1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi

50 597 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 7,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy tôi xin cam đoan đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học “Tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thử” là kết quả của riêng tôi, không trùng với kết quả củ

Trang 1

LOI CAM ON

Lời nói đầu tiên cho phép em được gửi tới các thầy cô giáo trong Ban

giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ

văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: TS

GVC Phạm Thị Hoà lòng biết ơn chân thành và trân trọng nhất Nhờ có sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của cô giáo

hướng dẫn em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Đại học này

Do khả năng có hạn, chắc chắn khoá luận này còn nhiều thiếu sót, em rất

mong được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo

Em xin chân thành cẩm ơn!

Trang 2

LOI CAM DOAN

Dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ GVC Phạm Thị Hoà và đọc các tài liệu tham khảo, tôi đã tìm tòi và phát hiện thấy rõ hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ

nghệ thuật thể hiện hình tượng một cách có hệ thống Đặc biệt là các từ ngữ

trong thơ Nguyễn Đình Thi Do vậy tôi xin cam đoan đề tài khoá luận tốt

nghiệp đại học “Tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ

Nguyễn Đình Thử” là kết quả của riêng tôi, không trùng với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2007

Sinh viên

Hà Thị Thu Thuỷ

Trang 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Giới hạn nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

1 Hinh tuong nghé thuat 8

3 Những kiểu quan hệ trong ngôn ngữ lL 3.1 Quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập 11 3.2 Quan hệ ngang và quan hệ dọc 12

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CỦA TỪ NGỮ THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC 15

ĐAU THƯƠNG MÀ ANH DŨNG

1 Hình tượng đất nước đau thương 15

2 Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng 21

CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG CÁC TỪ NGỮ THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC 28

THANH BÌNH

1 Hình tượng thiên nhiên đất nước thanh bình 28

2 Hình tượng con người với tình yêu nam nữ 36

Trang 4

PHAN MO DAU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật thường được sử dụng có hệ

thống Tính hệ thống có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc biểu đạt nội dung

tư tưởng, tinh cdm của tác phẩm

Việc nghiên cứu tính hệ thống của từ ngữ không chỉ có ý nghĩa với người

tiếp nhận và thưởng thức văn chương nghệ thuật nói chung mà nó còn là việc làm vô cùng cần thiết với người giáo viên Ngữ văn Trong quá trình phân tích

thơ ca, việc phân tích từ ngữ theo các chủ đề tư tưởng là một điều vô cùng có ý

nghĩa Chúng giúp ta hiểu giá trị và hiệu quả của từng từ ngữ là các yếu tố nghệ thuật mà tác giả đã chọn lọc và sử dụng, đồng thời thấy được giá trị chung của các yếu tố đó khi chúng phối hợp liên kết lại với nhau một cách có

hiệu quả

1.2 Giới thiệu về tác giả

Nguyễn đình Thi (1924 - 2003) là một nghệ sĩ đa tài hiếm hơi trong đội

ngũ văn nghệ sĩ khá đông của Việt Nam Ông soạn nhạc, viết văn, làm thơ, viết kịch, viết phê bình tiểu luận ở mỗi lĩnh vực ông đều có những thành tựu

riêng để lại ấn tượng riêng trong những tìm tòi sáng tạo góp phần vào sự phát

triển của từng thể loại văn học Nhưng đến nay có thể thấy rằng trong địa hạt

văn học, cái lưu lại ấn tượng mạnh nhất sâu rộng nhất trong lòng người đọc

chính là thơ Nguyễn Đình Thi quan niệm: “Thơ là cái thiết tha nhất của tôi, cái tìm tôi khổ nhất của tôi” Vào những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi đem đến cho thơ một tiếng nói mới khác với những

phong cách của các nhà thơ trước đang chuyển mình Ông là nhà thơ của Cách Mạng tháng 8 Thơ ông tuy không nhiều nhưng nó mang đậm sức sống của một thời đại mới, mang đậm những nét suy nghĩ hồn nhiên chân thật của tâm

hồn Chất thơ không cần tô điểm nhiều nó là sự sống bình dị và gợi cảm Tác

Trang 5

giả không quan tâm khai thác những hình ảnh lạ ma ngược lại Nguyễn Đình

Thi muốn người đọc chú ý đến cuộc đời quen thuộc mà mỗi lần lại có thể nhận ra một vẻ đẹp mới của “cánh đồng”, dòng sông”, “bầu trời”, “đoá hoa” Ông có ý thức chọn lọc những hình ảnh tiêu biểu để qua đó ta thấy

được diện mạo của đời sống phong phú gần gũi

Chính vì ý nghĩa đó mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi

2 Lịch sử vấn đề

Việc xem xét tính hệ thống của từ ngữ đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm trong công trình nghiên cứu tiếng Việt tiêu biểu là

các nhà ngôn ngữ học: Đỗ Hữu Châu, Đới Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp,

Bùi Minh Toán, Hoàng Phê

Tuy nhiên các nhà Việt ngữ chỉ phân tích một số hệ thống thuộc cấp độ

từ ngữ tiêu biểu để minh hoạ cho lí thuyết Tác giả Đới Xuân Ninh đã phân tích bài “Thu Điếu” của nhà thơ Nguyễn Khuyến theo hai hệ thống “nh” và

