1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

phân tích tác phẩm văn 11

26 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác phẩm văn 11
Tác giả Xuân Diệu
Người hướng dẫn PGS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm Xuân Diệu đợc coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới” Hoài Thanh do chỗ ông hiện diện nh một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang

Trang 1

VộI VàNG

Xuân Diệu

I Những tri thức bổ trợ

1 Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm

Xuân Diệu đợc coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới”( Hoài Thanh ) do chỗ ông hiện diện nh một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang

đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giaocảm, tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con ngời làm chuẩnmực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên nh trong văn học trung đại

Thi sĩ đợc giới trẻ tấn phong là “ ông hoàng của thơ tình yêu” bởi đã đemvào thơ tình một quan niệm đầy đủ, toàn diện, một cách thể hiện mới mẻ, phongphú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu

Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi, cách tân trong nghệ thuậtngôn từ : lối diễn đạt chính xác, những thông tin cụ thể, tỉ mỉ mang tính vi lợng,thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờphát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan

Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểmchính :

- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trớc sự vận động của thời gian

- Một trái tim luôn hớng đến mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềmyêu đời, yêu sống cuồng nhiệt, sôi nổi

- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phơng hoàn thiện thơ trữ tình

điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt

Bài thơ Vội vàng đợc sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm

đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu nh một đại diện tiêu biểu nhất củaphong trào Thơ Mới

Nhìn ở một góc độ khác, bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinhmới : sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bảnngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hởng cuộc đời

3 Tri thức thể loại

Bài Vội vàng đợc viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân

Tây học, trởng thành vào những năm 30 của thế kỷ trớc đợc gọi chung là phongtrào Thơ Mới

Trang 2

Thơ Mới vẫn đợc coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm,một mặt, khớc từ luật thơ gò bó, phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh,vần điệu, chống lại thói quen “ đông cứng” văn bản thơ trong những cấu trúc đãtrở thành điển phạm, kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức, cách dùng từ đã trởnên sáo mòn; mặt khác, nỗ lực đổi mới t duy thơ trên nhiều phơng diện Chẳnghạn, mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ, câu thơ, táo bạo trong việc thể nghiệmcấu trúc mới, cú pháp mới, nhịp điệu mới, từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năngcủa tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ Nhng điều quan trọng hơn, nói theonhận xét của Hoài Thanh, tất cả chỉ nhằm để bộc lộ “ cái nhu cầu đợc thànhthực” trong xúc cảm và suy t của một thế hệ.

IV.phân tích tác phẩm

1 Về nội dung

Sống vội vàng chỉ là một cách nói Trong cốt lõi, đây là một quan niệmsống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cánhân trong thời hiện đại Quan niệm sống nói trên đợc diễn giải qua một hệthống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả

a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời nh một thiên đờng trên mặt đất.

Bớc vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trớc những lời tuyên bố lạ lùng của thisĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hơng đừng bay đi!

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, thực chấtbên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bớc đi của thời gian để

có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời

Nhng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá đểchặn lại dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của ngời xa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ Đấy là lý

do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng

nh văn chơng đều chủ trơng vẫy gọi con ngời trên hành trình đi tìm sự an lạc tâmhồn Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn, cõiTây Phơng cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng nh văn học trung đại Việt Nam

đều đề cao tâm lý hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hớng tìm về với những giátrị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại nh đi tìm một thiên đờng đã mất.Xuân Diệu thuộc thế hệ những ngời trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ khôngcoi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngợc lại, họ không ngầnngại lao vào đời Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thựcchất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chẳng phải là cái

bể khổ đầy đoạ con ngời bằng sinh, lão, bệnh, tử … những định mệnh đã hàng những định mệnh đã hàngngàn năm ám ảnh con ngời mà trái lại, là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ Tấtcả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tayvới Trong cái nhìn mới mẻ, say sa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc

đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống

động Hơn thế, cõi sống đầy quyến rũ ấy nh đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọtngào, trẻ trung và đang nh vẫn có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi trẻ

trung, ngọt ngào : đây là tuần tháng mật để dành cho ong bớm, đây là hoa của

đồng nội (đang) “xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là

của những lứa đôi

Với đôi mắt xanh non của ngời trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi, thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng, mùa Xuân sao ngon nh một cặp môi gần!

Trang 3

b đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:

Tuy nhiên, trong ý thức mới của con ngời thời đại về thời gian, khi khámphá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc ngời ta hiểu rằng điều tuyệt diệunày có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theovòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiếncái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo,bàng hoàng, thảng thốt

Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc

xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp : “nghĩa là (3lần/3dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi

xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời ngời rồi cất lên tiếngthan đầy khổ não :

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi

Dờng nh tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi

đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật.

Thế là từ đây, thời gian không còn là một đại lợng vô ảnh, vô hình nữa, ngời tanhận ra nó trong hơng vị đau xót của chia phôi, ngời ta phát hiện nó tựa một vếtthơng rớm máu trong tâm hồn :

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệtvới bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con ngời Nỗicay đắng trớc sự thật đó đợc triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp

theo tơng quan đối lập giữa : lòng ngời rộng” mà lợng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con ngời thì chẳng hai lần thắm lại Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con ngời, sinh thể sống đầy xúc cảm

và khao khát lại hoá thành h vô Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi

tìm sức mạnh hoá giải

c Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn, nghịch lý:

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ramột giải pháp táo bạo Con ngời không thể chặn đứng đợc bớc đi của thời gian,con ngời chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi

là vội vàng Con ngời hiện đại không sống bằng số lợng thời gian mà phải sốngbằng chất lợng cuộc sống – sống tận hởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhấtbằng một tốc độ thật lớn và một cờng độ thật lớn

Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tợng đặc biệt trớc hết bởi nó tựa nh những lờigiục giã chính mình lại nh lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân đợc diễn đạtbằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi,cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống

Rõ ràng, lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con ngời Nh đãnói, đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc

về cuộc sống của con ngời khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất

Xuân Diệu từng tuyên ngôn : “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này Vội

vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ,hiện đại Tuy cha phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhng dù sao, trong một thời đại

mà lối sống khổ hạnh, “ép xác, diệt dục” là không còn phù hợp nữa, nó là lời cổ

động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ

và cũng là của cái Tôi

Trang 4

Tuy nhiên, lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều Một

lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà : không chỉ tích cực tận hởng mà còn phảitích cực tận hiến

2 Về nghệ thuật

Nét độc đáo trong cấu tứ

Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận Trong đó,chính luận đóng vai trò chủ yếu Yếu tố trữ tình đợc bộc lộ ở những rung độngmãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh

của cái Đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trớc sự huỷ hoại của thời gian Mạch chính

luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệumuốn gửi đến cho độc giả, đợc trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý, mâuthuẫn đến giải pháp

Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệtcái mới trong thơ phơng Tây, Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cúpháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới

Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc

sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp nh : ôm” ( Ta muốn ôm ), riết ( Ta muốn riết ) ,“say ” ( Ta muốn say ), thâu ( Ta muốn thâu ) Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm

mãnh liệt và cháy bỏng Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống

từ ngữ cực tả sự tận hởng: “chếnh choáng, đã đầy, no nê diễn tả niềm hạnh

phúc đợc sống cao độ với cuộc đời

Trang 5

Tràng giang Huy Cận

I Những tri thức bổ trợ

1 Về tác giả và thời điểm ra đời của bài thơ :

Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã

Ân Phú, huyện Hơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Thuở nhỏ học trờng làng, sau học trunghọc ở Huế; đến 1939 ra Hà Nội học trờng Cao Đẳng canh nông, và năm 1943 tốtnghiệp kỹ s canh nông Tham gia phong trào Việt minh từ năm 1942, từ 1945

đến sau này Huy Cận liên tục giữ các chức vụ quan trọng thuộc hàm Thứ trởng,hoặc Bộ trởng, đặc trách văn hoá văn nghệ

Huy Cận làm thơ từ năm 1934, đợc đăng báo từ năm 1936 Ngay trongthời gian ở Huế đã cùng với Hoài Thanh viết những bài bình luận trên các báo

Tràng An, Sông Hơng Năm 1936, gặp Xuân Diệu ở trờng Khải Định, và kết bạn

từ đó Từ 1939, ông ra Hà Nội ở chung với Xuân Diệu trên căn gác số 40 phố

Hàng Than

Tháng 11 năm 1940, tập Lửa thiêng đợc nhà xuất bản Đời Nay của Tự LựcVăn Đoàn ấn hành, Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày bìa, gây một tiếngvang lớn trên thi đàn

Năm 1942, Huy Cận cho xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự, hoàn thànhtập thơ thứ hai Vũ trụ ca, cha in thành sách Sau 1945, Huy Cận tiếp tục cho ra

đời các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc

đời (1963) Những năm sáu mơi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trờng gần

chiến trờng xa (1973), Những ngời mẹ những ngời vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), v.v

Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới

Niềm ám ảnh thờng trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp ngời trớc cõivô biên của vũ trụ Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn, mênh mangnỗi ám ảnh trên thờng thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hoá giải.Thơ Huy Cận thiên về suy tởng triết lý hơn là giãi bày, bộc lộ

Về nghệ thuật, cùng thế hệ với Huy Cận, nhiều ngời hăng hái vận dụng cái mới

trong thơ Tây phơng nhằm cách tân về thi pháp, riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng thì thờng lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tợng trng trong thơ

Pháp với cái hàm súc, sâu lắng của thơ Đờng để tạo cho thơ mình một vẻ đẹpriêng : vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại

2 Tri thức văn hoá

Trang 6

Nếu phơng tiện di chuyển chính của ngời châu Âu xa xa là ngựa thì ở nớc

ta phơng tiện di chuyển chính là thuyền Đây là chỗ khác nhau giữa hai nền vănminh, một nền văn minh không có nớc và một nền văn minh dựa vào sông nớc

Nớc là một trong năm thứ thiết thân với đời sống ca con ngời ( kim, mộc,thuỷ, hoả, thổ ) mặc dù nớc thực ra chỉ là một khối chất lỏng Nhng chính sự hội

tụ của nớc làm nên suối, sông, đầm, hồ và biển cả Con ngời dựa vào sông nớc đểtồn tại, quần tụ, nhỏ thì thành làng xóm, lớn là quốc gia, thế giới Sông nớc, conngời vì thế, nh gắn bó cùng một bọc, nớc vì thế vừa là chỗ để đi tới vừa là chỗ đểtrở về

Từ đó, nớc hay sông nớc trở thành đối tợng để con ngời khám phá ra chính mình,khám phá ra hiện hữu ngời trong cõi thế

Quan hệ giữa sông nớc với con ngời đến một mức độ nào đó thì tạo nên cảmột nền văn minh dựa trên sông nớc Tức là dựa vào sông nớc mà tạo nên nếpsống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, tiếng nói rồi hớng tới sông nớc mà sáng tạothơ ca, tiểu thuyết, suy niệm triết học

Một cách tự nhiên, sông nớc trở thành đối tác để làm ăn sinh sống màcũng lại là đối tợng của thẩm mĩ hay suy ngẫm triết học để con ngời gửi gắmnhững vui buồn của thân phận ngời hoặc triết lý về vị thế tồn tại của con ngờitrong cõi vô thờng

Tuy nhiên, Tràng giang còn là một thi phẩm đợc viết trên tinh thần không khớc

từ với truyền thống Trái lại, tác giả vận dụng đợc nhiều nét tinh hoa của văn

ch-ơng trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa mầu sắc cổ điển và mầusắc hiện đại phù hợp với phong cách thơ giàu suy tởng của chính mình

2 Về nghệ thuật

Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kếthợp hài hoà hai phẩm chất : màu sắc cổ điển và chất hiện đại

1 Mầu sắc cổ điển trong Tràng Giang:

Mầu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bàiThơ Mới

a/ Cổ điển ở nhan đề:

Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán “Tràng” ( một âm đọc khác của

“trờng”) gợi sự cổ kính “Giang” là tên chung để chỉ các dòng sông Hai chữ này

gợi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát nh trong Đờng thi, gợi nhớ câu

thơ nổi tiếng của Lý Bạch: “Duy kiến trờng giang thiên tế lu” ( Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

b/ Cổ điển ở đề từ:

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

Trang 7

Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ Sông dài tạo ấn tợng về cái vô cùng của không gian Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảm

giác rợn ngợp của con ngời cô đơn, bé nhỏ trớc cái mênh mang, bất tận của trời

đất Tâm trạng này từng đợc diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô

đọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca :

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

“Tràng giang” đợc cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi:

Có dòng “Tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong t cách một không gian hữu hình và ( cũng có ) dòng “Tràng giang” tâm hồn nh một không gian vô hình

trong tâm tởng Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đờng Thi

Tiếp cận Tràng Giang trong t cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một

điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nớc Thông điệp trực tiếp là các

từ : “nớc”, “con nớc”, “dòng”… những định mệnh đã hàngThông điệp gián tiếp là các từ : “sóng gợn”, “cồn nhỏ”, “bèo dạt”, “bờ xanh”, “bãi vàng”… những định mệnh đã hàng

Tiếp cận Tràng giang với t cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát

hiện thêm một điều thú vị nữa: Cảnh nào cũng gợi buồn Sóng buồn vô hạn (

buồn điệp điệp); Gió đầy tử khí: đìu hiu” Gợi nhớ đến câu: “Bến Phì gió thổi

đìu hiu mấy gò” ( Chinh Phụ Ngâm); Bến sông cô đơn vắng vẻ: “bến cô liêu”;

N-ớc với nỗi buồn trải khắp không gian: “sầu trăm ngả”

d/ Cổ điển ở nghệ thuật đối:

Màu sắc cổ điển còn đợc bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của ờng Thi nhng khá linh hoạt và phóng túng

Đ-Chẳng hạn: “Sóng gợn… những định mệnh đã hàng”đối với “ Con thuyền… những định mệnh đã hàng”; “Nắng xuống đối với trời lên… những định mệnh đã hàng” ; “Sông dài đối với trời rộng… những định mệnh đã hàng”

Nhng đóng góp quan trọng hơn cả là nghệ thuật đối đợc sử dụng một cáchtriệt để bằng hai hệ thống hình ảnh mang tính tơng phản giữa một bên là những

sự vật nhỏ bé, gợi suy ngẫm về cái hữu hạn của kiếp ngời: thuyền, củi, bến, bèo, cánh chim…và một bên là những hình ảnh lớn lao, hùng tráng gợi liên tởng về cái vô hạn của vũ trụ: sông dài, trời rộng, lớp lớp mây cao, núi bạc…

e/ Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hởng cổ kính: (10 lần/16dòng thơ, cách ngắtnhịp truyền thống: 3/4)

Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ: Tràng giang , điệp điệp , song song , lơ“ ” “ ” “ ” “

thơ , đìu hiu , chót vót , mênh mông , lặng lẽ , lớp lớp , dợn dợn ” “ ” “ ” “ ” “ ” “ ” “ ”Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đờng Thi với rất nhiều hình

ảnh và chất liệu quen thuộc Đặc biệt câu kết mợn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu

trong bài Hoàng Hạc Lâu: “Yên ba giang thợng sử nhân sầu” ( Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch ) Điểm khác biệt ở hai tác giả là : Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu đợc gợi từ hình ảnh “khói sóng” còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần tác động của ngoại giới ( Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố

nội tâm thờng trực Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảmxúc tạo nên đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại

2 Mầu sắc hiện đại:

Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phơng diện

nh đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này Bởi cảm hứng chủ

đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của cái tôi cô đơn trớc vũ trụ

đ-ợc bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc Tâm

Trang 8

trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại đợc thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá

vỡ qui tắc ớc lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới

Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó đợc thể hiện đa dạng với nhiều cungbậc và hết sức tinh tế

Ngay trong khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật Tuy

thuyền và nớc “song song” nhng “thuyền về” ngợc hớng với “nớc lại” gợi liên

t-ởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng Và hình ảnh gây ấn tợng chính

là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng” Theo lời thổ lộ của

chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kỹ trớc khichọn hình ảnh này Qủa nhiên, chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ

một màu sắc hiện đại Hình ảnh “củi” không chỉ tạo một ấn tợng mới mẻ mà còn gợi những liên tởng và suy ngẫm về kiếp ngời lam lũ, tủi cực, lênh đênh…

Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững, mấtliên lạc giữa con ngời và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con ngời

trớc cái thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây “lơ thơ” trên những cù lao

nhỏ trơ trọi và ngọn gió hiu hắt buồn nh thổi về từ nghìn năm trớc Cảm giáctrống trải trớc một không gian hoang sơ, vắng lặng càng đợc tô đậm khi tác giả

sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh:

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nhng câu thơ Nắng xuống trời lên sâu chót vót mới thực sự gây ấn tợng mạnh

bởi cách sử dụng nghệ thuật tiểu đối, bởi lối dùng từ mới mẻ, táo bạo ( cách dùng

hình dung từ sâu chót vót thay cho cách diễn đạt thông thờng cao chót vót ) vừa

mở ra chiều cao mênh mang đến thăm thẳm của bầu trời vừa diễn tả nỗi cô đơncủa cái tôi trữ tình, đặc biệt là cảm giác rợn ngợp của con ngời hữu hạn trớc một

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Trong khổ thơ có những câu hỏi không thể có câu trả lời Những câu hỏi

nh để khơi sâu thêm nỗi buồn, cảm giác hẫng hụt và đặc biệt là tình cảnh bơ vơcủa cái tôi trớc một thế giới không còn là nơi nơng tựa quen thuộc nh muônnghìn năm trớc nữa

Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang

tính phủ định khiến ngời đọc nảy sinh những liên tởng và so sánh Từ “khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến qua đã vắng ngời sang những chuyến đò” của Xuân Diệu cho đến hàng loạt từ “không đò , không cầu , lặng lẽ” “ ” “ ” của HuyCận là cả một hành trình “ càng đi sâu càng thấy lạnh” ( Hoài Thanh ) của conngời khi bớc vào thế giới hiện đại

Trang 9

Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con ngời với vũ trụ Cái

mênh mông của không gian: “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tơng phản gay gắt với hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” Rõ ràng, không còn là cánh chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ nh trong Đờng Thi: “ Chiếc cò bay với ráng pha/ Sông xanh cùng với trời xa một màu – Vơng Bột ” hay cảnh

“Bạch lộ song song phi hạ điền” ( Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng Thiên Trờng vãn vọng - Trần Nhân Tông) nữa Cánh chim ở đây chứa đựng cái

-tôi rợn ngợp trớc hoàng hôn, gợi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp ngời trớc cái vôhạn của tạo hoá

Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thơng, quen thuộc sởi ấm lòng ngời trongbối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng nh sắp dìm cái tôi trữ tình vào mộtnỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa cha từng trải qua bao giờ sẽ là một tấtyếu Đấy là lý do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu :

Lòng quê dợn dợn vời con nớc

Trang 10

Chữ ngời tử tù

Nguyễn Tuân

I Những kiến thức bổ trợ

1 Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm

Nguyễn Tuân là một nhà văn có cá tính độc đáo, có thể coi là một địnhnghĩa về ngời nghệ sĩ

Nhng trớc hết, ông là một trí thức yêu nớc Phẩm chất này ở Nguyễn Tuân

đợc thể hiện qua tinh thần tự tôn dân tộc ( khi đang học trung học, ông là một

trong số học sinh cứng đầu đã tham gia bãi khoá để phản đối các thầy giáo Tây

có thái độ coi thờng ngời Việt ); qua thái độ dấn thân ( Cách mạng tháng Tám

1945 thành công, ông hăng hái đi theo cách mạng, tham gia hai cuộc kháng

chiến chống Pháp và chống Mĩ ); qua mối quan tâm sâu sắc và thiết tha với tiếng

mẹ đẻ cùng các giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc ( ông viết nhiều về lối sống

độc đáo, văn hoá ẩm thực tinh tế, những cảnh sắc mỹ lệ và hào hùng của đất nớc,luôn có ý thức thể hiện sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật và tôn vinh vẻ đẹpcủa tiếng Việt qua cách dùng từ ngữ, cách xây dựng hình tợng nhân vật, chọn đềtài, cách hành văn… những định mệnh đã hàng)

Mang tinh thần cộng đồng nhng Nguyễn Tuân lại là ngời ý thức sâu sắc vềcái “Tôi” và cá tính sáng tạo của ngời nghệ sĩ Ông là nhà văn đa tài, có vốn hiểubiết phong phú về nhiều lĩnh vực: hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh, võ thuật, quân sự,lịch sử… những định mệnh đã hàng

Ông có ý thức sử dụng vốn kiến thức đó để xây dựng hình tợng văn học khiếncho văn chơng của mình uyên bác Nguyễn Tuân là một ngời cầm bút rất coitrọng nghề văn, có ý thức tự trọng của ngời nghệ sĩ nên ông coi nghệ thuật làhình thái lao động nghiêm túc và khổ công… những định mệnh đã hàng

Nét nổi bật trong phong cách là ở chỗ, Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở phơngdiện văn hoá và mĩ thuật, nhìn con ngời ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa

Sáng tác của Nguyễn Tuân thể hiện hài hoà mầu sắc cổ điển và hiện đại

Đặc biệt, ông thờng có cảm hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thờng, dữ dội vàtuyệt mĩ Đặc điểm riêng này trong cá tính sáng tạo khiến ông chọn thể loại sởtrờng của mình là tuỳ bút, một thể loại dễ phát huy cá tính sáng tạo của ngờinghệ sĩ

Truyện ngắn Chữ ngời tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in lần đầu tiên năm 1938 trên tạp chí Tao đàn, sau đợc chọn đa vào tập truyện Vang và bóng một thời 1940 ( các lần tái bản sau, Vang và bóng một thời đợc đổi tên là Vang bóng một thời và Dòng chữ cuối cùng cũng đợc đổi tên là Chữ ngời tử tù )

2.Tri thức về văn hoá

Văn chơng lãng mạn thờng ít dựa vào nguyên mẫu Trờng hợp sử dụng

nguyên mẫu trong Chữ ngời tử tù có thể coi là một cá biệt, hơn nữa đây là một

nguyên mẫu rất độc đáo, mở ra khuynh hớng yêu nớc trong sáng tác của NguyễnTuân điều ít thấy các cây bút lãng mạn khác

Nguyên mẫu của Huấn Cao là Cao Bá Quát, nhà nho kiệt xuất, nghệ sĩ tàihoa và khí phách, nhà thơ tài năng với tâm hồn phóng khoáng nhạy cảm với cái

mới, cái lạ nổi tiếng một thời: “Văn nh Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đờng” ( Văn nh Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời tiền Hán

không có / Thơ Tùng Thiện Vơng và Tuy Lí Vơng đến thời thịnh Đờng cũngkhông bằng đợc) Cao Bá Quát chính là ngời anh hùng đa tài từng tham gia cuộc

Trang 11

khởi nghĩa của nông dân do Lê Duy Cự cầm đầu năm 1854 sau bị giết và bị triều

đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc

3 Tri thức về thể loại

Từ nguyên mẫu Cao Bá Quát, nhà văn xây dựng nhân vật Huấn Cao bằngbút pháp lãng mạn mà chủ yếu là nghệ thuật phóng đại, lí tởng hoá để sáng tạonên một hình tợng mang vẻ đẹp lí tởng

Để lí tởng hoá, gây ấn tợng về nhân vật Huấn Cao tác giả sử dụng cặp hìnhtợng nhân vật tơng đồng nhng vẫn có khoảng cách Trong đó, Huấn Cao đợc coi

là hiện thân của ngời sáng tạo cái đẹp Nhân vật Quản ngục không sáng tạo cái

đẹp nhng là ngời trân trọng và yêu quí cái đẹp Từ đó chọn lọc và tổng hợp đểxây dựng một mẫu ngời đại diện cho chủ nghĩa yêu nớc và nhân văn theo kiểu

Nguyễn Tuân : mẫu ngời khí phách hài hoà với thiên lơng.

Huấn Cao trong tác phẩm có nhiều nét tơng đồng nhng có nhiều nét dị biệt

so với Cao Bá Quát Đọc tác phẩm, không nên đồng nhất nguyên mẫu ( Cao BáQuát ) với hình tợng nghệ thuật ( Huấn Cao )

II Phân tích tác phẩm

1 Về nội dung

1/ Nhân vật Huấn Cao:

a/ Huấn Cao, con ngời mang phẩm chất tài hoa siêu việt:

Nét cơ bản trong phong cách nghệ của Nguyễn Tuân là luôn nhìn nhậncon ngời ở phẩm chất nghệ sĩ tài hoa Các nhân vật trong thế giới nghệ thuật củaNguyễn Tuân đều là những con ngời tài hoa, tài tử và hình ảnh Huấn Cao trongthế giới ấy rực sáng nh một đại diện tiêu biểu nhất

Với bút pháp lí tởng hoá, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ nhân vật Huấn Cao, một conngời mang phẩm chất tài hoa siêu việt, ngời đứng đầu nghệ thuật th pháp

Tài nghệ th pháp của Huấn Cao đợc miêu tả rất tỉ mỉ

Trớc hết là ở nét chữ và phong cách Đúng là của một bậc tài hoa: “ Nổi tiếng khắp tỉnh Sơn về tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, ở khuôn chữ: đẹp lắm,

vuông lắm”… những định mệnh đã hàng

Nhng nét độc đáo ở con ngời tài hoa ấy là chữ của Huấn Cao in dấu ấn nhân

cách của ngời viết: “Những nét chữ vuông vắn, tơi tắn nói lên hoài bão tung hoành của một đời con ngời”

Chữ của hoạ sĩ th pháp bình thờng chỉ phản chiếu một phơng diện của phẩmchất tài hoa, chữ của Huấn Cao khác biệt hơn còn là để bộc lộ tính cách và phẩmgiá của con ngời

Không phải ngẫu nhiên, trong khi giới thiệu Huấn Cao, con ngời nổi tiếng về tàinghệ th pháp, tác giả bỗng để cho nhân vật thơ lại trầm trồ về cái tài bẻ khoá, vợtngục của Huấn Cao

Chi tiết này phải đợc hiểu nh một cách thể hiện độc đáo, đẩy lên cao độ phẩmchất nghệ sĩ tài hoa của nhân vật Huấn Cao không mang trong mình phẩm chấttài hoa nghệ sĩ của một kiểu ngời nghệ sĩ tài hoa thông thờng Con ngời ấy đíchthực là một đấng tài hoa siêu việt, chọc trời khuấy nớc, đó là ngời anh hùng có

tài phá cũi sổ lồng mà cũng lại là ngời nghệ sĩ có tài thảo nên những nét chữ ợng múa rồng bay.

ph-b/ Huấn Cao, con ngời mang khí phách ngạo nghễ, ngang tàng:

Các nhà Nho (trừ một số nhân vật lỗi lạc) thờng non kém về bản lĩnh và khíphách Bởi sinh ra trong nền sản xuất tiểu nông, sống dựa vào sự cung cấp củacác tầng lớp khác, tầng lớp nho sĩ thờng có thể trạng yếu Ngời đời thờng vẫn có

cái nhìn khá hài hớc về họ: “ Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” Các thành ngữ nh “Bạch diện th sinh”, “trói gà không chặt” là cách mà ngời

ta dùng để gọi tầng lớp nho sĩ nói chung, không với hàm ý coi thờng mà thực tế

là nh thế Ngoài ra, có thể do tầng lớp nho sĩ vốn chỉ lo dùi mài kinh sử, trui rènkiến thức “ cửa Khổng sân Trình” trong suốt cuộc đời nên họ thờng bị khống chế

bởi t tởng “trung quân ái quốc , trí quân trạch dân” “ ”, thậm chí nhiều kẻ mặc

Trang 12

nhiên coi đó là lý tởng chân chính của kẻ làm trai mà quên rằng nhiều khi chỉ làmột thứ ngu trung, lâu dần họ bị triệt tiêu bản lĩnh và khí phách cá nhân.

Chính vì vậy, hình tợng Huấn Cao gây ấn tợng mạnh bởi ông không chỉ là mộtcon ngời mang phẩm chất tài hoa mà còn là con ngời mang nét đẹp của khíphách với tính cách ngang tàng, ngạo nghễ

Huấn Cao là bậc nghĩa sĩ dù thất thế nhng không rơi vào cách ứng xử tầm thờng

Khác với kiểu “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” ( Truyện Kiều - Nguyễn Du),

những ngày cuối cùng của cuộc đời lại là thời điểm nhân vật này toả sáng mộtcách rực rỡ khí phách ngạo nghễ, ngang tàng nh vẫn đang tung hoành nơi chiến

địa Là con ngời của khoa cử nhng Huấn Cao không mù quáng với t tởng “phò chính thống” mà sẵn sàng chịu tiếng “làm giặc” vì nghĩa lớn.

Nét độc đáo của tác giả Chữ ngời tử tù là ở chỗ ông tả một khí phách lớn qua

những chi tiết nhỏ:

Động tác rỗ gông lạnh lùng, mạnh mẽ: “chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đẩy thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái ” T thế mắng

quản ngục oai phong nh khi ra lệnh: “Ngơi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một

điều! Là ngơi đừng đặt chân vào đây ” Cốt cách ung dung, tự tại thể hiện ở cách

ăn uống nh ngời làm chủ nhà lao: “thản nhiên nhận rợu thịt, coi đó nh là một việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc cha bị giam cầm ” Có mấy ai, trớc cáichết đã đợc báo trớc và chỉ còn tính từng ngày có đợc bản lĩnh đó?

Khí phách của con ngời Huấn Cao còn thể hiện ở t thế viết chữ phóng túng, vô

hiệu hoá thế lực của nhà tù Mặc dù cổ đeo gông, chân vớng xiềng ” nhng nét

bút vẫn thể hiện những cái hoài bão tung hoành của một đời ngời

Tác giả không tả rõ nội dung của dòng chữ trên lụa bạch mà chỉ sử dụng hình

ảnh gợi để nổi bật nhân cách

c/ Huấn Cao, con ngời mang vẻ đẹp thiên lơng

Nguyễn Tuân đã miêu tả Huấn Cao nh ngời nghĩa sĩ có phẩm chất “vô uý”(không biết sợ) Huấn Cao không sợ cái mà ngời bình thờng vẫn sợ: cái chết ngọc lụa quyền quí

– Nhng xét kĩ ra, dù rất đáng trọng, đây chỉ là phẩm chất truyềnthống của một dân tộc vốn thờng xuyên phải đơng đầu với bạo ngợc và hung tàn

Điều cần suy ngẫm là ở chỗ, nếu con ngời ta không còn biết sợ một điều gì thì lại

không còn là con ngời nữa (không còn cái “tâm” con ngời trở nên lạnh lùng, vô

cảm)

Bởi thế, Nguyễn Tuân có ý thức trong việc thể hiện cái “không biết sợ” của Huấn Cao để, trong phần cuối của tác phẩm, tập trung làm nổi bật cái phẩm chất “biết sợ” của Huấn Cao.

Huấn Cao đã từng hiểu lầm Quản Ngục vì cho rằng Quản Ngục chỉ là kẻ tầm ờng Ông đã từng tỏ thái độ khinh miệt đến tàn nhẫn để chứng tỏ cái khí phách

th-không biết sợ quyền uy và cái chết của mình : “ Ta chỉ muốn một điều Là ngơi

đạt sự mềm lòng của ngời nghĩa sĩ nhng mặt khác cũng hé lộ cho ta thấy nétchân thật, chân thành trong con ngời Huấn Cao: ông không chỉ là ngời có cái

Tâm mà còn là ngời hệ luỵ bởi chữ “ Tâm” Những ngời có tâm trên đời thì

không chỉ biết trọng cái tâm của ngời khác mà còn rất sợ mình phụ tấm lòng dùchỉ là của ngời trong thiên hạ Đây là nét đẹp tự nhiên trời phú để ngời có tâm trởnên một nhân cách mà thời bấy giờ ngời ta vẫn gọi là thiên lơng Phẩm chất đókhiến ta không ngạc nhiên khi Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn khuyên

quản ngục những lời chí tình nh đối với một tri âm : “ Tôi bảo thực đấy : Thầy

Trang 13

Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã ở đây, khó giữ thiên lơng cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lơng thiện đi”.

Vẻ đẹp thiên lơng ở Huấn Cao còn thể hiện ở tâm hồn tinh tế, nhạy cảm với cái

đẹp

Với cuộc đời của một kẻ “ làm giặc”, chống lại triều đình phong kiến tànbạo, Huấn Cao đơng nhiên phải chịu đựng bao thử thách, gian truân và cuộc sốngkhắc nghiệt nơi chiến địa, rồi bao tra tấn, đoạ đầy ở chốn lao tù nhng tâm hồncủa ngời tử tù ấy vẫn không hề khô cứng trớc cái đẹp án tử hình treo lơ lửngtrên đầu, thậm chí ngay cả khi biết rằng sau buổi sáng ngày hôm sau mình đãkhông còn sống trên đời nữa nhng ông Huấn đã thực sự rung động bởi hơng mực,

đắm chìm trong cái khí tiết của tinh tuý tinh thần: “thỏi mực thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? ” Những lờinhận xét tinh tế đồng thời cũng là những lời chia sẻ ấy vốn chỉ dành cho bạn bètri kỉ, tâm đắc trên đời

2/ Nhân vật Quản Ngục

Sau lời đối thoại giữa Quản ngục và thơ lại về tử tù Huấn Cao, Quản Ngụcrơi vào tâm trạng mâu thuẫn và đầy kịch tính: Vừa mừng vừa lo Mừng vì đây làcơ hội hiếm có để xin chữ của chính con ngời nổi tiếng về nghệ thuật th pháp màtrong lòng, tự bấy lâu nay quản ngục vẫn thầm kính trọng, tôn thờ Lo không

phải vì sợ không giữ đợc loại tử tù “có tài vợt ngục và bẻ khoá” mà vì sợ không

xoá đợc cái khoảng cách về địa vị, nhân cách và tài năng giữa hai ngời thì dù cómột ông Huấn trong tay, quản ngục vẫn trắng tay, không thực hiện đợc sởnguyện vốn ấp ủ bấy lâu

Bị giằng xé trong tâm trạng mâu thuẫn ấy quản ngục thao thức không ngủ : ánh

đèn soi tỏ gơng mặt ngời quản ngục: “cháy bùng to lên, soi tỏ mặt ngời ngồi

đấy ” Tác giả ví gơng mặt quản ngục nh : “nớc ao xuân, bằng lặng, kín đáo, và

êm nhẹ ” Những chi tiết trên hé lộ một phần phẩm chất tâm hồn của nhân vật

Đó là con ngời kín đáo, tế nhị đúng nh lời nhận xét của tác giả trong đoạn văn trữtình ngoại đề

Quản ngục tiêu biểu cho những ngời biết trân trọng và thực lòng yêu cái đẹp củatài hoa Tính cách ấy bộc lộ trong tình huống éo le nên đầy kịch tính

a/ Quản ngục, ngời có sở thích cao quí:

Ngục quan cũng nh các quan chức lúc bấy giờ thờng có những sở thíchthấp hèn: ham mê tửu sắc, phú quí, h danh… những định mệnh đã hàngQuản ngục trong tác phẩm củaNguyễn Tuân đã đợc lí tởng hoá Là viên coi ngục ( công cụ đắc lực của bộ máythống trị suy vong) nhng lại có tài thẩm định và thực lòng yêu nghệ thuật thpháp

Đó không phải là sở thích nhất thời khi làm quan mà là tình cảm đợc nhen nhúm

từ lúc tuổi thơ Từ thuở đọc vỡ sách thánh hiền” quản ngục đã có sở thích “một ngày kia đợc treo ở nhà riêng của mình một câu đối do tay Huấn Cao viết

Quản ngục là ngời thẩm định đúng giá trị chữ của Huấn Cao: “có đợc chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời !”

Trong khi chờ đợi cơ hội xin chữ, Quản ngục ở trong tâm trạng day dứt, lo

sợ: “y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin đợc mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất” Sở thích cao quí đã giúp cho Quản ngục thực hiện đợc

ý nguyện : làm động lòng Huấn Cao, xin đợc chữ

b/ Quản ngục, ngời trân trọng, đề cao nhân cách con ngời:

Biết Huấn Cao là ngời anh hùng - nghệ sĩ, tiêu biểu cho sự thanh cao về nhâncách con ngời, Quản ngục luôn giữ thái độ lễ phép, cung kính, trân trọng

Vì sự trân trọng và đề cao giá trị con ngời mà Quản ngục kiên trì, kìm nén trớcthái độ tức giận của Huấn Cao, hơn thế còn dám biệt đãi ngời tù “… những định mệnh đã hàngcơm rợu lại

vẫn đa đều đều và có phần hậu hơn trớc

Quản ngục đã thực hiện một hành động mạo hiểm: Dám chơi chữ của kẻ tử tùngay nơi mình tòng sự mà không sợ búa rìu pháp luật, dám tổ chức viết chữ ngay

Ngày đăng: 14/09/2013, 06:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w