• Văn học là một loại hình nghệ thuật • Nhà văn và quá trình sáng tác • Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ • Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học • Các loại thể văn học, các khái niệm
Trang 1LÝ LUẬN VĂN HỌC
I. Khái quát chung
- Là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, bao gồm trong
đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội –
thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương
pháp phân tích văn học
- Ít xuất hiện trong đề thi ĐH, đề thi THPT Quốc gia nhưng đa số
thường xuất hiện trong các đề thi HSG các cấp, nhất là đề thi HSG
Quốc gia
- Là câu NLVH, chiếm khoảng 70% trong tổng số điểm, chiếm 12/20
điểm đối với đề thi HSG (gồm 2 câu) và chiếm 4 điểm đối với đề thi
ĐH (gồm 3 câu)
- Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu quan trọng trong suốt quá
trình học tập của các em học sinh, nhất là các em học sinh THPT
Chuyên trên cả nước Nó đòi hỏi người học cần nắm vững các kiến
thức, khái niệm để vận dụng một cách nhuần nhuyễn; qua đó phân
tích được những khía cạnh khác nhau trong một tác phẩm
- Theo như cuốn Văn học (Hà Minh Đức, NXB Giáo dục) thì lý luận văn
học bao gồm ba phần:
• Phần 1: Cơ sở lý luận chung
• Phần 2: Tác phẩm văn học
• Phần 3: Loại thể văn học
• Phần 4: Phương pháp sáng tác, trào lưu và trường phái văn
học
II. Kinh nghiệm/phương pháp học và làm bài lý luận văn
học:
1. Học
- Cần nắm vững các vấn đề trọng tâm, thường xuất hiện trong các đề
thi như:
• Chức năng văn học: gồm có mấy chức năng? Biểu hiện/khái quát
cụ thể của từng chức năng?
• Văn học là một loại hình nghệ thuật
• Nhà văn và quá trình sáng tác
• Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ
• Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
• Các loại thể văn học, các khái niệm trong văn học.
Trang 2- Học đi song song với thực hành bằng cách làm các đề bài cụ thể
theo từng vấn đề, tập cách xác định đúng, lập dàn ý vấn đề cần bàn
luận
- Có thể tham khảo từ sách, các trang mạng, trang thư viện trực
tuyến và ghi chép lại Vậy làm thế nào để chọn lọc được những
thông tin chính xác, phù hợp?
• Ví dụ: Muốn tìm khái niệm ‘hình tượng văn học’ vào google gõ
‘hình tượng văn học là gì’ lập tức sẽ nhìn thấy các trang web
như violet, … lập tức sẽ tìm thấy khái niệm, chọn lọc và ghi
chép lại Hoặc gõ vào một câu, một đề bài lý luận văn học
• Tham khảo sách: Văn học (Hà Minh Đức – NXB Giáo dục).
Cuốn này thì khá cổ, và khó có thể tìm mua tại các nhà sách,
cách nhanh nhất là đến hỏi mượn các thầy cô giáo tại nơi bạn
theo học
• 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn trung học
phổ thông (TS Lê Anh Xuân – Vũ Thị Dung – Ngô Thị
Bích Hương – Nguyễn Thị Hương Lan, NXB Đại học quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh): cuốn này màu xanh lá cây, có
bán tại các nhà sách, thường thấy tại nhà sách FAHASA, có thể
đặt mua sách tại nhà sách SAHARA trực tuyến (saharavn.com)
nhưng tiền ship thì hơi mắc một chút, nếu có nhu cầu thì nên
đặt mua số lượng nhiều
• Những bài văn đạt giải trong kì thi học sinh giỏi quốc
gia (Trần Văn Đồng – Trần Thị Minh Nguyệt, NXB Đại
học quốc gia TP HCM): những cuốn này cũng là những cuốn
cổ, có thể tìm mua ở các nhà sách, hoặc ở các thư viện, nếu
muốn tham khảo cũng có thể mượn hỏi thầy cô để đọc và rút
ra kinh nghiệm làm bài Trong quá trình đó, bạn cũng có thể
tìm thấy những dẫn chứng, khái niệm hay ho
• Tổng tập đề thi Olympic 30/4 Ngữ Văn: nên đọc, lập dàn ý
các đề bài trong các cuốn này Vì đề thi HSG cấp trường, thành
phố, tỉnh chủ yếu chỉ xoay quanh các đề bài đã có, lặp đi lặp
lại nên dễ dàng hình dung được nhanh hơn, quan trọng là có
đọc tới đề đó hay là không
Trang 3• Ngoài ra có thể tìm đọc các cuốn sách của các giáo sư như GS.
Trần Đăng Suyền, PGS Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống,… :
• Trang web có thể tham khảo: luanvan.net
• Tuy nhiên, dù đọc đề bài nào, sách hay tham khảo bất
kì tài liệu nào cần phải có một cái đầu tỉnh, vì chưa chắc những kiến thức đó đã là đúng, hãy biết cách vận dụng cái đầu đã học vào trong việc tham khảo.
• Tập thói quen ghi chép lại một cách có hệ thống Ví dụ: Hình
tượng văn học sẽ ghi chép lại các khái niệm, các nhận định ý kiến Về thơ thì hệ thống và ghi chép đầy đủ về thơ Trong suốt quá trình học tập, cứ tìm thấy, học được những khái niệm hay, vấn đề hay cần phải chủ động ghi chép
2. Cách làm bài lý luận văn học:
- Xác định được vấn đề lý luận đó là gì? Thông qua các từ ngữ, các vế
câu có trong đề bài
Ví dụ: Đề bài:
Trong sổ tay thơ, Chế Lan Viên có viết:
“Bài thơ anh anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy”
Suy nghĩ của anh/ chị qua một số tác phẩm văn học
+ Đề bài bàn đến mối quan hệ giữa đời sống và văn học, giữa cuộc sống –
nhà thơ – tác phẩm
+ Phạm vi tư liệu: dựa vào cụm ‘qua một số tác phẩm văn học’, tức là đề
bài không yêu cầu giới hạn cụ thể, nhất định ở đề bài nào mà tùy thuộc
vào năng lực viết
- Đọc và liên tưởng đến các vấn đề, các nhận định lý luận có liên
quan: Đối với đề bài trên, ta lập tức nghĩ ngay đến ‘Văn học – nhà
văn và quá trình sáng tác’; ‘Mối quan hệ giữa hiện thực đời sống và
tác phẩm’, Vai trò của cuộc sống đối với thơ, vai trò của nhà thơ, mối
quan hệ giữa cuộc sống – nhà thơ – tác phẩm Và các câu nhận định
liên quan đến thơ, đến tác phẩm thơ hoặc khái niệm chung nhất ‘tác
phẩm nghệ thuật’, ví dụ:
“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (Biêlinxki)
“Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng bạc mà đời rơi vãi./
Hãy nhặt chữ của đời mà góp nên trang”
“Cái đẹp chính là cuộc sống” (Xép – nơ – sếch – xki)
Trang 4“Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu
tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân
hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi
đó.” (Biêlinxki)
- Chọn các tác phẩm chứng minh phù hợp: Thông thường phần chứng
minh sẽ là phần chiếm điểm nhiều nhất trong tổng điểm các thao
tác có trong một bài lý luận văn học Vì thao tác giải thích, bình
luận, đánh giá hầu như thí sinh nào cũng có thể làm được, tuy nhiên
có ‘hơn nhau được hay không’ lại dựa vào phần chứng minh có
thuyết phục, có đặc sắc và chặt chẽ hay không Lý do đạt điểm thấp
trong tổng 12 điểm thường mắc phải là ‘chứng minh không sâu,
chứng minh chưa rõ được vấn đề cần bàn luận’
Trong một bài lý luận, phần chứng minh tốt nhất nên chọn từ 2 – 3
tác phẩm phù hợp với yêu cầu, với vấn đề đặt ra trong đề bài, không
nên chọn và chứng minh quá nhiều tác phẩm vì vừa dễ gây mất thời
gian, chứng minh nông cạn, bài thi lan man, dù viết dài nhưng vẫn
đạt điểm thấp
Ví dụ: Đối với đề bài trên, người ta không giới hạn phạm vi chứng
minh nên có thể chứng minh bằng các tác phẩm quen thuộc như:
Độc tiểu thanh ký (Nguyễn Du); Vội vàng (Xuân Diệu),… Nếu muốn
bài văn có thêm phần chặt chẽ nên chọn hai tác phẩm có nét tương
đồng, khác nhau để viết, vừa thêm được thao tác so sánh, vừa tăng
sức thuyết phục cho bài văn Tuy nhiên, cũng cần phải tỉnh táo khi
sử dụng cách làm bài này
- Bắt buộc phải có trong đầu khoảng 10 – 20 câu nhận định, ý kiến Vì
nó là cách để tạo ấn tượng cho các giám khảo Một câu có thể vận
dụng được nhiều đề bài Tuy nhiên, đòi hỏi người học cần có thái độ
tiếp thu, ‘nhai đi nhai lại’ những câu nhận định ý kiến cũ – mới
- Nếu đề bài giới hạn phạm vi tư liệu trong các tác phẩm Ví dụ “Chi
tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Chứng minh qua tác phẩm Chí phèo
(Nam Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân) Đề bài này giới hạn trong hai tác
phẩm cụ thể, tức là bắt buộc phải chứng minh trong phạm vi hai tác
phẩm Cần tìm ra nét tương đồng – khác nhau là gì để vận dụng
thao tác phân tích – so sánh
Trang 5- Đó là đối với phần thân bài, còn phần mở bài và phần kết bài Đối
với HSG, cần một sự liên tưởng sáng tạo để gây thu hút, ấn tượng
ban đầu cho người đọc, cho các giám khảo và để lại ấn tượng, dư
âm ở phần kết bài Có thể vận dụng các nhận định, ý kiến có nét
tương đồng với đề để làm câu mở đầu cho bài làm Hoặc liên tưởng,
tưởng tượng, sáng tạo (Lưu ý: NLVH khác NLXH ở chỗ, NLXH có thể
liên tưởng theo chiều hướng mở, sáng tạo theo cách nghĩ của cá
nhân gắn liền với thực tại cuộc sống, còn NLVH vẫn nằm trong một
chuẩn mực nào đó) Ví dụ: Ví văn học là cả bầu trời đêm, thì các nhà
văn sẽ là những vì sao … / Văn học sinh ra để cho đời thêm hoa
thơm trái ngọt Văn học là hiện tượng đẹp đẽ nhất trên thế giới
III. Một số kiến thức cơ bản về lý luận văn học:
1. Chi tiết nghệ thuật:
- Là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư
tưởng (Từ điển thuật ngữ Văn học)
- Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm có sống động được hay
không là nhờ các chi tiết => nó làm nên sự sống cho tác phẩm, góp phần
vào việc nhận thức cuộc sống, khám phá ra những mặt cơ bản của cuộc
sống
- “Không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm không sống Bất cứ
truyện ngắn nào cũng biến thành một cái que khô dùng để xâu cá mè
sống…”
- Là các yếu tố nghệ thuật thiết yếu trong các tác phẩm tự sự, là
thành phần cấu tạo nên cốt truyện, nhằm phục vụ dụng ý nghệ thuật của
nhà văn
- “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” (M.Gorki)
- “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong
bài thơ tứ tuyệt Trong đó có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như
Trang 6những nhãn tự trong thơ vậy” (GS Nguyễn Đăng Mạnh) => Có thể tham
khảo thêm trong cuối sách “100 đề chuyên…” (Cuốn màu xanh lá cây)
- Đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tài năng của nhà văn
=> cá thể hóa nhân vật => nói lên quá trình diễn biến nội tâm phức tạp
và đặc điểm tâm lí của nhân vật (Liên hệ T37/ cuốn lý luận – Hà Minh Đức)
- “Chi tiết nghệ thuật như một giọt nước mà thông qua đó ta thấy cả
đại dương”
- Tham khảo đề 30 trang 172, đề 33 trang 187, sách 100 đề chuyên
2 Hình tượng nghệ thuật:
- Là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản sinh ra hiện thực khách
quan
- Là yếu tố đặc trưng, cơ bản của nghệ thuật
- Là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm văn học, bắc nhịp cầu giữa hiện
thực xã hội và tư tưởng nhân văn
- Là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, là đứa con tinh thần của
người nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống
- Tham khảo trang 25/ Văn học – Hà Minh Đức
- Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán): “Hình tượng nghệ thuật
vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể cá biệt không lặp lại, lại vừa có
khả năng khái quát, bộc lộ được bản chất của một loại người hay một
quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ”.
- Theo Bielinxki: “Hình tượng văn học là sự tổng hợp những tư tưởng và
say mê, là kết quả của một tấm lòng đầy thiết tha” (Bielinxki).
- Tham khảo đề 40, trang 232 sách 100 đề chuyên
3. Ngôn từ:
- Có sức mạnh vạn năng, có thể diễn tả sự việc theo dòng chảy lịch sử
qua hàng tram năm, hàng vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc
rộng lớn vô hạn Có khả năng diễn tả những rung động biến thái của
tâm hồn con người
- “Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Những chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”
4. Phong cách nghệ thuật:
- “Phong cách chính là người” (Buy-phông)
- Là nét riêng có tính hệ thống trong sáng tác của nhà văn
Trang 7- Đặc điểm: thiên về hình thức nghệ thuật, có sự thống nhất và vận động
trong qua trình sáng tác của nhà văn
- Là một trong những điều kiện Là một trong những điều kiện quan trọng
để đánh giá vị trí, tài năng của nghệ sĩ Một nhà văn lớn phải là nhà văn
có phong cách Thể hiện bản chất của văn chương: hoạt động sáng tạo
- Là một phạm trù thẩm mỹ, là những nét riêng biệt, chủ yếu của một tài
năng nghệ thuật độc đáo, thể hiện được bản lĩnh, tài nghệ xuất sắc của
nhà văn
- Tham khảo đề 41 trang 239, đề 49 trang 289 , sách 100 đề chuyên
5. Quan điểm/ quan niệm sáng tác:
- Là chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác; phải được hiện thực hoá
trong quá trình sáng tác; được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián
tiếp qua các tác phẩm
- Nhà văn nào cũng có quan điểm/quan niệm sáng tác nhưng để tạo
thành một hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được
- Vai trò: Chi phối toàn bộ quá trình sáng tác (lựa chọn đề tài, hình tượng,
lựa chọn lối viết, các hình thức nghệ thụât ) Phần nào thể hiện tầm
tư tưởng của nhà văn
- Ví dụ: Quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh: Văn học là
vũ khí lợi hại phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ
tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng.
6. Tình huống trong truyện ngắn:
- Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc
nét nhất và tư tưởng nhà văn thể hiện rõ nhất
- “Là một lát cắt, một khúc của đời sống Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy
người thấy được trăm năm của đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu)
- Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật: qui mô
nhỏ nhưng khả năng phản ánh lớn
- Vai trò: Khắc hoạ tính cách nhân vật, thể hiện tư tưởng nghệ sĩ Xuất
phát từ đặc trưng truyện ngắn: dung lượng nhỏ, thể hiện nhân vật qua
một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống (tiểu thuyết: dài, theo sát
toàn bộ cuộc đời, số phận nhân vật…) => Tình huống phải giống như
thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hình sắc nhân vật và tư tưởng nhà văn
=> Xây dựng được tình huống truyện độc đáo là dấu hiệu của:
• Một tác phẩm có giá trị
• Một tác giả tài năng
7. Giọng điệu/ giọng nói riêng/ tiếng nói riêng:
- Là phong cách,cách nhìn nhận,khám phá riêng của từng tác giả từ đề
tài,nội dung tư tưởng, cảm xúc của tác giả, hình thức nghệ thuật
Trang 8- Bản chất của văn học là sáng tạo nên đòi hỏi mỗi tác giả khi sáng tác
phải phát huy tính sáng tạo của mình
- Mỗi tác phẩm đều là lăng kính chủ quan của mỗi tác giả
- Nhà văn Tuốc- ghê- nhép nói “Cái quan trọng nhất trong tài năng văn
học là tiếng nói của mình,là cái giọng riêng của chính mình,không thể
tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác”
- Tham khảo đề 90 trang 362, sách 100 đề chuyên “Điều còn lại với mỗi
nhà văn chính là cái giọng nói của riêng mình”
8. Cách kết thúc truyện ngắn:
- Là khâu cuối cùng quan trọng của cốt truyện, trực tiếp thể hiện thái độ
sống, gắn liền với chủ đề của tác phẩm => cảm hóa cái đẹp với thiên
nhiên con người
9. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ:
- Mô tả (so sánh với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự)
- Hiện ra qua giọng điệu, trạng thái tâm hồn, cảm xúc (nhân vật trong
tác phẩm tự sự: có diện mạo, tính cách, hành động cụ thể)
+ Phân loại:
- Xét sự xuất hiện của tác giả trong tác phẩm:
• Cái tôi trữ tình: tác giả
• Nhân vật trữ tình nhập vai: khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác
trong tác phẩm
- Xét về vai trò:
• Chủ thể trữ tình (người trực tiếp bộc lộ cảm xúc)
• Đối tượng trữ tình: đối tượng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình
10. Nhà văn – tác phẩm – bạn đọc:
- Nhà văn: người sáng tạo ra văn bản => thực hiện quá trình kí mã => Ý
đồ nghệ thuật, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một khả năng
hiểu văn bản
- Bạn đọc: ngưòi tiếp nhận văn học => thực hiện quá trình giải mã
- Văn bản: là một bộ mã, có thể chấp nhận nhiều cách giải khác nhau
nhưng phải phù hợp với các mã đã được nhà văn kí gửi
11. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn, khuynh hướng sử thi:
- Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng thể hiện cái “tôi” đầy tình cảm và trí
tưởng tượng phong phú, bay bổng Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn
thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy mơ ước.Có khi đó là sự mơ
ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin,sự lạc
quan.Có khi đó là những rung động về lí tưởng cao đẹp,khát vọng lớn
lao của những con người có chí hướng,hoài bão cao cả
Trang 9- Cảm hứng lãng mạn trong văn học 1945 – 1975 là cảm hứng lãng mạn
tích cực, cảm hứng lãng mạn cách mạng Nó giúp con người ta vượt lên
trên cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng,
về cuộc sống hạnh phúc và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau chiến tranh
Các tác phẩm văn xuôi : Cảm hứng lãng mạn được thể hiện ở hướng
vận động của cốt truyện, của số phận nhân vật của dòng suy tưởng,
người cầm bút đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ
hiện tại khó khăn đến tương lai đầy hứa hẹn
- Bi: nỗi buồn, là cảm giác được khơi gợi từ sự đau thương, mất mát của
con người Tráng là cái hào hung, mạnh mẽ Bi tráng là buồn đau mà
không bi lụy, vẫn mạnh mẽ, rắn rỏi, gân guốc
- Khuynh hướng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào ,
ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh
chung của cộng đồng (1945 – 1975) Biểu hiện chủ yếu ở các phương
diện đề tài, chủ đề; hình tượng nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu
- Tham khảo những phần chú thích đằng sau mỗi tác phẩm trong SGK
12. Thơ và truyện ngắn:
- L Tôn-xtôi: “Tôi không thể nào phân biệt được thơ và truyện ngắn.”
- Pau-tôp-xki: “Truyện hay đến một mức nào đó thì thành thơ.”
- Đặc điểm chung của thơ và truyện ngắn: dung lượng nhỏ, tính hàm
súc, phản ánh cuộc sống bằng thế giới và hình tượng…
- Dựa vào đặc trưng thể loại, ta phân biệt:
• Thơ: cô đúc, chú trọng yếu tố trữ tình, nguyên tắc dùng nội cảm
để tri giác nội cảm Ngôn ngữ có nhịp điệu, có khả năng nhảy vọt,
gián đoạn khoảng lặng tri âm Chất thơ, biểu hiện qua nhãn tự, …
• Truyện ngắn: chú trọng cốt truyện, sự kiện nhân vật => Yếu tố tự
sự Ngôn ngữ có tính liên tục và phân tích Chất văn xuôi, biểu
hiện qua chi tiết điển hình
- Tham khảo đề 36 trang 203, đề 45 trang 260 sách 100 đề chuyên
13. Đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm:
- Đề tài là một phương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện
thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác
phẩm
- Chủ đề là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ
hiện thực mà tác phẩm thể hiện M Gorki: “Chủ đề là cái tư tưởng nảy
sinh trong kinh nghiệm của nhà văn, do cuộc sống gợi ra, nhưng còn ẩn
náu trong kho tang ấn tượng của nhà văn dưới dạng chưa thành hình;
nó đòi hỏi được thể hiện thành hình tượng, nó thức tỉnh nhà văn, kêu
Trang 10gọi anh ta lao động để tạo dựng hình thức cho nó” (M Gorki, Tác
phẩm, T.27, NXB Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Matxcova, 1953,
tr.214) Nó thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng thâm
nhập vào bản chất đời sống của nhà văn
- Tư tưởng tác phẩm là sự đánh giá và bộc lộ ý nghĩa của những gì đã
được thể hiện, là cách giải quyết vấn đề đã đặt ra trong tác phẩm theo
một khuynh hướng nhất định vốn có ở lập trường, quan điểm của tác
giả Nó chính là sự bộc lộ tư tưởng tác giả bằng tác phẩm văn học
Trong các yếu tố tạo thành tác phẩm, tư tưởng có vai trò quan trọng
nhất vì nó có tác dụng chỉ đạo đối với toàn bộ tác phẩm
14. Nhân vật:
- Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn
học Nhân vật văn học có thể có tên riêng cũng có thể không có tên
riêng Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ
không chỉ một con người cụ thể mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó
trong tác phẩm Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là
các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho
những đặc điểm giống con người
- Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ không
thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng
nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu
- Từ những góc độ khác nhau, có thể chia nhân vật văn học thành nhiều
kiểu, loại khác nhau:
- Dựa vào vai trò, vị trí khác nhau trong tác phẩm, nhân vật văn học
được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ
- Dựa vào đặc điểm tính cách và việc truyền đạt sự đánh giá và thể hiện
lý tưởng xã hội của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân
vật chính diện (tích cực), nhân vật phản diện (tiêu cực)
- Dựa vào thể loại văn học, người ta phân biệt nhân vật tự sự, nhân vật
trữ tình, nhân vật kịch
- Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức
năng (mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư
tưởng
- Tuy nhiên, mọi sự phân chia đều mang tính chất tương đối, nhân vật
trong thực tế văn học hết sức đa dạng, sự phân chia chỉ nhằm nhấn
mạnh đặc điểm cơ bản, xuất phát từ một trong những góc độ tiếp cận