“động” để chúng ta thấy được nét đặc sắc độc đáo của nhà thơ làng cảnh Việt

Nam Nguyễn Khuyến Tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Phân tích từ ngữ trong

giảng văn” (giáo trình từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt) đã đi vào phân tích một

số đoạn trong một vài tác phẩm: Tống biệt hành (Thâm Tâm), Theo chân

Bác (Tố Hữu), Truyện Kiều (Nguyễn Du) Một tác giả khác Bùi Minh Toán trong Ti trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt đã phân tích những từ ngữ được dùng một cách có hệ thống trong bài Bếp la (Bang Việt) và một số đoạn trong Viéng lang Bac (Vién Phuong) Dat nước (Nguyễn Đình Thi) nhằm làm

sáng tỏ hiệu quả biểu đạt của từ ngữ trong hai mối quan hệ đó là: quan hệ ngang và quan hệ dọc trong hoạt động giao tiếp

Nghiên cứu và xem xét tính hệ thống của từ ngữ trong nhiều tác phẩm

của một tác giả đã có các khoá luận tốt nghiệp của một số sinh viên trường

Đại học sư phạm Hà Nội 2 ví dụ sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Lan, lớp K27H

Trang 6

với đề tài: “Tính hệ thống của từ ngữ trong Người lái đò sông Đà và Chữ người tử tù của nhà văn Nguyên Tuân”; sinh viên Nguyễn Thị Thoa lớp K28G với đề tai: “Tim hiểu một số trường từ ngữ trong các tác phẩm viết về

người nông dân của Nam Cao” vv

Khác với nhêu công trình trước, khoá luận của chúng tôi đi vào nghiên cứu tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi

3 Mục đích nghiên cứu

Phân tích hệ thống từ ngữ thể hiện hình tượng trong các tác phẩm thơ của

Nguyễn Đình Thi để từ đó làm sáng tỏ hiệu quả và giá trị của việc sử dụng từ

ngữ nghệ thuật trong tác phẩm Trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả của việc phân tích tìm hiểu các tác phẩm văn chương theo phương pháp hệ thống trong nhà

trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu những cơ sở lí thuyết phục vụ cho đề tài

2 Tìm hiểu và thống kê những từ ngữ được sử dụng theo các tiểu hệ

thống trong một số tập thơ đã được tuyển chọn của nhà thơ Nguyễn đình Thi 3.Phân tích hiệu quả sử dụng của từ ngữ có tính hệ thống trong, Thơ fác

phẩm chọn lọc của Nguyễn Đình Thi

5 Giới hạn nghiên cứu

Khoá luận của chúng tôi tập trung chủ yếu vào nghiên cứu tính hệ thống

của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi qua những tập thơ

sau:

1 Người chiến sĩ (1956)

Bài thơ Bắc Hải (1958)

Dòng sông trong xanh (1974)

Tia nắng (1985)

Sóng reo (2001)

Trang 7

Tính hệ thống của từ ngữ nghệ thuật thể hiện ở cả hai mỗi quan hệ: quan

hệ ngang và quan hệ dọc nhưng chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu và xem xét

các từ ngữ biểu đạt hình tượng là chủ yếu cho nên đề tài chỉ giới hạn việc xem

xét tính hệ thống theo quan hệ dọc Việc phân tích hệ thống từ ngữ theo chiều ngang cũng được lưu ý nhưng chỉ với nhiệm vụ bổ trợ

6 Phương pháp nghiên cứu

-_ Phương pháp khảo sát

- Phuong pháp thống kê

- Phuong phap phân loại

- phuong phap phan tich nghia vi

Trang 8

PHAN NOI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Để nghiên cứu xem xét và thấy được hiệu quả biểu đạt của các từ ngữ được sử dụng một cách có hệ thống trong thơ Nguyễn Đình Thi, chúng tôi phải căn cứ vào một số vẫn đề lý thuyết phục vụ cho nội dung đề tài

1 Hình tượng nghệ thuật

Người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống thể

hiện tư tưởng tình cảm của mình giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời

và lĩnh hội mọi mối quan hệ ý nghĩa muôn mầu của bản thân với thế giới xung

quanh Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng bằng định lí, công thức mà bằng hình tượng nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những

sự vật hiện tượngđáng làm ta suy nghĩ về tính cách, về số phận, tình đời, tinh

người qua chất liệu cụ thể

Theo từ điển thuật ngữ văn học của tác giả Lê Bá Hán: Hình tượng nghệ

thuật chính là các khách thể đời sống được người nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng

tượng,sáng tạo, tạo ra các tác phẩm nghệ thuật bằng chất liệu cụ thể, nó làm người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Đó là một đồ vật, một

phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Hình tượng

nghệ thuật có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tỉnh thần

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép y

nguyên những hiện tượng có thật mà tái hiện có chọn lọc có sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của con người nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho người nghệ sĩ day dứt, trăn trở

Trang 9

Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện từng nét cụ thể, cá biệt

không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ bản chất của mỗi loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ Hình

tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tự nó mà thể hiện toàn bộ quan điểm cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại Người đọc không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực mà còn thưởng thức cả nét vẽ,

màu sắc, cả nụ cười, sự suy tư ẩn phía sau bức tranh ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung giá trị thẩm mĩ của nghệ thuật

Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt độc lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và

khái quát hiện thực lí tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình

Hình tượng là một quan hệ xã hội thẩm mĩ Đó là quan hệ giữa các yếu tố

chính của bức tranh đời sống thể hiện qua hình tượng Tiếp theo đó là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thế giới thực tại mà nó phản ánh Hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra một thế giới mới chưa từng có trong hiện thực đó là quan hệ giữa tác giả với hiện tượng với cuộc sống của tác phẩm.Một mặt hình tượng là hình hình thức, là kí hiệu của một tư tưởng, tình cảm, một nội dung nhất định, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ

sĩ Mặt khác hình tượng là một khách thể tinh thần có cuộc sống riêng

Và cuối cùng hình tượng nghệ thuật chính là hình tượng ngôn từ

(3, Tr147)

2 Hệ thống

a Khái niệm

Hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các yếu tố có quan hệ lẫn nhau

Như vậy mỗi đối tượng trọn vẹn là một hệ thống chẳng hạn như một gia đình,

một tác phẩm văn học, một cái cây

Trang 10

- Tập hợp các yếu tố

- Những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó

Như vậy dựa vào những yếu tố trên chúng ta có thể phân biệt được hệ thống

với các tập hợp ngẫu nhiên các yếu tố không có quan hệ tất yếu nào với nhau

chẳng hạn cái cây là một hệ thống nhưng đống củi bao gồm: rễ cây, thân cây,

cành cây, lá cây không tạo thành một hệ thống mà nó vẫn chỉ là một đống cui

c Kết cấu

Kết cấu là tổng thể các mối quan hệ, liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố của

hệ thống Kết cấu phản ánh hình thức sắp xếp của các yếu tố và tính chất của

sự tác động lẫn nhau về các mặt và thuộc tính của chúng Nhờ có kết cấu mà chúng ta hiểu vì sao phẩm chất của hệ thống không giống với phẩm chất của

các yếu tố tạo thành

d Hệ thống ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống vì nó bao gồm các yếu tố và quan hệ giữa các

yếu tố đó Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị ngôn ngữ

Tính hệ thống của ngôn ngữ thể hiện qua các cấp độ sau

- Cấp độ âm vị: Âm vị là đơn vị nhỏ nhất người ta có thể phân biệt được trong chuỗi lời nói Ví dụ âm vị |b|, |t|, |v| là nhhững âm vị không thể chia

nhỏ hơn

- Cấp độ hình vị: Hình vị là một hoặc một chuỗi kết hợp vài âm vị biểu

thị một khái niệm Nó là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa

Ví dụ từ “xe đạp” bao gồm hình vị “ve” và hình vị “đạp”

- Cấp độ từ: Từ là chuỗi kết hợp một hoặc một số hình vị mang chức năng gọi tên, chức năng ngữ nghĩa và chức năng cấu tạo câu

Ví dụ: từ xinh đẹp, hạnh phúc, hát, bơi, đọc, thơ, cười vv

Trang 11

- Cấp độ câu: Câu là chuỗi kết hợp một hay nhiều từ, chức năng của nó

là chức năng thông báo

Ví dụ về câu đơn hai thành phần:

- Nam đi cắm trại

- Lan đi học toán

3 Những kiểu quan hệ trong ngôn ngữ

Trong một hệ thống bao gồm rất nhiều quan hệ khác nhau nhưng có hai cặp quan hệ cần xem xét kĩ đó là:

- Quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập

- Quan hệ tuyến tính và quan hệ liên tưởng

3.1 Quan hệ đông nhất và quan hệ đối lập

Dựa vào quan hệ đối lập xác định giá trị của từng yếu tố trong hệ thống Giá trị của mỗi yếu tố là do sự đồng thời có mặt của các yếu tố khác trong hệ

thống quy định, nó được hình thành bởi sự khác biệt giữa các yếu tố:

Chẳng hạn dựa vào đặc điểm cũng là từ láy miêu tả tiếng mưa chúng ta

có thể tập hợp được một hệ thống bao gồm các từ sau: rào rào, xối xả, lộp độp,

tí tách, rả rích Tất cả các từ trên đều thuộc hệ thống từ láy tượng thanh miêu

tả tiếng mưa

Nhưng chúng ta nhận thấy các từ “rvo rào”, trung tính về sắc thái biểu

cam, “ti tach” , “rd rich” goi cam giác mưa nhẹ, hạt nhỏ mà dai dang lau

tanh Con mưa xối xả gợi cho chúng ta cảm giác mua nang hat, mua mau từng

đợt nước liên tiếp ào ạt dội xuống làm nhấn chìm mọi vật vào nước

Một ví dụ khác cũng là động từ diễn tả hoạt động chia tách sự vật hiện

tượng có các từ: chặt, bẻ, băm, tách, thái nhưng không có từ nào đạt hiệu quả biểu đạt giàu sức gợi hình gợi cảm như từ “xể” trong:

Vang trang ai xể làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

(Truyện Kiêu - Nguyên Du)

Trang 12

Từ “vể” không chỉ diễn tả được hành động chia cắt tách đôi hai nửa vầng

trăng mà nó còn diễn tả tâm trạng của hai nhân vật trong cuộc chia tay lưu,

luyến bịn rịn của Thúc Sinh và Thuý Kiểu Đặc biệt hơn đó là nỗi cay đắng tủi hờn, nỗi cô đơn cùng cực của nàng Kiều, tâm trạng hãng hụt, lẻ loi được

khắc hoạ rõ nét nhất Khi đọc câu thơ ta tưởng chừng như câu thơ cũng bị gập

gay thành hai nửa

Như vậy cơ sở lí thuyết về quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập sẽ giúp

người viết khoá luận có căn cứ để tập hợp các từ có cùng một nét nghĩa biểu

đạt một hình tượng nào đó, đồng thời đối lập các từ này để phân tích phát hiện hiệu quả sử dụng của từng từ Hay nói cách khác, đối lập để thấy giá trị của

mỗi yêu tố trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống

3.2 Quan hệ ngang và quan hệ dọc

Khi ngôn ngữ được hiện thực hoá thì những yếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp cái kia làm thành một chuỗi Khi biểu hiện bằng chữ viết người ta thay thế sự kế tiếp thời gian của các yếu tố ngôn ngữ bằng không gian của các

chữ Đặc điểm này của ngôn ngữ được gọi là hình tuyến của các biểu hiện và

mối quan hệ giữa các yếu tố

Vận dụng những hiểu biết về quan hệ ngang khi phân tích từ ngữ biểu đạt

hình tượng trong tác phẩm, chúng tôi cố gắng khôi phục những kết hợp gần gũi có tác động chi phối mạnh biểu đạt nghĩa rõ nhất Ví dụ về “hình tượng

đất nước đau thương”, chúng tôi bắt đầu từ việc tìm các từ ngữ khắc hoạ con

người khổ đau trong chiến tranh chẳng hạn: “đau thương, vất vả, nghèo vv ”

nhưng đồng thời cũng tìm cách kết hợp đi liền với các từ ngữ này để thấy rõ phạm vi vùng miền đối tượng mà tác giả miêu tả

Ví dụ: bao nhiêu đời đã chịu nhiều đau thương có cụm từ( đời -thương

đau) Hay một ví dụ khác từ “mặt người” được kết hợp với cụm từ “vất vả in

sáu” cho chúng ta thấy rõ nét vất vả hằn lên trên từng khuôn mặt Một câu

khác trong bài Quê hương Việt Nam tác giả viết: “Đất nghèo nuôi những anh

Trang 13

hing” doc cau tho lén ta thay tir “dat nghéo” cé nghia 1a quê nghèo tuy nghèo nhưng rất anh dũng bằng việc kết hợp với dong tit “nudi” va tir “anh hùng” ta càng thấy hình tượng quê hương đau thương được khắc hoạ một cách rõ nét

Quan hệ đọc là những yếu tố đồng loại có thể thay thế nhau trong cùng

chuỗi lời nói nằm trong quan hệ liên tưởng đối với nhau Vận dụng những

hiểu biết về quan hệ dọc, chúng tôi sẽ đồng nhất và đối lập các yếu tố như đã nói ở trên để thấy giá trị không thể thay thế của mỗi từ ngữ trong hệ thông

trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác phẩm

Ví dụ: khi miêu tả về hình tượng đất nước thanh bình tươi đẹp, Nguyễn

Đình Thi đã sử dụng một hệ thống các từ ngữ miêu tả thiên nhiên như: biển lúa, cánh cò, dòng sông, phù sa, những ngả đường, mây vv để ca ngợi, niễm

tự hào về quê hương Việt Nam giàu đẹp, xinh xắn như một bài thơ trữ tình

Bên cạnh hệ thống trên tác giả đã sử dụng phối hợp các hệ thống từ ngữ chỉ

cảm giác, cảm nhận của con người trước khung cảnh quê hương đổi mới như: thơm mát, xao xác, vui nghe, trong biếc (nói cười) cầng tạo nên vẻ đẹp chân

phương giản dị mà sâu sắc của quê hương Việt Nam

Như vậy là việc khảo sát xem tác giả đã sử dụng các hệ thống danh từ, động từ, tính từ cùng với quan hệ ngang và quan hệ dọc để thấy hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ có tính hệ thống là một việc làm vô cùng cần thiết

Mỗi tác phẩm là một hệ thống trong đó các tư tưởng tình cảm, cảm xúc,

hình tượng hình ảnh và ngôn ngữ có quan hệ với nhau Tính hệ thống của từ

ngữ trong tác phẩm văn chương được xem xét trên ba phương diện sau:

1 Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ đề của tác phẩm

2 Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ để trong

nhiều tác phẩm của một tác giả

3.Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ đề trong nhiều tác phẩm của nhiều tác giả

Trang 14

Về tính hệ thống của từ ngữ trong phương diện 1 và phương diện 2 ta có

thể thấy: mỗi một tác phẩm bao giờ cũng bao gồm một hệ thống lớn, trong hệ thống lớn lại gồm nhiều hệ thống nhỏ Chủ đề tư tưởng của tác phẩm được bộc

lộ thông qua hình tượng nhân đạo lòng yêu quê hương đất nước Nguyễn Đình Thi không chỉ ca ngợi cảnh đất nước thanh bình mà còn thấy được một đất nước gian khổ đau đớn trong chiến tranh Bài Buổi chiêu vàm cỏ tác giả thốt lên:

