1986) Kịch bản nào cũng là

những nỗ lực cách tân không mệt mỏi của Nguyễn Đình Thi, nhằm mở rộng dung lượng sức chứa cũng như làm giàu thêm tính văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lý của kịch Nhiều nhà phê bình đã nhận xét về kịch của Nguyễn Đình Thi: đa dạng, giàu chất thơ, nhạc giàu tính triết lý, tưởng tượng, đan xen hài hòa giữa cái thực và cái ảo khiến cho những tác phẩm của ông mang một dấu ấn riêng biệt, độc đáo Cũng giống như thơ, số phận những tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi không

hề suôn sẻ Vở "Con nai đen" có kịch bản từ năm 1961 nhưng đến năm

1990 mới được dàn dựng lần đầu, "Hoa và Ngần" (1974) dựng xong nhưng không được công diễn Vở kịch "Nguyễn Trãi ở Đông Quan" đầy

Trang 11

tâm huyết trăn trở về cuộc đời, đã từng gây ra một hiện tượng trong đời sống sân khấu nói riêng và văn nghệ nói chung những năm đầu thập kỷ

80 thế kỷ trước, nhưng chỉ được diễn một vài lần rồi bị cấm Vở "Rừng

trúc" được viết từ năm 1979 nhưng phải chờ đợi 20 năm mới được lên

sân khấu Với những nỗ lực của các đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và Phạm Thị Thành, vở kịch đã có mặt trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ và đã được tặng Huy chương Vàng Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1999 Đây

là vở kịch thành công của Nguyễn Đình Thi, gây được tiếng vang lớn không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài Phải chăng Nguyễn Đình Thi quá tiên phong nên trở thành xa lạ hay đó là cái giá phải trả của tìm tòi thể nghiệm đầy tài năng? Là một nghệ sĩ đích thực, niềm khát vọng lớn của Nguyễn Đình Thi là góp tiếng nói chân thật, tâm huyết cho đời, góp phần làm cho đời sống xã hội trở nên nhân đạo hơn Nhưng chỉ riêng điều được nói lên sự thật đã khó biết bao! Vì vậy, ông phải mượn đề tài lịch sử, những chuyện ông Trần Thủ Độ đời Trần, chuyện ông Nguyễn Trãi thời quân Minh sang đô hộ để nói lên những vấn đề hiện tại Kịch của Nguyễn Đình Thi giàu chất triết lý, hình tượng nghệ thuật đa nghĩa, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với khán giả bình dân Thế giới nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới văn hoá đa dạng nhiều màu sắc, nơi mà dấu vết văn hoá cổ kim, đông tây, dân gian, bác học được hội

tụ và toả sáng Dù đa dạng về sắc thái tính chất nhưng tất cả đều thể hiện tình yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng tâm huyết với đất nước, với dân tộc, với nhân, thể hiện những trăn trở xót xa về số phận con người và những khát vọng sáng tạo nghệ thuật

Trong rất nhiều danh hiệu của Nguyễn Đình Thi như nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận, nhà văn hoá thì người ta còn phải nhắc đến một danh hiệu

cao quý khác, đó là nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, dẫu ở địa hạt âm nhạc

Nguyễn Đình Thi chỉ như một chàng lãng tử ghé qua đôi chút Nhưng chỉ với đôi chút ấy thôi cũng đủ làm nên những kiệt tác bất hủ Trong một đêm đầu năm 1947, lúc bắt đầu những ngày khói lửa ở Hà Nội, ông đã

cho ra đời "Người Hà Nội" - kiệt tác âm nhạc vào hàng hay nhất và lớn

nhất của âm nhạc Việt Nam thế kỷ qua Điều kỳ lạ là kiệt tác ấy lại ra đời trong một điều kiện hết sức đặc biệt Đó là một đêm ở ngoại thành, bên chiếc đàn piano cũ kỹ trong nhà dân, Nguyễn Đình Thi đã làm rung lên

những giai điệu bất diệt Và "Người Hà Nội" đã ra đời Không một ai yêu

âm nhạc, yêu Hà Nội, yêu Việt Nam nghe bản nhạc ấy mà không thấy rạo rực trong lòng những cảm giác mãnh liệt kỳ lạ Trong những ngày khởi

nghĩa tháng Tám 1945 sục sôi, Nguyễn Đình Thi cũng cho ra đời "Diệt

phát xít" - ca khúc đi vào bất tử trong lòng mỗi người dân đất Việt Tuy

sáng tác không nhiều nhưng ở lĩnh vực âm nhạc, Nguyễn Đình Thi là nhạc sĩ tài hoa và đầy tâm huyết Chỉ với 2 ca khúc nhưng ông hoàn toàn

Ngày đăng: 16/09/2013, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w