Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm Xuân Diệu đợc coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới” Hoài Thanh do chỗ ông hiện diện nh một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang
Trang 1VộI VàNG
Xuân Diệu
I Những tri thức bổ trợ
1 Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm
Xuân Diệu đợc coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới”( Hoài Thanh ) do chỗ ông hiện diện nh một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang
đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giaocảm, tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con ngời làm chuẩnmực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên nh trong văn học trung đại
Thi sĩ đợc giới trẻ tấn phong là “ ông hoàng của thơ tình yêu” bởi đã đemvào thơ tình một quan niệm đầy đủ, toàn diện, một cách thể hiện mới mẻ, phongphú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu
Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi, cách tân trong nghệ thuậtngôn từ : lối diễn đạt chính xác, những thông tin cụ thể, tỉ mỉ mang tính vi lợng,thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờphát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan
Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểmchính :
- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trớc sự vận động của thời gian
- Một trái tim luôn hớng đến mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềmyêu đời, yêu sống cuồng nhiệt, sôi nổi
- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phơng hoàn thiện thơ trữ tình
điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt
Bài thơ Vội vàng đợc sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm
đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu nh một đại diện tiêu biểu nhất củaphong trào Thơ Mới
Nhìn ở một góc độ khác, bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinhmới : sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bảnngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hởng cuộc đời
3 Tri thức thể loại
Bài Vội vàng đợc viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân
Tây học, trởng thành vào những năm 30 của thế kỷ trớc đợc gọi chung là phongtrào Thơ Mới
Trang 2Thơ Mới vẫn đợc coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm,một mặt, khớc từ luật thơ gò bó, phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh,vần điệu, chống lại thói quen “ đông cứng” văn bản thơ trong những cấu trúc đãtrở thành điển phạm, kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức, cách dùng từ đã trởnên sáo mòn; mặt khác, nỗ lực đổi mới t duy thơ trên nhiều phơng diện Chẳnghạn, mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ, câu thơ, táo bạo trong việc thể nghiệmcấu trúc mới, cú pháp mới, nhịp điệu mới, từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năngcủa tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ Nhng điều quan trọng hơn, nói theonhận xét của Hoài Thanh, tất cả chỉ nhằm để bộc lộ “ cái nhu cầu đợc thànhthực” trong xúc cảm và suy t của một thế hệ.
IV.phân tích tác phẩm
1 Về nội dung
Sống vội vàng chỉ là một cách nói Trong cốt lõi, đây là một quan niệmsống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cánhân trong thời hiện đại Quan niệm sống nói trên đợc diễn giải qua một hệthống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả
a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời nh một thiên đờng trên mặt đất.
Bớc vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trớc những lời tuyên bố lạ lùng của thisĩ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi!
Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, thực chấtbên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bớc đi của thời gian để
có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời
Nhng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá đểchặn lại dòng chảy của thời gian?
Trong quan niệm của ngời xa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ Đấy là lý
do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng
nh văn chơng đều chủ trơng vẫy gọi con ngời trên hành trình đi tìm sự an lạc tâmhồn Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn, cõiTây Phơng cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng nh văn học trung đại Việt Nam
đều đề cao tâm lý hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hớng tìm về với những giátrị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại nh đi tìm một thiên đờng đã mất.Xuân Diệu thuộc thế hệ những ngời trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ khôngcoi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngợc lại, họ không ngầnngại lao vào đời Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thựcchất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chẳng phải là cái
bể khổ đầy đoạ con ngời bằng sinh, lão, bệnh, tử … những định mệnh đã hàng những định mệnh đã hàngngàn năm ám ảnh con ngời mà trái lại, là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ Tấtcả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tayvới Trong cái nhìn mới mẻ, say sa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc
đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống
động Hơn thế, cõi sống đầy quyến rũ ấy nh đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọtngào, trẻ trung và đang nh vẫn có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi trẻ
trung, ngọt ngào : đây là tuần tháng mật để dành cho ong bớm, đây là hoa của
đồng nội (đang) “xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là
của những lứa đôi
Với đôi mắt xanh non của ngời trẻ tuổi, qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi, thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng, mùa Xuân sao ngon nh một cặp môi gần!
Trang 3b đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:
Tuy nhiên, trong ý thức mới của con ngời thời đại về thời gian, khi khámphá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc ngời ta hiểu rằng điều tuyệt diệunày có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theovòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiếncái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo,bàng hoàng, thảng thốt
Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc
xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp : “nghĩa là (3lần/3dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi
xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời ngời rồi cất lên tiếngthan đầy khổ não :
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!
Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:
Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi
Dờng nh tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi
đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật.
Thế là từ đây, thời gian không còn là một đại lợng vô ảnh, vô hình nữa, ngời tanhận ra nó trong hơng vị đau xót của chia phôi, ngời ta phát hiện nó tựa một vếtthơng rớm máu trong tâm hồn :
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.
Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệtvới bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con ngời Nỗicay đắng trớc sự thật đó đợc triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp
theo tơng quan đối lập giữa : lòng ngời rộng” mà lợng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con ngời thì chẳng hai lần thắm lại Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con ngời, sinh thể sống đầy xúc cảm
và khao khát lại hoá thành h vô Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi
tìm sức mạnh hoá giải
c Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn, nghịch lý:
Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ramột giải pháp táo bạo Con ngời không thể chặn đứng đợc bớc đi của thời gian,con ngời chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi
là vội vàng Con ngời hiện đại không sống bằng số lợng thời gian mà phải sốngbằng chất lợng cuộc sống – sống tận hởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhấtbằng một tốc độ thật lớn và một cờng độ thật lớn
Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tợng đặc biệt trớc hết bởi nó tựa nh những lờigiục giã chính mình lại nh lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân đợc diễn đạtbằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi,cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống
Rõ ràng, lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con ngời Nh đãnói, đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc
về cuộc sống của con ngời khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất
Xuân Diệu từng tuyên ngôn : “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này Vội
vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ,hiện đại Tuy cha phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhng dù sao, trong một thời đại
mà lối sống khổ hạnh, “ép xác, diệt dục” là không còn phù hợp nữa, nó là lời cổ
động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ
và cũng là của cái Tôi
Trang 4Tuy nhiên, lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều Một
lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà : không chỉ tích cực tận hởng mà còn phảitích cực tận hiến
2 Về nghệ thuật
Nét độc đáo trong cấu tứ
Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận Trong đó,chính luận đóng vai trò chủ yếu Yếu tố trữ tình đợc bộc lộ ở những rung độngmãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh
của cái Đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trớc sự huỷ hoại của thời gian Mạch chính
luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệumuốn gửi đến cho độc giả, đợc trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý, mâuthuẫn đến giải pháp
Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệtcái mới trong thơ phơng Tây, Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cúpháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới
Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc
sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp nh : ôm” ( Ta muốn ôm ), riết ( Ta muốn riết ) ,“say ” ( Ta muốn say ), thâu ( Ta muốn thâu ) Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm
mãnh liệt và cháy bỏng Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống
từ ngữ cực tả sự tận hởng: “chếnh choáng, đã đầy, no nê diễn tả niềm hạnh
phúc đợc sống cao độ với cuộc đời
Trang 5Tràng giang Huy Cận
I Những tri thức bổ trợ
1 Về tác giả và thời điểm ra đời của bài thơ :
Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã
Ân Phú, huyện Hơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Thuở nhỏ học trờng làng, sau học trunghọc ở Huế; đến 1939 ra Hà Nội học trờng Cao Đẳng canh nông, và năm 1943 tốtnghiệp kỹ s canh nông Tham gia phong trào Việt minh từ năm 1942, từ 1945
đến sau này Huy Cận liên tục giữ các chức vụ quan trọng thuộc hàm Thứ trởng,hoặc Bộ trởng, đặc trách văn hoá văn nghệ
Huy Cận làm thơ từ năm 1934, đợc đăng báo từ năm 1936 Ngay trongthời gian ở Huế đã cùng với Hoài Thanh viết những bài bình luận trên các báo
Tràng An, Sông Hơng Năm 1936, gặp Xuân Diệu ở trờng Khải Định, và kết bạn
từ đó Từ 1939, ông ra Hà Nội ở chung với Xuân Diệu trên căn gác số 40 phố
Hàng Than
Tháng 11 năm 1940, tập Lửa thiêng đợc nhà xuất bản Đời Nay của Tự LựcVăn Đoàn ấn hành, Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày bìa, gây một tiếngvang lớn trên thi đàn
Năm 1942, Huy Cận cho xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự, hoàn thànhtập thơ thứ hai Vũ trụ ca, cha in thành sách Sau 1945, Huy Cận tiếp tục cho ra
đời các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc
đời (1963) Những năm sáu mơi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trờng gần
chiến trờng xa (1973), Những ngời mẹ những ngời vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), v.v
Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới
Niềm ám ảnh thờng trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp ngời trớc cõivô biên của vũ trụ Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn, mênh mangnỗi ám ảnh trên thờng thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hoá giải.Thơ Huy Cận thiên về suy tởng triết lý hơn là giãi bày, bộc lộ
Về nghệ thuật, cùng thế hệ với Huy Cận, nhiều ngời hăng hái vận dụng cái mới
trong thơ Tây phơng nhằm cách tân về thi pháp, riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng thì thờng lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tợng trng trong thơ
Pháp với cái hàm súc, sâu lắng của thơ Đờng để tạo cho thơ mình một vẻ đẹpriêng : vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại
2 Tri thức văn hoá
Trang 6Nếu phơng tiện di chuyển chính của ngời châu Âu xa xa là ngựa thì ở nớc
ta phơng tiện di chuyển chính là thuyền Đây là chỗ khác nhau giữa hai nền vănminh, một nền văn minh không có nớc và một nền văn minh dựa vào sông nớc
Nớc là một trong năm thứ thiết thân với đời sống ca con ngời ( kim, mộc,thuỷ, hoả, thổ ) mặc dù nớc thực ra chỉ là một khối chất lỏng Nhng chính sự hội
tụ của nớc làm nên suối, sông, đầm, hồ và biển cả Con ngời dựa vào sông nớc đểtồn tại, quần tụ, nhỏ thì thành làng xóm, lớn là quốc gia, thế giới Sông nớc, conngời vì thế, nh gắn bó cùng một bọc, nớc vì thế vừa là chỗ để đi tới vừa là chỗ đểtrở về
Từ đó, nớc hay sông nớc trở thành đối tợng để con ngời khám phá ra chính mình,khám phá ra hiện hữu ngời trong cõi thế
Quan hệ giữa sông nớc với con ngời đến một mức độ nào đó thì tạo nên cảmột nền văn minh dựa trên sông nớc Tức là dựa vào sông nớc mà tạo nên nếpsống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, tiếng nói rồi hớng tới sông nớc mà sáng tạothơ ca, tiểu thuyết, suy niệm triết học
Một cách tự nhiên, sông nớc trở thành đối tác để làm ăn sinh sống màcũng lại là đối tợng của thẩm mĩ hay suy ngẫm triết học để con ngời gửi gắmnhững vui buồn của thân phận ngời hoặc triết lý về vị thế tồn tại của con ngờitrong cõi vô thờng
Tuy nhiên, Tràng giang còn là một thi phẩm đợc viết trên tinh thần không khớc
từ với truyền thống Trái lại, tác giả vận dụng đợc nhiều nét tinh hoa của văn
ch-ơng trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa mầu sắc cổ điển và mầusắc hiện đại phù hợp với phong cách thơ giàu suy tởng của chính mình
2 Về nghệ thuật
Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kếthợp hài hoà hai phẩm chất : màu sắc cổ điển và chất hiện đại
1 Mầu sắc cổ điển trong Tràng Giang:
Mầu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bàiThơ Mới
a/ Cổ điển ở nhan đề:
Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán “Tràng” ( một âm đọc khác của
“trờng”) gợi sự cổ kính “Giang” là tên chung để chỉ các dòng sông Hai chữ này
gợi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát nh trong Đờng thi, gợi nhớ câu
thơ nổi tiếng của Lý Bạch: “Duy kiến trờng giang thiên tế lu” ( Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
b/ Cổ điển ở đề từ:
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.
Trang 7Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ Sông dài tạo ấn tợng về cái vô cùng của không gian Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảm
giác rợn ngợp của con ngời cô đơn, bé nhỏ trớc cái mênh mang, bất tận của trời
đất Tâm trạng này từng đợc diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô
đọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca :
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
“Tràng giang” đợc cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi:
Có dòng “Tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong t cách một không gian hữu hình và ( cũng có ) dòng “Tràng giang” tâm hồn nh một không gian vô hình
trong tâm tởng Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đờng Thi
Tiếp cận Tràng Giang trong t cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một
điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nớc Thông điệp trực tiếp là các
từ : “nớc”, “con nớc”, “dòng”… những định mệnh đã hàngThông điệp gián tiếp là các từ : “sóng gợn”, “cồn nhỏ”, “bèo dạt”, “bờ xanh”, “bãi vàng”… những định mệnh đã hàng
Tiếp cận Tràng giang với t cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát
hiện thêm một điều thú vị nữa: Cảnh nào cũng gợi buồn Sóng buồn vô hạn (
buồn điệp điệp); Gió đầy tử khí: đìu hiu“ ” Gợi nhớ đến câu: “Bến Phì gió thổi
đìu hiu mấy gò” ( Chinh Phụ Ngâm); Bến sông cô đơn vắng vẻ: “bến cô liêu”;
N-ớc với nỗi buồn trải khắp không gian: “sầu trăm ngả”
d/ Cổ điển ở nghệ thuật đối:
Màu sắc cổ điển còn đợc bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của ờng Thi nhng khá linh hoạt và phóng túng
Đ-Chẳng hạn: “Sóng gợn… những định mệnh đã hàng”đối với “ Con thuyền… những định mệnh đã hàng”; “Nắng xuống đối với trời lên… những định mệnh đã hàng” ; “Sông dài đối với trời rộng… những định mệnh đã hàng”
Nhng đóng góp quan trọng hơn cả là nghệ thuật đối đợc sử dụng một cáchtriệt để bằng hai hệ thống hình ảnh mang tính tơng phản giữa một bên là những
sự vật nhỏ bé, gợi suy ngẫm về cái hữu hạn của kiếp ngời: thuyền, củi, bến, bèo, cánh chim…và một bên là những hình ảnh lớn lao, hùng tráng gợi liên tởng về cái vô hạn của vũ trụ: sông dài, trời rộng, lớp lớp mây cao, núi bạc…
e/ Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hởng cổ kính: (10 lần/16dòng thơ, cách ngắtnhịp truyền thống: 3/4)
Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ: Tràng giang , điệp điệp , song song , lơ“ ” “ ” “ ” “
thơ , đìu hiu , chót vót , mênh mông , lặng lẽ , lớp lớp , dợn dợn ” “ ” “ ” “ ” “ ” “ ” “ ”Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đờng Thi với rất nhiều hình
ảnh và chất liệu quen thuộc Đặc biệt câu kết mợn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu
trong bài Hoàng Hạc Lâu: “Yên ba giang thợng sử nhân sầu” ( Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch ) Điểm khác biệt ở hai tác giả là : Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu đợc gợi từ hình ảnh “khói sóng” còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần tác động của ngoại giới ( Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố
nội tâm thờng trực Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảmxúc tạo nên đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại
2 Mầu sắc hiện đại:
Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phơng diện
nh đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này Bởi cảm hứng chủ
đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của cái tôi cô đơn trớc vũ trụ
đ-ợc bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc Tâm
Trang 8trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại đợc thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá
vỡ qui tắc ớc lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới
Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó đợc thể hiện đa dạng với nhiều cungbậc và hết sức tinh tế
Ngay trong khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật Tuy
thuyền và nớc “song song” nhng “thuyền về” ngợc hớng với “nớc lại” gợi liên
t-ởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng Và hình ảnh gây ấn tợng chính
là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng” Theo lời thổ lộ của
chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kỹ trớc khichọn hình ảnh này Qủa nhiên, chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ
một màu sắc hiện đại Hình ảnh “củi” không chỉ tạo một ấn tợng mới mẻ mà còn gợi những liên tởng và suy ngẫm về kiếp ngời lam lũ, tủi cực, lênh đênh…
Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững, mấtliên lạc giữa con ngời và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con ngời
trớc cái thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây “lơ thơ” trên những cù lao
nhỏ trơ trọi và ngọn gió hiu hắt buồn nh thổi về từ nghìn năm trớc Cảm giáctrống trải trớc một không gian hoang sơ, vắng lặng càng đợc tô đậm khi tác giả
sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh:
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nhng câu thơ Nắng xuống trời lên sâu chót vót mới thực sự gây ấn tợng mạnh
bởi cách sử dụng nghệ thuật tiểu đối, bởi lối dùng từ mới mẻ, táo bạo ( cách dùng
hình dung từ sâu chót vót thay cho cách diễn đạt thông thờng cao chót vót ) vừa
mở ra chiều cao mênh mang đến thăm thẳm của bầu trời vừa diễn tả nỗi cô đơncủa cái tôi trữ tình, đặc biệt là cảm giác rợn ngợp của con ngời hữu hạn trớc một
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Trong khổ thơ có những câu hỏi không thể có câu trả lời Những câu hỏi
nh để khơi sâu thêm nỗi buồn, cảm giác hẫng hụt và đặc biệt là tình cảnh bơ vơcủa cái tôi trớc một thế giới không còn là nơi nơng tựa quen thuộc nh muônnghìn năm trớc nữa
Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang
tính phủ định khiến ngời đọc nảy sinh những liên tởng và so sánh Từ “khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến qua đã vắng ng“ ời sang những chuyến đò” của Xuân Diệu cho đến hàng loạt từ “không đò , không cầu , lặng lẽ” “ ” “ ” của HuyCận là cả một hành trình “ càng đi sâu càng thấy lạnh” ( Hoài Thanh ) của conngời khi bớc vào thế giới hiện đại
Trang 9Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con ngời với vũ trụ Cái
mênh mông của không gian: “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tơng phản gay gắt với hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” Rõ ràng, không còn là cánh chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ nh trong Đờng Thi: “ Chiếc cò bay với ráng pha/ Sông xanh cùng với trời xa một màu – Vơng Bột ” hay cảnh