Buổi chiều 7a mau Ngốn ngang những vũng bom

Chỉ bằng hai câu thơ rất ngắn, nhưng các từ ngữ: vững bom, ứa máu, ngốn ngang kết hợp với hình ảnh “buổi chiêu” đã tạo nên rõ nét sự tàn khốc của chiến tranh Những “vững bom” ấy cũng chính là những dòng máu của

nhân dân ta dưới làn bom đạn ác liệt của kẻ thù

Nguyễn Đình Thi là ngòi bút tài năng ông đã thành công ở nhiều lĩnh

vực: thơ, kịch, tiểu thuyết, phê bình văn học nhưng người ta biết đến

ông với tư cách là một nhà thơ Tính hệ thống trong thơ Nguyễn Đình Thi thể hiện rất rõ qua các sáng tác thơ Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét về Nguyễn Đình Thi như sau: “Tói cho rằng tác phẩm của Nguyễn

Dinh Thị dù là thơ hay tiểu thuyết kịch bản sân khấu thì cũng là những

bài ca ngợi đất nước mình Nhưng với Nguyễn Đình Thị cái đẹp là cái trong sáng của đất nước cứ phải ánh lên từ trong đau thương lam lũ bất

hạnh Câu thơ hay nhất của anh là thế”

(4.tr16)

Trang 15

CHUONG 2

HE THONG CUA TỪ NGỮ THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG

ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG MÀ ANH DŨNG

Đất nước ta trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh đặc biệt là hai cuộc chiến

tranh chống Pháp và chống Mĩ Văn học gắn liền với cuộc sống Nhà thơ

Nguyễn Đình Thi đã viết về cuộc sống của con người Việt nam trong chiến

tranh với rất nhiều cảm hứng: đau xót trước cảnh quê hương bị dày xéo, tự hào

về ý chí quật cường của những con người Việt Nam kiên trung, bất khuất

1 Hình tượng đất nước đau thương

Bai tho Dat nuéc, nha tho Nguyễn Đình Thi viết:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nái trời chiều

(Đất nước)

Bằng việc sử dụng các hình ảnh về quê hương “những cánh đồng quê”

những cánh đồng ấy “chảy máu”, hình ảnh “dây thép ga” tác giả đã khắc hoạ một cách khái quát về hình tượng quê hương đau thương Hình ảnh “cánh

đông quê” ở đây không phải là cánh đồng bát ngát xanh, mênh mông thẳng

A“

cánh cò bay mà đó là cánh đồng quê “chẩy máu” cánh đồng đớn đau “Chẩy

máu” là hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho sự thật nhức nhối: máu người nông

dân đã chảy xuống ngập xóm làng, ngập đồng quê, ngập luống cày dưới làn

mưa bom bão đạn của thực dân Pháp

Hình ảnh “đáy /hép gai” cũng là hình ảnh hoán dụ về những lô cốt, những đồn bốt của thực dân Pháp nhiều vô kể như đang “đám nát” đang cứa

nát vào trái tim những người Việt Nam

Trang 16

Một buổi chiều trong không gian u uất nặng nề của quê hương Vàm Cỏ

nhà thơ viết:

Bỗng dưng lửa cháy mịt mờ

Nước non guằn quại bóng cờ đồn Tây

người: đè, còng, cầm, đày, đổ, rơi kết hợp với hệ thống các danh từ chỉ vũ khí của giặc: gông xích, roi và một loạt từ ngữ chỉ trạng thái con người: quằn quại,

thịt đổ máu rơi để khắc hoạ hiện thực chiến tranh tàn khốc Bằng việc sử dụng phối hợp hệ thống các từ ngữ trên nhà thơ đã khắc họa nỗi thống khổ quần

quại của nhân dân ta trước sự tàn phá của chiến tranh Cụm từ “roi quằn thịt

đổ máu rơi” thể hiện rõ nhất sự đàn áp bóc lột dã man của giặc Pháp Điệp từ

22%

“thuế” được lặp lại ba lần gợi cảm giác sự vây bủa đến tận cùng đang phong toả người dân Vàm Cỏ

Quê hương ngập đầy bóng giặc, con người bị áp bức bóc lột đến tận

xương tuỷ và nỗi đau ấy đã được Nguyễn Đình Thi khái quát qua những câu

thơ nghẹn ngào đau xót:

Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta Thằng giặc tây thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lội da

( Đất nước)

Trang 17

Ở hai thời điểm sáng tác một trong bài Buổi chiêu Vàm Cổ, một trong

Đất nước nhưng cảm hứng căm phẫn dường như chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng tác giả Kẻ thù hiện lên như những hung thần ác độc chúng dã man

tàn bạo “Đè cổ”, “lột đa” được lặp đi lặp lại ở cả hai bài thơ như một bằng

chứng về sự triển miên không dứt cảnh dân ta bị tra tấn, bị cùm kẹp Điệp từ

“đứa” được lặp lại hai lần để vạch rõ đối tượng, những kẻ thù đang ngày đêm tra tấn liên tiếp lên đầu, lên cổ người dân Đồng thời ta như nghe tiếng tác giả đang nghiến răng cam han dan từng tiếng nguyên rủa quân thù Bên cạnh đó

tác giả đã sử dụng hệ thống các động từ mạnh: “giằng”, “đè”, “lội” để đặc tả

tội ác tày trời của giặc

Trong cuộc chiến tranh người chịu đau khổ nhiều nhất đó là sự hi sinh

thầm lặng của những người mẹ, những chàng trai cô gái đã dâng hiến cả tuổi

thanh xuân của mình cho hoà bình, cho độc lập tự do của tổ quốc Người chiến sĩ là những điển hình, họ tham gia chiến đấu với tất cả lòng nhiệt huyết

của tuổi trẻ vậy mà khi ngã xuống họ không được ai biết đến

Trong không gian quạnh vắng người chiến sĩ đã nằm lại nơi chiến trường

Xúc động trước tình cảnh này nhà thơ viết:

Để anh trên sườn núi vắng

Không biết bao giờ trở lại Mot ngay vé tim anh ở đâu Giữa rừng nghìn lối cỏ lan

Trang 18

Cái chết của người chiến sĩ là cái chết “không rên” đó là sự dâng hiến thầm lặng để “cho nước nhà sống mất” cho hoà bình độc lập của toàn dân tộc

Linh hồn của người chiến sĩ đối lập với thân thể tiểu tụy trong lúc sắp vĩnh biệt cuộc đời ta bỗng thấy liên tưởng tới những anh hùng vô danh đông đảo

đã hi sinh thầm lặng làm nên lịch sử:

Các anh chết không tên Cho nước nhà sống mãi

Tiếng hát anh còn mãi

Trong trời thu nắng n„hẩy xôn xao

(Ai biết tên các anh) Nhà thơ sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian vô tận như: sống mãi, còn mãi

kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ “tiếng hát”, “trời thu”, “nắng” đồng thời sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian vô tận như: “sống mãi”, “còn mái” kết hợp với

các hình ảnh ẩn du “tiéng hát”, “trời thu”, “nắng” đông thời sử dụng tính từ

chỉ trạng thái cảm xúc “xôn xzø” để khác hoạ hình tượng cái chết bất tử, “còn mất” của những người chiến sĩ

Một trong những yếu tố gây nên niềm đau thương cho đất nước trong giai

đoạn chiến tranh đó là vũ khí Vũ khí được kẻ thù sử dụng ở các cuộc chiến là

hoàn toàn không giống nhau

Trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc MI, vũ khí chiến trận đã được tác giả đề cập đến rất nhiều trong nhiều bài thơ Nguyễn Đình

Thi không nói gì đến ti’ “dau hương” nhưng thông qua cách miêu tả liệt kê

Trang 19

các vũ khí của giặc Pháp chúng ta thấy sự hy sinh mất mát của đất nước, con người Việt Nam

Trong bài Quê hương Việt Nam tác giả viết:

Tiếng đại bác từng hồi văng vẳng Khắp chân trời đầy nặng khói đen

Không khí ngột ngạt của quê hương được thể hiện qua danh từ chỉ vũ khí: đại bác và từ ngữ chỉ tính chất không gian chiến trường “nặng khói đen”

các từ ngữ trên đã kết hợp với nhau để tạo nên không khí ác liệt của cuộc chiến

câu thơ đầu ta thấy một kết hợp là: tiếng đại bác — từng hồi văng vắng Nói lạ

là vì: ta đã quen nghe tiếng chuông chùa từng hồi văng vắng, tiếng hát xa đưa văng vắng từng hồi Các kết hợp trên gợi cảm giác về không gian yên bình

Nhưng giờ đây quan giạc tràn về khấp ngõ phố, đường quê Chúng mang

nhiều vũ khí để tiêu diệt dân lành Đâu đâu cũng nghe tiếng súng Tiếng súng

xa, tiếng súng gần, tiếng đạn đại bác v.v khắp nơi từng hồi, từng hồi văng

vắng Bao trùm lên không gian ấy là tiếng súng Điều đó thể hiện rõ hơn khi

tác giả viết: “khắp chân trời đẩy nặng khói đen” Từ “khắp” và từ “đây” là từ

chỉ không gian rộng, không gian bao trùm Cụm từ “đẩy nặng khói den” Goi

lên sự ngột ngạt khó thở vì mùi khói thuốc súng, đạn

Pháo chính là vũ khí tối tân của địch để chúng tiến hành công cuộc tàn

sát, phá trụi, phá nát từng cánh đồng mái nhà từng tấc đất của người dân:

Pháo lại gẩm lên đất trời quầng đỏ

Dém mii man ro tiéng bé nam hai

(Câu chuyện với người ban cit) Cùng miêu tả cuộc chiến đấu giữa ta và giặc nhưng đoạn thơ trên Nguyễn Đình Thi không miêu tả vũ khí là “đi bác” nữa mà đó là “pháo”, “bom bê

Trang 20

năm hai” hiện đại hơn có sức công phá lớn hơn Việc tác giả sử dụng hai động

từ mạnh “gẩm ” và từ “man rợ” là để khắc hoạ tính chất thú dữ của quân giặc Bên cạnh đó tác giả còn viết một loạt các bài như: Lá hư xa, Buổi chiêu

Vàm Cỏ để liệt kê những vũ khí mạnh, sức công phá cực lớn của địch:

Ở đây vẫn bom đạn ngày đêm cháy khét Vẫn thuốc độc rđi hết vàng cây có

(Lá thư xa) Đau thương zọc khắp ngả nghìn bụi gai

Bên trong đầy lựu đạn

Đau thương đỏ ngập trời

Đau thương chin ndu

(Buổi chiều Vàm Cỏ)

Bê năm hai 7í/ xé tơi bời

Ta đã thấy Hải Phòng dữ dội Đạn bay làn chớp đỏ vòm cây

(Nhớ Hải Phòng)

