1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU LÝ LUẬN VĂN HỌC

13 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 74,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Văn học là một loại hình nghệ thuật • Nhà văn và quá trình sáng tác • Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ • Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học • Các loại thể văn học, các khái niệm

Trang 1

LÝ LUẬN VĂN HỌC

I. Khái quát chung

- Là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện khái quát, bao gồm trong

đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội –

thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương

pháp phân tích văn học

- Ít xuất hiện trong đề thi ĐH, đề thi THPT Quốc gia nhưng đa số

thường xuất hiện trong các đề thi HSG các cấp, nhất là đề thi HSG

Quốc gia

- Là câu NLVH, chiếm khoảng 70% trong tổng số điểm, chiếm 12/20

điểm đối với đề thi HSG (gồm 2 câu) và chiếm 4 điểm đối với đề thi

ĐH (gồm 3 câu)

- Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu quan trọng trong suốt quá

trình học tập của các em học sinh, nhất là các em học sinh THPT

Chuyên trên cả nước Nó đòi hỏi người học cần nắm vững các kiến

thức, khái niệm để vận dụng một cách nhuần nhuyễn; qua đó phân

tích được những khía cạnh khác nhau trong một tác phẩm

- Theo như cuốn Văn học (Hà Minh Đức, NXB Giáo dục) thì lý luận văn

học bao gồm ba phần:

• Phần 1: Cơ sở lý luận chung

• Phần 2: Tác phẩm văn học

• Phần 3: Loại thể văn học

• Phần 4: Phương pháp sáng tác, trào lưu và trường phái văn

học

II. Kinh nghiệm/phương pháp học và làm bài lý luận văn

học:

1. Học

- Cần nắm vững các vấn đề trọng tâm, thường xuất hiện trong các đề

thi như:

Chức năng văn học: gồm có mấy chức năng? Biểu hiện/khái quát

cụ thể của từng chức năng?

Văn học là một loại hình nghệ thuật

Nhà văn và quá trình sáng tác

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học

Các loại thể văn học, các khái niệm trong văn học.

Trang 2

- Học đi song song với thực hành bằng cách làm các đề bài cụ thể

theo từng vấn đề, tập cách xác định đúng, lập dàn ý vấn đề cần bàn

luận

- Có thể tham khảo từ sách, các trang mạng, trang thư viện trực

tuyến và ghi chép lại Vậy làm thế nào để chọn lọc được những

thông tin chính xác, phù hợp?

Ví dụ: Muốn tìm khái niệm ‘hình tượng văn học’ vào google gõ

‘hình tượng văn học là gì’ lập tức sẽ nhìn thấy các trang web

như violet, … lập tức sẽ tìm thấy khái niệm, chọn lọc và ghi

chép lại Hoặc gõ vào một câu, một đề bài lý luận văn học

Tham khảo sách: Văn học (Hà Minh Đức – NXB Giáo dục).

Cuốn này thì khá cổ, và khó có thể tìm mua tại các nhà sách,

cách nhanh nhất là đến hỏi mượn các thầy cô giáo tại nơi bạn

theo học

100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn trung học

phổ thông (TS Lê Anh Xuân – Vũ Thị Dung – Ngô Thị

Bích Hương – Nguyễn Thị Hương Lan, NXB Đại học quốc

gia Thành phố Hồ Chí Minh): cuốn này màu xanh lá cây, có

bán tại các nhà sách, thường thấy tại nhà sách FAHASA, có thể

đặt mua sách tại nhà sách SAHARA trực tuyến (saharavn.com)

nhưng tiền ship thì hơi mắc một chút, nếu có nhu cầu thì nên

đặt mua số lượng nhiều

Những bài văn đạt giải trong kì thi học sinh giỏi quốc

gia (Trần Văn Đồng – Trần Thị Minh Nguyệt, NXB Đại

học quốc gia TP HCM): những cuốn này cũng là những cuốn

cổ, có thể tìm mua ở các nhà sách, hoặc ở các thư viện, nếu

muốn tham khảo cũng có thể mượn hỏi thầy cô để đọc và rút

ra kinh nghiệm làm bài Trong quá trình đó, bạn cũng có thể

tìm thấy những dẫn chứng, khái niệm hay ho

Tổng tập đề thi Olympic 30/4 Ngữ Văn: nên đọc, lập dàn ý

các đề bài trong các cuốn này Vì đề thi HSG cấp trường, thành

phố, tỉnh chủ yếu chỉ xoay quanh các đề bài đã có, lặp đi lặp

lại nên dễ dàng hình dung được nhanh hơn, quan trọng là có

đọc tới đề đó hay là không

Trang 3

• Ngoài ra có thể tìm đọc các cuốn sách của các giáo sư như GS.

Trần Đăng Suyền, PGS Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống,… :

Trang web có thể tham khảo: luanvan.net

Tuy nhiên, dù đọc đề bài nào, sách hay tham khảo bất

kì tài liệu nào cần phải có một cái đầu tỉnh, vì chưa chắc những kiến thức đó đã là đúng, hãy biết cách vận dụng cái đầu đã học vào trong việc tham khảo.

• Tập thói quen ghi chép lại một cách có hệ thống Ví dụ: Hình

tượng văn học sẽ ghi chép lại các khái niệm, các nhận định ý kiến Về thơ thì hệ thống và ghi chép đầy đủ về thơ Trong suốt quá trình học tập, cứ tìm thấy, học được những khái niệm hay, vấn đề hay cần phải chủ động ghi chép

2. Cách làm bài lý luận văn học:

- Xác định được vấn đề lý luận đó là gì? Thông qua các từ ngữ, các vế

câu có trong đề bài

Ví dụ: Đề bài:

Trong sổ tay thơ, Chế Lan Viên có viết:

“Bài thơ anh anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy”

Suy nghĩ của anh/ chị qua một số tác phẩm văn học

+ Đề bài bàn đến mối quan hệ giữa đời sống và văn học, giữa cuộc sống –

nhà thơ – tác phẩm

+ Phạm vi tư liệu: dựa vào cụm ‘qua một số tác phẩm văn học’, tức là đề

bài không yêu cầu giới hạn cụ thể, nhất định ở đề bài nào mà tùy thuộc

vào năng lực viết

- Đọc và liên tưởng đến các vấn đề, các nhận định lý luận có liên

quan: Đối với đề bài trên, ta lập tức nghĩ ngay đến ‘Văn học – nhà

văn và quá trình sáng tác’; ‘Mối quan hệ giữa hiện thực đời sống và

tác phẩm’, Vai trò của cuộc sống đối với thơ, vai trò của nhà thơ, mối

quan hệ giữa cuộc sống – nhà thơ – tác phẩm Và các câu nhận định

liên quan đến thơ, đến tác phẩm thơ hoặc khái niệm chung nhất ‘tác

phẩm nghệ thuật’, ví dụ:

“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” (Biêlinxki)

“Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng bạc mà đời rơi vãi./

Hãy nhặt chữ của đời mà góp nên trang”

“Cái đẹp chính là cuộc sống” (Xép – nơ – sếch – xki)

Trang 4

“Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu

tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân

hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi

đó.” (Biêlinxki)

- Chọn các tác phẩm chứng minh phù hợp: Thông thường phần chứng

minh sẽ là phần chiếm điểm nhiều nhất trong tổng điểm các thao

tác có trong một bài lý luận văn học Vì thao tác giải thích, bình

luận, đánh giá hầu như thí sinh nào cũng có thể làm được, tuy nhiên

có ‘hơn nhau được hay không’ lại dựa vào phần chứng minh có

thuyết phục, có đặc sắc và chặt chẽ hay không Lý do đạt điểm thấp

trong tổng 12 điểm thường mắc phải là ‘chứng minh không sâu,

chứng minh chưa rõ được vấn đề cần bàn luận’

Trong một bài lý luận, phần chứng minh tốt nhất nên chọn từ 2 – 3

tác phẩm phù hợp với yêu cầu, với vấn đề đặt ra trong đề bài, không

nên chọn và chứng minh quá nhiều tác phẩm vì vừa dễ gây mất thời

gian, chứng minh nông cạn, bài thi lan man, dù viết dài nhưng vẫn

đạt điểm thấp

Ví dụ: Đối với đề bài trên, người ta không giới hạn phạm vi chứng

minh nên có thể chứng minh bằng các tác phẩm quen thuộc như:

Độc tiểu thanh ký (Nguyễn Du); Vội vàng (Xuân Diệu),… Nếu muốn

bài văn có thêm phần chặt chẽ nên chọn hai tác phẩm có nét tương

đồng, khác nhau để viết, vừa thêm được thao tác so sánh, vừa tăng

sức thuyết phục cho bài văn Tuy nhiên, cũng cần phải tỉnh táo khi

sử dụng cách làm bài này

- Bắt buộc phải có trong đầu khoảng 10 – 20 câu nhận định, ý kiến Vì

nó là cách để tạo ấn tượng cho các giám khảo Một câu có thể vận

dụng được nhiều đề bài Tuy nhiên, đòi hỏi người học cần có thái độ

tiếp thu, ‘nhai đi nhai lại’ những câu nhận định ý kiến cũ – mới

- Nếu đề bài giới hạn phạm vi tư liệu trong các tác phẩm Ví dụ “Chi

tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Chứng minh qua tác phẩm Chí phèo

(Nam Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân) Đề bài này giới hạn trong hai tác

phẩm cụ thể, tức là bắt buộc phải chứng minh trong phạm vi hai tác

phẩm Cần tìm ra nét tương đồng – khác nhau là gì để vận dụng

thao tác phân tích – so sánh

Trang 5

- Đó là đối với phần thân bài, còn phần mở bài và phần kết bài Đối

với HSG, cần một sự liên tưởng sáng tạo để gây thu hút, ấn tượng

ban đầu cho người đọc, cho các giám khảo và để lại ấn tượng, dư

âm ở phần kết bài Có thể vận dụng các nhận định, ý kiến có nét

tương đồng với đề để làm câu mở đầu cho bài làm Hoặc liên tưởng,

tưởng tượng, sáng tạo (Lưu ý: NLVH khác NLXH ở chỗ, NLXH có thể

liên tưởng theo chiều hướng mở, sáng tạo theo cách nghĩ của cá

nhân gắn liền với thực tại cuộc sống, còn NLVH vẫn nằm trong một

chuẩn mực nào đó) Ví dụ: Ví văn học là cả bầu trời đêm, thì các nhà

văn sẽ là những vì sao … / Văn học sinh ra để cho đời thêm hoa

thơm trái ngọt Văn học là hiện tượng đẹp đẽ nhất trên thế giới

III. Một số kiến thức cơ bản về lý luận văn học:

1. Chi tiết nghệ thuật:

- Là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư

tưởng (Từ điển thuật ngữ Văn học)

- Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm có sống động được hay

không là nhờ các chi tiết => nó làm nên sự sống cho tác phẩm, góp phần

vào việc nhận thức cuộc sống, khám phá ra những mặt cơ bản của cuộc

sống

- “Không có chi tiết nghệ thuật thì tác phẩm không sống Bất cứ

truyện ngắn nào cũng biến thành một cái que khô dùng để xâu cá mè

sống…”

- Là các yếu tố nghệ thuật thiết yếu trong các tác phẩm tự sự, là

thành phần cấu tạo nên cốt truyện, nhằm phục vụ dụng ý nghệ thuật của

nhà văn

- “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” (M.Gorki)

- “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong

bài thơ tứ tuyệt Trong đó có những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như

Trang 6

những nhãn tự trong thơ vậy” (GS Nguyễn Đăng Mạnh) => Có thể tham

khảo thêm trong cuối sách “100 đề chuyên…” (Cuốn màu xanh lá cây)

- Đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tài năng của nhà văn

=> cá thể hóa nhân vật => nói lên quá trình diễn biến nội tâm phức tạp

và đặc điểm tâm lí của nhân vật (Liên hệ T37/ cuốn lý luận – Hà Minh Đức)

- “Chi tiết nghệ thuật như một giọt nước mà thông qua đó ta thấy cả

đại dương”

- Tham khảo đề 30 trang 172, đề 33 trang 187, sách 100 đề chuyên

2 Hình tượng nghệ thuật:

- Là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản sinh ra hiện thực khách

quan

- Là yếu tố đặc trưng, cơ bản của nghệ thuật

- Là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm văn học, bắc nhịp cầu giữa hiện

thực xã hội và tư tưởng nhân văn

- Là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, là đứa con tinh thần của

người nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống

- Tham khảo trang 25/ Văn học – Hà Minh Đức

- Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán): “Hình tượng nghệ thuật

vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể cá biệt không lặp lại, lại vừa có

khả năng khái quát, bộc lộ được bản chất của một loại người hay một

quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ”.

- Theo Bielinxki: “Hình tượng văn học là sự tổng hợp những tư tưởng và

say mê, là kết quả của một tấm lòng đầy thiết tha” (Bielinxki).

- Tham khảo đề 40, trang 232 sách 100 đề chuyên

3. Ngôn từ:

- Có sức mạnh vạn năng, có thể diễn tả sự việc theo dòng chảy lịch sử

qua hàng tram năm, hàng vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc

rộng lớn vô hạn Có khả năng diễn tả những rung động biến thái của

tâm hồn con người

- “Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ

Mới thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”

4. Phong cách nghệ thuật:

- “Phong cách chính là người” (Buy-phông)

- Là nét riêng có tính hệ thống trong sáng tác của nhà văn

Trang 7

- Đặc điểm: thiên về hình thức nghệ thuật, có sự thống nhất và vận động

trong qua trình sáng tác của nhà văn

- Là một trong những điều kiện Là một trong những điều kiện quan trọng

để đánh giá vị trí, tài năng của nghệ sĩ Một nhà văn lớn phải là nhà văn

có phong cách Thể hiện bản chất của văn chương: hoạt động sáng tạo

- Là một phạm trù thẩm mỹ, là những nét riêng biệt, chủ yếu của một tài

năng nghệ thuật độc đáo, thể hiện được bản lĩnh, tài nghệ xuất sắc của

nhà văn

- Tham khảo đề 41 trang 239, đề 49 trang 289 , sách 100 đề chuyên

5. Quan điểm/ quan niệm sáng tác:

- Là chỗ đứng, điểm nhìn để nhà văn sáng tác; phải được hiện thực hoá

trong quá trình sáng tác; được phát biểu trực tiếp hay thể hiện gián

tiếp qua các tác phẩm

- Nhà văn nào cũng có quan điểm/quan niệm sáng tác nhưng để tạo

thành một hệ thống có giá trị thì không phải ai cũng làm được

- Vai trò: Chi phối toàn bộ quá trình sáng tác (lựa chọn đề tài, hình tượng,

lựa chọn lối viết, các hình thức nghệ thụât ) Phần nào thể hiện tầm

tư tưởng của nhà văn

- Ví dụ: Quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh: Văn học là

vũ khí lợi hại phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ

tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng.

6. Tình huống trong truyện ngắn:

- Là lát cắt của đời sống mà qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc

nét nhất và tư tưởng nhà văn thể hiện rõ nhất

- “Là một lát cắt, một khúc của đời sống Nhưng qua lát cắt, qua khúc ấy

người thấy được trăm năm của đời thảo mộc” (Nguyễn Minh Châu)

- Biểu hiện qui luật có tính nghịch lí trong sáng tạo nghệ thuật: qui mô

nhỏ nhưng khả năng phản ánh lớn

- Vai trò: Khắc hoạ tính cách nhân vật, thể hiện tư tưởng nghệ sĩ Xuất

phát từ đặc trưng truyện ngắn: dung lượng nhỏ, thể hiện nhân vật qua

một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống (tiểu thuyết: dài, theo sát

toàn bộ cuộc đời, số phận nhân vật…) => Tình huống phải giống như

thứ nước rửa ảnh làm nổi lên hình sắc nhân vật và tư tưởng nhà văn

=> Xây dựng được tình huống truyện độc đáo là dấu hiệu của:

• Một tác phẩm có giá trị

• Một tác giả tài năng

7. Giọng điệu/ giọng nói riêng/ tiếng nói riêng:

- Là phong cách,cách nhìn nhận,khám phá riêng của từng tác giả từ đề

tài,nội dung tư tưởng, cảm xúc của tác giả, hình thức nghệ thuật

Trang 8

- Bản chất của văn học là sáng tạo nên đòi hỏi mỗi tác giả khi sáng tác

phải phát huy tính sáng tạo của mình

- Mỗi tác phẩm đều là lăng kính chủ quan của mỗi tác giả

- Nhà văn Tuốc- ghê- nhép nói “Cái quan trọng nhất trong tài năng văn

học là tiếng nói của mình,là cái giọng riêng của chính mình,không thể

tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác”

- Tham khảo đề 90 trang 362, sách 100 đề chuyên “Điều còn lại với mỗi

nhà văn chính là cái giọng nói của riêng mình”

8. Cách kết thúc truyện ngắn:

- Là khâu cuối cùng quan trọng của cốt truyện, trực tiếp thể hiện thái độ

sống, gắn liền với chủ đề của tác phẩm => cảm hóa cái đẹp với thiên

nhiên con người

9. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ:

- Mô tả (so sánh với hình tượng nhân vật trong tác phẩm tự sự)

- Hiện ra qua giọng điệu, trạng thái tâm hồn, cảm xúc (nhân vật trong

tác phẩm tự sự: có diện mạo, tính cách, hành động cụ thể)

+ Phân loại:

- Xét sự xuất hiện của tác giả trong tác phẩm:

• Cái tôi trữ tình: tác giả

• Nhân vật trữ tình nhập vai: khi tác giả hoá thân vào nhân vật khác

trong tác phẩm

- Xét về vai trò:

• Chủ thể trữ tình (người trực tiếp bộc lộ cảm xúc)

• Đối tượng trữ tình: đối tượng hướng tới của tâm trạng chủ thể trữ tình

10. Nhà văn – tác phẩm – bạn đọc:

- Nhà văn: người sáng tạo ra văn bản => thực hiện quá trình kí mã => Ý

đồ nghệ thuật, cách lí giải của nhà văn về văn bản chỉ là một khả năng

hiểu văn bản

- Bạn đọc: ngưòi tiếp nhận văn học => thực hiện quá trình giải mã

- Văn bản: là một bộ mã, có thể chấp nhận nhiều cách giải khác nhau

nhưng phải phù hợp với các mã đã được nhà văn kí gửi

11. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn, khuynh hướng sử thi:

- Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng thể hiện cái “tôi” đầy tình cảm và trí

tưởng tượng phong phú, bay bổng Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn

thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy mơ ước.Có khi đó là sự mơ

ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin,sự lạc

quan.Có khi đó là những rung động về lí tưởng cao đẹp,khát vọng lớn

lao của những con người có chí hướng,hoài bão cao cả

Trang 9

- Cảm hứng lãng mạn trong văn học 1945 – 1975 là cảm hứng lãng mạn

tích cực, cảm hứng lãng mạn cách mạng Nó giúp con người ta vượt lên

trên cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng,

về cuộc sống hạnh phúc và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau chiến tranh

Các tác phẩm văn xuôi : Cảm hứng lãng mạn được thể hiện ở hướng

vận động của cốt truyện, của số phận nhân vật của dòng suy tưởng,

người cầm bút đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ

hiện tại khó khăn đến tương lai đầy hứa hẹn

- Bi: nỗi buồn, là cảm giác được khơi gợi từ sự đau thương, mất mát của

con người Tráng là cái hào hung, mạnh mẽ Bi tráng là buồn đau mà

không bi lụy, vẫn mạnh mẽ, rắn rỏi, gân guốc

- Khuynh hướng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào ,

ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh

chung của cộng đồng (1945 – 1975) Biểu hiện chủ yếu ở các phương

diện đề tài, chủ đề; hình tượng nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu

- Tham khảo những phần chú thích đằng sau mỗi tác phẩm trong SGK

12. Thơ và truyện ngắn:

- L Tôn-xtôi: “Tôi không thể nào phân biệt được thơ và truyện ngắn.”

- Pau-tôp-xki: “Truyện hay đến một mức nào đó thì thành thơ.”

- Đặc điểm chung của thơ và truyện ngắn: dung lượng nhỏ, tính hàm

súc, phản ánh cuộc sống bằng thế giới và hình tượng…

- Dựa vào đặc trưng thể loại, ta phân biệt:

• Thơ: cô đúc, chú trọng yếu tố trữ tình, nguyên tắc dùng nội cảm

để tri giác nội cảm Ngôn ngữ có nhịp điệu, có khả năng nhảy vọt,

gián đoạn khoảng lặng tri âm Chất thơ, biểu hiện qua nhãn tự, …

• Truyện ngắn: chú trọng cốt truyện, sự kiện nhân vật => Yếu tố tự

sự Ngôn ngữ có tính liên tục và phân tích Chất văn xuôi, biểu

hiện qua chi tiết điển hình

- Tham khảo đề 36 trang 203, đề 45 trang 260 sách 100 đề chuyên

13. Đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm:

- Đề tài là một phương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện

thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác

phẩm

- Chủ đề là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ

hiện thực mà tác phẩm thể hiện M Gorki: “Chủ đề là cái tư tưởng nảy

sinh trong kinh nghiệm của nhà văn, do cuộc sống gợi ra, nhưng còn ẩn

náu trong kho tang ấn tượng của nhà văn dưới dạng chưa thành hình;

nó đòi hỏi được thể hiện thành hình tượng, nó thức tỉnh nhà văn, kêu

Trang 10

gọi anh ta lao động để tạo dựng hình thức cho nó” (M Gorki, Tác

phẩm, T.27, NXB Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Matxcova, 1953,

tr.214) Nó thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng thâm

nhập vào bản chất đời sống của nhà văn

- Tư tưởng tác phẩm là sự đánh giá và bộc lộ ý nghĩa của những gì đã

được thể hiện, là cách giải quyết vấn đề đã đặt ra trong tác phẩm theo

một khuynh hướng nhất định vốn có ở lập trường, quan điểm của tác

giả Nó chính là sự bộc lộ tư tưởng tác giả bằng tác phẩm văn học

Trong các yếu tố tạo thành tác phẩm, tư tưởng có vai trò quan trọng

nhất vì nó có tác dụng chỉ đạo đối với toàn bộ tác phẩm

14. Nhân vật:

- Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn

học Nhân vật văn học có thể có tên riêng cũng có thể không có tên

riêng Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ

không chỉ một con người cụ thể mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó

trong tác phẩm Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là

các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho

những đặc điểm giống con người

- Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ không

thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng

nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu

- Từ những góc độ khác nhau, có thể chia nhân vật văn học thành nhiều

kiểu, loại khác nhau:

- Dựa vào vai trò, vị trí khác nhau trong tác phẩm, nhân vật văn học

được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ

- Dựa vào đặc điểm tính cách và việc truyền đạt sự đánh giá và thể hiện

lý tưởng xã hội của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân

vật chính diện (tích cực), nhân vật phản diện (tiêu cực)

- Dựa vào thể loại văn học, người ta phân biệt nhân vật tự sự, nhân vật

trữ tình, nhân vật kịch

- Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức

năng (mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư

tưởng

- Tuy nhiên, mọi sự phân chia đều mang tính chất tương đối, nhân vật

trong thực tế văn học hết sức đa dạng, sự phân chia chỉ nhằm nhấn

mạnh đặc điểm cơ bản, xuất phát từ một trong những góc độ tiếp cận

Ngày đăng: 24/11/2019, 13:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w