“Bạch lộ song song phi hạ điền” ( Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng Thiên Trờng vãn vọng - Trần Nhân Tông) nữa Cánh chim ở đây chứa đựng cái
-tôi rợn ngợp trớc hoàng hôn, gợi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp ngời trớc cái vôhạn của tạo hoá
Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thơng, quen thuộc sởi ấm lòng ngời trongbối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng nh sắp dìm cái tôi trữ tình vào mộtnỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa cha từng trải qua bao giờ sẽ là một tấtyếu Đấy là lý do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu :
Lòng quê dợn dợn vời con nớc
Trang 10Chữ ngời tử tù
Nguyễn Tuân
I Những kiến thức bổ trợ
1 Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm
Nguyễn Tuân là một nhà văn có cá tính độc đáo, có thể coi là một địnhnghĩa về ngời nghệ sĩ
Nhng trớc hết, ông là một trí thức yêu nớc Phẩm chất này ở Nguyễn Tuân
đợc thể hiện qua tinh thần tự tôn dân tộc ( khi đang học trung học, ông là một
trong số học sinh cứng đầu đã tham gia bãi khoá để phản đối các thầy giáo Tây
có thái độ coi thờng ngời Việt ); qua thái độ dấn thân ( Cách mạng tháng Tám
1945 thành công, ông hăng hái đi theo cách mạng, tham gia hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mĩ ); qua mối quan tâm sâu sắc và thiết tha với tiếng
mẹ đẻ cùng các giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc ( ông viết nhiều về lối sống
độc đáo, văn hoá ẩm thực tinh tế, những cảnh sắc mỹ lệ và hào hùng của đất nớc,luôn có ý thức thể hiện sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật và tôn vinh vẻ đẹpcủa tiếng Việt qua cách dùng từ ngữ, cách xây dựng hình tợng nhân vật, chọn đềtài, cách hành văn… những định mệnh đã hàng)
Mang tinh thần cộng đồng nhng Nguyễn Tuân lại là ngời ý thức sâu sắc vềcái “Tôi” và cá tính sáng tạo của ngời nghệ sĩ Ông là nhà văn đa tài, có vốn hiểubiết phong phú về nhiều lĩnh vực: hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh, võ thuật, quân sự,lịch sử… những định mệnh đã hàng
Ông có ý thức sử dụng vốn kiến thức đó để xây dựng hình tợng văn học khiếncho văn chơng của mình uyên bác Nguyễn Tuân là một ngời cầm bút rất coitrọng nghề văn, có ý thức tự trọng của ngời nghệ sĩ nên ông coi nghệ thuật làhình thái lao động nghiêm túc và khổ công… những định mệnh đã hàng
Nét nổi bật trong phong cách là ở chỗ, Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở phơngdiện văn hoá và mĩ thuật, nhìn con ngời ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa
Sáng tác của Nguyễn Tuân thể hiện hài hoà mầu sắc cổ điển và hiện đại
Đặc biệt, ông thờng có cảm hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thờng, dữ dội vàtuyệt mĩ Đặc điểm riêng này trong cá tính sáng tạo khiến ông chọn thể loại sởtrờng của mình là tuỳ bút, một thể loại dễ phát huy cá tính sáng tạo của ngờinghệ sĩ
Truyện ngắn Chữ ngời tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in lần đầu tiên năm 1938 trên tạp chí Tao đàn, sau đợc chọn đa vào tập truyện Vang và bóng một thời 1940 ( các lần tái bản sau, Vang và bóng một thời đợc đổi tên là Vang bóng một thời và Dòng chữ cuối cùng cũng đợc đổi tên là Chữ ngời tử tù )
2.Tri thức về văn hoá
Văn chơng lãng mạn thờng ít dựa vào nguyên mẫu Trờng hợp sử dụng
nguyên mẫu trong Chữ ngời tử tù có thể coi là một cá biệt, hơn nữa đây là một
nguyên mẫu rất độc đáo, mở ra khuynh hớng yêu nớc trong sáng tác của NguyễnTuân điều ít thấy các cây bút lãng mạn khác
Nguyên mẫu của Huấn Cao là Cao Bá Quát, nhà nho kiệt xuất, nghệ sĩ tàihoa và khí phách, nhà thơ tài năng với tâm hồn phóng khoáng nhạy cảm với cái
mới, cái lạ nổi tiếng một thời: “Văn nh Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đờng” ( Văn nh Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời tiền Hán
không có / Thơ Tùng Thiện Vơng và Tuy Lí Vơng đến thời thịnh Đờng cũngkhông bằng đợc) Cao Bá Quát chính là ngời anh hùng đa tài từng tham gia cuộc
Trang 11khởi nghĩa của nông dân do Lê Duy Cự cầm đầu năm 1854 sau bị giết và bị triều
đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc
3 Tri thức về thể loại
Từ nguyên mẫu Cao Bá Quát, nhà văn xây dựng nhân vật Huấn Cao bằngbút pháp lãng mạn mà chủ yếu là nghệ thuật phóng đại, lí tởng hoá để sáng tạonên một hình tợng mang vẻ đẹp lí tởng
Để lí tởng hoá, gây ấn tợng về nhân vật Huấn Cao tác giả sử dụng cặp hìnhtợng nhân vật tơng đồng nhng vẫn có khoảng cách Trong đó, Huấn Cao đợc coi
là hiện thân của ngời sáng tạo cái đẹp Nhân vật Quản ngục không sáng tạo cái
đẹp nhng là ngời trân trọng và yêu quí cái đẹp Từ đó chọn lọc và tổng hợp đểxây dựng một mẫu ngời đại diện cho chủ nghĩa yêu nớc và nhân văn theo kiểu
Nguyễn Tuân : mẫu ngời khí phách hài hoà với thiên lơng.
Huấn Cao trong tác phẩm có nhiều nét tơng đồng nhng có nhiều nét dị biệt
so với Cao Bá Quát Đọc tác phẩm, không nên đồng nhất nguyên mẫu ( Cao BáQuát ) với hình tợng nghệ thuật ( Huấn Cao )
II Phân tích tác phẩm
1 Về nội dung
1/ Nhân vật Huấn Cao:
a/ Huấn Cao, con ngời mang phẩm chất tài hoa siêu việt:
Nét cơ bản trong phong cách nghệ của Nguyễn Tuân là luôn nhìn nhậncon ngời ở phẩm chất nghệ sĩ tài hoa Các nhân vật trong thế giới nghệ thuật củaNguyễn Tuân đều là những con ngời tài hoa, tài tử và hình ảnh Huấn Cao trongthế giới ấy rực sáng nh một đại diện tiêu biểu nhất
Với bút pháp lí tởng hoá, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ nhân vật Huấn Cao, một conngời mang phẩm chất tài hoa siêu việt, ngời đứng đầu nghệ thuật th pháp
Tài nghệ th pháp của Huấn Cao đợc miêu tả rất tỉ mỉ
Trớc hết là ở nét chữ và phong cách Đúng là của một bậc tài hoa: “ Nổi tiếng khắp tỉnh Sơn về tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, ở khuôn chữ: đẹp lắm,“
vuông lắm”… những định mệnh đã hàng
Nhng nét độc đáo ở con ngời tài hoa ấy là chữ của Huấn Cao in dấu ấn nhân
cách của ngời viết: “Những nét chữ vuông vắn, tơi tắn nói lên hoài bão tung hoành của một đời con ngời”
Chữ của hoạ sĩ th pháp bình thờng chỉ phản chiếu một phơng diện của phẩmchất tài hoa, chữ của Huấn Cao khác biệt hơn còn là để bộc lộ tính cách và phẩmgiá của con ngời
Không phải ngẫu nhiên, trong khi giới thiệu Huấn Cao, con ngời nổi tiếng về tàinghệ th pháp, tác giả bỗng để cho nhân vật thơ lại trầm trồ về cái tài bẻ khoá, vợtngục của Huấn Cao
Chi tiết này phải đợc hiểu nh một cách thể hiện độc đáo, đẩy lên cao độ phẩmchất nghệ sĩ tài hoa của nhân vật Huấn Cao không mang trong mình phẩm chấttài hoa nghệ sĩ của một kiểu ngời nghệ sĩ tài hoa thông thờng Con ngời ấy đíchthực là một đấng tài hoa siêu việt, chọc trời khuấy nớc, đó là ngời anh hùng có
tài phá cũi sổ lồng mà cũng lại là ngời nghệ sĩ có tài thảo nên những nét chữ ợng múa rồng bay.
ph-b/ Huấn Cao, con ngời mang khí phách ngạo nghễ, ngang tàng:
Các nhà Nho (trừ một số nhân vật lỗi lạc) thờng non kém về bản lĩnh và khíphách Bởi sinh ra trong nền sản xuất tiểu nông, sống dựa vào sự cung cấp củacác tầng lớp khác, tầng lớp nho sĩ thờng có thể trạng yếu Ngời đời thờng vẫn có
cái nhìn khá hài hớc về họ: “ Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” Các thành ngữ nh “Bạch diện th sinh”, “trói gà không chặt” là cách mà ngời
ta dùng để gọi tầng lớp nho sĩ nói chung, không với hàm ý coi thờng mà thực tế
là nh thế Ngoài ra, có thể do tầng lớp nho sĩ vốn chỉ lo dùi mài kinh sử, trui rènkiến thức “ cửa Khổng sân Trình” trong suốt cuộc đời nên họ thờng bị khống chế
bởi t tởng “trung quân ái quốc , trí quân trạch dân” “ ”, thậm chí nhiều kẻ mặc
Trang 12nhiên coi đó là lý tởng chân chính của kẻ làm trai mà quên rằng nhiều khi chỉ làmột thứ ngu trung, lâu dần họ bị triệt tiêu bản lĩnh và khí phách cá nhân.
Chính vì vậy, hình tợng Huấn Cao gây ấn tợng mạnh bởi ông không chỉ là mộtcon ngời mang phẩm chất tài hoa mà còn là con ngời mang nét đẹp của khíphách với tính cách ngang tàng, ngạo nghễ
Huấn Cao là bậc nghĩa sĩ dù thất thế nhng không rơi vào cách ứng xử tầm thờng
Khác với kiểu “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” ( Truyện Kiều - Nguyễn Du),
những ngày cuối cùng của cuộc đời lại là thời điểm nhân vật này toả sáng mộtcách rực rỡ khí phách ngạo nghễ, ngang tàng nh vẫn đang tung hoành nơi chiến
địa Là con ngời của khoa cử nhng Huấn Cao không mù quáng với t tởng “phò chính thống” mà sẵn sàng chịu tiếng “làm giặc” vì nghĩa lớn.
Nét độc đáo của tác giả Chữ ngời tử tù là ở chỗ ông tả một khí phách lớn qua
những chi tiết nhỏ:
Động tác rỗ gông lạnh lùng, mạnh mẽ: “chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đẩy thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái ” T thế mắng
quản ngục oai phong nh khi ra lệnh: “Ngơi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một
điều! Là ngơi đừng đặt chân vào đây ” Cốt cách ung dung, tự tại thể hiện ở cách
ăn uống nh ngời làm chủ nhà lao: “thản nhiên nhận rợu thịt, coi đó nh là một việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc cha bị giam cầm ” Có mấy ai, trớc cáichết đã đợc báo trớc và chỉ còn tính từng ngày có đợc bản lĩnh đó?
Khí phách của con ngời Huấn Cao còn thể hiện ở t thế viết chữ phóng túng, vô
hiệu hoá thế lực của nhà tù Mặc dù cổ đeo gông, chân v“ ớng xiềng ” nhng nét
bút vẫn thể hiện những cái hoài bão tung hoành của một đời ng“ ời ”
Tác giả không tả rõ nội dung của dòng chữ trên lụa bạch mà chỉ sử dụng hình
ảnh gợi để nổi bật nhân cách
c/ Huấn Cao, con ngời mang vẻ đẹp thiên lơng
Nguyễn Tuân đã miêu tả Huấn Cao nh ngời nghĩa sĩ có phẩm chất “vô uý”(không biết sợ) Huấn Cao không sợ cái mà ngời bình thờng vẫn sợ: cái chết – ngọc lụa quyền quí
– Nhng xét kĩ ra, dù rất đáng trọng, đây chỉ là phẩm chất truyềnthống của một dân tộc vốn thờng xuyên phải đơng đầu với bạo ngợc và hung tàn
Điều cần suy ngẫm là ở chỗ, nếu con ngời ta không còn biết sợ một điều gì thì lại
không còn là con ngời nữa (không còn cái “tâm” con ngời trở nên lạnh lùng, vô
cảm)
Bởi thế, Nguyễn Tuân có ý thức trong việc thể hiện cái “không biết sợ” của Huấn Cao để, trong phần cuối của tác phẩm, tập trung làm nổi bật cái phẩm chất “biết sợ” của Huấn Cao.
Huấn Cao đã từng hiểu lầm Quản Ngục vì cho rằng Quản Ngục chỉ là kẻ tầm ờng Ông đã từng tỏ thái độ khinh miệt đến tàn nhẫn để chứng tỏ cái khí phách
th-không biết sợ quyền uy và cái chết của mình : “ Ta chỉ muốn một điều Là ngơi
đạt sự mềm lòng của ngời nghĩa sĩ nhng mặt khác cũng hé lộ cho ta thấy nétchân thật, chân thành trong con ngời Huấn Cao: ông không chỉ là ngời có cái
Tâm mà còn là ngời hệ luỵ bởi chữ “ Tâm” Những ngời có tâm trên đời thì
không chỉ biết trọng cái tâm của ngời khác mà còn rất sợ mình phụ tấm lòng dùchỉ là của ngời trong thiên hạ Đây là nét đẹp tự nhiên trời phú để ngời có tâm trởnên một nhân cách mà thời bấy giờ ngời ta vẫn gọi là thiên lơng Phẩm chất đókhiến ta không ngạc nhiên khi Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn khuyên
quản ngục những lời chí tình nh đối với một tri âm : “ Tôi bảo thực đấy : Thầy
Trang 13Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã ở đây, khó giữ thiên lơng cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lơng thiện đi”.
Vẻ đẹp thiên lơng ở Huấn Cao còn thể hiện ở tâm hồn tinh tế, nhạy cảm với cái
đẹp
Với cuộc đời của một kẻ “ làm giặc”, chống lại triều đình phong kiến tànbạo, Huấn Cao đơng nhiên phải chịu đựng bao thử thách, gian truân và cuộc sốngkhắc nghiệt nơi chiến địa, rồi bao tra tấn, đoạ đầy ở chốn lao tù nhng tâm hồncủa ngời tử tù ấy vẫn không hề khô cứng trớc cái đẹp án tử hình treo lơ lửngtrên đầu, thậm chí ngay cả khi biết rằng sau buổi sáng ngày hôm sau mình đãkhông còn sống trên đời nữa nhng ông Huấn đã thực sự rung động bởi hơng mực,
đắm chìm trong cái khí tiết của tinh tuý tinh thần: “thỏi mực thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? ” Những lờinhận xét tinh tế đồng thời cũng là những lời chia sẻ ấy vốn chỉ dành cho bạn bètri kỉ, tâm đắc trên đời
2/ Nhân vật Quản Ngục
Sau lời đối thoại giữa Quản ngục và thơ lại về tử tù Huấn Cao, Quản Ngụcrơi vào tâm trạng mâu thuẫn và đầy kịch tính: Vừa mừng vừa lo Mừng vì đây làcơ hội hiếm có để xin chữ của chính con ngời nổi tiếng về nghệ thuật th pháp màtrong lòng, tự bấy lâu nay quản ngục vẫn thầm kính trọng, tôn thờ Lo không
phải vì sợ không giữ đợc loại tử tù “có tài vợt ngục và bẻ khoá” mà vì sợ không
xoá đợc cái khoảng cách về địa vị, nhân cách và tài năng giữa hai ngời thì dù cómột ông Huấn trong tay, quản ngục vẫn trắng tay, không thực hiện đợc sởnguyện vốn ấp ủ bấy lâu
Bị giằng xé trong tâm trạng mâu thuẫn ấy quản ngục thao thức không ngủ : ánh
đèn soi tỏ gơng mặt ngời quản ngục: “cháy bùng to lên, soi tỏ mặt ngời ngồi
đấy ” Tác giả ví gơng mặt quản ngục nh : “nớc ao xuân, bằng lặng, kín đáo, và
êm nhẹ ” Những chi tiết trên hé lộ một phần phẩm chất tâm hồn của nhân vật
Đó là con ngời kín đáo, tế nhị đúng nh lời nhận xét của tác giả trong đoạn văn trữtình ngoại đề
Quản ngục tiêu biểu cho những ngời biết trân trọng và thực lòng yêu cái đẹp củatài hoa Tính cách ấy bộc lộ trong tình huống éo le nên đầy kịch tính
a/ Quản ngục, ngời có sở thích cao quí:
Ngục quan cũng nh các quan chức lúc bấy giờ thờng có những sở thíchthấp hèn: ham mê tửu sắc, phú quí, h danh… những định mệnh đã hàngQuản ngục trong tác phẩm củaNguyễn Tuân đã đợc lí tởng hoá Là viên coi ngục ( công cụ đắc lực của bộ máythống trị suy vong) nhng lại có tài thẩm định và thực lòng yêu nghệ thuật thpháp
Đó không phải là sở thích nhất thời khi làm quan mà là tình cảm đợc nhen nhúm
từ lúc tuổi thơ Từ thuở đọc vỡ sách thánh hiền“ ” quản ngục đã có sở thích “một ngày kia đợc treo ở nhà riêng của mình một câu đối do tay Huấn Cao viết ”
Quản ngục là ngời thẩm định đúng giá trị chữ của Huấn Cao: “có đợc chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời !”
Trong khi chờ đợi cơ hội xin chữ, Quản ngục ở trong tâm trạng day dứt, lo
sợ: “y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin đợc mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất” Sở thích cao quí đã giúp cho Quản ngục thực hiện đợc
ý nguyện : làm động lòng Huấn Cao, xin đợc chữ
b/ Quản ngục, ngời trân trọng, đề cao nhân cách con ngời:
Biết Huấn Cao là ngời anh hùng - nghệ sĩ, tiêu biểu cho sự thanh cao về nhâncách con ngời, Quản ngục luôn giữ thái độ lễ phép, cung kính, trân trọng
Vì sự trân trọng và đề cao giá trị con ngời mà Quản ngục kiên trì, kìm nén trớcthái độ tức giận của Huấn Cao, hơn thế còn dám biệt đãi ngời tù “… những định mệnh đã hàngcơm rợu lại
vẫn đa đều đều và có phần hậu hơn trớc ”
Quản ngục đã thực hiện một hành động mạo hiểm: Dám chơi chữ của kẻ tử tùngay nơi mình tòng sự mà không sợ búa rìu pháp luật, dám tổ chức viết chữ ngay