Một lá thư xa của người chiến sĩ viết cho người thân kể về cuộc chiến

đấu nơi chiến trường, một không gian buổi chiều đẫm máu thương đau và một

Hải Phòng ngập trong mưa bom bão đạn Qua ba đoạn thơ thuộc ba tác phẩm khác nhau chúng ta nhận ra hàng loạt các từ nói về chiến tranh như: “bom đạn”, “cháy khét”, “thuốc độc”, “chết”, “vâng cây cơ”, “bê năm hai”, “dữ đội”, “đạn”, “lan chớp đổ”, “lựu đạn”, “đỏ ngập trời”, “Tít xé tơi bời” Những vũ khí hiện đại đã được quân địch sử dụng Cũng rất tinh tế nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã sử dụng một hệ thống các động từ mạnh chỉ hành động

dã man của địch đó là: rđi, rít xé, bay chớp, mọc, chín nâu Trong không gian Buổi chiêu Vàm Cỏ, không khí ngột ngạt của chiến tranh đã được tác giả khắc hoạ rõ nét qua việc sử dụng điệp từ “đau thương” “Đau thương” được

Trang 21

lặp lại ba lần để nhấn mạnh nỗi dau của con người phải chịu đựng nhiều, chồng chất

Như vậy thông qua việc miêu tả, liệt kê các loại vũ khí của thực dân Pháp

và đế quốc Mĩ trong hai thời kì chiến tranh Nguyễn Đình Thi một mặt cho chúng ta biết vũ khí chúng sử dụng ngày càng hiện đại hơn vì vậy sức công

phá cũng lớn gấp trăm, nghìn lần Mặt khác tác giả gửi đến độc giả thông điệp

đó là hiện thực của cuộc chiến tranh, hậu quả của các cuộc chiến vô cùng

khốc liệt Đó là nỗi đau mất mát không gì bù đắp được của người Việt Nam

qua hai cuộc chiến tranh

2 Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng

Trong chiến tranh khốc liệt con người Việt Nam phải chịu đựng hậu quả

vô cùng to lớn “đau thương ngập trời”, “đau thương chín nâu” Tuy nhiên theo qui luật của tự nhiên “tức nước vỡ bờ” càng bị đàn áp, tàn phá, bóc lột bao nhiêu người dân càng vùng lên đấu tranh mạnh mẽ bấy nhiêu Đó chính là

ý chí quật cường, ý chí của con người Việt Nam anh dũng kiên cường

Khi viết về đất nước, Nguyễn Đình Thi đã tự hào xen lẫn xúc động:

Quê hương biết mấy thương yêu Bao nhiêu đời đã chj nhiều thương đau Mặt người vất vả in sâu

Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

(Quê hương Việt Nam) Quê hương Việt Nam là một miền quê nghèo khó, cơ cực Tác giả đã viết

23c

về quê hương với hàng loạt các từ nói về con người như: “quê hương”, “thương

yêu”, “đời”, “chịu nhiều thương đau”, “mặt người”, “vất vả”, “gái trai”, “áo

nâu” Chỉ bốn câu thơ ngắn nhưng Nguyễn Đình Thi đã khái quát nhất về hình ảnh người nông dânViệt Nam đó là sự đói nghèo vất vả từ đời này qua đời

Trang 22

khác Cụm từ: “áo nâu — nhuộm bàn” đã khắc hoạ rõ nét sự lam lũ vất vả, sự

đói nghèo của con người Việt Nam

Điều chủ yếu tác giả muốn gửi đến người tiếp nhận không phải là niềm đau đớn xót xa trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá mà đó là: hình tượng đất

Sting guom vit bé lại hiền như xưa

(Quê hương Việt Nam)

Ở hai bài thơ khác nhau, tác giả đã sử dụng phối hợp các hệ thống từ ngữ

đó là hệ thống các từ chỉ trường con người: “những người áo vải”, “những

người anh hùng, và các động từ mạnh chỉ hoạt động trạng thái của con người như: “2m”, “vùng dứng lên”, “đạp”, “vứt bở”, “hiển” Qua đó chúng ta thấy

rõ sức mạnh, và nghị lực phi thường của con người Việt Nam Họ quyết tâm

đứng lên chiến đấu ngày đêm với kẻ thù để giành lại quyền lợi chính đáng của

họ Sau này nhìn lại chặng đường ấy nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã tự rút ra nhận xét: “Những năm tháng ấy đã làm cho tôi tin mãi là con người, khi có

một lẽ phải để sống thì có thể phát huy những tiềm năng hầu như vô tận bên

trong mình, và làm được những việc tưởng chừng như không làm nổi ( “Trên sóng thời gian ”¬ Báo văn nghệ ngày I9/8/ 1994 )

Nguyễn Đình Thi không chủ định viết về những cảnh đau thương của dân

tộc Việt Nam một cách bi lụy mà thông qua những năm đau thương ấy tác giả

nhằm ca ngợi ý chí và sức mạnh quật cường của con người Nói tới đất nước là

Trang 23

nói tới hình tượng con người Con người Việt Nam có truyền thống yêu nước

từ ngàn đời nay do vậy mỗi khi có giặc sang xâm lược họ sắn sàng “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Bằng việc kết hợp các biện pháp tu từ và cách chọn

lọc các từ ngữ sắc sảo tinh tế tác giả đã đưa những hình ảnh giản dị mộc mạc

thành hình ảnh đẹp, có ý nghĩa để ca ngợi tỉnh thần chiến đấu của dân tộc ta Trong không khí chiến thắng vang dội 1975, nhà thơ Nguyễn Đình Nguyễn Đình Thi xúc động, vui sướng, tự hào viết:

Đã mấy mươi năm trong bão lửa Tình quê hương đ¿ dắt con người Đường đi giữa bom đạn gdm (hét Đêm đêm thầm lặng ánh sao trời

(Giải phóng) Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn nhưng ta có thể thấy tài năng của tác giả đó là

sự tỉnh tế trong việc lựa chọn các từ ngữ gần nghĩa đặt cùng nhau tạo thành

một hệ thống Hệ thống các từ nói về không khí cuộc chiến đấu: bão lửa,

bom dan gdm thét Bén cạnh đó nhà thơ khéo léo đặt hình ảnh song song với

hệ thống trên là hình ảnh “ánh sao trời” Con người Việt Nam được ví sáng

như sao dựa vào nét nghĩa về tính chất của “so” đó là tồn tại vĩnh cửu, sáng

mãi không bao giờ tắt Để miêu tả khí thế chiến đấu của dân ta, tác giả viết

Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bái lên những tiếng căm hờn

Khói nhà máy cuồn cuộn trong sương núi Kén gọi quân văng vắng cánh đồng

( Đất nước)

Trang 24

Sự chuẩn bị cho chiến đấu của người dân được tác giả miêu tả qua các hình ảnh: khói nhà máy, kèn gọi quân, cuồn cuộn, văng vẳng , Đó là những từ

ngữ gợi hình, gợi thanh góp phần miêu tả sống động không khí lao động hăng

say thường trực, tinh thần sẵn sàng ra trận cúư nước chống giặc ngoại xâm Đoạn thơ tiếp theo tác giả đã khái quát lòng căm thù giặc sâu sắc của quân dân ta qua hệ thống các từ ngữ được đặt móc xích với nhau: (những năm

đau thương - ngời lên nét mặt quê hương), (gốc lúa bờ tre — bật lên tiếng căm

hờn) Hai động từ “ngời lên”, “bật lén” được đặt vào sau từ “đã” để nhấn

mạnh khắc sâu lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến đấu thắng giặc của con

người Việt Nam Dường như tác giả đang dằn từng tiếng kết tội kẻ thù và đồng thời chúng ta cũng thấy nét mặt của người dân ngời sáng, vui sướng khi đánh

thắng giặc

Tiếp đó đoạn thơ cuối bài Đá? nước Nguyễn Đình Thi dồn dập kể:

Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa

Rñ bùn đứng dậy sáng loà

Chỉ bằng bốn câu thơ tác giả đã khái quát sắp xếp hệ thống các từ thuộc hoạt động từ chỉ hoạt động trạng thái đó là: “nổ, rung, vỡ bờ, đứng dậy” Kết hợp với hàng loạt từ thuộc loại danh từ chỉ vũ khí chiến tranh: súng và tính từ

chỉ trạng thái tâm lí con người “giận đ#”, tác giả đã khéo léo tạo ra sự cộng

hưởng giữa các từ ngữ để khắc hoạ không khí chiến đấu mạnh mẽ hào hùng quật cường của người Việt Nam Súng “zổ” nhưng không chỉ mang lên âm

thanh bình thường mà đó là tiếng nổ đã được nhen nhóm từ lâu, nay có cơ hội

méi bing lén né “rung trời” Âm thanh của tiếng nổ ấy vang xa lan tỏa vào không gian làm cho kẻ thù khiếp vía Hình ảnh nước Việt Nam “sáng loà ” đó

A 66

là hình ảnh đẹp về con người anh hùng Kết hợp từ “rũ” với từ “đứng đáy” tác

Trang 25

giả đã khắc họa thành công hình ảnh người dân như “đội lên”, “đứng lên”,

“bát lên”, “bật lên” từ “đau thương”, từ kiếp sống nô lệ để trở thành người làm chủ đất nước

Khi suy tư về cuộc đời, về kiếp người Nguyễn Đình Thi viết:

Có lẽ trên mảnh đất trần trụi sỏi đá có nhánh xương rồng gai mang

những đoá hoa nhỏ bé màu lửa

Có lẽ đêm tối là nơi zzọc những vì sao và rừng rậm là nơi người mong thấy người

(Có lê) Với hai câu thơ dài ta bắt gặp hình ảnh tượng trưng được đặt ở hai vế đối lập Ở cực này là “ẩn trụi sỏi đá”, “xương rông gai”, “đốm hoa nhỏ bé”,

“đêm tối”, “rừng rậm” ở cực kia là “màu lửa”, là “vì sao” là niềm ước vọng

“người mong thấy người” Nhan đề của bài thơ là Có lế nhưng những gì toát lên từ hai trường nghĩa trên lại là sự khẳng định chắc chắn về niềm tin tươi sáng, khát vọng đổi thay Đất nước ta đi từ hoang tàn đổ nát trần trụi sỏi đá đến rực rõ ánh sáng hạnh phúc “Đốm hoa nhỏ bé màu lửa, nơi mọc những vì so” là những hình ảnh tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của con người

Việt Nam Sức sống ấy luôn tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào

Trong bài Buổi chiêu Vàm Có Nguyễn Đình Thi đã viết:

Bao nhiêu năm - mỗi chúng ta

Như hạt thóc trong nắm tay cách mạng Tung lên giữa mùa gió lớn

Ngày đăng: 21/09/2014, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm