Nghiên cứu về triết gia Trần Đức Thảo với hai khía cạnh: cuộc đời bi kịch và tư tưởng của ông. Cuộc đời Trần Đức Thảo gắn với lịch sử biến động của dân tộc Việt Nam, còn tư tưởng lại vượt qua thời đại. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của ông là gắn chủ nghĩa Mác với tư tưởng hiện tượng luận.
Trang 1TRẦN ĐỨC THẢO – CON NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG
Thạc sĩ Nguyễn Văn Luân Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Điện thoại: 0969.09.24.26 Email: nguyenvanluandhsphue@gmail.com
Tóm tắt: Bài viết của chúng tôi tập trung làm rõ phẩm chất trí thức trong con
người triết gia Trần Đức Thảo (1917 – 1993) Phẩm chất đó, theo chúng tôi, thể hiện chủ yếu ở hai luận điểm sau:
Thứ nhất, ở sự nghiệp Trần Đức Thảo thuộc lớp trí thức trưởng thành từ nền giáo dục Phương Tây Ông bắt đầu sự nghiệp bằng sự dấn thân triết học, tức dấn thân vào các
ý tưởng cá nhân và đi đến tận cùng với nó Tư cách trí thức ở Trần Đức Thảo so với thế
hệ Tây học cùng thời, do vậy, nổi bật hơn cả
Thứ hai, ở sự lựa chọn Trần Đức Thảo từ bỏ sự nghiệp triết học đang phát triển của mình ở “chính quốc” để về phụng sự đất nước (năm 1951) – một nước thuộc địa, nghèo nàn và đang chiến tranh Đó là hành động kiên nghị của một trí thức dân tộc Dù gặp phải những truân chuyên trong cuộc đời vào cuối thập niên 50 nhưng con người Trần Đức Thảo vẫn sáng ngời tư cách trí thức của một triết gia Ở con người ấy, một sự nghiệp khoa học mang tầm vóc thế giới chưa bao giờ tách khỏi phẩm chất trí thức dân tộc
1 Đặt vấn đề
Trần Đức Thảo là người Việt Nam duy nhất được thế giới biết đến với danh hiệu nhà triết học Nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Đức Thảo đã được đặt ra từ lâu, đến nay,
đã có những hội thảo lớn được tổ chức ở cả Việt Nam – quê ông, và Pháp – nơi ông học tập và thành danh
Trang 2Tư tưởng Trần Đức Thảo được hình thành và phát triển trong phần lớn thế kỷ XX, ở những hoàn cảnh tương đối khác nhau, đồng thời bao trùm nhiều vấn đề quan trọng,
có ý nghĩa thực tiễn trong tình hình hiện nay Vì thế, nghiên cứu thành tựu triết học, tư tưởng của ông vẫn chưa thể dừng lại
Vấn đề: Trần Đức Thảo là nhà Hiện tượng luận hay nhà Marxist , đã được đặt ra rất túc, và cũng đã có những giải đáp Song, câu trả lời thỏa đáng, nhất thiết phải rút ra từ sự nghiên cứu hành trình tư tưởng của ông Hành trình đó khẳng định: con người Trần Đức Thảo dung hợp một nhà trí thức dân tộc chân chính, một triết gia Marxist trung thành Ở khía cạnh thứ nhất, góp được những phát kiến độc sáng nhằm phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng; ở khía cạnh thứ hai, ông là mốc son của truyền thống trí thức dân tộc Cả hai khía cạnh đều dự phóng cho tương lai
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Một cách hiểu về vấn đề trí thức
Trần Đức Thảo, với người Việt, hiển nhiên là một trí tuệ hiếm có Trong tín niệm của tôi, ông còn là một trí thức chân chính Một trí thức dân tộc
Trí thức: tiếng Anh: intellectual, tiếng Pháp: intellectuel, tiếng Đức: Intellektuelle,
tất cả đều bắt nguồn từ chữ intellectualis trong tiếng La Tinh, có nghĩa là sự hiểu biết.
Trong tiếng Hán, chữ trí 智 cũng có nghĩa là biết (cùng nghĩa này, có các chữ như: trí giả
-người hiểu biết, trí năng – năng lực hiểu biết,…); chữ trí thức (智 智) được Đào Duy Anh định nghĩa như chữ tri thức (智 智), tức là “biết, những điều mình hiểu biết” [1; 484 - 487].
Như vậy, nghĩa gốc của trí thức nhấn mạnh vào 2 vấn đề: kiến thức và sự hiểu biết chúng
Tuy nhiên, trong thực tiễn, có hiểu biết đến đâu và dùng sự hiểu biết đó để làm gì thì mới được coi là trí thức? Điều này lại phụ thuộc vào cách quan niệm Từ những điểm nhìn khác nhau, chúng ta có lời giải khác nhau cho câu hỏi: những ai là trí thức?
Về mặt giai cấp (và cũng là góc độ quen thuộc với phần đa dân Việt Nam), trí thức được coi như một tầng lớp xã hội trong mô hình: vô sản, tư sản, trí thức Trong quan niệm của tôi, tri thức là người không ngừng vươn đến tự do bằng sự hiểu biết và hành vi có trách nhiệm cộng đồng của mình Theo đó, trí thức đồng nghĩa với một kết cấu giá trị và kết tinh văn hóa của không chỉ một thời mà của nhiều thời, thậm chí, nhiều không gian
Trang 3trong thời hiện tại Hay nói khác đi, bản chất của trí thức thuộc về những giá trị vững
bền, hơn là nằm ở vấn đề nghề nghiệp, giai tầng Kẻ mang “ý tưởng” liên tục trong quan niệm của Arthur M Schlesinger hay người không ngừng vươn tới tri thức mới ("khuynh hướng muốn biết") trong cách nhìn của James V Schall là một phần quan trọng của giá trị trí thức Giá trị bao giờ cũng có tính tự khẳng định, tức là, lý do tồn tại hay tiêu vong nằm ngay ở bản thân nó Trí thức, do đó, được tự do bởi khả năng nhìn ra quy luật vận động,
và cũng có nguy cơ bị trói buộc, trước, bởi các thiết chế như là cách đề phòng sự phủ định nó, sau, trói buộc vô hình của chính sự hướng tâm giá trị, lớn nhất là giá trị dân tộc Trí thức có khả năng đi trước thời đại, nhưng, không thể tách khỏi thời đại lịch sử bằng chính những hoạt động thực tiễn của bản thân Trí thức đích thực không đồng nghĩa với,
và bao giờ cũng ít hơn nhóm người có “chữ”, có “triện” Vươn tới trở thành trí thức đồng nghĩa với sự lựa chọn dũng cảm và đôi khi, phải dám trả giá cho sự chọn lựa ấy
2.2 Triết học Trần Đức Thảo: sự quán triệt phương pháp luận Marxist, hướng tới chủ nghĩa duy vật nhân bản – hành trình của một triết gia, một trí thức dân tộc
Trần Đức Thảo sinh năm 1917, tại xứ quan họ Bắc Ninh, bố là một viên chức nhỏ
Ở Việt Nam, ông đỗ "tú tài Tây" Trường Albert Sarraut, đã theo học Trường Luật – Hà Nội (1935), sau đó sang Pháp (1936) Trần Đức Thảo thuộc lớp trí thức du học Tây phương đầu tiên người Việt, cùng với những tên tuổi lớn khác: Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Phạm Quang Lễ, Nguyễn Văn Huyên,… Họ lớn lên trong hoàn cảnh xã hội phong kiến thuộc địa, vì thế, dẫu chứa đựng yếu tố phi truyền thống, nhưng không tách khỏi truyền thống dân tộc, trước tiên là truyền thống trí thức
Đời triết gia có 3 giai đoạn: 1917 – 1951: học trung học ở Việt Nam; du học, thành danh ở Pháp; 1951 – 1991: về nước tham gia kháng chiến; 1991 – 1993: qua Pháp lại và mất tại Paris Bước rẽ thứ nhất là chuyến du học Pháp tròn 15 năm (1917 – 1951) Nền văn minh và sự tiến bộ của giáo dục đại học Phương Tây đã thắp lên tư duy duy lý trong con người Á Đông Nhờ thế, ông tạo nên một sự nghiệp mà không một người dân thuộc địa nào mơ đến Ông tốt nghiệp thủ khoa của trường danh tiếng bậc nhất nước Pháp bấy
giờ: École normale supérieure d"Ulm (Cao đẳng Sư phạm phố Ulm); ngoài 30 tuổi, gây
Trang 4chú ý cho giới triết học Pháp và Châu Âu bởi cuốn Phénoménologie et matérialisme
dialectique (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhà in Minh Tân, Paris,
1951), trước đó đã được đăng vài phần ở một số báo R Barthes – nhà lý luận lớn đã viết những dòng trân trọng về công trình của ông: “Très brillante, la démonstration de Thao a
le mérite immense de faire rentrer l'évolution des idées et des mythes dans l'évolution d'une Histoire profonde, qui est celle de la propriété, ou mieux encore de l'idée de la propriété.” (Rất đặc sắc, sự chứng minh của Trần Đức Thảo có giá trị lớn là đã đặt sự tiến hoá của tư tưởng và huyền thoại vào trong sự tiến hoá của Lịch sử chiều sâu, đó là lịch sử của sở hữu, hay đúng hơn nữa, của ý tưởng sở hữu) [2] Cuốn sách đã đưa Trần Đức Thảo thành triết gia Hiện tượng luận nổi danh với tư duy đặc sắc có khả năng soi chiếu tỉnh táo các vấn đề hóc búa của triết học Năm cuộc trao đổi từ cuối năm 1949 – đầu năm 1950 với J P Sartre theo lời mời của nhà tư tưởng lớn nhất nước Pháp đương thời phần nào cho thấy địa vị của tư duy Trần Đức Thảo Ở Pháp, Trần Đức Thảo có tương lai triết học,
và thực tế, có cơ hội dạy cho Sorbonne, như ông thừa nhận trong Tiểu sử tự thuật.
Nhưng, bỏ lại tất cả, ông đã về nước Một nước thuộc địa đang chiến tranh Hẳn ông đã nghĩ: Tây phương tuy lạc bất như quy – theo cách của một trí thức khác, trước ông 6 thế
kỷ (Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn, đời Trần, khi đi sứ Trung Quốc, nhớ nước mà viết
“Giang Nam tuy lạc bất như quy”) Trí thức Việt Nam, rõ ràng, luôn thao thức với một lựa chọn: dân tộc trên hết
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, tư tưởng Marxist trở thành lựa chọn của dân tộc Việt Nam Con đường Việt Nam đồng nghĩa với con đường Marxist - Leninist Con đường kiên trung ấy có thể tìm thấy ở hành trình Trần Đức Thảo Từ nhà Hiện tượng luận, ông đi một vòng từ chủ nghĩa Marx, rồi chủ nghĩa Marx – Lenin, cuối cùng dừng chân với phép biện chứng duy vật mà Marx gây dựng Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chúng ta cho phép mình nhìn ông như một tín đồ, mà phải cao hơn, ông là một triết gia dấn thân Dấn thân tìm về chân lý tối thượng của suy tư: tự do (cho người, trước hết là người Việt Nam, và cho mình)
Công trình chính thức đầu tiên của Trần Đức Thảo đề cập đến trào lưu triết học
thời thượng – Hiện tượng luận, khởi điểm đồng thời xoay quanh Husserl và một triết
Trang 5thuyết đối nghịch với nó – chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx Công trình của Trần Đức Thảo đánh động tới hai vấn đề thiết yếu: thứ nhất, tâm lý tôn sùng những trào lưu thời thượng trong xã hội Pháp, thậm chí, ở cả giới trí thức đương thời, thứ hai, mở ra một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận – phép duy vật biện chứng, mà như chính tác giả của
nó tin tưởng như một tín điều là phương pháp duy nhất khả thi để lý giải các vấn đề khoa học Xin nhấn mạnh, cả hai vấn đề trên đều mang tinh thần và có giá trị khoa học chứ không hẳn chứa đựng những xúc cảm cá nhân một công dân thuộc địa Công trình năm
1951, phần I, thực chất, là sự kế thừa thành tựu suy nghiệm của tác giả ở luận văn viết trước đó 9 năm: Phương pháp hiện tượng học của Husserl Trần Đức Thảo nhìn nhận triết học Husserl là “chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm” Sự hạn chế trong thành tựu tư duy của triết gia Đức chính ở sự “bỏ quên hiện thực mà thực ra chúng quy định nên nội dung thực
sự cho suy nghĩ của ông ta” [9; 18], Trong Một hành trình, ông tiếp tục khẳng định vai trò của hiện thực trong nhận thức: sự phản ánh hình ảnh bản thân vào trong óc như là “sự vận động gửi trả lại hay phản chiếu” qua sự trung giới của hình ảnh xã hội có bên trong
cơ thể, kết quả là “hình ảnh sống trải của nó (cá nhân – NVL) nhằm vào đối tượng hay còn có thể nói là hình ảnh có chủ định về đối tượng, từ đó mà có ý thức sống trải của nó
về đối tượng” [9; 17] Để phê phán quan niệm và phương pháp luận Hiện tượng luận, Trần Đức Thảo đứng trên quan điểm duy vật, và nhất là, sử dụng phép duy vật của Marx như một phương pháp tư duy: “quá trình duy nhất có giá trị đối với việc xây dựng nên các ý nghĩa đã trải nghiệm là dựa trên nền tảng các hiện thực vật chất” [9; 20] Kết quả sự sống trải của con người trong thế giới được nhìn nhận từ chính nền tảng hiện thực của nó: sản xuất vật chất Bằng cách ấy, triết gia nhận thấy sự vận động lịch sử trong chính điều
mà ông tổ Hiện tượng luận trong đà tư duy của mình hướng đến: nội dung hiện thực Như vậy, triết học tư sản tìm thấy ở chủ nghĩa Marx hình thức xóa bỏ nó Nói cách khác, bằng chủ nghĩa Marx, Trần Đức Thảo thực hiện phủ định biện chứng chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm tại ngay chính phương pháp tư duy của mình, (cho dù, điều đó đã không diễn ra như ý), để từ đây, ông xác lập và trung thành đến cùng với tư cách nhà Marxist, sau đó là nhà Marxist – Leninist, trong hoàn cảnh đặc thù của đất nước
Trang 6Trước tác cuối cùng: Logic hiện tại sống động (La logique du present vivant) viết
trong đoạn đời cuối của tác giả Nếu căn cứ vào thời điểm kí tên ở cuối (12/04/1993), tác phẩm chỉ tạm dừng trước ngày tác giả về cửu tuyền không lâu - 12 ngày Lần sau cuối, cuộc nghiệm sinh dành cho một vấn đề cũ của triết học: luận lý về thời gian và tồn tại cá thể, nhưng vẫn cho thấy những sáng tạo cá nhân xuất sắc trên nền tảng triết Phương Tây bằng đôi mắt biện chứng pháp Phủ nhận luận lý hình thức khái quát tư duy trên ba nguyên lý nền tảng: “Nguyên lý đồng nhất: cái gì hiện hữu, thì hiện hữu Nguyên lý không mâu thuẫn : cái gì không hiện hữu, thì không hiện hữu Hay nói cách khác : A không thể vừa là A vừa là “không A” Nguyên lý triệt tam: một sự vật chỉ có thể là A hoặc “không A”, không có giải pháp thứ ba” [11] Tác giả cho rằng đó là kết quả của “tri giác thông thường”, theo đó, thời hiện tại được quan niệm “như tự nó bất động” Hạn chế
đó, theo Trần Đức Thảo, được khắc phục bởi Luận lý biện chứng với ba nguyên lý tư duy: “(1) Mọi sự vật hiện hữu, đồng thời không hiện hữu, vì nó lưu chuyển (2) Điều không hiện hữu, cũng hiện hữu, vì quá khứ không còn hiện hữu, thành tựu trong hiện trạng của lúc này, và tương lai chưa hiện hữu, đã bắt đầu hiện lên, cũng từ cái hiện trạng lúc này ấy (3) Mọi sự vật đều là chính nó và là cái khác, vì nó tự biểu hiện như một cái khác trong sự xuất hiện của tương lai đã bắt đầu trong lúc này” [11] Thời hiện tại được trả về với tính sống động vốn có của nó, nơi quy tụ quá khứ - hiện tại – tương lai trong sự
“lưu chuyển” không ngừng giữa các khoảng khắc: “Hiện tại chính là sự chuyển biến từ quá khứ đến tương lai, một sự chuyển biến liên tục, trong mỗi giây lát, với quá khứ lắng đọng trong nó, và với tương lai nẩy mầm từ nó” [11] Mặc dù Trần Đức Thảo thừa nhận
sự thừa hưởng phép biện chứng Heraclite và Hegel, và điều đó là chính xác, nhưng dấu
ấn tư duy của Marx (đặc biệt, trong Tư bản luận, rõ rệt hơn cả), giúp tác giả hoàn tất luận
lý biện chứng duy vật, thể hiện ở các vấn đề sau:
1, Trước hết, về phương pháp luận: việc giải quyết vấn đề có tính căn bản: logic của luận lý Khi xử lý quan hệ giữa “cái logic” (quá trình tư duy) với “cái lịch sử”, Marx cho rằng, định hướng cho nhà lý luận không phải là lịch sử cụ thể mà chỉ là lịch sử của cơ chế khái niệm: “Khác với các nhà kiến trúc khác, khoa học không những vẽ ra những lâu đài trên không, mà còn xây dựng những tầng nhà ở riêng biệt của lâu đài trước khi đặt
Trang 7nền móng cho nó” [4; 303] Trong Tư bản luận, Marx đã dành XXIII chương cho việc
“phân tích logic về tư bản với tính cách (…) một khái niệm tương ứng với nó” trước khi
mô tả lịch sử ra đời của tư bản ở chương XXIV Triết gia người Việt cũng xây dựng tiền
đề cho mình bằng cách khẳng định luận lý biện chứng trên cơ sở bác bỏ luận lý hình thức ngay ở chương đầu tiên
2, Hiện tại trong quan niệm của Luận lý biện chứng Đầu tiên, hiện tại như sự quy
tụ các chiều thời gian Marx coi quá trình lịch sử trong sự hình thành cái cụ thể và kết quả của nó nằm trong mối quan hệ có tính quy luật Do đó, theo Marx, vấn đề quan trọng nằm
ở cách quan niệm về hiện tại, để qua đó có thể hiểu quá khứ trong khi không cần ở trong quá khứ: “Để phát hiện ra các quy luật của nền kinh tế tư sản, không cần thiết phải viết về lịch sử hiện thực của các quan hệ sản xuất (…) Những chỉ dẫn ấy (số liệu thực nghiệm – NVL) cùng với sự hiểu biết đúng đắn hiện đại trong trường hợp này cũng mang lại cho ta chiếc chìa khóa để hiểu quá khứ” [4; 313].Trần Đức Thảo thể hiện rất tập trung điều đó
trong phần II - Biện chứng luận lý như biện chứng tổng quát của hội nhập thời gian, và minh chứng sâu sắc trong phần IV - Lý thuyết hiện tại sinh động như lý thuyết của tính
kết hợp.
3, Vấn đề hình thái lịch sử Marx xem hình thái lịch sử kế tiếp như là sự phủ định của phủ định hình thái lịch sử trước nó Mọi sự vật tồn tại trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự vận động của các hình thái xã hội, do đó, thông qua sự giải quyết mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất Trần Đức Thảo chỉ rõ sự hình thành các Hình thái nhờ giải quyết mâu thuẫn trong sự vận động thời gian: “Một hình thái lịch sử là một tập hợp trong thời gian và không gian của những thực thể tương tác với nhau trong vô số giây lát không ngừng chuyển động và tự trở thành” [11]
Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Trần Đức Thảo trong Logic của cái hiện tại
sống động lại nằm ở chỗ khác: quan niệm Lý thuyết hiện tại sống động như Lý thuyết của
cá tính Thực sự đột phá, triết gia nhìn nhận khoa học trong những hiện hữu cá biệt, điều
trước đó, nhận loại, bắt đầu từ Aristote, thừa nhận “chỉ có khoa học trong tổng quát”, còn
“hiện hữu” được tìm “trong cá biệt” Chống lại định luật này, nhưng không tìm thấy giải đáp đúng đắn, người ta phải chối bỏ khoa học và tư duy kỹ trị, Chủ nghĩa lãng mạn và
Trang 8hiện sinh là những ví dụ Tránh khỏi cực đoan đó, triết gia tìm ra lời giải “qua sự hội nhập thời gian trong sinh học” Những vấn đề thuộc chức năng và cấu trúc sinh học như: sự
“chuyển hóa, vận hành, đồng hóa, phân hủy và đào thải, cùng với sự tái tạo của cấu trúc chức năng” được khoa học thực chứng chỉ ra đã minh chứng cho sự vận động nội tại của từng cá thể ở giây lát hiện tại, khi “quá khứ được tồn trữ, sự hiện hữu trong lúc này, áp lực hướng tiền” Để hiểu cá thể hiện hữu, công việc của khoa học,do đó, phải nâng lên mức “hiểu biết cảm thông” Hay, nhận thức “sự đối kháng giữa chức năng tồn đọng và chức năng hướng đến tương lai, chính là mâu thuẫn nội tại của cá thể sinh học” [11] Điều này khiến chúng ta quay về với luận điểm nổi tiếng của Engels: “sự sống hữu cơ và
sự phát triển của sự sống hữu cơ đó (lại càng) phải chứa đựng mâu thuẫn … sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác” [5; 173-174] Cuốn sách đầu tiên và bản thảo cuối cùng của Trần Đức Thảo cách nhau trên 40 năm, nhưng giữa chúng luôn có sự thống nhất rõ ràng: tín điều và hiện thực hóa phương pháp luận Marxist
Trần Đức Thảo đến và trung thành với chủ nghĩa Marx từ tư cách một nhà hiện tượng luận Điều đó tạo nên khác biệt giữa ông với những người nghiên cứu Marxist ở trong nước Ông là nhà khoa học trong nước duy nhất “tỉnh táo” suốt mấy thập niên trước Đổi mới, theo nghĩa, hiểu rõ bản chất của bọn phản bội Marxism ở khắp nơi, đồng thời, thấu triệt những hạn chế cũng như tính khả dụng của Hiện tượng luận Husserl, Hegel, Kant và cả thuyết hiện sinh của J.P Sartre đối với tư duy duy vật biện chứng Ông nhận thức sâu sắc khả năng lý giải các vấn đề bản thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng, điều
mà triết học duy tâm đi vào ngõ cụt, hoặc sai lầm, từ đó, bảo vệ kiên quyết phép biện chứng chân chính của Marx – Engels trước sự đội lốt của bọn phản Marxist hòng cổ xúy
chủ nghĩa sùng bái cá nhân và siết chặt tự do dân chủ Trên Nhân văn, số 3, ra ngày
15/10/1956, ông nhắc đến sự sai lầm của Stalin: “Những nghị quyết lịch sử của Đại hội (Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô) đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nước dân chủ nhân dân anh em và phong trào công nhân và nhân dân thế giới Nước ta không thể nào đứng riêng: “Chúng ta sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã gột rửa những nét xấu của đời Stalin, với nội dung chân chính xây dựng trên
Trang 9kinh nghiệm kiến thiết chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới, trong ấy dưới hình thức này hay hình thức khác, nhiệm vụ của vô sản chuyên chính là phát triển tự do cá nhân” Trong
triết tác duy nhất viết bằng tiếng Việt – Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không có
con người”, Trần Đức Thảo phê phán quan điểm siêu hình phủ nhận tính người nói chung
từ “phương pháp cấu trúc chủ nghĩa” của Louis Althusser Ông khẳng định sự tồn tại của con người nói chung (cùng với con người sinh vật, con người hóa lý) “là cái bản chất hàng hai”, “có trước và lắng xuống cái bản chất hàng một” [10; 134]- con người giai cấp
Trong Luận cương thứ 6 về Feuerbach, Marx viết: “(nhưng) bản chất con người không
phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [6; 257] Tuyệt đối hóa bản chất giai cấp ở con người dễ dẫn tới (thực tế đã diễn ra ở các nước theo hướng Xã hội chủ nghĩa) việc phóng đại đấu tranh giai cấp, triết gia Pháp, thực chất, đã phản lại phép biện chứng duy vật Cách làm của Althusser không khác mấy với việc hòa tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo của Feuerbach, chỉ khác ở chỗ, trong khi triết gia cổ điển Đức thiếu sót khi bỏ qua quá trình lịch sử thì đằng sau Althusser ẩn chứa một dụng tâm chính trị
Lòng trung thành bao giờ cũng gắn với sự dấn thân Dấn thân ở một người “ngây thơ” như Trần Đức Thảo kín đáo nhưng không hề bí ẩn Trần Đức Thảo là người có ý thức dấn thân chính trị bằng tố chất của một nhà triết học Vì thế, trong sâu thẳm, (và nghịch lý) ông bận tâm tới chân lý hơn là thời cuộc, giá trị sau cùng hơn là ý nghĩa thời điểm Do thế, sở hữu bộ óc mẫn tiệp ở khía cạnh triết học chừng nào, ông càng thêm lụy thân chừng ấy Trần Đức Thảo quan tâm rốt ráo tới vấn đề tự do dân chủ Ngay khi về nước 5 năm, cuối năm 1956, khi đã nắm được tình hình xã hội đất nước, ông viết ngay
loạt 2 bài về dân chủ (trên Nhân văn, Giai phẩm), trong đó, ông so sánh nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với nền dân chủ tư sản Trong Nỗ lực phát triển tự do dân chủ, ông xem tự
do như một tất yếu: “tự do không phải là cái gì có thể ban ơn”, vì thế, tự do nói chung và
tự do cho trí thức nói riêng vô cùng cần thiết (…) Người trí thức hoạt động văn hóa, cần
tự do như khí trời để thở” [12] Nhận thức đó được ông tiếp thu từ quan điểm của Engels
trong cuốn Chống Đuyrinh: “tự do tất yếu là một sản phẩm của sự phát triển lịch sử,
trong tiến trình tới văn minh của nhân loại mỗi bước tiến lên trên con đường văn minh lại
Trang 10là một bước tiến tới tự do” [7; 164] Trần Đức Thảo tiếp nhận từ quan điểm tự do báo chí của Marx: “Báo chí tự do - đó là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân: là hiện thân
sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói, gắn liền các
cá nhân với nhà nước, với toàn thế giới, nó là hiện thân nền văn hóa đang biến cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh tinh thần và lý tưởng hóa hình thức vật chất thô bạo của cuộc đấu tranh đó… Báo chí tự do là toàn diện, nơi nào cũng có mặt, cái gì cũng biết Báo chí tự do là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực lại chảy trở
về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí dưới hình thức của cái tinh thần ngày càng dồi dào” [8; 100]
Trần Đức Thảo là nhà triết học có nhiều khát vọng Vì thế, như con tàu lớn, ông có thể “mắc cạn” ở vài thời điểm, nhưng luôn rướn mình tới viễn dương Đích đến là tự do phóng giải tư duy trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản – điều ông đeo
đuổi suốt đời Trong cuốn Một hành trình (Un Itinéraire, 1989), ông viết: “chủ nghĩa duy
vật biện chứng nhân bản đặt con người ở vị trí trung tâm để nhận thức sự hài hòa, thống nhất giữa con người nói chung với con người cá thể, cá nhân - nhân cách Từ đó khẳng định trong tất yếu mãi mãi con người vươn tới tự do, để con người cá nhân - nhân cách tự
do phát triển toàn diện, làm điều kiện và tiền đề cho xã hội phát triển toàn diện” [2] Ông
đã thực sự tìm lại và sống với chân lý của một nhà triết học
3 Kết luận
Thành tựu tư duy của Trần Đức Thảo được thế giới ghi nhận trân trọng mặc dù ông không phải triết gia tạo nên trường phái Điều đáng quý là quá trình tư tưởng của nhà triết học luôn gắn với ý thức dân tộc và tính nhân bản sâu sắc Điều đó sẽ làm cho tư tưởng của ông mang đến những giá trị thực tiễn không chỉ trong thời điểm hiện nay
ABSTRACT
Our article focuses on clarifying the intellectual qualities of a philosopher – Tran Duc Thao (1917 - 1993) According to us, these qualities derived from two points: